1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quan điểm phát triển của triết học với vấn đề phát triển du lịch ở Thành phố Hội An.

107 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 684,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quán triệt quan điểm phát triển cũng là nguyên tắc chung nhất chỉ đạo mọi hành động suy nghĩ của con người, đòi hỏi mỗi chúng ta khi xem xét sự vận động, biến đổi, và phát triển của thế

Trang 1

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN THẾ HÙNG

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hiền

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN 7

1.1 NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 7

1.1.1 Các quan điểm trong triết học về sự phát triển 7

1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự phát triển 23

1.2 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 32

1.2.1 Du lịch, hoạt động du lịch và ngành kinh tế du lịch 32

1.2.2 Phát triển du lịch và những vấn đề đặt ra hiện nay 41

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HỘI AN HIỆN NAY 46

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 49

CHƯƠNG 2 DU LỊCH HỘI AN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN 50

2.1 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HỘI AN 50

2.1.1 Tiềm năng du lịch và những nét đặc thù của thành phố Hội An 50

2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch của Hội An trong thời gian qua 64

2.2 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN VÀO PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở HỘI AN HIỆN NAY 68

Trang 5

2.2.2 Giải quyết các mâu thuẫn để phát triển du lịchở Hội An 72

2.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở HỘI AN HIỆN NAY 81

2.3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp 81

2.3.2 Các giải pháp chủ yếu 86

2.3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 6

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

2.1 Khách lưu trú tại Hội An giai đoạn 2001-2005 và

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi nguyên lý, quy luật trong hệ thống phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học làm công cụ cho việc nhận thức và cải tạo thế giới Nội dung nguyên lý về sự phát triển phản ánh con đường phát triển của mọi sự vật, hiện tượng và các quá trình trên thế giới Đó là một quá trình vận động theo chiều hướng đi lên: từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển là khuynh hướng phổ quát của

tự nhiên, xã hội và tư duy

Xuất phát từ nguyên lý về sự phát triển cung cấp cho chúng ta nguyên

tắc phương pháp luận về quan điểm phát triển Quan điểm này đòi hỏi trong

nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần quán triệt sự phát triển, luôn xem xét sự vật trong chiều hướng phát triển Đồng thời, tích cực tạo những điều kiện thuận lợi cho những cái mới, tiến bộ ra đời trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của cái cũ Quán triệt quan điểm phát triển cũng là nguyên tắc chung nhất chỉ đạo mọi hành động suy nghĩ của con người, đòi hỏi mỗi chúng

ta khi xem xét sự vận động, biến đổi, và phát triển của thế giới phải có tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức cái mới và ủng hộ cái mới

Là một di sản văn hóa thế giới, thành phố Hội An đang trở thành điểm đến lý tưởng của du khách trong và ngoài nước Dễ dàng nhận thấy, điểm sáng nhất trong bức tranh kinh tế Hội An chính là vai trò và những đóng góp

từ ngành Du lịch Trong xu thế hội nhập, giao lưu kinh tế - văn hóa của khu vực và thế giới, với những ưu thế là một Trung tâm du lịch, là giao điểm của con đường giao lưu kinh tế - văn hóa trong nước và quốc tế, Hội An sẽ có những thuận lợi to lớn để phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch Nhưng đồng thời, sự phát triển của du lịch ở Hội An cũng đang đứng trước những thách

Trang 8

thức to lớn Đó sẽ là những rào cản cần được giải quyết để ngành Du lịch ở Hội An phát triển

Vấn đề phát triển du lịch ở Hội An ngày càng nhận được sự quan tâm của các đơn vị quản lý, của chính quyền Tỉnh cũng như của cộng đồng dân cư nơi phố cổ Vì vậy, việc tìm con đường phát huy những thế mạnh và giải quyết những khó khăn, thách thức để phát triển du lịch nói riêng và kinh tế -

xã hội nói chung đang trở thành một yêu cầu vừa mang tính lý luận và thực

tiễn Từ đó, chúng tôi chọn vấn đề “Quan điểm phát triển của triết học với

vấn đề phát triển du lịch ở thành phố Hội An” làm luận văn tốt nghiệp của

mình để góp phần vào sự phát triển của thành phố Hội An

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về quan điểm phát triển trong triết học, luận văn trình bày và luận giải thực trạng phát triển của ngành Du lịch ở thành phố Hội An

Từ đó, đề xuất phương hướng và biện pháp nhằm vận dụng quan điểm phát triển vào thực hiện tốt hơn vấn đề phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành phố Hội An hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tập trung làm rõ quan điểm phát triển, vận dụng vào trong công tác phát triển du lịch ở thành phố Hội An trong thời gian qua và chiến lược phát triển du lịch trong những năm đến

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là tập trung làm sáng tỏ việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển vào phát triển du lịch Hội An trên cơ sở những số liệu từ năm 2000 - 2010 và hướng quy hoạch du lịch đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh

Trang 9

- Phương pháp lôgic và lịch sử, quy nạp và diễn dịch

Chương 2 Du lịch Hội An dưới góc nhìn của quan điểm phát triển

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Liên quan đến Nguyên lý về sự phát triển đã được rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà triết học, những học giả nổi tiếng đề cập đến Trong

đó, có một số công trình nghiên cứu dưới dạng sách và giáo trình như:

- “Lich sử phép biện chứng”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002;

Quyển sách gồm 6 phần: Phần 1: Lênin nghiên cứu phép biện chứng với tính cách là logic học và lý luận nhận thức; Phần 2: Lênin nghiên cứu phép biện chứng của chủ nghĩa đế quốc Phép biện chứng của chiến lược và sách lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa; Phần 3: Lênin phát triển phép biện chứng duy vật trong thời kỳ sau cách mạng tháng Mười Bước đầu của sự quá độ lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; Phần 4: Những vấn đề của lý thuyết biện chứng trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô; Phần 5: Biện chứng của thời kỳ chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi

và chuyển dần lên chủ nghĩa Cộng Sản ở Liên Xô; Phần 6: Sự phát triển phép biện chứng duy tính cách logic học, lý luận nhận thức và phương pháp luận của khoa học

-“Giáo trình triết học Mác - Lênin” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2009 Trong chương 2: Phép biện chứng duy vật, các tác giả đã trình bày tóm tắt quan điểm siêu hình về sự phát triển, sau đó trình bày nguyên lý về sự phát triển dưới góc độ phép duy vật biện chứng Phát triển là một quá trình vận

Trang 10

động của sự vật theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Các tác giả cũng đã khái quát các tính chất của

sự phát triển như: (1)Tính khách quan; (2) Tính phổ biến và (3) Tính đa dạng phong phú của sự phát triển Từ đó, rút ra các ý nghĩa phương pháp luận của

sự phát triển Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức và cải tạo thế giới Theo nguyên lý này, trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển Theo đó cần phải: Xem xét sự vật và hiện tượng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”, trong sự biến đổi của nó; Luôn đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên Phát triển là quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận, nghịch, đầy mâu thuẫn vì vậy, phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển; Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên đồng thời phải phát huy nhân tố chủ quan của con người để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng quy luật; Phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển

-“Tri ết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu” tác giả Phạm Xuân

Nam do Nxb Khoa học xã hội phát hành, được biên soạn với nội dung bao gồm 7 chương Trong đó, Chương 1 Quan niệm về triết lý, triết lý phát triển; Chương 2 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về triết lý phát triển xã hội tổng quát và Chương 7 Triết lý về mối quan hệ giữa con người và

tự nhiên trong phát triển bền vững Đây là những nguồn tham khảo rất ý nghĩa cho tác giả Nội dung sách là kết quả nghiên cứu của 6 đề tài nhánh thuộc chương trình nghiên cứu khoa học cấp bộ của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia từ cuối năm 1997 đến năm 2001

Trang 11

- “Triết học” đồng tác giả PGS,TS Lê Hữu Ái & PGS,TS Nguyễn Tấn Hùng cũng đã nghiên cứu về nguyên lý sự phát triển một cách khái quát nội dung, tính chất và con đường của sự phát triển Đó là đường “xoáy ốc” trong

đó bao gồm cả những bước thụt lùi tương đối Nguồn gốc của sự phát triển xuất phát từ chính bản thân của sự vật, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật

Ngoài ra, còn một số công trình khác có đề cập đến sự phát triển dưới góc độ quan niệm của các triết gia như: “Triết học Hy Lạp cổ đại” của PTS Đinh Ngọc Thạch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 1999; “Lịch sử Triết học phương Tây” của PGS, TS Nguyễn Tiến Dũng, Nhà xuất bản Văn nghệ, TP

Hồ Chí Minh - 2009

Các công trình nghiên cứu dưới hình thức các báo cáo khoa học, bài viết đăng trên báo, tạp chí viết về đề tài phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Hội An cũng hết sức phong phú, nhìn nhận từ nhiều góc cạnh khác nhau như:

Bùi Văn Tiếng (2011), “Bàn về văn hóa Hội An”, Tạp chí Phát triển kinh tế -

xã h ội Đà Nẵng, Số 24/2011, Tr 72-75; Hội Thảo phát triển bền vững du lịch

Hội An diễn ra tại thành phố Hội An ngày 22-23 tháng 11 năm 2012, các bài báo cáo tại Hội thảo đã có những thảo luận và đề xuất về việc xây dựng một thương hiệu chung từ các sản phẩm du lịch vì lợi ích cộng đồng, thiết kế lại

và củng cố các trung tâm thông tin du khách, giới thiệu các bộ sản phẩm du lịch mới mẻ và có tính văn hóa, đồng thời xác định các vấn đề cần được hỗ

trợ trong tương lai Các bài viết trong Kỷ yếu HTKH Phát triển nguồn nhân

l ực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Đà Nẵng - 12/2011; Kỷ yếu HTKH trong khuôn khổ dự án TRIG Phát triển kinh tế - xã hội miền Trung và

Tây Nguyên g ắn với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, Đà Nẵng - 6/2012; Kỷ yếu HTKH Phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội khu vực Duyên hải

mi ền Trung và Tây Nguyên, Đà Nẵng - 9/2011

Trang 12

Các bài viết trên những trang báo mạng về chủ đề phát triển du lịch ở

Hội An cũng hết sức phong phú như: “Du lịch Hội An: Thách thức mới” dẫn

nguồn từ Báo Quảng Nam đã đề cập sơ lược về thực trạng cũng như nêu lên

các thách thức mới của du lịch Hội An trong thời gian tới; “Quan điểm phát

tri ển trong Chiến lược và thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội

sỹ kinh tế của Phan Văn Tú năm 2011 tại Đại học Đà Nẵng về: “Các giải pháp để phát triển làng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”

Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập, phân tích, làm rõ về nguyên lý phát triển, và những cách tiếp cận vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Nhưng xem xét sự phát triển vào thực tiễn hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Hội An thì

chưa có một đề tài nào đề cập tới Vì vậy, chúng tôi chọn “Quan điểm phát

triển của triết học với vấn đề phát triển du lịch ở thành phố Hội An” làm

luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN 1.1 NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

1.1.1 Các quan điểm trong triết học về sự phát triển

a Quan điểm phát triển trong triết học Hy Lạp cổ đại

Các nhà triết học tự nhiên như Talet, Acnaximen của trường phái Milet

đã tiếp cận với qua niệm về vận động và biến đổi của thế giới Talét (625-547

tr.CN) được xem là người sáng lập trường phái Milet Talet cho rằng, nguồn gốc của thế giới vạn vật là nước Nước là bản chất chung của tất thảy mọi vật, mọi hiện tượng trong thế giới Mọi cái trên thế gian đều được sinh ra từ nước

và khi bị phân hủy lại trở về dạng tồn tại ban đầu là nước Nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo nên thì không ngừng biến đổi, phát triển, sinh ra

và chết đi Toàn thể thế giới là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại tựa như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó

Trong vũ trụ học của mình, Acnaximen (610-546 tr.CN) coi không khí

(apeirôn) là vô hình và trong suốt là trạng thái đầu tiên của mọi vật Tự bản thân apeirôn sinh ra mọi cái, đồng thời là cơ sở vận động của chúng Toàn bộ

vũ trụ được cấu thành từ apeirôn tồn tại như một vòng tuần hoàn và biến đổi không ngừng Không khí tồn tại ở hai quá trình đối lập là loãng và đặc lại,

“không khí loãng ra biến thành lửa Không khí đặc lại biến thành gió, gió thành mây, mây thành nước, nước thành đất, đất biến thành đá:

Không khí → gió → mây → nước → đất → đá

Vật chất theo con đường này bằng cách hóa đặc từ không khí thành đá, hoặc theo con đường ngược lại từ đá thành không khí bằng cách từng bước loãng ra”.[15, tr 14] Nhìn chung các nhà triết học thuộc trường phái Milet đã bước đầu nhìn nhận thế giới một cách biện chứng mặc dù còn sơ khai, chất

Trang 14

phác Xem thế giới như một chỉnh thể thống nhất và đi tìm nguồn gốc cũng như bản chất của nó ở một dạng vật chất cụ thể nào đó Dầu vậy, những quan điểm đó đã bước đầu đặt nền móng cho sự phát triển các tư tưởng duy vật về thế giới cũng như sự phát triển

Hêraclit (540-475 tr.CN) nhà biện chứng nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại

cũng giống như những người đương thời, ông tập trung đi tìm nguồn gốc của thế giới và ông cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi vật “mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” Lửa không chỉ là cơ sở của vạn vật mà còn là khởi nguyên sinh ra chúng “cái chết của lửa - là sự ra đời của không khí, và cái chết của không khí là sự ra đời của nước, từ cái chết của nước sinh ra không khí (từ cái

chết của nước - lửa và ngược lại)” Hêraclit dùng con đường đi lên và đi

xu ống để mô tả sự chuyển hóa của sự vật Con đường đi xuống bắt đầu từ lửa

→ không khí→ nước → đất Còn con đường đi lên bắt đầu từ đất → nước→ không khí→ và cuối cùng trở về dạng tồn tại ban đầu là lửa Nhưng theo Hêraclit thì chuẩn mực của mọi sự vật là logos, đươc hiểu không chỉ là từ ngữ

mà còn là quy luật khách quan của vũ trụ Quy định trật tự và chuẩn mực của mọi cái Cái logos đó tồn tại vĩnh viễn, phổ biến và thực chất đó là quy luật của tự nhiên Theo ông mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều thay đổi, vận động và phát triển không ngừng Ông cho rằng, “Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau”[40, tr 158] Như vậy, Hêraclit đã có một cái nhìn biện chứng chất phác và tiến bộ về sự vận động Đó là vận động của sự vật gắn liền với thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Chính mâu thuẫn tồn tại một cách phổ biến trong sự vật đã trở thành nguồn gốc phát triển của vạn vật Chiếm vị trí nổi bật trong triết học Hi Lạp cổ đại là khuynh hướng

nguyên tử luận mà đại biểu là Đêmôcrit Ông là một trong những nhà triết học

Trang 15

duy vật lớn nhất thời cổ đại Đêmôcrit cho rằng khởi nguyên của các thế giới

là nguyên tử Các nguyên tử được ông cho là nhỏ nhất không phân chia được, chúng chỉ khác nhau về trật tự, hình dạng, tư thế… Vận động được xem là bản chất của nguyên tử, “có vô số thế giới, chúng có đại lượng khác nhau, xuất hiện từ những khoảng vô tận, sinh ra và mất đi… Một thế giới đang phát triển, số khác đã đạt tới sự trưởng thành, số thứ ba đang suy thoái Các thế giới đang ra đời ở một nơi, nhưng lại đang biến mất ở nơi khác Chúng bị hủy diệt, khi va chạm vào nhau Một số thế giới không có động vật và thực vật và hoàn toàn không có nước” Đêmôcrit tán đồng với quan điểm của Hêraclit khi cho rằng từ sự vật bé nhất cho đến thế giới không có gì là trường tồn cả, tất cả đều là một quá trình biến đổi không ngừng

Học thuyết nguyên tử của Đêmôcrit là thành quả vĩ đại của tư tưởng duy vật trong thế giới cổ đại Những tư tưởng vũ trụ học của ông xây dựng trong

lý luận nguyên tử về cấu tạo vật chất và thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát có một ý nghĩa sâu sắc đối với lịch sử triết học Thừa nhận vũ trụ là vô tận và vĩnh cửu, Đêmôcrit cho rằng, có vô số thế giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và tiêu vong Ông phỏng đoán rằng, vận động không tách rời vật chất - đó là một phỏng đoán thiên tài Theo ông, vận động của những nguyên

tử là vĩnh viễn, không có điểm kết thúc

Trong triết học Hy Lạp cổ đại ngoài những tư tưởng mang khuynh hướng duy vật, thì bên cạnh đó những tư tưởng duy tâm về sự vận động và phát triển cũng hết sức phong phú Nổi bật phải kể đến quan niệm về thế giới

ý niệm của Platon và thuyết hình dạng của Aristot

Platon(427-347 TCN) là đại biểu lớn nhất trong triết học duy tâm Hy

Lạp thời kỳ cổ đại Nhiều người đã đồng quan điểm khi cho rằng thuật ngữ

“idealism” (chủ nghĩa duy tâm) bắt nguồn từ ý niệm lần đầu tiên được Platon đưa ra và về sau được Hegel kế thừa phát triển trong hệ thống triết học duy

Trang 16

tâm khách quan của mình Ý niệm là gì? Theo tiếng Hi Lạp ý niệm chính là những nghĩa rất rộng như loài, giống, hình thức…“trong chủ nghĩa duy tâm khách quan “ý niệm”, sản phẩm của quá trình tư duy bị “biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực” Đối với Mác “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” [23, tr 35] Học thuyết ý niệm là vấn đề trung tâm của hệ thống triết học Platon vì vậy không chỉ là nền tảng của thế giới quan mà còn là cơ sở của nhận thức

Trong học thuyết “ý niệm” ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất

đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các

sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm Nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức

về ý niệm Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại" "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu

tự nhiên là cái có tính thứ nhất Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất Về mặt nhận thức luận Platon cũng mang tính duy tâm Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó Nhận thức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ

Theo Platon tri thức được phân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn

và tri thức mờ nhạt Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có được nhờ hồi tưởng Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng

Trang 17

sai không có chân lí Quan niệm duy tâm về thế giới đã chi phối quan niệm về

xã hội và con người Sự khác biệt trong cấu trúc và linh hồn đã quy định sự khác nhau về đẳng cấp xã hội Tương ứng với ba phần của linh hồn con người (lý tính, cảm xúc, tình cảm) chia xã hội ra làm ba hạng người tùy theo bộ phận linh hồn nào đóng vai trò chủ đạo, đó là những kẻ thống trị, tầng lớp võ

sĩ, tầng lớp những người lao động Trong quan niệm về thế giới Platon đã theo lập trường duy tâm khách quan, coi mọi sự vật chỉ là sự hiện thân hay là

sự mô phỏng của ý niệm Quan niệm này của Platon đã phủ nhận sạch trơn sự vận động, phát triển của sự vật, cho rằng bất cứ sự vật nào cũng chỉ là sự thể hiện đặc thù các ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất

Cũng giống như triết học Platon, Aristot cũng bàn tới ý niệm, nhưng những quan niệm về thế giới ý niệm của Aristot đối lập hoàn toàn với những

gì mà Platon đã trình bày trong học thuyết của mình Theo Aristot khởi nguyên của vạn vật, của thế giới đã có vật chất, đó là vật chất thuần túy chưa

bị giới hạn trong bất kỳ một hình thức nào cả Tồn tại trong một trạng thái không tồn tại, nghĩa là nó chưa là một cái gì cả, nhưng lại tồn tại với tư cách

là khả năng trở thành một cái gì đó

Aristot trình bày học thuyết về bốn nguyên nhân của quá trình vũ trụ: 1 nguyên nhân vật chất; 2 Nguyên nhân mô thức; 3 Nguyên nhân vận động; 4 Nguyên nhân mục đích Sự vật nào có đầy đủ những nguyên nhân trên mới tồn tại được Học thuyết về vận động (kinèsis) được Aristot trình bày và phân chia thành bốn dạng vận động có thể là: i) tăng và giảm; ii) biến đổi về chất hay chuyển hóa; iii) xuất hiện và diệt vong; iv) chuyển dịch vị trí trong không gian (vận động cơ học) Trong bốn dạng đó Aristot xem vận động trong không gian là dạng chủ yếu, điều kiện của tất cả các dạng còn lại Chẳng hạn sự tăng lên có nghĩa là một vật thể nào đó tiếp cận một

Trang 18

vật thể khác và kết hợp với nó, để trở thành vật thể lớn hơn, vật thể

t ăng trưởng Tương tự như vậy sự giảm đi có nghĩa là có một cái gì

đó tách ra từ một vật thể chuyển dịch trong không gian, vậy sự tăng

và giảm quyết định sự chuyển dịch trong không gian như một điều tất yếu Đối với sự biến đổi về chất có thể giải thích như sau: nếu trong vật thể diễn ra sự thay đổi chất của nó thì nguyên nhân của biến đổi, chuyển hóa chính là sự liên kết vật thể đang biến đổi với vật thể tạo nên sự biến đổi trong nó Nhưng điều kiện của sự liên kết

là tiếp cận, mà tiếp cận chính là vận động trong không gian” [32, tr 145-146]

Như vậy, Aristot đã không thừa nhận sự vận động tự thân của vật chất

mà mong muốn đi tìm nguyên nhân thực sự của vận động bên ngoài sự vật Aristot còn chia vận động trong không gian thành: vận động vòng tròn; vận động đường thẳng; kết hợp vận động vòng tròn và vận động đường thẳng Trong đó, vận động vòng tròn là vận động có tính liên tục Theo Aristot vận động vòng tròn là vận động hoàn hảo nhất vì ba lý do: 1) vận động ấy diễn ra liên tục, vĩnh cửu; 2) nếu cái toàn thể nào đó vận động theo vòng tròn thì trong khi vận động, nó vẫn có thể ở trạng thái đứng im, cân bằng tương đối Mặc dù tất cả các bộ phận của nó, trừ trục, luôn vận động, nhưng không gian, xét như bể chứa vũ trụ, mãi mãi vẫn vậy; 3) vận tốc của vận động vòng tròn không đổi, điều mà vận động theo đường thẳng không thể có được do chỗ vận tốc của nó phụ thuộc vào khoảng cách từ vật thể vận động đến vị trí định sẵn

Ví dụ vật thể rơi càng gần mặt đất vận tốc đạt được càng nhanh [12, tr 147] Aristot đã chưa nhân thức được khuynh hướng phát triển đi lên của sự vật hiện tượng mà chỉ dừng mới dừng lại ở sự vận động theo một vòng tròn khép kín mà thôi Đối với ông sự phát triển được hiểu như là sự chuyển dịch giản đơn trong không gian, ông đã không trình bày được sự phức tạp, biến

Trang 19

hóa của sự phát triển Đó chính là điểm hạn chế của ông, thể hiện sự dao động trong lập trường duy vật và duy tâm của Aristot Những đóng góp của Aristot đối với sự phát triển của triết học nói riêng, của đời sống nhân loại nói chung

là hết sức lớn lao

b Quan điểm phát triển trong triết học cổ đại ở Trung Quốc và Ấn Độ

Triết học phương Đông mang những nét đặc thù riêng biệt so với triết học phương Tây Trung Quốc và Ấn Độ là hai trung tâm văn minh, văn hóa lớn của nhân loài Đồng thời nơi đây cũng là hai nền triết học lớn của các dân tộc phương Đông cổ đại nói chung và các dân tộc châu Á nói riêng

Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn

đề của triết học Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan, triết học ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái quát khá sâu sắc, đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng triết học của nhân loại Mác từng nói rằng lịch sử phương Đông là lịch sử tôn giáo, điều này thể hiện rõ nhất ở Ấn Độ với rất nhiều các tôn giáo, giáo phái khác nhau Triết học ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt Tư tưởng triết học

ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua bộ kinh Vêda, Upanisad Tuy nhiên, tôn giáo của ấn Độ cổ đại có xu hướng "hướng nội" chứ không phải "hướng ngoại" như tôn giáo phương Tây Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học - tôn giáo ấn Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự

"giải thoát" tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ (Atman và Brahman) Trong triết học Ấn Độ có nhiều trường phái khác nhau,

và mỗi phái lại có cho riêng mình những tư tưởng, quan niệm, quan điểm khác nhau Quan niệm về sự phát triển cũng nằm trong số đó

Quan điểm về sự phát triển của phái Sàmkhuya, Theo trường phái này

Trang 20

thì “sự phát triển của thế giới đi từ biểu hiện đến không biểu hiện, họ cũng coi

“thế giới này là vật chất, nguyên nhân của thế giới vì thế cũng là vật chất” [40, tr 126] Thế giới vật chất là bao la, vô cùng, vô tận, không ngừng biến đổi, vận động từ dạng này sang dạng khác, nó tồn tại vĩnh hằng, không mất đi Theo quan niệm của trường phái này thì thế giới được cấu tạo bởi sự biến đổi của các yếu tố: Sattva (là trí tuệ, trí năng với thuộc tính nhẹ, sáng, tươi vui), Rajas (là năng lượng với những thuộc tính động, kích thích), Tamas (là khối lượng, quán tính với những thuộc tính nặng, khó khăn) Sự vận động và tác động của các yếu tố nói trên đã phá vỡ sự cân bằng vốn có của thế giới vật chất và tạo nên sự biến đổi, phát triển Ở đây, phái Sàmkhuya đã rơi vào siêu hình khi quy sự vận động của vật chất về một số thuộc tính vận động cụ thể Nhưng cho thấy từ rất sớm họ đã hình thành tư tưởng nguyên nhân của thế giới là vật chất, thế giới không ngừng vận động, phát triển Mặc dù cách lý giải còn giản đơn, mang tính siêu hình như đã nói ở trên nhưng những tư tưởng của trường phái Sàmkhuya đã rất tiến bộ khi chỉ ra thế giới các sự vật tồn tại và biến đổi trong không gian và thời gian

Jaina là một tôn giáo xuất hiện gần đồng thời với Phật giáo Người sáng

lập ra trường phái này là là Maharvira, có hiệu là Jaina (nghĩa là Chiến thắng) Triết học cơ bản của Jaina là học thuyết về "cái tương đối" Theo thuyết này, tồn tại đầu tiên là bất biến, vô thủy, vô chung, sự biến đổi của vạn vật là không cùng; thế giới vạn vật là sự thống nhất của cái biến đổi và cái bất biến Cái vĩnh hằng là vật chất; cái không vĩnh hằng là các dạng của vật chất (Thí dụ: Đất sét thì không thay đổi, nhưng cái bình bằng đất sét thì có thể thay đổi) Điều đó được thể hiện qua các khái niệm: 1 Tồn tại; 2 Không tồn tại; 3 Vừa tồn tại vừa không tồn tại; 4 Không thể miêu tả; 5 Tồn tại và không thể miêu tả; 6 Không tồn tại và không thể miêu tả; 7 Tồn tại và không tồn tại và không miêu tả được Phái Jaina cũng đã diễn tả được sự biến đổi không

Trang 21

ngừng của thế giới vật chất từ dạng này sang dạng khác chứ không đứng yên:

“Vật chất, vật thể là những biểu hiện của Ajiva, có đặc tính sờ mó được, có

âm thanh, mùi, sắc và vị…”[39, tr 42] Để giải thích cho mọi sự tồn tại trên

thế giới họ đưa ra khái niệm “tồn tại đầu tiên” Chính cái “tồn tại đầu tiên”

đã sản sinh ra muôn vật và để duy trì thế giới đa dạng nó cần tồn tại một cách bất biến, vô thủy, vô chung Thế giới này là bất biến, nhưng là luôn luôn vận động biến đổi, chứ không phải bất biến đứng yên

Như vậy có thể thấy rằng trong quan niệm về thế giới của trương phái Jaina vừa mang tính siêu hình vừa biện chứng, vừa lộ diện khuynh hướng duy vật, nhưng đồng thời thể hiện tính chất duy tâm

Phái Lokàyata“Lokàyata là triết học duy vật triệt để nhất trong các

tr ường phái triết học Ấn Độ cổ” [40, tr 141] Phái đã khẳng định thế giới sự

vật hiện tượng có nguồn gốc từ vật chất và luôn vận động biến đổi Thế giới này có nguồn gốc từ bốn yếu tố vật chất là đất, nước, lửa, không khí Mỗi yếu

tố đều tồn tại trong sự vận động và tác động lẫn nhau, chính từ đó cấu thành nên vạn vật, là cơ sở tạo nên sự biến đổi đa dạng phong phú của thế giới vật chất Cũng theo họ ý thức nảy sinh từ vật chất Đây là một trong những tư tưởng có khuynh hướng duy vật, tuy nhiên lại chưa có phương pháp luận đúng đắn, khoa học

Đạo Phật ra đời vào thế kỷ VI tr CN Người sáng lập là Siddharta (Tất

Đạt Đa) Sau này ông được người đời tôn vinh là Sakyamuni (Thích ca Mâu ni), là Buddha (Phật) Phật là tên theo âm Hán - Việt của Buddha, có nghĩa là giác ngộ Phật giáo là hình thức giáo đoàn được xây dựng trên một niềm tin từ đức Phật, tức từ biển lớn trí tuệ và từ bi của Siddharta Kinh điển của Phật giáo gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng Phật giáo cũng luận về thuyết luân hồi và nghiệp, cũng tìm con đường "giải thoát" ra khỏi vòng luân hồi Trạng thái chấm dứt luân hồi và nghiệp được gọi là Niết bàn Nhưng Phật

Trang 22

giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ chúng sinh thuộc bất kỳ đẳng cấp nào cũng được "giải thoát" Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân - quả Theo Phật giáo, nhân - quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy Mối quan

hệ nhân quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác

Về thế giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng Tối cao (Brahman) nào sáng tạo ra vũ trụ Cùng với sự phủ định Brahman, Phật giáo cũng phủ định phạm trù (Anatman - nghĩa là không có tôi) và quan điểm "vô thường"

Quan điểm "vô ngã" cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự "giả hợp" do hội đủ nhân duyên nên thành ra "có" (tồn tại) Sự đa dạng của tồn tại là do

“nhân duyên” tạo ra “Duyên ở đây phải được hiểu vừa là nguyên nhân sinh

ra cái mới, vừa là kết quả của quá trình biến đổi cái cũ trước đó Nhân nhờ duyên mà thành quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới nhờ duyên

mà thành quả mới… quá trình cứ thế nối nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài sinh sinh hóa hóa không ngừng”[39, tr 52]

Nhân duyên hội thì sự vật tạo ra, nhân duyên hết thì sự vật không còn

“Nhân duyên” quan hệ với “Nhân quả” Nhân là nghiệp lực Quả là nghiệp lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên “Nhân duyên khởi” và “Nhân quả”

là nguyên lý phổ biến tuyệt đối của mọi tồn tại Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua là do "Ngũ uẩn" (5 yếu tố) hội tụ lại là: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức) Như vậy là không có cái gọi là "tôi" (vô ngã)

Quan điểm "vô thường" cho rằng vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: sinh - trụ - dị - diệt Vậy thì "có có" - "không không" luân hồi bất tận;

Trang 23

"thoáng có", "thoáng không", cái còn thì chẳng còn, cái mất thì chẳng mất Phật giáo coi mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều là “ảo”và “giả”, không có thực, chỉ do vô minh đem lại “tất cả mọi vật đều vô thường đều thay đổi, không có vật nào là ngã cả”[39, tr 55] Dòng biến chuyển ấy là vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận, không có khởi đầu không có kết thúc

Quan niệm về sự phát triển trong triết học Phật giáo đã có nhiều điểm tiến bộ song họ lại rơi vào yếu thế khi thừa nhận sự phát triển đạt tới một giới hạn là cõi “niết bàn”

Triết học Ấn Độ cổ đại cho chúng ta những quan niệm hết sức phong phú, đa dạng về sự vận động, phát triển của thế giới Tuy nhiên, những quan niệm này đã bị bao phủ bởi những sự đậm nhạt của màu sắc tôn giáo Do đó, các quan điểm cũng mang yếu tố huyền bí, trừu tượng, hòa quyện với nhau tạo nên nét đặc trưng trong triết lý về thế giới quan và nhân sinh quan của người Ấn Độ Đồng thời các nhà triết học Ấn Độ cũng chưa trình bày được một cách logic, khoa học về sự phát triển Họ mới chỉ lý giải sự vận động đó được tạo bởi một nguyên nhân mơ hồ nào đó mà chưa thấy được nguồn gốc, phương thức, khuynh hướng của sự phát triển

Nền triết học Trung Quốc cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ

chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề

xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong kiến phương Đông

Bên cạnh những tư duy sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung

Trang 24

Quốc thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ, cũng như những lý luận hết sức sâu sắc khi bàn

về sự phát triển

Âm Dương và Ngũ hành là hai phạm trù quan trọng trong tư tưởng triết

học Trung Quốc, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sự sản sinh biến hóa của vũ trụ Thuyết Âm - Dương thể hiện quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, và ở đó đã thể hiện tư tưởng biện chứng sơ khai về tự nhiên, xã hội và con người Việc sử dụng hai phạm trù Âm - Dương và Ngũ hành đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm Thượng đế, Quỷ thần truyền thống đem lại Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biện chứng trong tư tưởng triết học của người Trung Hoa Âm - Dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưng lại thống nhất với nhau trong vạn vật, là khởi nguyên của mọi sinh thành biến hóa Âm - Dương là điều kiện tồn tại và động lực của mọi

sự vận động, phát triển

Theo thuyết Âm - Dương sự vận động và biến đổi bắt nguồn từ hai thế lực đối lập Âm và Dương "Dương" nguyên nghĩa là ánh sáng mặt trời hay những gì thuộc về ánh sáng mặt trời và ánh sáng; "Âm" có nghĩa là thiếu ánh sáng mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối Về sau, Âm - Dương được coi như hai khí; hai nguyên lý hay hai thế lực vũ trụ: biểu thị cho giống đực, hoạt động, hơi nóng, ánh sáng, khôn ngoan, rắn rỏi, v.v tức là Dương; giống cái, thụ động, khí lạnh, bóng tối, ẩm ướt, mềm mỏng, v.v tức là Âm Chính do sự tác động qua lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất Trong Kinh Dịch sau này có bổ sung thêm lịch trình biến hóa của vũ trụ có khởi điểm là Thái cực Từ Thái cực sinh ra Lưỡng nghi (âm dương), rồi Tứ tượng, rồi Bát quái Như vậy, sự tác động qua lại giữa âm - dương không chỉ

là nguồn gốc sinh ra vạn vật mà nó còn là nguồn gốc của mọi sự vận động

Trang 25

phát triển

Thuyết Âm - Dương giải thích vạn vật dựa vào hai thế lực đối lập thì thuyết Ngũ Hành dựa vào năm yếu tố khởi thủy: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Năm yếu tố này là tượng trưng cho tính chất, màu sắc và phương hướng, chúng không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trái lại chi phối lẫn nhau theo nguyên tắc tương sinh, tương khắc

“Họ cho rằng quá trình tương sinh (bồi đắp, nuôi dưỡng) và tương khắc (ước chế) là quá trình sinh diệt, và thực chất của quá trình tồn tại của vật chất

là quá trình sinh - diệt không thôi đó”[40, tr 53]

Như vậy thuyết Âm - Dương, Ngũ Hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới, giải thích quy luật phát triển khách quan của thế giới Tuy còn chất phác nhưng thuyết Âm - Dương, Ngũ Hành mang tính biện chứng cao

Trong triết học Lão Tử, những tư tưởng về sự phát triển được thể hiện ở

phép biện chứng chất phác Quan điểm về đạo "Đạo" là sự khái quát cao nhất của triết học Lão - Trang, ý nghĩa của nó có hai mặt: thứ nhất Đạo là bản nguyên của vũ trụ, có trước trời đất, không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho

nó là "đạo" Vì "đạo" quá huyền diệu, khó nói nên có thể quan niệm ở hai phương diện "vô" và "hữu" "Vô" là nguyên lý vô hình, là gốc của trời đất

"Hữu" là nguyên lý hữu hình là mẹ của vạn vật Công dụng của đạo là vô cùng, đạo sáng tạo ra vạn vật Vạn vật nhờ có đạo mà sinh ra, sự sinh sản ra vạn vật theo trình tự "đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật" Đạo còn là chúa tể vạn vật và đạo là phép tắc của vạn vật Thứ hai, Đạo còn là quy luật biến hóa tự thân của vạn vật, quy luật ấy gọi là Đức "Đạo" sinh ra vạn vật (vì nó là nguyên lý huyền diệu), đức bao bọc, nuôi dưỡng tới thành thục vạn vật (là nguyên lý của mỗi vật) Mỗi vật đều có đức mà đức của bất kỳ sự vật nào cũng từ đạo mà ra, là một phần của đạo, đức nuôi lớn mỗi vật tùy theo đạo Đạo đức của Đạo gia là một phạm trù vũ trụ quan Khi giải

Trang 26

thích bản thể của vũ trụ, Lão Tử sáng tạo ra phạm trù Hữu và Vô, trở thành những phạm trù cơ bản của lịch sử triết học Trung Hoa

Lão Tử nói: cái đạo có thể gọi ra được không phải đạo vĩnh cửu, cái tên

có thể nói lên được không phải là cái tên vĩnh cửu Không có tên đó là nguồn gốc của trời đất, có tên là cái sinh ra muôn vật Cho nên, thường thì không để cho người ta thấy cái huyền diệu của nó Hai cái đó cùng một nguồn gốc mà hiện ra tên gọi khác nhau, cùng gọi là huyền diệu, cái đạo lớn đã lan tràn như nước, có thể lan tràn khắp mọi bề, muôn vật dựa vào đó mà sinh…đạo thường

vô vi mà cũng bất vô vi

Lão Tử khẳng định chính sự liên hệ tác động giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập nhau trong sự vật hiện tượng đã tạo ra sự vận động biến đổi không ngừng của vũ trụ, và sự vận động của vũ trụ tất yếu phải tuân theo

“đạo” Đây là những quy luật chi phối tới toàn bộ sự vật hiện tượng, không bất cứ sự vật nào nằm ngoài quy luật đó Theo Lão Tử thì toàn vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật cơ bản nhất là: luật quân bình và luật phản phục Luật quân bình làm cho vũ trụ được vận động biến đổi trong trạng thái cân bằng, theo trật tự điều hòa tự nhiên, không có gì thái quá không có gì bất cập phá vỡ trạng thái cân bằng đó Quy luật phản phục tức là cái gì phát triển đến tột đỉnh tất sẽ trở thành cái đối lập với chính nó, sự vật khi phát triển đến cực điểm các tính chất của nó thì những tính chất ấy lại đi ngược lại và trở thành tương phản với chính nó

Tư tưởng biện chứng của Lão Tử tuy mang những yếu tố hợp lý nhưng nhìn chung về cơ bản nó vẫn mang tính chất tự phát ngây thơ dựa trên những kinh nghiệm có tính trực quan cảm tính, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc mô

tả biến chuyển của sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội Nó chưa có cơ sở để vạch ra bản chất bên trong của sự biến đổi

Triết học Trung hoa cổ đại do đứng trên lập trường duy tâm để giải thích

Trang 27

các sự vật hiện tượng trên thế giới Vì vậy, tuy có quan điểm về sự vận động, biến đổi không ngừng nhưng chỉ dừng lại ở một vòng tuần hoàn khép kín Xuất phát điểm của sự vận động, biển đổi đó nhiều khi được giải thích hết sức huyền bí, trừu tượng

c Quan điểm phát triển trong triết học cổ điển Đức

Imanuen Cantơ (1724 - 1804) một trong những nhà triết học vĩ đại nhất

của lịch sử tư tưởng phương Tây trước Mác Theo như đánh giá của Heghen thì Canto chính là điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại Nét nổi bật trong triết học của Cantơ là đã trình bày những quan niệm biện chứng của mình về giới tự nhiên Trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên phổ thông và lý thuyết bầu trời ông đã nêu giả thuyết có giá trị về sự hình thành của vũ trụ bằng các cơn lốc

và kết tụ của các khối tinh vân Cantơ cũng đưa ra một luận đề sau này được khoa học chứng minh về ảnh hưởng lên xuống của thủy triều do lực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng gây ra đã ảnh hưởng tới trái đất, làm cho vòng xoay của trái đất quanh trục của nó mỗi ngày một chậm lại Ăngghen đã đánh giá những phỏng đoán của Cantơ là sự công phá vào quan điểm siêu hình cả trong triết học và khoa học

Thời kỳ tiền phê phán Canto đã đưa những quan niệm hết sức tiến bộ về nguyên lý phát triển Ông tuyên bố: “hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó, nghĩa là hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy thế giới đã

ra đời từ vật chất như thế nào”.[40, tr 379]

Theo Canto thế giới này được cấu tạo từ vật chất và luôn luôn vận động, biến đổi, tất cả các sự vật đều nằm trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy Thế giới là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của

tự nhiên theo hướng ngày càng hoàn thiện Ông cho rằng không chỉ mọi sự vật trong thế giới chúng ta mà cả toàn bộ vũ trụ nói chung đều nằm trong quá trình phát sinh phát triển và diệt vong như một quy luật

Trang 28

G.V.P Hêghen (1770 - 1831) nhà biện chứng, đồng thời là nhà triết học

duy tâm khách quan Phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, song hạn chế trong hệ thống triết học duy tâm của ông chính là sự phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là "ý niệm tuyệt đối" hay "tinh thần thế giới" Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn "ý niệm tuyệt đối"

Hêghen đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình, ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâm của mình Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà còn nói đến cả các quy luật như "lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại", "phủ định của phủ định", và quy luật mâu thuẫn Nhưng tất cả những cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối

Mặc dù Lútvích Phoiơbắc (1804 - 1872) có đề cập tới sự phát triển của

giới tự nhiên, nhưng quan niệm của ông vẫn mang tính siêu hình vì ông không chú ý đến tính biện chứng của giới tự nhiên như mâu thuẫn, lượng - chất, phủ định…là những cái khách quan vốn có của tự nhiên

Nhìn chung, các quan niệm trước chủ nghĩa Mác về sự phát triển đã giải thích được nhiều khía cạnh của sự phát triển dưới nhiều góc độ và quan niệm khác nhau Mặc dù đã có những đóng góp lớn nhỏ nhưng phải đến khi chủ nghĩa Mác ra đời, với sự kết hợp đúng đắn giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp luận biện chứng đã đưa tới cho chúng ta một cái nhìn toàn diện, đúng đắn về sự phát triển

Trang 29

1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự phát triển

Quan điểm phát triển là nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ nguyên lý về sự phát triển trong phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác

- Lênin Bởi vậy, để hiểu một cách đúng đắn và sâu sắc về quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu kĩ lưỡng Nguyên lý về sự phát triển Ph.Ăngghen định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [40, tr 201] Phép biện chứng vừa là lý luận về

sự phát triển của thế giới tự nhiên, vừa là phương pháp tư duy chính xác; là chìa khóa để con người kiến giải tình hình phát triển phong phú, đa dạng của thế giới và trang bị cho mình sự hiểu biết về sự vận động của vật chất trong tự nhiên, xã hội và tư duy Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ph Ăngghen đã viết: “Ở đây, chúng tôi không có ý định viết một cuốn sách phổ thông về phép biện chứng, mà chúng tôi chỉ muốn chứng minh rằng những quy luật biện chứng là những quy luật thật sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”[1, tr 121]

Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó vừa diễn ra dần dần vừa nhảy vọt làm cho

sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời Phát triển

là tự thân Động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt bên trong sự vật hiện tượng Phát triển đi theo đường “xoáy ốc”, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, thể hiện tính quanh co phức tạp, có thể có những bước thụt lùi trong sự phát triển

Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động Qua tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ph Ănggen đã đưa ra định nghĩa về sự vận động “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, - Tức được hiểu là một phương thức tồn tại

Trang 30

của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì nó bao gồm tất cả mọi

sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” [1, tr 132] Ông phân chia vận động thành năm hình thức cơ bản xếp theo thứ tự từ thấp đến cao Tư tưởng chủ đạo xuyên qua toàn

bộ sự phân loại các hình thức vận động của Ph Ănggen là tư tưởng phát triển

Một khi vật chất chuyển từ hình thức đơn giản đến hình thức phức tạp thì các hình thức vận động của nó cũng chuyển từ hình thức thấp lên hình thức cao hơn Đó chính là con đường của sự vận động, phát triển từ thấp đến cao của mọi sự vật, hiện tượng

Ph Ănggen cũng đã vạch ra con đường của sự vận động phát triển của

sự vật hiện tượng là quá trình giải quyết các mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật hiện tượng Đó chính là quá trình vận động của mâu thuẫn, Ph Ănggen viết:

Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa đựng mâu thuẫn thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phải chứa đựng mâu thuẫn… sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là một cái khác Như vậy, sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và một khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến Cũng như chúng ta đã thấy rằng trong lĩnh vực tư duy chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳng hạn như mâu thuẫn của năng lực nhận thức vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng lực nhận thức, - mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp

Trang 31

của các thế hệ, sự nối tiếp đó ít ra đối với chúng ta trên thực tiễn, cũng là vô tận, - và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận [23, tr 173-174]

Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn

Phát triển có tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng, và tính kế thừa Từ nguyên lý về sự phát triển con người rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

- Tính khách quan c ủa sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự

vận động và phát triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn con người Các quy luật của phép biện chứng duy vật đã từng bước giúp chúng ta

hiểu rõ phương thức chung; nguồn gốc, động lực và khuynh hướng cơ bản

của sự vận động phát triển Trong đó, quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật hiện tượng là một quá trình loại bỏ những yếu tố không còn phù hợp, đã lạc hậu Những sự phát triển luôn giữ lại, kế thừa và cải tạo những yếu tố hợp lý Trong tác phẩm “Chống Đuyring” Ăngghen viết Chừng nào chúng ta xem xét các sự vật như là đứng im và không có sinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và hết cái này đến cái kia, thì chắc chắn chúng ta không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sự vật

cả Đồng thời ông nói: “Nhưng tình hình sẽ khác nếu chúng ta xem xét sự vật trong sự vận động , trong sự biến đổi, sự sống, sự tác động lẫn nhau giữa chúng” Vận động là tự thân, là phương thức tồn tại cố hữu của vật chất Vận động của vật chất làm này sinh mâu thuẫn và từ sự giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc động lực cho sự vận động, phát triển Như vậy, phát triển

Trang 32

không phụ thuộc vào ý muốn của con người, nó cũng không chịu sự chi phối của những thế lực siêu nhiên hay “ý niệm tuyệt đối” nào đó Mà nó là một quá trình vận động tự thân, một khuynh hướng tất yếu, một thuộc tính khách quan của giới tự nhiên, xã hội và tư duy

- Tính ph ổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển

diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá trình; trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn sự ra đời của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan Sự phát triển diễn ra trong tất

cả các mặt các lĩnh vực của xã hội, tư duy và con người, diễn ra trong tự nhiên, trong bản thân của tất thảy những sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Điểm chung trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng đó là một quá trình vận động đi lên, từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển không là một đường thẳng đứng hay vòng tròn khép kín mà đó là đường xoắn trôn ốc bao gồm cả những bước nhảy vọt mạnh mẽ và không loại trừ những bước thụt lùi tạm thời Nhưng dù bước phát triển của các sự vật, hiện tượng có tuần tự hay nhảy vọt thì nhìn chung tất cả đều nằm trong trạng thái phát triển, kể cả tư duy, ý thức của con người cũng vậy

- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát

triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng song trong mỗi sự vật, hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thời gian, không gian khác nhau có sự phát triển khác nhau Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể, sự thay đổi của các yếu tố tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật Tính đa dạng trong sự phát triển của sự vật, hiên tượng còn có

Trang 33

nguyên nhân từ sự khác nhau giữa các vật về nhịp độ và về quy mô của những bước nhảy vọt Bước nhảy vọt về chất có diễn ra một cách nhanh chóng mang tính đột biến, cũng có thể diễn ra một cách dần dần mang tính tiến hóa Khi nhấn mạnh về tính đa dạng phong phú của các sự vật cũng cần nhấn mạnh tới tính lặp của thế giới các sự vật, bởi vì mỗi sự vật và hiện tượng cùng một lúc vừa tồn tại trong vận động vừa tồn tại trong sự ổn định tạm thời thoáng qua

Sự biến đổi thường xuyên và tuyệt đối đã trở thành căn nguyên cho tính đa dạng, còn sự ổn định tương đối là cơ sở của tính lặp lại, của tính quy luật

- Tính k ế thừa của sự phát triển Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự phát triển cần phải tuân theo nguyên tắc kế thừa có phê phán trong khi loại bỏ, phủ định cái cũ Kế thừa những nhân tố hợp quy luật và loại bỏ, vượt qua, cải tạo cái tiêu cực, trái quy luật nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo hướng tiến bộ Kế thừa những mảng, những nhân tố còn hợp lý, có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của cái mới Sẽ không có bất cứ cái mới nào ra đời và tồn tại, phát triển mà không dựa một phần nào đó của những yếu

tố tích cực của cái cũ Như vậy, trong quá trình phát triển cần tránh tư tưởng phủ định sạch trơn cái cũ, bỏ hết những yếu tố của cái cũ Trong hệ thống triết học của mình, Phoiơbach đã rơi vào việc phủ định sạch trơn hệ thống triết học của Hêgel và loại bỏ luôn cả yếu tố tích cực nhất đó chính là phép biện chứng Như vậy, cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa yếu tố hợp lý từ cái cũ chứ không phải kế thừa một cách nguyên xi, máy móc Những nhân tố tích cực của cái bị phủ định được cải tạo, nâng lên một tầm cao hơn Như vậy sự phát triển bao giờ cũng ra đời trên nền tảng của cái cũ, kế thừa không phải là kế thừa máy móc nguyên xi mà trên cơ sở lọai bỏ, cải tạo Kế thừa là một tất yếu của sự phát triển Là một mắt xích quan trọng gắn kết giữa cái cũ và mới, giữa quá khứ và hiện tại…vJì vậy khi nghiên cứu hay đánh giá về sự phát triển chúng ta cần lưu ý tới tính kế thừa

Trang 34

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người nhằm có được sự hiểu biết đúng đắn về sự phát triển của thế giới, hơn nữa còn góp phần cải tạo thế giới

Từ nguyên lý về sự phát triển, yêu cầu mỗi chúng ta phải nắm vững quan điểm phát triển trong cuộc sống Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nhìn nhận

sự vật trong sự tự thân vận động, sự giải quyết các mặt đối lập trong mỗi sự vật hiện tượng, luôn đặt sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng theo chiều hướng đi lên Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng sự phát triển, đổi mới là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy,

mà nguồn gốc của nó là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân

sự vật và hiện tượng Nhưng không nên hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn

ra một cách đơn giản, theo đường thẳng Xét từng trường hợp cá biệt, thì có những vận động đi lên, tuần hoàn, thậm chí đi xuống, nhưng xét cả quá trình, trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng thống trị Khái quát tình hình trên đây, phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, phát triển

là khuynh hướng chung của sự vận động của sự vật và hiện tượng Vì vậy, quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở

sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật Phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp trong sự phát triển của sự vật hiện tượng tức là yêu cầu cần phải nắm được quan điểm lịch sử - cụ thể

Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó

Trang 35

có lợi hay có hại đối với đời sống của con người Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn cần tránh hai khuynh hướng Đó là sự nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn, chạy theo thành tích Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển không bền vững, tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn gây hậu quả nghiêm trọng trong tương lai Trong đó, tránh việc đốt cháy giai đoạn, tức là bỏ qua những giai đoạn không được phép bỏ qua, là sự chủ quan, nóng vội ham tiến quá mức với khả năng thực tế của mình Hậu quả tất yếu là

sự phát triển không bền, thậm chí ngày càng tụt hậu do mất thêm thời gian xây dựng sự phát triển lại từ nơi mình đã bỏ qua Bên cạnh đó quan điểm phát triển cũng yêu cầu phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến đối lập với sự phát triển, bỏ qua những cơ hội thuận lợi để phát triển

Sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng tuân theo các quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người

Đó là: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật phủ định của phủ định Do vậy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải tuân thủ các quy luật trên đồng thời phải biết vận dụng vào từng sự vật hiện tượng, từng hoàn cảnh cụ thể Quán triệt quan điểm phát triển trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần đảm bảo nắm vững những yêu cầu

từ các quy luật sau:

- Để có những bước tiến vượt bậc, những bước nhảy vọt hay biến đổi về chất thì bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng cần có một quá trình tích lũy về lượng Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến vạch ra phương thức chung của quá trình vận động phát triển của các sự vật hiện tượng Quy luật này chỉ ra rằng: phương thức chung của quá trình vận động, phát triển từ những sự thay đổi về chất của sự vật có cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về

Trang 36

lượng của sự vật và ngược lại, những sự biến đổi về chất lại tạo ra một quá trình tích lũy mới về lượng của sự vật hiện tượng trên các phương diện khác nhau Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến và lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật thuộc mọi lĩnh vực

- Nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển chính là mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật Điều này đã được quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập - quy luật nằm ở vị trí “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật chỉ ra Theo quy luật này, trong bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng đều tồn tại các mặt đối lập, chúng vừa thống nhất với nhau, là tiền đề cho nhau tồn tại, quy định ràng buộc, chế ước lẫn nhau Tuy nhiên, giữa các mặt đối lập cũng thường xuyên xảy ra tác động qua lại, bài trừ, phủ định lẫn nhau Hai quá trình thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập khi đến một điều kiện, hoàn cảnh nhất định tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, cũng như vai trò của chúng trong sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng, các nhà triết học Mác - Lênin đều khẳng định: sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, còn sự thống nhất giữa chúng chỉ mang tính chất tạm thời Trong thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng V.I Lênin nói: “sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau

là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” [18, tr 380] Đồng thời, V.I Lênin cũng tái khẳng định: “Sự phát triển là một cuộc

379-“đấu tranh” giữa các mặt đối lập” [18, tr 379]

- Nắm vững quan điểm phát triển đòi hỏi trong hoạt động của mình, con người cần phải nhận thức được sự khác nhau cơ bản của khái niệm “vận động” và “phát triển” V.I Lênin nói “Logic biện chứng đòi hỏi phải xem xét

sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”… trong sự biến đổi của nó”

Trang 37

[18, tr 364] Cần hiều rằng phương thức tồn tại của vật chất là vận động, vận động chính là tiền đề cho sự biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng Nhưng vận động mới chỉ dừng lại ở sự biến đổi nói chung, chưa chỉ ra khuynh hướng đi lên hay đi xuống của sự vật, hiện tượng Còn phát triển thì

đã bao hàm sự vận động theo khuynh hướng đi lên: từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật hiện tượng là thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mang tính chu kì “phủ định của phủ định” “Mọi quá trình vận động và phát triển trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy đều diễn ra thông qua những sự phủ định, trong đó có những sự phủ định chấm dứt sự phát triển, nhưng cũng có những sự phủ định tạo ra điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triển của sự vật Những sự phủ định tạo ra điều

kiện, tiền đề cho sự phát triển của sự vật được gọi là phủ định biện chứng”[6,

tr 106] Phủ định biện chứng là quá trình phủ định tự thân của sự vật, trái với

sự phủ định sạch trơn siêu hình, phủ định biện chứng tạo ra cái mới trên cơ sở

kế thừa những hạt nhân hợp lý của cái cũ để tạo thành tính kế thừa liên tục của sự phát triển V.I Lênin cho rằng: “Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng… mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên

hệ, vòng khâu của sự phát triển…” [18, tr 245] Nhưng sự phát triển không phải chỉ tuân theo con đường đi lên một cách thẳng đứng, mà phương thức vận động của nó đi theo “đường xoáy ốc” bao hàm cả những yếu tố thuận nghịch đầy mâu thuẫn và đôi khi có những bước thụt lùi tạm thời, cục bộ V.I Lênin

đã khái quát: “Sự phát triển dường như diễn ra lại những giai đoạn đã qua nhưng với một hình thức khác ở trình độ cao hơn, sự phát triển có thể nói là theo đường xoáy trôn ốc chứ không phải theo đường thẳng”.[17, tr 65]

Trang 38

Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người Song để thực hiện được chúng, mỗi người cần nắm chắc cơ sở lý luận của nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình

du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức

Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và giáo sư, tiến sĩ Krapf - Hai người được coi

là đặt nền móng cho lý thuyết về du lịch đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch

là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời” Theo Tổ chức Du lịch Thế giới WTO (World Tourist Organization), một

tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm

Trang 39

hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư [45]

Du lịch “là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức,… và nhìn chung là

vì những lý do không phải để kiếm sống” [WTO, 1994]

Trước khi Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005, ở nước ta khái niệm “du lịch” cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc cách tiếp cận mỗi tác giả Từ Du lịch ở Việt Nam là một từ Hán - Việt có thể hiểu: Du có nghĩa là đi chơi (du xuân,

du thuyền, du ngoạn…), Lịch có nghĩa là sự từng trải Từ khi có Luật Du lịch, khái niệm du lịch ở nước ta được sử dụng tương đối thống nhất theo cách giải thích thuật ngữ của Luật Luật Du lịch giải thích khái niệm du lịch như sau:

“Du l ịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài

n ơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm

hi ểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [20, tr 10]

du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì

Trang 40

chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó” Có thể thấy rằng, mỗi loại hình du lịch đều hướng tới một đối tượng du khách nên các loại hình du lịch cũng trở nên phong phú đa dạng để đáp ứng được nhu cầu của từng loại du khách đó Theo TS Nguyễn Hồng Giáp có thể chia du lịch thành các loại hình như sau: + Du lịch tắm biển

Là mẫu số chung lớn nhất của du lịch Trên thế giới có ba vùng lớn, người Châu Âu có Địa Trung Hải, người Mỹ và Canada thường đi đến vùng Caraibes hoặc Mexicô, trong lúc đó người Nhật và Úc lại chọn Đông Nam Á + Du lịch giải trí: Dành cho cả người lớn và trẻ con Có ba loại chính là công viên giải trí dành cho trẻ con, casino cùng nhà hát và quán rượu dành cho người lớn

+ Du lịch văn hóa: bao gồm nhiều hình thức như: thăm thú, chiêm ngưỡng các Bảo tàng, công trình, di tích; hành hương; liên hoan, lễ hội; công viên và cảnh quan thiên nhiên

+ Du lịch khoa học và kĩ thuật: Các phát minh, sáng chế của quá khứ, hiện tại và tương lai được tập trung lại trong những mô phỏng, mô hình cũng

là những điểm thu hút khách đến tham quan Những đài thiên văn, đài khí tượng khổng lồ, những công trình, phát minh… là điểm tham quan kì thú cho

du khách

+ Du lịch thể thao: một số loại hình thể thao như: trượt tuyết hay còn gọi

là du lịch trắng; chơi golf; săn bắt và câu cá; thể thao sông nước; phượt; các thế vận hội lớn…

+ Du lịch sức khỏe: tắm nước nóng, nước khoáng…

+ Du lịch công việc, hội nghị - hội thảo: có hai loại du khách chủ yếu là những người một năm rời khỏi chỗ ở của mình nhiều lần vì công việc kinh doanh và một số là du khách tham gia các hội nghị - hội thảo

Ngày đăng: 25/11/2017, 06:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm