Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ ngày nay, nền kinh tế thế giới đang chuyển mình từng bước đi lên mạnh mẽ. Sự biến chuyển của nền kinh tế gắn liền với sự thay đổi mạnh mẽ của từng quốc gia trong từng khu vực trên thế giới. Cùng với sự thay đổi đó, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã phát triển mạnh. Nền kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ. Trước sự đòi hỏi của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán đã được công nhận ở Việt Nam với sự ra đời của các tổ chức độc lập về kế toán kiểm toán nhằm giúp cá nhân, tổ chức nắm rõ kiến thức, tăng cường hiểu biết về tài chính, kế toán trong bối cảnh mới. sự ra đời của các công ty kiểm toán độc lập quốc tế và nội địa ở Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho những người quan trâm đến các số liệu tài chính ở Việt Nam. Hiện nay chính phủ và các doanh nghiệp đang cố gắng thiết lập một thị trường kiểm toán ổn định và phát triển hội nhập với thị trường kiểm toán khu vực ASEAN và quốc tế. Tình hình kinh tế những năm qua có nhiều biến động và khó lường trước, do đó các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển cần một chiến lược và những giải pháp cụ thể hữu ích để giữ vững và mở rộng thị trường phát triển kinh doanh. Nhận thức được điều này trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Kiểm toán và kế toán Hà Nội em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán của công ty kiểm toán và kế toán Hà Nội” Tuy nhiên kiểm toán là một lĩnh vực rất mới mẻ ở Việt Nam, do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm và chuyên môn nên bài viết cảu em còn có nhiều thiếu sót do vậy em mong được sự góp ý của thầy cô để bài việt cua em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Xuân Hương, các thầy cô trong khoa cùng ban giám đốc công ty TNHH Kiểm toán và kế toán Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Trang 1Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ ngày nay, nền kinh tế thế giới đang chuyển mình từng bước đi lên mạnh mẽ Sự biến chuyển của nền kinh tế gắn liền với sự thay đổi mạnh mẽ của từng quốc gia trong từng khu vực trên thế giới Cùng với sự thay đổi đó, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã phát triển mạnh Nền kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ Trước
sự đòi hỏi của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán đã được công nhận ở Việt Nam với
sự ra đời của các tổ chức độc lập về kế toán kiểm toán nhằm giúp cá nhân, tổ chức nắm rõ kiến thức, tăng cường hiểu biết về tài chính, kế toán trong bối cảnh mới sự ra đời của các công ty kiểm toán độc lập quốc tế và nội địa ở Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho những người quan trâm đến các số liệu tài chính ở Việt Nam
Hiện nay chính phủ và các doanh nghiệp đang cố gắng thiết lập một thị trường kiểm toán ổn định và phát triển hội nhập với thị trường kiểm toán khu vực ASEAN
và quốc tế Tình hình kinh tế những năm qua có nhiều biến động và khó lường trước,
do đó các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển cần một chiến lược và những giải pháp cụ thể hữu ích để giữ vững và mở rộng thị trường phát triển kinh doanh Nhận thức được điều này trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Kiểm toán và kế toán
Hà Nội em đã lựa chọn đề tài:
“Giải pháp phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán của công ty kiểm toán và kế toán Hà Nội”
Tuy nhiên kiểm toán là một lĩnh vực rất mới mẻ ở Việt Nam, do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm và chuyên môn nên bài viết cảu em còn có nhiều thiếu sót do vậy
em mong được sự góp ý của thầy cô để bài việt cua em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Xuân Hương, các thầy cô trong khoa cùng ban giám đốc công ty TNHH Kiểm toán và kế toán Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN HÀ NỘI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN
CỦA CÔNG TY 1.1 Giới thiệu về công ty
1.1.1 Thông tin chung về công ty
Công ty Kiểm toán và Kế Toán Hà Nội (gọi tắt là "CPA HANOI") là công ty kiểm toán trách nhiệm hữu hạn (TNHH) đầu tiên của thành phố được Bộ Tài Chính Việt Nam Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy phép hành nghề Giấy phép lập theo Quyết định số 4010GP/TLDN ngày 26/01/99
1.1.1.1 Địa chỉ liên hệ
Văn phòng tại Hà Nội:
Địa chỉ: Số 3, ngõ 1295 đường Giải Phóng, Hoàng Mai- Hà Nội
Điện thoại: (844)39745081 Fax: (844) 39745 083
E-mail: cpahanoi@fpt.vn
Website: WWW.cpahanoi.com
Tại Hồ Chí Minh:
Chi nhánh
Địa chỉ: 159/14 Bạch Đằng- phường 2-quận Tân Bình-tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: (848) 32936178 Fax: (848) 3488550
E-mail: cpahanoi@fpt.vn
Website: WWW.cpahanoi.com
Văn phòng đại diện:
Địa chỉ: số 136 đường D3-Văn Thạch Bắc- quận Bình Thạch-tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 083 8982 891 Fax: 0838982891
E-mail: nhodo_56@yahoo.com
Văn phòng địa diện tại Hà Nam:
Địa chỉ: số 17, ngách 2/1, đường Châu Cầu, Tổ 11B, Lương Khánh Thiện, tp Phủ Lý,
Hà Nam
Điện thoại: 0351847700 Fax:0351847700
Trang 3Văn phòng đại diện tại TP Huế
Địa chỉ: 93 đường Trường Chinh, phường Xuận Phú, tp Huế
Điện thoại: 054817678 Fax: 054817678
Văn phòng đại diện tại Đăk Lăk
Địa chỉ: số 63 Lê Quý Đôn, Buôn Ma Thuột, Tp Đăk Lăk
Điện thoại: 05003952778 Fax: 05003952778
Văn phòng đại diện tại Nghệ An
Địa chỉ: số 89 Minh Khai, Tp Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 0383 844 580 Fax: 0383 844 580
1.1.1.2 Năng lực chuyên môn
CPA HANOI là công ty kiểm toán chuyên nghiệp hợp pháp hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, tư vấn thuế, tư vấn tài chính kế toán, tư vấn quản lý, thẩm định giá trị doanh nghiệp….ở Việt Nam
Qua hơn 10 năm hoạt động, CPA HANOI đã và đang thực hiện việc cung cấp các dịch vụ kiểm toán và tư vấn chuyên ngành cho gần 1000 lượt doanh nghiệp thuộc các loại hình doanh nghiệp trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam
CPA HANOI có tổng số nhân viên hiện tại là gần 150 người có trình độ đại học và trên đại học được đào tạo tại Việt Nam và Nước Ngoài như Australia, Ireland…Hiện tại công ty có 15 người được bộ tài chính cấp chứng chỉ kiểm toán viên (CPA), có 2 người có chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế, có 5 người có chứng chỉ thẩm định viên về giá, 20 kỹ sư xây dựng, các nhân viên chủ chôt đều có từ 7 đến 30 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tài chính, kế toán và kiểm toán, kiểm toán quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành và thẩm định giá tài sản
Phương châm hoạt động: CPA HANOI hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan và bí mật số liệu của khách hàng, với phương châm coi uy tín và chất lượng là hàng đầu Phấn đấu cung cấp dịch vụ vượt trên sự mong đợi của khách hàng
Trang 41.1.1.3 Các dịch vụ của công ty cung cấp
Lĩnh vực kiểm toán:
• Kiểm toán báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam
• Kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nước cho mục đích cổ phần hoá
• Kiểm toán và xác nhận năng lực tài chính của doanh nghiệp để vay vốn ngân hàng, tham gia đấu thầu
• Kiểm toán báo cáo tài chính và đánh giá tình hình và hiệu quả hoạt động của các dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ tại Việt Nam như: WBN, ADB, JICA Nhật Bản, Hiệp hội Nhà thờ Thế giới
• Kiểm toán quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành và quyết toán vốn đầu tư của các cơ quan, đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp có hoạt động đầu
tư xây dựng cơ bản
Lĩnh vực tư vấn tài chính:
• Xác định cơ cấu và chiến lược kinh doanh
• Tư vấn thiết kế xây dựng hệ thống kế toán cho các doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm hoạt động, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
• Tư vấn lập hồ sơ và ghi chép sổ sách kế toán đáp ứng yêu cầu quản trị của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý theo quy đinh của luật thuế
• Tư vấn lập báo cáo tài chính
• Ký hợp đồng làm thuê kế toán cho các loại hình doanh nghiệp
• Tư vấn lựa chọn sử dụng phần mền kế toán và phần mền quản lý có hiệu quả
• Tư vấn tuyển dụng và lựa chọn nhân sự cho công tác kế toán tại doanh nghiệp
Tư vấn thuế:
• Kê khai thuế hàng tháng cho các doanh nghiệp
• Soát xét chứng từ và bảng kê khai thuế đầu vào, đầu ra trước khi gửi cho cơ quan thuế và hoàn thuế
• Tư vấn lập báo cáo quyết toán thuế
Trang 5• Giải đáp thắc mắc và trợ giúp doanh nghiệp trong việc xin miễn, giảm thuế và hoàn thuế
• Cung cấp các văn bản liên quan đến chính sách thuế khi có yêu cầu
• Tư vấn xử lý các chi phí sản xuất kinh doanh để đảm bảo các chi phí này là hợp lý, hợp lệ theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Tư vấn kế toán:
• Ghi chép và giử sổ sách kế toán cho doanh nghiệp
• Tư vấn lựa chọn hình thức sổ và tổ chức bộ máy kế toán
• Tư vấn lập báo cáo tài chính
• Tuyển chọn nhân viên kế toán và kế toán trưởng cho các doanh nghiệp
• Tư vấn thiết lập, xây dựng phần mềm kế toán phù hợp cho từng loại hình doanh nghiệp
• Cung cấp tài liệu văn bản về chế độ kế toán cho các doanh nghiệp
Chuyển đổi Báo cáo tài chính theo chuẩn mực Quốc tế:
• Dịch vụ chuyển đổi Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phục vụ cho mục tiêu hợp nhất kết quả hoạt động với Công ty mẹ theo chuẩn mực kế toán Quốc tế
• Dịch vụ soát xét Báo cáo tài chính đã được chuyển đổi theo thông lệ kế toán Quốc tế phục vụ cho mục tiêu hợp nhất kết quả hoạt động với Công ty mẹ.Dịch vụ đào tạo:
• Đào tạo kế toán ngắn hạn từ cơ bản đến nâng cao cho mọi đối tượng
• Đào tạo kế toán trưởng cho các doanh nghiệp
• Tổ chức các khoá tập huấn về chính sách, chế độ liên quan đến tài chính, kế toán như: Luật kế toán, luật thuế, các chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế Dịch vụ khác:
• Dịch vụ xác định giá trị tài sản doanh nghiệp phục vụ cho việc chuyển đổi hình thức sở hữu Công ty, tham gia thị trường chứng khoán, tham gia góp vốn liên doanh, hợp danh, hợp đồng hợp tác kinh doanh
• Và các dịch vụ hỗ trợ chuyên ngành khác theo yêu cầu cụ thể của khách hàng
Trang 61.1.2 Lịch sử hình thành của công ty
Công ty TNHH kiểm toán và kế toán Hà Nội, tên giao dịch quốc tế là HaNoi Company Profession of Auditing & Accounting Limited được Bộ Tài chính Việt Nam và Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp giấy phép hành nghề, giấy phép thành lập theo Quyết định số 4010GP/TLDN ngày 26/01/1999 hoạt động theo giấy phép chứng nhận và đăng kí kinh doanh số 071009 ngày 01/02/1999 do sở kế hoạch
và đầu tư thành phố Hà Nội cấp CPA HaNoi là công ty TNHH cung cấp dịch vụ kiểm toán và kế toán đầu tiên trên địa bàn Hà Nội, là công ty trách nhiệm hữu hạn kiểm toán và kế toán ra đời sớm thứ hai tại Miền Bắc sau công ty TNHH kiểm toán
Hạ Long- Quảng Ninh CPA HANOI ra đời trong những năm cuối của thập kỷ 90, là giai đoạn mà nền kinh tế thị trường tại Việt Nam đang cuốn mình trong dòng phát triển mạnh hàng đầu thế giới cũng như trong khu vực Châu Á Ban lãnh đạo công ty
đã nhanh chóng nắm bắt được tình hình, chớp được thời cơ thuận lợi sáng lập nên công ty Qua 12 năm hoạt động với 8 lần thay đổi giấy phép kinh doanh (lần cuối vào
26 tháng 11 năm 2009), hiện nay với số vốn điều lệ là 2 tỷ đồng công ty kinh doanh với 4 ngành nghề chính là:
-Hoạt động kiểm toán độc lập, tư vấn thuế, tài chính kế toán và đào tạo kế toán và kiểm toán
-Tư vấn đầu tư trong và ngoài nươc
-Thẩm định giá trị tài sản, vật tư hàng hóa
-Tư vấn quản lý kinh doanh bất động sản
Tháng 9/2006 công ty kiểm toán và kế toán Hà Nội trở thành thành viên hãng kiểm toán quốc tế AICA Hãng có trụ sở chính tại Hồng Kông và văn phòng đại diện tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Trung Quốc,
Hà Lan…
Công ty kiểm toán và kế toán Hà Nội là một trong số ít các công ty kiểm toán được ủy ban chứng khoán nhà nước chấp nhận kiểm toán các công ty cổ phần niên yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 7Trong 3 năm liên tiếp công ty được bình chọn là 1 trong 6 công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ tốt nhất năm trong lễ trao giải TOP TRADE SERVICE AWARD của bộ công thương.
Tháng 2 năm 2009 công ty được bình chọn và được trao giải thưởng Doanh nghiệp hội nhập và phát triển lần thứ II/2008, do ban Tuyên giáo trung ương bình chọn
Thánh 8 năm 2009 công ty được bình chọn và trao giải thưởng công ty kiểm toán có uy tín trên thị trường chứng khoán Việt Nam do ủy ban Chứng khoán nhà nước bình chọn
1.1.3 cơ cấu tổ chức
Biểu đồ số 1.1: cơ cấu tổ chức công ty kiểm toán và kế toán Hà Nội
Hội đồng sáng lập
Ông Nguyễn Ngọc Tỉnh - Chủ tịch hội đồng
Ông Nguyễn Đức Lợi - Thành viên
Ông Lê Văn Dò - Thành viên
Ban giám đốc
Ông Nguyễn Ngọc Tỉnh - Tổng giám đốc
Ông Lê Văn Dò - Phó tổng giám đốc
Ông Tạ Xuân Thầu - Phó tổng giám đốc
Ông Lê Ngọc Khuê - Phó tổng giám đốc
Trang 81.1.3.1 Ban giám đốc
Là những người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với hoạt động của công ty Ban giám đốc có nhiệm vụ hoạch định chính sách và dẫn dắt các vấn đề về tổ chức cũng như các vấn đề có liên quan đến nhân lực, hành chính, khách hàng và các lĩnh vực nghiệp vụ Thành viên của ban lãnh đạo gồm có giám đốc và các phó giám đốc, mỗi người phụ trách phần công việc được phân công cụ thể cho họ, cụ thể:
- Đánh giá rủi ro của một hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động của công ty
- Duy trì mỗi quan hệ với ban quản trị của các công ty khách hàng
- Giải đáp thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quan trọng lớn trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán và giám đốc là người đưa ra quyết định cuối cùng cho các vấn đề còn vướng mắc
- Đánh giá công việc kiểm toán mà các kiểm toán viên đã thực hiện và chịu trách nhiệm bảo đảm rằng các bước công việc đã được thực hiện đầy đủ làm cơ sở cho các ý kiến đưa ra trong báo cáo kiểm toán và thư quản lý
- Giám đốc có trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán và thư quản lý
- Sau khi kết thúc kiểm toán giám đốc chịu trách nhiệm tiến hành một buổi họp với khách hàng nhằm xác định những vấn đề có thể cần phải được hoàn thiện, đánh giá thái độ và phản ứng của khách hàng đối với công việc kiểm toán do công ty thực hiện
1.1.3.2 Các phòng kiểm toán và tư vấn
Thực hiện công việc kiểm toán và tư vấn cho tất cả các khách hàng của công
ty, một phòng kiểm toán sẽ có một trưởng phòng Người đóng vai trò về các vấn đề nhân sự, phối hợp hoạt động và đảm bảo các công việc hành chính Nhân lực phòng kiểm toán được phân chia thành:
Kiểm toán viên chính là người được cấp giấy phép hành nghề (CPA) hoặc một giấy tờ chứng nhận có giá trị tương đương, đảm nhiệm những trọng trách bao gồm việc giám sát các trợ lý, nhân viên thực hiện hợp đồng kiểm toán Kiểm toán viên chính báo cáo trực tiếp cho người phụ trách một vụ việc kiểm toán Ngoài ra, kiểm toán viên chính có thể được giao thêm một số trách nhiệm để có thể hỗ trợ cho ban quản lý, gồm: xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hỗ trợ việc đào tạo các nhân viên ở địa
Trang 9phương, bố trí nhân sự cho các hoạt động kiểm toán, chuẩn bị và phân tịch các hóa đơn…Kiểm toán viên chính có thể được yêu cầu đồng ý vào báo cáo kiểm toán.
Trợ lý cao cấp chịu trách nhiệm đối với công việc kiểm toán ngay tại thực địa không đòi hỏi quá 5 người và trong một số trường hợp có thể phải hỗ trợ cho kiểm toán viên chính trong việc theo dõi các công việc kiểm toán có tầm cỡ lớn hơn
Trợ lý là người đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán cả về các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn để có thể đảm nhiệm việc xem xét các bước của những công việc kiểm toán quy mô nhỏ Người trợ lý phải chịu trách nhiệm trước nhiều trợ lý khác và phải có năng lực soạn thảo sơ bộ các phần, mục của các bức thư của ban lãnh đạo và các báo cáo kiểm toán
Trợ lý mới vào nghề theo quy định của công ty là những người mới tốt nghiệp các trường trong ngành kinh tế và những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kế toán kiểm toán Người trợ lý mới vào nghề được phân công thực hiện các công việc ở thực địa hoặc công việc tương tự dưới sự chỉ dẫn của một cán
bộ thâm niên khác và hiếm khi phải chịu trách nhiệm về một phần hành hoàn chỉnh của một đợt kiểm toán
1.1.3.3 Các phòng ban đảm nhiệm công việc hành chính
Bao gồm phòng kế toán, phòng hành chính tổng hợp, phòng kế hoạch và marketing Nhiệm vụ chủ yếu của các phòng ban này là tổ chức nhân sự, lập kế hoạch kinh doanh, tìm kiếm thị trường và tiếp xúc khách hàng Riêng bộ phận lễ tân có thêm nhiệm vụ trực điện thoại và đón tiếp khác đến công ty
1.1.3.4 Các chi nhánh và văn phòng đại diện
Mỗi văn phòng đại diện có một kế toán chuyên ghi chép các nghiệp vụ chủ yếu liên quan đến chi tiền, đồng thời tập hợp số liệu chuyển về công ty Tại các văn phòng đại diện không hạch toán vào sổ riêng Trong khi đó, các chi nhánh được trực tiếp ký kết và duyệt hợp đồng độc lập như một công ty Chi nhánh hạch toán đến kết quả cuối cùng, lên bảng cân đối tài sản, báo cáo kết quả kinh doanh và tính lãi nhưng chưa trừ đi chi phí phải nộp cho công ty Đồng thời các chi nhánh thực hiện nghĩa vụ
về thuế tại đơn vị và nộp thuế thu nhập cùng vơi công ty
1.1.4 Một số đặc điểm kỹ thuật ảnh hưởng tới đặc điểm kinh doanh của công ty
Trang 101.1.4.1 Các chuẩn mực kiểm toán cho công ty kiểm toán độc lập bắt buộc phải thực hiện
(1) CM 220-Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
(2) CM 230-Hồ sơ kiểm toán
(3) CM 240-Gian lận và sai sót
(4) CM 250-Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các qui định trong kiểm toán báo cáo tài chính
(5) CM 300-Lập kế hoạch kiểm toán
(6) CM 310-Hiểu biết về tình hình kinh doanh
(7) CM 320-Tính trọng yếu trong kiểm toán
(8) CM 330-Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro
(9) CM 400- Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ
(15) CM 530-Lấy mẫu kiểm toán và những thủ tục lựa chọn khác
(16) CM 540-Kiểm toán các ước tính kế toán
(17) CM 550- Các bên liên quan
(18) CM 560- Các sự kiện phát sinh sau ngày khoá sổ kế toán lập báo cáo tài chính(19) CM 570- Hoạt động liên tục
(20) CM 580- Giải trình của Giám đốc
(21) CM 600 - Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác
(22) CM 610- Sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ
(23) CM 620- Sử dụng tư liệu của chuyên gia
(24) CM 700-Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
1.1.4.2 Nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập
- Tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp và kết quả kiểm toán
-Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Đối với các công việc kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế thì phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán quốc tế
-Tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
- Độc lập, trung thực, khách quan
-Bảo mật thông tin của đơn vị được kiểm toán, trừ trường hợp khách hàng,
Trang 11đơn vị được kiểm toán chấp thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
1.2 Sự cần thiết phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán của công ty kiểm toán
và kế toán Hà Nội
1.2.1 Nhu cầu về dịch vụ kiểm toán tại thị trường Việt Nam hiện nay
Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập ra đời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt động kinh tế Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các thông tin đó có trung thực và hợp lý hay không
Luật pháp yêu cầu và để tạo niềm tin cho người sử dụng thì các báo cáo tài chính phải được kiểm toán và chỉ có những thông tin kinh tế đã được kiểm toán mới
là căn cứ tin cậy cho việc đề ra các quyết định hiệu quả và hợp lý Việc các qui định mang tính pháp lý bắt buộc các thông tin tài chính trước khi công bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ nét vai trò của kiểm toán trong quá trình đổi mới nền kinh
tế Kiểm toán độc lập không thể thiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quan lý của Nhà nước Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó có thể đánh giá một cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp làm cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình Bên cạnh mục tiêu chính là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, các kiểm toán viên, thông qua quá trình kiểm toán, còn có thể đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung
Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói chung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bầy về tình hình tài chính của mình Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đối tác kinh doanh Đặc biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài
Trang 12chính của một doanh nghiệp trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc kiểm toán sẽ hiệu quả và rẻ hơn nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm phán, tự chứng minh về khả năng tài chính của mình Đồng thời ý kiến khách quan của kiểm toán luôn đáng tin cậy hơn Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập thì nhu cầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu cầu quản lý của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp Do vậy kiểm toán độc lập ra đời đã đáp ứng tốt nhu cầu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế Kiểm toán là dịch vụ chuyên nghiệp và cần thiết của kinh tế thị trường.khi Việt Nam khuyển khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển thị trường chứng khoán, mở cửa hội nhập quốc tế
đã buộc các doanh nghiệp cần đến dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính thì kiểm toán độc lập vừa là một yêu cầu pháp lý vừa là một yêu cầu tất yếu
Từ khi cơ quan thuế không trực tiếp duyệt quyết toán thuế hằng năm và từ sau khi nghị định 105/2004/N Đ-CP ra đời thì yếu cầu kiểm toán đã mở rộng đáng kể, đặc biết là tất cả các doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải kiểm toán Thêm vào đó, nhận thức rõ vai trò, tác dụng của kiểm toán độc lập và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong các năm gần đây các qui định về bắt buộc kiểm toán được mở rộng làm khối lượng khách hàng tăng nhanh, cụ thể: Luật Chứng khoán (năm 2007) đã yêu cầu không chỉ các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành, tổ chức kinh doanh chứng khoán
mà cả các công ty đại chúng cũng thuộc đối tượng phải kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm Xu hướng phát hành cố phiếu, trái phiếu, niêm yết trên thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp ngày càng tăng cũng làm gia tăng đáng kể số lượng khách hàng kiểm toán Đối tượng khách hàng của các doanh nghiệp kiểm toán ngày càng mở rộng, trong đó chủ yếu là các đối tượng bắt buộc phải kiểm toán theo luật định, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, công ty niêm yết, công ty đại chúng, ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tài chính, dự án quốc tế, dự án đầu tư xây dựng cơ bản Các doanh nghiệp, tổ chức chưa bắt buộc phải kiểm toán như công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và đơn vị hành chính sự nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có xu hướng tăng dần hàng năm
Trang 13Theo báo cáo của hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), số lượng khách hàng của toàn ngành kiểm toán Việt Nam năm 2008 và 2009 là 21588 và
25875 khách hàng, năm 2009 tăng 19,86% so với năm 2008 Lượng khách hàng năm
2010 tăng mạnh, năm qua có trên 29.000 khách hàng, tăng 12,2% so với năm 2009 Trong đó, số khách hàng là các công ty cổ phần, doanh nghiệp niêm yết tăng mạnh đối tượng khách hàng chủ yếu là kiểm toán các doanh nghiệp lớn ở một số lĩnh vực gồm: các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng và các
tổ chức tín dụng, công ty cổ phần niêm yết, công ty cổ phần đại chúng, công ty bảo hiểm, các dự án xây dựng bằng vốn Nhà nước và dự án của tổ chức quốc tế
1.2.2 Cạnh tranh trên thị trường dịch vụ kiểm toán
Những năm đầu khi chuyển sang kinh tế thị trường, cùng với chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đã phát sinh hàng loạt nhu cầu được cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán trong mọi lĩnh vực Trước yêu cầu đó, năm
1991, bộ tài chính đã thành lập 02 doanh nghiệp kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước chính thức đánh dấu sự ra đời của hoạt động kiểm toán độc lập Để khai thác khả năng tiềm tàng của thị trường kiểm toán trên cơ sở cạnh tranh về chất lượng và giá phí trong môi trường pháp lý bình đẳng, nhà nước khuyến khích phát triển đa dạng các thành phần kinh tế và hợp tác với nước ngoài Vì thế, nhiều doanh nghiệp kiểm toán thuộc các thành phần kinh tế, dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau đã lần lượt ra đời
Sau khi có luật doanh nghiệp năm 1999, số lượng các doanh nghiệp kiểm toán thành lập mới tăng nhanh (cuối năm 1999 thành lập 2 công ty; năm 2000: 7 công ty; năm 2001: 20 công ty; năm 2002: 10 công ty; năm 2003: 14 công ty; năm 2004: 10 công ty) nhưng sau khi có nghị định số 105 năm 2004, chỉ cho phép thành lập mới doanh nghiệp kiểm toán là công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân nên số lượng các doanh nghiệp kiểm toán thành lập mới tăng chậm so với trước Từ tháng 4/2003 đến 10/2005 (18 tháng) chỉ có 8 công ty được thành lập Có 3 công ty ngừng hoạt động hoặc thôi cung cấp dịch vụ kiểm toán, 1 công ty có vốn đầu tư nước ngoài chấm dứt giấy phép đầu tư Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 133 năm 2005 cho phép tiếp tục thành lập công ty TNHH hạn thì số lượng các doanh nghiệp kiểm toán lại tăng rất nhanh.Trong các năm qua, đặc biệt là trong năm 2009 có một số các công ty nhỏ đã
Trang 14sáp nhập nên đến hết 2010 cả nước đã có 168 doanh nghiệp kiểm toán gồm 156 công
ty TNHH, 5 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài, 2 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, 5 công ty hợp danh
Bảng 1.1: số lượng các công ty kiểm toán qua các năm
( báo cáo tổng kết 19 năm hoạt động kiểm toán của bộ tài chính )
Thị trường dịch vụ kiểm toán thực sự là một thị trường giàu tiềm năng, do đó
sự cạnh tranh trên thị trường này là không nhỏ và trên thực tế đang tồn tại sự cạnh tranh thiếu lành mạnh về giá phí dịch vụ còn phổ biến mức phí dịch vụ trung bình của các công ty kiểm toán Việt Nam chỉ bằng một nửa, thậm chí bằng một phần ba,
so với mức phí cùng loại của công ty nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam sợ mất khách hàng nên lệ thuộc nhiều vào giá dịch vụ và do đó, lệ thuộc cả chất lượng dịch
vụ vào khách hàng Điều này ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên Một số công ty, do cạnh tranh giảm giá phí đã cắt giảm một số thủ tục, quy trình soát xét chất lượng kiểm toán nên chất lượng dịch vụ cung cấp giảm, hoặc còn những sai sót
Năm 2007 giá phí kiểm toán của các công ty vừa và nhỏ đều thấp so với mặt bằng chung trong ngành Có công ty có khung giá phí kiểm toán tính theo giờ của từng cấp bậc nhân viên hoặc phần trăm trên doanh thu Có công ty quy định mức giá phí tối thiểu cho một hợp đồng Một số công ty có khung giá phí mà theo thỏa thuận từng lần khách hàng Mức phí đối với từng công ty rất khách nhau, giá phí bình quân một hợp đồng kiểm toán từ 20 đến 50 triệu đồng Có hợp đồng giá phí chỉ khoảng 7-
8 triệu là quá thấp
Doanh thu bình quân đầu người của các công ty phổ biến là 120 triệu đồng / người/ năm, có công ty đạt từ 150 đến 200 triệu đồng/ người / năm
Trang 15Năm 2008, doanh thu bình quân đầu người của các công ty là 130 triệu đồng/người/năm, một số công ty đạt từ 150 đến 200 triệu đồng/người/năm Mức phí dịch vụ kiểm toán tương tự như năm 2007 chủ yếu vẫn theo thỏa thuận từng lần với từng khách hàng.
Năm 2009, các công ty lớn như các công ty big 4, A&C, DTL, VAAC… đã có khung giá phí kiểm toán và phí tư vấn tính theo giờ của từng cấp bậc nhân viên Tuy nhiên, trên thực tế còn tùy theo thỏa thuận với khách hàng
Hầu hết các công ty kiểm toán vừa và nhỏ chưa quy định khung giá phí mà theo thỏa thuận từng lần với khách hàng nên tùy tiện tăng giảm phí, không tổng hợp mức chi phí thực tế theo hợp đồng nên không có cơ sở để thỏa thuận năm sau
Việc cạnh tranh bằng giá phí vẫn đang xảy ra, thông tin không chính thức có
cả ở các công ty lớn và công ty nhỏ Mức phí đối với từng công ty rất khác nhau mức bình quân giá phí vẫn từ 20 đến 50 triệu đồng Tuy nhiên, có những hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính có giá phí 2-3 triệu đồng/ 1 năm là quá thấp
Năm 2010 một số công ty đặt mức phí cao so với các công ty khách như An Phú, Nhân Việt, Nexia… là 70-100 triệu đồng/ 1 hợp đồng trong khi giá phí bình quân là từ 30- 50 triệu đồng
Các công ty chưa thông qua cạnh tranh để nâng cao trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, cũng như phát triển nghề nghiệp kiểm toán, vì vậy mức độ nào đó, hạn chế đến việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ kiêm toán viên Các công ty vừa và nhỏ doanh thu thấp nên khả năng cạnh tranh không cao Trong những năm gần đây, phát sinh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam: giảm giá phí kiểm toán, chất lượng kiểm toán không đảm bảo, đưa tin thiếu trung thực về tình hình của chính công ty và công ty cạnh tranh Thực tế còn có hiện tượng cho thuê, cho mượn chứng chỉ; người không đăng ký hành nghề nhưng vẫn ký báo cáo kiểm toán Đã xuất hiện vi phạm về thương hiệu, tranh chấp về tài chính khi chia tách, sáp nhập doanh nghiệp kiểm toán, chưa có sự hợp tác lẫn nhau trong quá trình kiểm toán và đào tạo
1.2.3 Thị trường hiện tại của công ty và tiềm năng của công ty CPA HANOI
Hiện tại công ty có số lượng khách hàng là 561 khách hàng (tính đến cuối năm 2010) Xét về mặt bằng chung công ty nằm trong nhóm 10 công ty có số lượng khách
Trang 16hàng lớn nhất toàn ngành Khách hàng chính của công ty đa số là các doanh nghiệp
có vốn nước ngoài, các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp nhà nước
Ngược lại với thực tế của rất nhiều công ty kiểm toán hiện nay, công ty CPA HANOI với nhân lực có số lượng đông đảo (150 nhân viên), trình độ chuyên môn cao
và giàu kinh nghiệm Thêm vào đó công ty là thành viên hãng kiểm toán quốc tế, số lượng cả nước chỉ là 26 công ty Một lợi thế không thể bỏ qua là công ty có chi nhánh
và văn phòng đại diện rộng khắp cả nước, thuận lợi cho việc giao dịch và tiếp cận với khách hàng Xét về uy tín và chất lượng công ty có hơn 11 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán với số lượng khách hàng gần 1000 lượt doanh nghiệp, công ty cũng đạt được rất nhiều giải thưởng chứng nhận về chất lượng như là 1 trong
6 công ty kiểm toán có dịch vụ tốt nhất năm 2008, là công ty kiểm toán có uy tín trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Từ đó cho thấy công ty có lợi thế về nhân lực và
uy tín chất lượng dịch vụ so với nhiều công ty khác Xét về điều kiện khách quan và chủ quan công ty hoàn toàn có khả năng mở rộng và đáp ứng thị trường dịch vụ kiểm toán lớn hơn thị trường hiện tại của công ty
Dịch vụ kiểm toán là dịch vụ chính của hầu hết các công ty kiểm toán Việc nhận được hợp đồng dịch vụ kiểm toán không những mang lại lợi nhuận cho công ty, mặt khác nó còn mang lại khả năng có cơ hội thực hiện các dịch vụ khác như tư vấn thuế, tư vấn tài chính, kế toán, đào tạo….Vì vậy mở rộng thị trường dịch vụ kiểm toán cho công ty mang lại lợi ích rất lớn vừa tạo lập uy tín, nhân viên thêm cơ hội rèn luyện chuyên môn và mang lại nguồn doanh thu cho doanh nghiệp
Trang 171.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường dịch vụ kiểm toán của công ty CPA HANOI
1.3.1 Hệ thống chính sách pháp luật
Hiện nay hoạt động kiểm toán độc lập đã có luật riêng được chính phủ thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XII, tháng 3 -2011 Luật quy định cụ thể về những quy định chung, quy định về kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, đơn vị được kiểm toán, hoạt động kiểm toán, chất lượng dịch vụ kiểm toán…
Cho đến nay, Chính phủ đã ban hành 04 Nghị định về kiểm toán độc lập, Bộ Tài chính đã ban hành 16 Quyết định, Thông tư hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán và của kiểm toán viên, về đăng
ký và quản lý hành nghề kiểm toán, về kiểm soát chất lượng kiểm toán, đã hỗ trợ sự
ra đời của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam và đặc biệt là đã xây dựng và ban hành hệ thống 38 Chuẩn mực kỹ thuật nghiệp vụ và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho hoạt động kiểm toán độc lập Hệ thống văn bản pháp luật đã được ban hành làm
cơ sở pháp lý cho sự ra đời, phát triển và quản lý hoạt động kiểm toán độc lập theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam bắt đầu hình thành từ năm 1991, ngay từ những năm đầu khi chuyển sang kinh tế thị trường cùng với chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đã phát sinh hàng loạt nhu cầu được cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán trong mọi lĩnh vực Chính phủ đã ban hành Nghị định 07-CP ngày 29/1/1994 ban hành quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 07-CP gồm: Thông tư 22-TC/CĐKT ngày 19/3/1994 hướng dẫn thực hiện Nghị định 07-CP; Quyết định 237/TC/QĐ/CĐKT ngày 19/3/1994 ban hành quy chế thi tuyển và cấp chứng chỉ kiểm toán viên
- Giai đoạn 2: Từ năm 1998 đến nay, đầu tư nước ngoài tăng nhanh, Nhà nước bãi bỏ quy định xét duyệt quyết toán tài chính, quyết toán thuế của các doanh nghiệp
và đòi hỏi phải được kiểm toán theo luật định trước khi công khai làm cho nhu cầu dịch
vụ kiểm toán ngày càng tăng
Để tạo điều kiện cho kiểm toán độc lập Việt Nam phát triển và để góp phần
Trang 18tăng cường chất lượng kiểm toán, đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp trước xu thế hội nhập, từ năm 2004 đến nay, Chính phủ đã ban hành 3 nghị định và Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các nghị định của Chính phủ về kiển toán độc lập, bao gồm:
(1) Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ về Kiểm toán độc lập (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 105)
(5) Quyết định 32/2007/QĐ-BTC ngày 15/5/2007 của Bộ Tài chính ban hành
"Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán"
(6) Quyết định 59/2004/QĐ-BTC ngày 09/7/2004 và Quyết định số 94/2007/QĐ-BTC ngày 16/11/2007 của Bộ Tài chính ban hành Quy chế thi tuyển và cấp Chứng chỉ KTV và Chứng chỉ hành nghề kế toán
(7) Quyết định 89/2007/QĐ-BTC ngày 24/10/2007 của Bộ Tài chính về lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán
(8) Quyết định 47/2005/QĐ-BTC ngày 14/7/2005 của Bộ Tài chính về việc chuyển giao cho Hội nghề nghiệp thực hiện một số nội dung công việc quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán
(9) Từ năm 1999 đến năm 2005 Bộ Tài chính đã ban hành 8 Quyết định về việc ban hành 38 Chuẩn mực kiểm toán và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
Hệ thống văn bản pháp luật về kiểm toán độc lập của Việt Nam trong 19 năm qua đã liên tục được phát triển và hoàn thiện nhằm tiếp cận với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế và phù hợp hơn với yêu cầu của nền kinh tế ngày càng tiếp cận với cơ
Trang 19chế thị trường, góp phần thực hiện thành công các cam kết hội nhập trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và thị trường tài chính theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập Trên thực tế, quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm toán trong những năm qua đã từng bước góp phần thúc đẩy thị trường tài chính còn non trẻ của Việt Nam phát triển vững chắc.
Dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự nỗ lực của Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán, các doanh nghiệp kiểm toán,
hệ thống văn bản pháp lý về kiểm toán độc lập đã đi vào cuộc sống và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc phát triển cả về quy mô và chất lượng dịch vụ; thực hiện mục tiêu góp phần công khai, minh bạch báo cáo tài chính của các doanh nghiệp,
tổ chức; lành mạnh môi trường đầu tư; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí tài sản; phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả công tác quản lý và điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Vấn đề xây dựng thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán tự do trong khu vực có thể nói đã được Liên đoàn Kế toán các nước ASEAN (AFA) đưa ra thảo luận trong rất nhiều phiên họp Ban chấp hành Đại hội Liên đoàn Kế toán ASEAN lần thứ 14 đề
ra cần phải xây dựng thị trường dịch vụ chung trong khu vực Để tiến tới thị trường chung, trong Hiệp định khung ASEAN về thoả thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) cũng đưa ra danh hiệu mới, kế toán viên công chứng ASEAN (ACPA) Người có chứng chỉ ACPA cho những người hành nghề trong khu vực, đòi hỏi các nước phải đạt được MRA về nền giáo dục, chương trình đào tạo kế toán, bằng cấp, tiêu chuẩn
để cấp chứng chỉ hành nghề thông qua việc ký kết MRA song phương hoặc đa phương
1.3.2 Tình hình kinh tế
Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trong điều kiện nền kinh
tế như vậy, thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này cần cho nhiều người, được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh tế
Trang 20Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các thông tin đó có trung thực
và hợp lý hay không.Việc các quy định mang tính pháp lý bắt buộc các thông tin tài chính trước khi công bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ nét vai trò của kiểm toán trong quá trình đổi mới nền kinh tế Kiểm toán độc lập không thể thiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó có thể đánh giá một cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp làm cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình
Trong môi trường kinh tế đầy biến động , thế giới lại vừa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế thì bên cạnh mục tiêu chính là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, các Kiểm toán viên (KTV) thông qua quá trình kiểm toán, còn có thể đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung
1.3.3 Chất lượng dịch vụ của công ty
Dịch vụ kiểm toán của công ty kiểm toán và kế toán Hà Nội là một loại dịch
vụ đặc biệt, dịch vụ làm cho người dùng tin, an tâm về chất lượng các con số, an tâm
về tính trung thực, khách quan, đầy đủ, hợp pháp, hợp lý, hợp thủ tục của các thông tin kinh tế, tài chính, nhất là các thông tin tổng hợp trên báo cáo tài chính Chất lượng của dịch vụ do các chủ thể kiểm toán của công ty tuân thủ các nguyên tắc kiểm toán và chuẩn mực kiểm toán, có quy trình, phương pháp và đặc biệt là một đội ngũ kiểm toán viên có phẩm hạnh tốt và có năng lực chuyên môn cao, có tính chuyên nghiệp trong thừa hành nhiệm vụ Dịch vụ kiểm toán của công ty APC HANOI giúp cung cấp những thông tin đáng tin cậy để người dùng tìm ra các quyết định tương ứng Quyết định đó đôi khi sẽ là sự thành bại của một quyết sách đầu tư, một sự chọn lọc đối tác, một giải pháp về tài chính, về thị trường…
Trang 21Chất lượng dịch vụ kiểm toán của công ty APC HANOI thể hiện mức độ thành thạo, chuyên nghiệp của đội ngũ kiểm toán viên lành nghề khi họ nắm bắt được, có bản lĩnh và kỹ năng sử dụng thành thạo hệ thống phương pháp kiểm toán tùy theo tình hình của đối tượng kiểm toán và nội dung kiểm toán cụ thể Các kiểm toán viên có kỹ năng, có phương pháp và dày dạn kinh nghiệm để ứng xử với từng tình huống kiểm toán cụ thể Sự thành thạo và tính chuyên nghiệp là yếu tố cấu thành
và đảm bảo cho mọi đánh giá
Mọi đánh giá, nhận định và kết luận đều được đảm bảo bằng những bằng chứng xác thực Những bằng chứng kiểm toán luôn luôn được xác lập với đầy đủ các yếu tố cấu thành, nó luôn được soát xét, tái thẩm định để có một bằng chứng chính xác, phản ánh đúng thực trạng của tình hình Nhờ đó, kết luận được đảm bảo về tính pháp lý, tính hợp lý, sự trung thực và đáng tin cậy
Báo cáo được thực hiện bởi hoạt động kiểm toán của công ty phản ánh đúng thực trạng tài chính của đơn vị được kiểm toán Thực trạng đó thể hiện qua các chỉ tiêu về nguồn vốn, tài sản, tình hình công nợ, các quan hệ tài chính khác, tình hình chi phí, giá thành, kết quả kinh doanh của đơn vị Qua các chỉ tiêu đó, cho thấy rõ sức mạnh tài chính, mức độ lành mạnh của các quan hệ tài chính, tính khách quan, trung thực của báo cáo tài chính được công bố Như vậy, tình hình tài chính của đơn vị được phản ánh trong bản báo cáo bạch tài chính là đáng tin cậy và nhờ đó, các đối tác, các nhà đầu tư và chủ thể quản lý có thể dựa vào đó để ra các quyết định phù hợp
1.3.4 Nhân sự của công ty
Hiện tại công ty có 150 nhân viên và không ngừng được bổ sung thêm qua các năm Sản phẩm kinh doanh của công ty là các sản phẩm dịch vụ kiểm toán, tư vấn thuế, tư vấn tài chính….Đã là sản phẩm dịch vụ thì vấn đề về nhân sự ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dịch vụ Do đó các tùy thuộc vào yếu tố như kinh nghiệm, kiến thức, tác phong làm việc, khả năng chịu đựng áp lực cao…của từng kiểm toán viên
mà dẫn đến các hiệu quả và chất lượng dịch vụ khác nhau Điều này ảnh hưởng đến
uy tín của công ty cung như khả năng giữ chân khách hàng, tạo dựng được các khách hàng lâu năm và trung thành
Trang 22Thêm vào đó là khả năng sử dụng thêm các dịch vụ gia tăng khác của công ty Thêm vào đó hiện nay tình hình thiếu nhân lực đang là thực trạng chung cho cả ngành kiểm toán nói chung và công ty nói riêng, vì vậy mỗi KTV phải chịu đựng áp lực rất cao cũng như khối lượng công việc lớn Muốn mở rộng được thị trường tức là nhận được nhiều hợp đồng kiểm toán đòi hỏi các kiểm toán viên phải làm việc nhanh chóng tiết kiệm thời gian Tại công ty kiểm toán và kế toán Hà Nội mỗi một hợp đồng thực hiện không quá 10 ngày Do đó càng rút ngắn được thời gian thực hiện thì năng suất lao động càng tăng Vì vậy công ty đã có nhiều biện pháp chính sách hợp lý
về nhân sự bao gồm cả về tuyển dụng đào tạo, nâng cao chất lượng kiểm toán viên…
Công ty đã xây dựng chế độ và phương pháp quản lý đối với KTV Một chế
độ, phương pháp quản lý tốt và môi trường kiểm toán chuyên nghiệp là những yếu tố quan trọng góp phần không nhỏ đến chất lượng KTV, để họ có thể yên tâm công tác, cống hiến và có điều kiện nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ
Công ty có thể nhận sinh viên năm cuối đến tham gia vào hoạt động của công
ty, giúp sinh viên tiếp cận sớm với thực tế kiểm toán và môi trường nghề nghiệp Việc làm này tạo điều kiện cho các sinh viên và công ty có thể trao đổi, ứng dụng, kiểm tra về các lý luận chuyên môn được học trong nhà trường vào hoạt động kiểm toán của công ty Qua đó sẽ có những thông tin phản hồi để nhà trường và các công
ty kiểm toán có sự điều chỉnh cho phù hợp, đảm bảo sự sáng tỏ của lý thuyết và khoa học của hoạt động thực tiễn
Nhân viên của công ty APC HANOI có kiến thức và sự hiểu biết tương đối rộng và toàn diện ở nhiều lĩnh vực và khía cạnh liên quan đến kiểm toán Chủ động tiếp cận với thực tế hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán để hình thành kiến thức kiểm toán trên phương diện lý luận và thực tiễn
Các kiểm toán viên của công ty thường xuyên tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất của một cán bộ kiểm toán, rèn luyện cho mình thính trực quan, độc lập, vô tư, công bằng, cẩn thận, siêng năng, có tinh thần trách nhiệm Luôn có thái độ cầu thị, học hỏi và đúc rút kinh nghiệm thực tế kiểm toán
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN
CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN HÀ NỘI
Trang 232.1 Những đặc điểm ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường dịch vụ kiểm toán
2.1.1 Sản phẩm dịch vụ kiểm toán
Hầu hết các công ty kiểm toán đều có dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính
là dịch vụ chính của công ty chiếm trên 60% tổng doanh thu, còn tư vấn thuế, tài chính chỉ chiếm 20%, tư vấn quản lý 14%, các dịch vụ khác không đáng kể (số liệu thống kê năm 2010) Kiểm toán là dịch vụ hết sức phức tạp đòi hỏi sự phối hợp của cả công ty kiểm toán và phía công ty khách hàng Kết quả của báo cáo kiểm toán càng có tính chính xác, hưu ích cho công ty khách hàng thì mức độ tin cậy của khách hàng dành cho dịch vụ càng cao, nhu cầu càng lớn và do đó thị trường càng đc mở rộng
Hiện nay các công ty kiểm toán đều có một quy trình kiểm toán riêng cụ thể, đầy đủ, chặt chẽ Các bước thực hiện được thiết kế và tuân thủ chặt chẽ, có sự thống nhất giữa các hoạt động cũng như phối hợp nhịp nhàng của các bộ phận trong công ty kiểm toán với nhau và khách hàng Nhìn chung các công ty kiểm toán đều có kế hoạch thực hiện dịch vụ như sau:
Biểu đồ số 2.1: Trình tự thực hiện cuộc kiêm toán báo cáo tài chính
Chuẩn bị
kiểm toán
Thực hiện cuộc kiểm toán
Kết thúc cuộc kiểm toán
Báo cáo kiểm toán
về báo cáo tài chính
Trang 24Biểu đồ số 2.2: Quy trình kiểm toán của CPA HANOI
Thực hiện và kiểm tra theo các mục tiêu
Các đánh giá
về hệ thống KSNB
Thực hiện thử nghiệm kiểm
soát đối với các chu trình
Giai đoạn 2 Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Các thủ tục phân tích chính
Đánh giá rủi
ro kiểm toán
Tìm hiểu môi trường kinh doanh
Lập kế hoạch và chương trình kiểm toán
Thực hiện
và kiểm tra theo các mục tiêu
Lĩnh vực thử nghiệm
cơ bản
Các vấn
đề có thể xảy ra
Giai đoạn 3 Kết thúc kiểm toán
Gặp mặt khách hàng Lập báo cáo kiểm toán
hoặc thư quản lý
Giai đoạn 1 Lập kế hoạch và quản lý công việc kiểm toán
Trang 25Giai đoạn 1: Lập kế hoạch và quản lý công việc kiểm toán
Đây là giai đoạn chuẩn bị, bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạo
ra cơ sở pháp lý, kế hoạch kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho công việc kiểm toán Giai đoạn này cần phải thực hiện các bước:
-Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng
Khách hàng gửi thư mời đến công ty bằng điện thoại, fax, bằng thư mời hoặc tiếp xúc trực tiếp Trong mọi trường hợp yêu cầu của khách hàng phải được báo trực tiếp cho ban giám đốc
Thực hiện khảo sát sơ bộ về khách hàng, đánh giá môi trường kinh doanh, môi trường kiểm soát của khách hàng
Khi được phân công khảo sát yêu cầu và hồ sơ khách hàng, người đi khảo sát cần thực hiện thu thập đầy đủ các thông tin theo mẫu khảo sát chung của công ty, thu thập thêm các thông tin khác căn cứ vào yêu cầu riêng của khách hàng, đánh giá chung về hồ sơ của khách hàng, đánh giá rủi ro tiềm tàng…Kết quả khảo sát phải được ghi chép rõ ràng và được trình cho trưởng phòng kiểm toán trước khi đệ trình đến giám đốc
-Gửi thư báo giá
Căn cứ vào báo cáo khảo sát, giám đốc sẽ xem xét và quyết định giá phí Thư
ký sẽ căn cứ vào báo cáo khảo sát đã có ý kiến của giám đốc tiến hành soạn thảo thư báo giá Thư báo giá sau khi được kí duyệt sẽ được chuyển sang bộ phận hành chính
để gửi cho khách hàng và được lập làm 3 bộ (gồm tiếng Việt và tiếng Anh), một bộ thư ký lưu một bộ lưu phòng hành chính và một bộ gửi cho khách hàng
-Công tác chuẩn bị
Nhận hồi báo và lập hợp đồng kiểm toán: nhận được hồi báo, thư ký căn cứ vào thư báo giá và ý kiến của giám đốc tiến hành lập hợp đồng theo mẫu thống nhất của công ty Hợp đồng được lập thành 5 bộ và chuyển qua phòng hành chính để gửi đến khách hàng ký trước Hợp đồng được khách hàng ký và gửi lại sẽ được chuyển cho thư ký để trình cho giám đốc ký, sau đó được chuyển qua phòng hành chính đểu thực hiện các thủ tục khác
Trang 26Tổ chức nhóm kiểm toán: nhóm kiểm toán do trưởng phòng kiểm toán trực tiếp phân công, chỉ định người tham gia sau khi có ý kiến chỉ đạo của giám đốc.
Việc lựa chon đội ngũ kiểm toán viên có trình độ và năng lực thường dựa trên việc đánh giá mức độ rủi ro của từng khách hàng cụ thể để lựa chọn cho phù hợp thông thường một nhóm kiểm toán gồm từ 4 đến 5 người, trong đó có một chủ nhiệm kiểm toán Việc lực chọn, phân công này của CPA HANOI không những đảm bảo nhóm kiểm toán đã có những hiểu biết nhất định về khách hàng (điều kiện kinh doanh, tình hình tài chính, cơ cấu tổ chức, cách thức làm việc…), nắm bắt được rủi ro
có thể xảy ra mà còn đảm bảo sự phát triển, kế thừa, đào tạo những kiểm toán viên mới Hơn nữa, với một trưởng nhóm kiểm toán có nhiều kinh nghiệm thực tế thì trợ
lý kiểm toán có thể học hỏi được rất nhiều trong quá trình làm việc chung
Cụ thể, trong cuộc kiểm toán thực hiện tại hai khách hàng là khách hàng lâu năm và khách hàng mới, CPA HANOI đều bố trí nhóm kiểm toán phù hợp Tại công
ty khách hàng lâu năm, trưởng nhóm kiểm toán và một trợ lý đã kiểm toán báo cáo tài chính năm 2009 của công ty Còn tại công ty khách hàng mới, trưởng nhóm kiểm toán là người có nhiều kinh nghiệm trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty cùng lĩnh vực cùng thành phần kinh tế với công ty khách hàng Điều này một lần nữa chứng tỏ sự quan tâm của ban giám đốc CPA HANOI về chất lượng chuyên môn nghề nghiệp của kiểm toán viên, phù hợp với từng cuộc kiểm toán
-Lập kế hoạch kiểm toán
Sau khi đã thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng, xác định được mục tiêu
và phạm vi kiểm toán, cần phải xây dựng kế hoạch kiểm toán Kế hoạch kiểm toán do nhóm trưởng lập, giao công việc cho từng cá nhân, thời hạn và thời điểm thực hiện công việc cụ thể đã phân công cho từng người Kế hoạch này phải trình trưởng phòng kiểm toán duyệt và trong những trường hợp cần thiết, phụ trách phòng nghiệp vụ có thể báo cáo để xin ý kiến chỉ đạo của giám đốc
Giai đoạn 2: thực hiện kế hoạch kiểm toán
Đây là giai đoạn thực hiện đồng bộ các công việc đã xác định trong kế hoạch kiểm toán Nhóm trưởng có trách nhiệm soạn thư báo trước 10 ngày gửi khách hàng
để thông báo ngày giờ và nội dung dự định kiểm toán, việc soạn thư báo trước được
Trang 27khuyến khích hơn là báo bằng điện thoại Thư báo trước được chuyển cho trưởng phòng kiểm toán trước khi trình cho giám đốc ký Phụ thuộc từng khách hàng, nhóm trường hoặc trưởng phòng hoặc giám đốc sẽ có cuộc họp với bên khách hàng Trong buổi họp cần nêu rõ phương pháp làm việc và các vấn đề cần hỗ trợ từ phía khách hàng.
Nhiệm vụ của nhóm trưởng là phân công và giám sát toàn bộ công việc của nhóm theo kế hoạch kiểm toán đã duyệt Trưởng phòng có trách nhiệm giám sát công việc của nhóm trưởng và báo cáo tiến độ thực hiện cũng như khó khăn với giám đốc
để có hướng chỉ đạo Để công việc kiểm toán đáp ứng nhu cầu về thời gian, nhóm trưởng có thể soạn thảo thư đề nghị các bút toán điều chỉnh hoặc đề nghị giải thích, cung cấp thêm hồ sơ Sau khi hoàn thành công việc tại khách hàng, nhóm trưởng hoặc trưởng phòng kiểm toán phải thông báo cho khách hàng trước khi rút về văn phòng công ty để tổng hợp hồ sơ Việc lưu trữ vào hồ sơ kiểm toán phải theo đúng quy định của công ty
Tùy theo yêu cầu và mức độ phức tạp của hồ sơ, giám đốc có thể chỉ đạo tổ chức cuộc họp với khách hàng để trình bày thêm chi tiết các nội dung ghi trong thư
Kiểm toán viên phải tuyệt đối tuân thủ chương trình kiêmt toán đã xây dựng Tuy nhiên, trong thực tiễn, nếu xuất hiện những vấn đề khách với kế hoạch đề ra, kiểm toán viên có thể đề nghị điều chỉnh cho phù hợp Mọi sự thay đổi đều phải được đồng ý của nhóm trưởng và khách hàng
Giai đoạn 3: kết thúc công việc kiểm toán
-Lập báo cáo kiểm toán
Sau khi hoàn tất công việc kiểm toán phải tiến hàng lập báo cáo kiểm toán Các bước công việc cần thực hiện ở giai đoạn này gồm: gửi bản dự thảo để lấy ý kiến
từ khách hàng, sau khi đã có ý kiến của khách hàng, báo cáo sẽ được hoàn chỉnh và gửi đến khách hàng ký trước Báo cáo tài chính đã được kiểm toán phải bao gồm đầy
đủ các báo biểu theo quy định hiện hành, được khách hàng ký trước trên các báo biểu
và sau đó trình cho trưởng phòng kiểm toán Trưởng phòng kiểm toán sẽ đệ trình giám đốc ký để phát hành báo cáo kiểm toán chính thức
-Các công việc thực hiện sau kiểm toán
Trang 28Đồng thời với việc trình các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và được khách hàng ký trước trên các bảo biểu, nhóm trưởng phải chuyển toàn bộ hồ sơ kiểm toán cho trưởng phòng xem xét và sau đó được chuyển cho bộ phận lưu trữ.
Sau khi phát hành, mọi nhân viên trong công ty khi nhận được các thông tin liên quan đến khách hàng xét thấy có thể dẫn đến rủi ro khi kiểm toán, cần thông báo ngay cho trưởng phòng để báo cáo cho ban giám đốc cũng như có trách nhiệm theo dõi và tư vấn cho khách hàng các vấn đề phát sinh sau khi khách hàng đã được quyết toán thuế
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của toàn ngành kiểm toán hiện nay
Thị trường kiểm toán từ năm 2000 cho đến nay đã đạt được mức tăng trưởng khá cao
Bảng 2.1 : doanh thu toàn ngành kiểm toán qua các năm
(báo cáo tổng kết 19 năm hoạt động kiểm toán của bộ tài chính)
Năm doanh thu ( tỷ đồng )
2009
Trang 29
Biểu đồ 2.3: doanh thu toàn ngành kiểm toán qua các năm
Bảng 2.2: kết quả kinh doanh toàn ngành kiểm toán qua các năm
(báo cáo tổng kết 19 năm hoạt động kiểm toán của bộ tài chính)
Năm Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng)
Doanh thu của ngành kiểm toán tăng lên đáng kể Theo đó, số nộp ngân sách nhà nước cũng tăng cao, toàn ngành kiểm toán năm 2004 đóng góp cho ngân sách
Trang 30nhà nước 64,75 tỷ đồng; năm 2005 là 78,04 tỷ đồng; năm 2006 là 101,91 tỷ đồng; năm 2007 là 271,2 tỷ đồng; năm 2008 là 289,04 tỷ đồng; năm 2009 là 275,659 tỷ đồng Tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và trên vốn không tăng tương ứng,
mà có phần giảm từ 4,42 % (năm 2007) xuống 0,11% (năm 2008) và từ 16,50% (năm 2007) xuống 0,58% (năm 2008); năm 2009 lỗ nên không có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Năm 2010 với mức doanh thu tăng khoảng 25% so với 2009 lợi nhuận sau thuế cũng tăng đáng kể lên 48,885 tỷ đồng
Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và quy mô từng công ty, các dịch
vụ do các doanh nghiệp kiểm toán cung cấp đã không ngừng được đa dạng hóa theo hướng mở rộng dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ đảm bảo như kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán về những công việc đặc biệt, kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, công tác soát xét báo cáo tài chính ; mở rộng dịch vụ tư vấn như tư vấn kế toán, tài chính, tư vấn quản lý, tư vấn thuế, tư vấn đầu tư, tư vấn sáp nhập, cổ phần hoá, giải thể doanh nghiệp , dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính, dịch vụ tin học, định giá tài sản, dịch vụ tuyển dụng nhân viên, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp thông tin
Trong các dịch vụ trên, dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tỷ trọng lớn nhất để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng thuộc diện bắt buộc phải kiểm toán theo luật định ngày càng tăng Dịch vụ kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành là quan trọng và cần thiết nhưng chưa chiếm tỷ trọng cao do giá phí thấp Các dịch vụ khác như tư vấn tài chính, thuế, kế toán, tư vấn quản lý, định giá tài sản ngày càng được mở rộng, doanh thu ngày càng lớn với giá phí cao
Về cơ cấu doanh thu của các loại dịch vụ cung cấp đã và đang chuyển đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ kiểm toán và tăng dần doanh thu từ các dịch vụ tư vấn, thuế, tư vấn quản lý, tài chính, kế toán Đây cũng là xu hướng phát triển dịch vụ chung của các hãng kiểm toán trên thế giới vì dịch vụ tư vấn thường mang lại doanh thu lớn hơn và không bị cạnh tranh gay gắt như dịch vụ kiểm toán nhưng đòi hỏi trình độ nhân viên phải rất cao Thông qua kiểm toán báo cáo tài chính, việc cung cấp các dịch vụ tư vấn sẽ giúp cho các doanh nghiệp kiểm toán cung cấp đồng bộ các dịch vụ cho khách hàng Tỷ trọng doanh thu dịch vụ kiểm toán của toàn ngành có xu hướng giảm dần qua các năm, cụ thể: Tỷ trọng doanh thu dịch vụ
Trang 31kiểm toán trên tổng doanh thu của toàn ngành kiểm toán năm 2000 là 70,9%, năm
2005 là 62,3% giảm 8,6% so với năm 2000, năm 2007 là 63,3%, năm 2008 là 57,9% giảm 5,4% so với năm 2007 Năm 2009 là 62,37% tăng 4,46% so với năm 2008 Tỷ trọng doanh thu các dịch vụ khác như tư vấn tài chính, thuế, kế toán, tư vấn quản lý có xu hướng tăng dần qua các năm, cụ thể: Tỷ trọng doanh thu dịch vụ khác trên tổng doanh thu của toàn ngành kiểm toán năm 2000 là 29,1%, năm 2005 là 37,7% tăng 8,6% so với năm 2000, năm 2007 là 36,7%%, năm 2008 là 42,1% tăng 5,4% so với năm 2007 Năm 2009 là 37,63% giảm 4,47% so với năm 2008 Năm 2010 hầu hết công ty đều chú ý đến dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính (chiếm đến 60% tổng doanh thu), còn tư vấn thuế, tài chính chỉ chiếm 20%, tư vấn quản lý 9%, các dịch vụ khác không đáng kể
Năm 2001 chỉ có 3/34 công ty được công nhận là thành viên của hãng kiểm toán quốc tế thì đến tháng 06/2006 có 11/105 công ty và đến 2010 có thêm 15 công ty tổng cộng đến nay có 26 công ty là thành viên Hãng kiểm toán quốc tế
Cho tới nay, trong 168 doanh nghiệp kiểm toán đã đặt 192 văn phòng, chi nhánh, ngoài ra còn có trên 40 văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó có các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài, công ty kiểm toán lớn của Việt Nam và các công ty quy mô vừa được thành lập nhưng có lợi thế là thành viên của Hãng kiểm toán quốc tế hoặc ban lãnh đạo và kiểm toán viên là người đã từng hành nghề ở các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài hoặc từ công ty lớn của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 20% số lượng công ty nhưng doanh thu lại đạt tới 76% doanh thu toàn ngành, do các công ty này luôn quan tâm đến chất lượng quản trị, điều hành
và kiểm soát chất lượng dịch vụ, tình hình hoạt động của công ty khá ổn định, kiểm soát chất lượng tốt, tuyển dụng và đào tạo nhân viên có bài bản, chú trọng vào đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo điều kiện làm việc tốt cho nhân viên theo tiêu chuẩn quốc tế
2.1.3 Khách hàng và nhu cầu kiểm toán
Đối tượng khách hàng của các doanh nghiệp kiểm toán ngày càng mở rộng, trong đó chủ yếu là các đối tượng bắt buộc phải kiểm toán theo luật định, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, công ty niêm yết, công
ty đại chúng, ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tài chính, dự án
Trang 32quốc tế, dự án đầu tư xây dựng cơ bản Các doanh nghiệp, tổ chức chưa bắt buộc phải kiểm toán như công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và đơn vị hành chính sự nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có xu hướng tăng dần hàng năm.
Biểu đồ số 2.3: Cơ cấu khách hàng kiểm toán tính theo %
Do uy tín và điều kiện hoạt động khác nhau nên cơ cấu khách hàng giữa các doanh nghiệp kiểm toán còn có sự khác nhau, các doanh nghiệp kiểm toán lớn có khách hàng đa dạng, doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài chủ yếu phục vụ khách hàng là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án quốc tế chiếm 90%
do có nguồn khách hàng truyền thống từ nước ngoài Các doanh nghiệp nhà nước đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn, các tổng công ty thường chọn các doanh nghiệp kiểm toán lớn của Việt Nam vì giá phí vừa phải, am hiểu các vấn đề liên quan đến thông lệ Việt Nam Các doanh nghiệp kiểm toán nhỏ và vừa do quy mô nhỏ và uy tín chưa cao nên chủ yếu phục vụ khách hàng là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân
Nhận thức rõ vai trò, tác dụng của kiểm toán độc lập và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong các năm gần đây các qui định về bắt buộc kiểm toán được mở rộng làm khối lượng khách hàng tăng nhanh Luật Chứng khoán đã yêu cầu không chỉ các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành, tổ chức kinh doanh chứng khoán mà cả các công ty đại chúng cũng thuộc đối tượng phải kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm Xu
Trang 33hướng phát hành cố phiếu, trái phiếu, niêm yết trên thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp ngày càng tăng cũng làm gia tăng đáng kể số lượng khách hàng kiểm toán Đồng thời, chính phủ có các qui định bổ sung thêm nhiều đối tượng bắt buộc kiểm toán như kiểm toán báo cáo tài chính của quỹ đầu tư phát triển địa phương; kiểm toán vốn sở hữu của chủ đầu tư dự án khu đô thị mới, dự án khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp; kiểm toán vốn góp của các tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn để thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ Vì vậy cơ cấu khách hàng kiểm toán các năm qua có sự thay đổi đáng kể Khách hàng là Công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ phần niêm yết, cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã tăng đột biến Năm 2006 là 3.031 đơn vị chiếm 21,3%, năm 2007 là 6.762 đơn vị chiếm 37.8%, năm 2008 là 8129 đơn vị chiếm 38 % tổng số khách hàng, năm 2009 là 9759 đơn vị chiếm 38% Thống kê từ 131 công ty kiểm toán (có báo cáo VACPA) cho thấy, số lượng khách hàng năm 2009 của toàn ngành là 25.875 khách hàng Đối tượng rất đa dạng, từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến các công ty TNHH, cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã
Các khách hàng chiến lược và lâu dài của các công ty Việt Nam không nhiều, chỉ trừ các công ty có thương hiệu là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế như: VACO, AFC, AASC, A & C Hiện tại, có tới khoảng 60% khách hàng của các công
ty kiểm toán trong nước là kiểm toán theo luật định Thị phần khách hàng tự nguyện tuy đã tăng lên nhưng chưa đáng kể, doanh thu nhỏ
Theo luật kiểm toán về thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm của các loại hình doanh nghiệp
Các doanh nghiệp, tổ chức mà pháp luật hiện hành đã quy định báo cáo tài chính hàng năm phải được doanh nghiệp kiểm toán kiểm toán, bao gồm:
• Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
• Tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng
• Tổ chức tài chính, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
• Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán;
• Cơ sở thực hiện xã hội hóa
Các doanh nghiệp nhà nước và dự án sử dụng vốn nhà nước mà báo cáo tài chính hàng năm hoặc báo cáo quyết toán dự án hoàn thành phải được doanh nghiệp
Trang 34kiểm toán kiểm toán, bao gồm:
• Báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp Nhà nước trừ các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thuộc bí mật Nhà nước theo quy định của pháp luật
• Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành của các doanh nghiệp, tổ chức thực
• hiện các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước, trừ các dự án trong lĩnh vực thuộc bí mật Nhà nước theo quy định của pháp luật
• Các doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước và dự án sử dụng vốn nhà nước khác do Chính phủ quy định
• Báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp kiểm toán
Các doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu kiểm toán báo cáo tài chính hoặc các công việc kiểm toán khác theo nguyên tắc tự nguyện
Từ năm 2006 trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, môi trường kinh tế của Việt Nam càng đòi hỏi tính minh bạch trong thông tin tài chính Ước tính, mức cầu từ dịch vụ kiểm toán độc lập tăng gấp 10 lần so với năm
2006 Bên cạnh đó, nhu cầu tư vấn tài chính của các doanh nghiệp ngày càng lớn, cần những nhà cung cấp thật sự có đẳng cấp Các công ty kiểm toán nước ngoài với lợi thế về thương hiệu và nhân lực cấp cao đang có lợi thế hơn các công ty kiểm toán trong nước
Năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam rất yếu so với các công ty nước ngoài Hệ thống khách hàng chưa rộng lớn, chưa vững chắc Hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính chưa thực hiện kiểm toán toàn diện cho tất cả các lĩnh vực cần thiết của nền kinh tế thị trường Nhiều lĩnh vực theo quy định đã bắt buộc kiểm toán nhưng vẫn đang còn bỏ ngỏ chưa thực hiện kiểm toán như các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, các hợp tác xã Cho đến nay phần lớn các công ty kiểm toán trong nước chỉ kiểm toán doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, một số doanh nghiệp quốc doanh tự nguyện, kinh nghiệm cọ xát chưa bao nhiêu Còn khách hàng của những công ty quốc tế như Pricewaterhouse Coopers, Ernst & Young, KPMG là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các dự án trong nước, dự án Chính
Trang 35phủ, các ngân hàng quốc doanh.
Có những yêu cầu kiểm toán khác nhau tuỳ theo mục đích nhưng phổ biến hơn hết là kiểm toán báo cáo tài chính Ngoài ra, do các yêu cầu về quản lý, nhiều doanh nghiệp phải thực hiện các loại kiểm toán khác như kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản, kiểm toán báo cáo nội địa hoá để doanh nghiệp kiểm toán báo cáo tài chính thì trước hết phải có người đòi đọc báo cáo tài chính, đặc biệt
là báo cáo tài chính đã được kiểm toán Thế nhưng, trong các quan hệ kinh tế giữa các đối tác hiện nay, nhu cầu đòi báo cáo tài chính lại chưa được xem là quan trọng Theo một thống kê gần đây, chỉ có 10% doanh nghiệp là có thực hiện chế độ báo cáo tài chính
Cho đến nay, nhu cầu kiểm toán bắt buộc theo luật định rơi vào các đối tượng công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các công ty niêm yết chứng khoán Còn lại, việc kiểm toán theo nhu cầu tự nguyện chỉ khi các đơn vị phải sử dụng báo cáo tài chính có kiểm toán vào một mục đích cụ thể hiện tại nhu cầu tự nguyện nhờ dịch vụ kiểm toán độc lập của các các doanh nghiệp có nhiều hơn trước, đặc biệt là các công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Lý do là ở các đơn vị này, quyền sở hữu tách bạch với quyền quản lý và ở đó, hội đồng quản trị cần giám sát tài chính thông qua kiểm toán; một số khác là doanh nghiệp nhà nước cũng đã bắt đầu kiểm toán theo yêu cầu của cấp chủ quản dù nhu cầu có tăng nhưng số lượng doanh nghiệp này vẫn còn rất ít
Không chỉ để báo cáo hội đồng quản trị hay cấp chủ quản, thực tế báo cáo tài chính có kiểm toán lẽ ra rất cần thiết cho nhiều nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh, như tăng độ tin cậy của ngân hàng khi doanh nghiệp cần vay vốn, để thu hút nhà đầu tư tiềm năng, để thuyết phục đối tác liên doanh, để thuyết phục nhà cung cấp chịu bán hàng trả chậm Thế nhưng, theo nhiều công ty kiểm toán, các doanh nghiệp lại chưa thấy cần đến nhu cầu này Theo các ngân hàng trong nước, lâu nay cho vay vốn cũng dựa vào kinh nghiệm thẩm định chứ chưa hề đòi báo cáo tài chính có kiểm toán Hầu như chỉ có các ngân hàng nước ngoài mới làm
2.2 Thực trạng phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán công ty CPA HANOI
Trang 36Với sự đa dạng của các dịch vụ và sự chuyên nghiệp của các kiểm toán viên, công ty ngày càng gia tăng niềm tin của khách hàng Hiện nay đã có 562 khách hàng
sử dụng thường xuyên tất cả các dịch vụ của CPA HANOI trong hầu hết các ngành nghề như ngân hàng, thương mại, xây dựng, dịch vụ, viễn thông, sản xuất thuộc nhiều thành phần kinh tế Bằng những nỗ lực của mình, công ty đã không ngừng nâng cao và khẳng định tên tuổi trên thị trường dịch vụ kiểm toán Đến năm 2010, doanh thu của công ty đã đạt hơn 30 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm khá cao trùng bình 16,3 % một năm Có thể khái quát một số chỉ tiêu kinh doanh của CPA HANOI trong 3 năm gần đây tại bảng sau:
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của CPA HANOI
(báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010) ( đơn vị tính: triệu đông)
Tổng doanh thu 23.668,12 27.189,66 30.812,05Tổng doanh thu từ hoạt động kiểm toán 14.820,32 18.299,03 21.914,60Tổng doanh thu từ hoạt động tư vấn 4.116,25 4.307,17 4.395,13Doanh thu từ thẩm định và đào tạo 4.731,57 4.583,46 4.502,32Chi phí 19.847,26 23.081,39 25.837,69Lợi nhuận trước thuế 3.820,86 4.108,27 4.974,36
Biểu đồ 2.4: so sánh kết quả kinh doanh của CPA HANOI qua các năm
Trang 37Kết quả trên cho thấy doanh thu của công ty không ngừng tăng lên hàng năm
Cụ thể, so với năm 2008, doanh thu năm 2009 đã tăng từ 23,67 tỷ lên 27,2 tỷ đồng tức là tăng 14,8% Sang năm 2010, doanh thu của công ty tiếp tục tăng lên 30,8 tỷ đồng, đạt 113% so với năm 2009 Tương ứng với sự gia tăng về doanh thu thì lợi nhuận của công ty cũng không ngừng tăng qua các năm Nếu như năm 2008, lợi nhuận trước thuế của công ty đạt hơn 3,8 tỷ, năm 2009 tăng lên đạt khoảng 4,1 tỷ thì đến năm 2010, lợi nhuận của công ty đã là gần 5 tỷ, tăng 21% so với năm 2009 Những con số trên là minh chứng cho sự hoạt động hiệu quả và ngày càng phát triển của công ty
Cũng từ số liệu trên có thể thấy doanh thu từ kiểm toán tăng qua các năm ( trung bình kiểm toán tăng khoảng 16,3%/năm) Điều này phản ánh đúng thực tế sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu về dịch vụ kiểm toán trong thời gian gần đây Riêng chi nhánh CPA HANOI có doanh thu bình quân khoảng 6 tỷ đồng, với tốc độ tăng doanh thu bình quân 8%/ năm và lợi nhuận trung bình đạt khoảng 7 đến 8 trăm triệu đồng
Tuy nhiên chi phí vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng doanh thu cụ thể: năm
2008 chi phí chiếm 83, 86% trên tổng doanh thu, năm 2009 tỷ lệ này đã tăng lên 84,9%, đến năm 2010 đã giảm xuống còn 83,85% Do tỉ lệ chi phí trên doanh thu rất cao nên mặc dù tổng doanh thu tăng đáng kể nhưng lợi nhuận thu về ko tương xứng
Với những thành công kể trên, toàn công ty nói chung cũng như chi nhành Hà Nội nói riêng đã đóng góp không nhỏ vào nguồn thu của ngân sách nhà nước Tuy vẫn còn gặp phải những khó khăn nhưng công ty đã từng bước khắc phục để khẳng định vị trí của mình
Bảng 2.4: Danh sách khách hàng chính của công ty Loại hình
Doanh
nghiệp
Tên doanh nghiệp