Trải qua bao nhiêu đời nay, các làng nghề thủ công truyền thống từ lâu đã là một nét đẹp rất riêng của vùng nông thôn Việt Nam. Trong nhiều năm vừa qua, cùng với sự phát triển không ngừng của KT – XH nói chung thì nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đã được khôi phục và cũng đạt được những bước tiến khá mạnh tạo thành phong trào rộng khắp trong cả nước, góp phần cải thiện đáng kể cho đời sống nhân dân trong vùng. Tuy nhiên, sự phát triển ấy còn mạng nặng tính tự phát, tùy tiện, chưa có quy hoạch định hướng cụ thể cũng như quy mô sản xuất còn nhỏ, quy trình sản xuất và trang thiết bị còn lạc hậu. Tất cả những mặt hạn chế trên không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề truyền thống mà còn gây ra những tác động không nhỏ đến chất lượng môi trường làng nghề, đặc biệt là đối với sức khỏe cộng đồng tại địa bàn và cả các vùng lân cận. Vì vậy, lồng ghép giữa BVMT với phát triển kinh tế làng nghề là việc cần thường xuyên được chú trọng quan tâm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng, thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Tỉnh Bắc Ninh tính đến nay có 62 làng nghề truyền thống chiếm 10% lượng làng nghề truyền thống trong cả nước, chủ yếu trong các lĩnh vực sản xuất giấy, đồ gỗ mỹ nghệ đem xuất khẩu, gốm, sắt thép tái chế, đúc đồng. Trong đó, phải nhắc đến một làng nghề nổi tiếng với sự lâu đời và thịnh vượng, đó chính là làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ thuộc thị xã Từ Sơn. Làng nghề Đồng Kỵ với chuyên môn là sản xuất đồ gỗ gồm nhiều chủng loại sản phẩm, nhiều năm qua đã đem lại thu nhập đáng kể cho người dân, không những là trong vùng mà còn cả những vùng miền lân cận, góp phần cho sự phát triển kinh tế của làng nghề của thị xã Từ Sơn nói riêng và cả tỉnh Bắc Ninh nói chung. Nhưng cũng không nằm ngoài thực trang chung, việc hoạt động sản xuất của làng đang gây ra một vấn nạn về sự ô nhiễm môi trường. Do đó, yêu cầu hiện nay là đòi hỏi công tác QLMT cho làng nghề Đồng Kỵ cần được các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng, các nhà chuyên môn quan tâm để có định hướng, quy hoạch giải quyết kịp thời để hướng tới sự PTBV cho làng nghề. Xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề, tôi quyết định xin lựa chọn đề tài : “Quản lý môi trường tại làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QLMT LÀNG NGHỀ 4
1 Tổng quan về QLMT 4
1.1 Khái niệm chung về QLMT 4
1.2 Nguyên tắc của QLMT 4
1.3 Mục tiêu của QLMT 5
1.4 Công cụ QLMT 6
1.4.2 Công cụ kinh tế 6
1.4.3 Công cụ kỹ thuật quản lý môi trường 7
1.4.4 Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường 8
2 Làng nghề và QLMT làng nghề 8
2.1 Khái niệm và tiêu chí làng nghề 8
2.1.1 Khái niệm 8
2.1.2 Tiêu chí làng nghề 9
2.2 Phân loại và đặc trưng của từng loại làng nghề 10
2.3 Tác động tích cực của làng nghề đối với sự phát triển KT – XH 11
2.4 Tác động tiêu cực của làng nghề đối với môi trường địa phương 12
2.4.1 Các vấn đề môi trường tại làng nghề 12
2.4.2 Nguyên nhân các ảnh hưởng tới môi trường 15
2.5 Các công cụ QLMT áp dụng trong QLMT làng nghề 16
2.5.1 Công cụ pháp lý 16
2.5.2 Công cụ kinh tế 16
2.5.3 Công cụ kỹ thuật 17
2.5.4 Công cụ tuyên truyền, giáo dục 17
2.5.5 Công cụ hỗn hợp 17
3 Kinh nghiệm quản lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên thế giới và Việt Nam 18
3.1 Trên thế giới 18
3.2 Tại Việt Nam 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QLMT TẠI 21
LÀNG NGHỀ ĐỒNG KỴ - THỊ XÃ TỪ SƠN – TỈNH BẮC NINH 21
Trang 22 Giới thiệu chung về làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh.
21
2.1 Vị trí địa lý 21
2.2 Điều kiện tự nhiên và hành chính 21
2.3 Điều kiện kinh tế – xã hội 22
2.4 Lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề 23
3 Thực trạng hoạt động của làng nghề Đồng Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh 23
3.1 Quy mô hoạt động sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ 23
3.1.1 Chủng loại, số lượng sản phẩm của làng nghề Đồng Kỵ 23
3.1.2 Số hộ và lao động làng nghề 24
3.1.3 Thị trường và các vấn đề kinh doanh liên quan 25
3.2 Quy trình hoạt động sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh
25
3.2.1 Nguyên liệu sản xuất 25
3.2.2 Các trang thiết bị sản xuất 26
3.2.3 Quy trình sản xuất 26
4 Thực trạng môi trường làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh 27
4.1 Hiện trạng môi trường nước 27
4.2 Hiện trạng môi trường đất 28
4.3 Hiện trạng môi trường không khí 29
4.4 Các vấn đề môi trường tại làng nghề Đồng Kỵ 30
4.4.1 Nguồn gây ô nhiễm từ làng nghề 30
4.4.2 Những hậu quả do ô nhiễm môi trường làng nghề Đồng Kỵ gây ra 31
5 Thực trạng QLMT tại làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh 35
5.1 Những hoạt động QLMT được triển khai tại làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh 35
5.1.1 Áp dụng công cụ pháp lý vào BVMT làng nghề 36
5.1.2 Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động BVMT 36
5.1.3 Công tác thu gom, vận chuyển rác thải 38
5.1.4 Các đề án, dự án, chương trình BVMT cho làng nghề 39
5.1.5 Sự phối hợp giữa các phòng ban, ngành trong công tác QLMT 39
Trang 35.2 Đánh giá công tác QLMT tại làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc
Ninh 40
5.2.1 Những kết quả đã đạt được 40
5.2.2 Những bất cập tồn tại 44
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 48
3 Căn cứ 48
3.1 Định hướng phát triển của làng nghề Đồng Kỵ 48
3.2 Thực trạng môi trường tại làng nghề Đồng Kỵ 48
3.3 Thực trạng sản xuất tại làng nghề Đồng Kỵ 49
3.4 Thực trạng công tác QLMT tại làng nghề Đồng Kỵ 49
3.5 Luật và các văn bản dưới Luật liên quan đến ô nhiễm làng nghề 50
4 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLMT tại làng nghề Đồng Kỵ -Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh 51
4.1 Giải pháp về cơ cấu tổ chức và năng lực QLMT 51
4.2 Giải pháp về mặt chính sách, thể chế, luật pháp liên quan đến lĩnh vực BVMT làng nghề 53
4.3 Giải pháp về mặt tài chính, đầu tư cho BVMT 55
4.4 Giải pháp công nghệ kỹ thuật 56
4.5 Giải pháp về nguồn nhân lực và sự tham gia của cộng đồng trong BVMT 57
4.6 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục 57
4.7 Giải pháp về quy hoạch không gian phát triển làng nghề với BVMT 58
4.8 Giải pháp tăng cường thực thi pháp luật BVMT cho làng nghề 59
5 Kiến nghị 59
KẾT LUẬN 62
PHỤ LỤC 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Phân bố các làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất 9
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình sản xuất tại làng nghề Đồng Kỵ 26
Hình 2.2 Hệ thống tổ chức QLMT tại làng nghề Đồng Kỵ 35
Hình 2.3 Đánh giá của người dân Đồng Kỵ 43
DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất đối với từng loại hình làng nghề 13
Bảng 2.1.Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước mặt và nước thải 27
Bảng 2.2 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước ngầm 28
Bảng 2.3 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường đất 29
Bảng 2.4 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường không khí tại làng nghề Đồng Kỵ 29
Bảng 2.5 Các công đoạn sản xuất gây ô nhiễm 31
Bảng 2.6 Thống kê tình hình bệnh tại làng nghề Đồng Kỵ 33
Bảng 2.7 So sánh tỷ lệ bệnh tật giữa làng nghề Đồng Kỵ với các khu vực không phải làng nghề 33
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trườngCNH – HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoáCTR : Chất thải rắn
KT – XH : Kinh tế - xã hội
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức OVOP : Mô hình kinh tế mỗi làng một sản phẩm PTBV : Phát triển bền vững
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
QLMT : Quản lý môi trườngTCCP : Tiêu chuẩn cho phépTCVN : Tiêu chuẩn Việt NamTN&MT : Tài nguyên và Môi trường
VSMT : Vệ sinh môi trường
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đươc bài chuyên đề tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chânthành tới các thầy cô trong khoa Môi trường và Đô thị - Trường Đại học Kinh tếQuốc dân đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và thực hiệnchuyên đề Đặc biệt em xin cảm ơn đến TS Đinh Đức Trường đã ân cần hướngdẫn, chỉ bảo, tạo điều kiện cho tôi thực hiện bài chuyên đề này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ, nhân viên tại đơn vị thựctập đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và thu thập tài liệu phục vụ cho chuyên
đề
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài chuyên đề này là tự bản thân tôi thực hiện mà không có bất
kỳ hình thức sao chép nào từ các tài liệu khác Nếu vi phạm tôi xin chịu hoàn toànmọi trách nhiệm trước khoa và nhà trường
Sinh viên thực hiện
Vũ Hồng Nhung
Trang 8MỞ ĐẦU
I Lý do lựa chọn đề tài
Trải qua bao nhiêu đời nay, các làng nghề thủ công truyền thống từ lâu đã là mộtnét đẹp rất riêng của vùng nông thôn Việt Nam Trong nhiều năm vừa qua, cùngvới sự phát triển không ngừng của KT – XH nói chung thì nhiều ngành nghề thủcông truyền thống đã được khôi phục và cũng đạt được những bước tiến khá mạnhtạo thành phong trào rộng khắp trong cả nước, góp phần cải thiện đáng kể cho đờisống nhân dân trong vùng Tuy nhiên, sự phát triển ấy còn mạng nặng tính tự phát,tùy tiện, chưa có quy hoạch định hướng cụ thể cũng như quy mô sản xuất còn nhỏ,quy trình sản xuất và trang thiết bị còn lạc hậu Tất cả những mặt hạn chế trênkhông chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề truyền thống mà còn gây
ra những tác động không nhỏ đến chất lượng môi trường làng nghề, đặc biệt là đốivới sức khỏe cộng đồng tại địa bàn và cả các vùng lân cận Vì vậy, lồng ghép giữaBVMT với phát triển kinh tế làng nghề là việc cần thường xuyên được chú trọngquan tâm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng, thống nhất từ Trung ươngđến địa phương
Tỉnh Bắc Ninh tính đến nay có 62 làng nghề truyền thống chiếm 10% lượng làngnghề truyền thống trong cả nước, chủ yếu trong các lĩnh vực sản xuất giấy, đồ gỗ
mỹ nghệ đem xuất khẩu, gốm, sắt thép tái chế, đúc đồng Trong đó, phải nhắc đếnmột làng nghề nổi tiếng với sự lâu đời và thịnh vượng, đó chính là làng nghề đồ gỗ
mỹ nghệ Đồng Kỵ thuộc thị xã Từ Sơn Làng nghề Đồng Kỵ với chuyên môn là
sản xuất đồ gỗ gồm nhiều chủng loại sản phẩm, nhiều năm qua đã đem lại thu nhậpđáng kể cho người dân, không những là trong vùng mà còn cả những vùng miềnlân cận, góp phần cho sự phát triển kinh tế của làng nghề của thị xã Từ Sơn nóiriêng và cả tỉnh Bắc Ninh nói chung Nhưng cũng không nằm ngoài thực trangchung, việc hoạt động sản xuất của làng đang gây ra một vấn nạn về sự ô nhiễmmôi trường
Do đó, yêu cầu hiện nay là đòi hỏi công tác QLMT cho làng nghề Đồng Kỵ cầnđược các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng, các nhà chuyên môn quan tâm
để có định hướng, quy hoạch giải quyết kịp thời để hướng tới sự PTBV cho làngnghề Xuất phát từ sự cấp thiết của vấn đề, tôi quyết định xin lựa chọn đề tài :
Trang 9“Quản lý môi trường tại làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình
II Mục tiêu nghiên cứu
1 Mục tiêu tổng thể
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng trong công tác QLMT tạilàng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Sau đó, đưa ra các giải pháp và kiến nghị đểhoạt động QLMT tại đây đạt hiệu quả hơn
Từ những điểm mạnh điểm yếu đó chính là những căn cứ để đưa ra được nhiềugiải pháp, kiến nghị cần thiết nhất góp phần đẩy mạnh công tác quản lý môi trườngtại làng nghề Đồng Kỵ hiệu quả hơn trong những năm sau này
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến công tác QLMT làng nghề Đồng
Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến công tác QLMT tại làng nghề Đồng
Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Bắc Ninh
Thời gian: Từ 2005 đến nay
Địa điểm : Làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
IV Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc: tiến hành thu thập tài liệu, số liệu
quan trắc có liên quan từ các cơ quan, Sở ban ngành như các Báo cáo hiện trạngmôi trường có các số liệu thống kê, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Trang 10Phương pháp so sánh, đánh giá: căn cứ vào các số liệu nói chung có liên quan và
các số liệu có tiêu chí đánh giá, để từ đó phân tích được sự hiệu quả cũng như chưađạt yêu cầu qua các thời kỳ khác nhau của hiện trạng môi trường và công tácQLMT
Phương pháp đánh giá tác động môi trường: từ những số liệu có sẵn và có sự so
sánh với các tiêu chí đánh giá để phân tích những ảnh hưởng đến các mặt KT –
XH và môi trường
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành điều tra thực địa bằng các bảng hỏi
cụ thể, rõ ràng với 14 câu hỏi để đánh giá khách quan công tác QLMT thông qua ýkiến người dân
V Nội dung
Chuyên đề có nội dung được chia thành 3 chương lớn:
Chương I: Cở sở lý luận của QLMT làng nghề.
Chương II: Thực trạng QLMT tại làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
Chương III: Giải pháp và kiến nghị cho công tác QLMT tại làng nghề Đồng Kỵ Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh.
Trang 11-CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QLMT LÀNG NGHỀ
1 Tổng quan về QLMT
1.1 Khái niệm chung về QLMT
Ngày nay, song hành với sự phát triển kinh tế là chất lượng môi trường sống đang
bị đe dọa nghiêm trọng, nguy cơ mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt nguồn tài nguyênthiên nhiên là những vấn đề đang ngày càng hiện hữu Phát triển kinh tế là cầnthiết nhưng không thể xem nhẹ môi trường sống, như vậy mới đảm bảo mục tiêuPTBVcủa mỗi quốc gia và của toàn cầu Do đó, công tác QLMT ra đời là một yêucầu tất yếu, để cân bằng giữa lợi ích kinh tế và BVMT nhằm đảm bảo mục tiêuPTBV
Theo những quan điểm phương pháp luận của lý thuyết hệ thống thì quản lý ở đây
là sự tác động chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm đạtđược mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường ngoài Quản lý phảibao gồm: chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, một đối tượng bị quản lýphải tiếp nhận các tác động đó và mục tiêu và quỹ đạo đặt ra cho cả chủ thể quản
lý lẫn đối tượng quản lý
Từ cách tiếp cận vấn đề quản lý nói chung như trên thì QLMT được hiểu như sau:
QLMT là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ tiến hành (theo Đặng Như
Toàn – 2001)
QLMT được triển khai để tạo ra hiệu quả hoạt động phát triển tốt hơn, bền vữnghơn cho hệ thống môi trường, cân bằng, ổn định về vật chất, tinh thần cho thế hệhôm nay và thế hệ mai sau
1.2 Nguyên tắc của QLMT
Bảo đảm tốt tính tổng hợp: các hoạt động phát triển diễn ra dưới nhiều hình thức,
quy mô, tốc độ, trực tiếp hay gián tiếp, mạnh hay yếu thì đều tác động lên đốitượng quản lý Do đó, trong hoạch định chính sách QLMT cần tính đến những tácđộng tổng hợp cũng như hậu quả từ chúng
Trang 12Bảo đảm không vi phạm tính hệ thống: môi trường như là một hệ thống hoạt động
phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp thành nên QLMT phải thu thập, tổng hợp, xử
lý thông tin về tình trạng hoạt động của hệ thống môi trường để đưa ra các quyếtđịnh phù hợp, đưa các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối và hài hòa
Bảo đảm được tính liên tục và nhất quán: đặc tính của môi trường là môt hệ thống
liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, nănglượng trong không gian và thời gian Chính vì vậy, đòi hỏi phải không ngừng nângcao năng lực quản lý trong công tác QLMT
Bảo đảm nhất quán tập trung dân chủ: tập trung phải được thực hiện ổn thỏa trong
bàn bạc, quyết định các vấn đề một cách công khai, minh bạch Dân chủ phải đượcthực hiện tập trung, không mâu thuẫn, tránh lãng phí nguồn lực quốc gia Tậptrung dân chủ để QLMT tạo sự bình đẳng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm vớimôi trường
Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ: một thành phần môi trường chịu sự
quản lý song trùng từ nhiều phía, do đó, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa cácngành, các vùng lãnh thổ để tăng hiệu quả, hiệu lực của công tác QLMT
Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý KT – XH: luôn ý thức phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý TN&MT với quản lý
KT – XH bằng các chính sách, chiến lược phát triển đúng đắn, có tính bao quát vàtổng hợp, thông qua các kế hoạch và đầu tư ở mọi khâu, mọi cấp quản lý của Nhànước
Tiết kiệm và hiệu quả: Tối ưu để nâng cao năng lực QLMT chính là thực thi tiết
kiệm và tăng hiệu quả thông qua việc hoạch định chính sách và chiến lược BVMT
để giảm tiêu hao tài nguyên, năng lượng, giảm chi phí nguyên liệu đầu vào bằngcác kỹ thuật, công nghệ ít hoặc không có chất thải; tận dụng và tái chế phế liệu, sửdụng các vật liệu thay thế, cải tiến sản phẩm, đầu tư đồng bộ và hệ thống choQLMT v.v
1.3 Mục tiêu của QLMT
Mục tiêu lâu dài và nhất quán nhất của QLMT chính nhằm tạo lập sự PTBV
Trang 13Với nội dung “tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xãhội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và PTBV” của QLMT thìcần hướng đến mục tiêu cơ bản như sau:
- Phải khắc phục và phòng chống ô nhiễm, suy thoái môi trường phát sinh ratrong quá trình hoạt động sống của con người
- Hướng tới thực hiện 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do Hội nghị Rio –
92 đề xuất được tuyên bố ở Johannesbug – Nam Phi về PTBV KT – XH quốc giagắn liền với BVMT bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trườngthiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học
- Cần phải xây dựng các công cụ có tính khả dụng và hiệu lực về QLMT quốcgia và vùng lãnh thổ Các công cụ đó đảm bảo phải thích hợp cho mỗi ngành, mỗiđịa phương và cộng đồng dân cư
1.4 Công cụ QLMT
1.4.1 Công cụ pháp lý
Đây còn có thể hiểu là công cụ chính sách và luật pháp gồm các văn bản đầy đủcủa :
Luật quốc tế về môi trường là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm mang tầm quốc
tế để điều chỉnh công bằng mối quan hệ giữa các quốc gia, vùng, lãnh thổ với các
tổ chức trên thế giới trong việc ngăn chặn, loại bỏ những thiệt hại gây ra cho môitrường
Luật quốc gia về môi trường là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm mang tính
quốc gia để điều chính công bằng mối quan hệ giữa những chủ thể sử dụng hay tácđộng đến môi trường ở một hay một vài yếu tố với mục đích BVMT có hiệu quả
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn được tính toán có cơ sở khoa
học dùng làm căn cứ QLMT, được thực tế kiểm nghiệm, có nghiên cứu khoa họcbảo đảm phù hợp với nhu cầu BVMT, khả thi và có lợi về mặt KT – XH
Chính sách BVMT, chiến lược BVMT phải được xây dựng song hành với chính
sách phát triển KT – XH để có các mục tiêu cơ bản và định hướng trọng tâm, chútrọng sử dụng hiệu quả nguồn lực, tài nguyên đảm bảo PTBV
1.4.2 Công cụ kinh tế
Trang 14Thuế tài nguyên: khi sử dụng tài nguyên thiên nhiên, các doanh nghiệp phải nộp
Ngân sách Nhà nước như thuế sử dụng đất, nước, thuế khai thác tài nguyên khoángsản
Thuế hay phí môi trường: một loại công cụ kinh tế đưa chi phí môi trường vào giá
sản phẩm dựa theo nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền” vừa giảm lượngchất thải gây ô nhiễm ra ngoài môi trường vừa làm tăng thu cho Ngân sách Nhànước
Giấy phép môi trường hay giấy phép xả thải: được trao đổi mua bán trên thị
trường trong đó người bán là các đơn vị, tổ chức sở hữu giấy phép, còn lại ngườimua là đơn vị, tổ chức cần giấy phép để xả thải Ở đây, lượng ô nhiễm giới hạn vớimột chỉ tiêu môi trường nào đó Khi tổng lượng thải thấp hơn lượng thải mà đơn
vị, tổ chức muốn thải sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải và làm cho nó
có giá trên thị trường
Hệ thống đặt cọc – hoàn trả: Quy định đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả
năng gây ô nhiễm môi trường phải trả trước một khoản tiền khi mua hàng, cam kếtsau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm còn lại trả cho các đơn vị, tổ chức thu gom phếthải, đưa đến các địa điểm quy định để tái chế, tái sử dụng, tiêu hủy an toàn
Ký quỹ môi trường: Các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm
môi trường trước khi đi vào hoạt động phải ký gửi một khoản tiền tại ngân hànghay tổ chức tín dụng, cam kết sẽ có các biện pháp hạn chế ô nhiễm, tổn thất chomôi trường
Trợ cấp môi trường: thực hiện dưới các dạng cơ bản như trợ cấp không hoàn lại;
cho phép khấu hao nhanh; ưu đãi thuế như miễn; giảm thuế và các khoản cho vay
ưu đãi
Nhãn sinh thái: là một danh hiệu hay biểu tượng của Nhà nước cấp cho các hàng
hóa thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất hay tiêu dùng sản phẩm đó
Quỹ môi trường: được thiết lập để nhận tài trợ từ nhiều nguồn khác nhau như thuế,
phí môi trường, tài trợ tài chính hay hiện vật sau đó sẽ phân phối vốn này để hỗtrợ các hoạt động hay các dự án nhằm cải thiện chất lượng môi trường sống
1.4.3 Công cụ kỹ thuật quản lý môi trường
Trang 15Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường bao gồm các đánh giá tác động môitrường, hạch toán, kiểm toán môi trường, các hoạt động quan trắc môi trường, xử
lý, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật này được sử dụng nhằmthực hiện chức năng kiểm soát và giám sát Nhà nước về chất lượng và thành phầnmôi trường, sự hình thành và phân bố các chất ô nhiễm phát tán ngoài môi trườngsống
1.4.4 Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường
Giáo dục môi trường được hiểu là các hoạt động cung cấp hiểu biết, nhận thức,
thái độ, hành vi, kỹ năng tạo điều kiện cho con người có cơ hội được tham gia pháttriển một xã hội bền vững về môi trường sinh thái Nó còn cả việc học hỏi, tiếp thunhững công nghệ kỹ thuật mới nhằm giảm những tác hại gây ra cho môi trường
Truyền thông môi trường được hiểu là quá trình tương tác hai chiều mục đích giúp
cho những người có liên quan nói riêng và toàn xã hội nói chung nhận thức đượccác yếu tố môi trường có tầm quan trọng như thế nào Truyền thông môi trườngthực hiện thông qua ý tưởng, tình cảm, thái độ trong quan hệ người với người vớinhau
Tựu chung lại, chúng ta có thể hiểu khái niệm Làng nghề theo hướng sau: Làng nghề là làng ở nông thôn có gắn với sản xuất nông nghiệp nhưng ngành nghề
Trang 16sản xuất phi nông nghiệp ngày càng lớn mạnh lên, tạo ra nguồn thu nhập chính cho người dân Ttheo chuẩn thì trong làng phải có ít nhất 30% so với tổng số lao động và hộ gia đình trong làng nhưng đóng góp ít nhất 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng, hay có thể tính doanh thu hằng năm ít nhất phải là 300 triệu đồng.
Trải qua nhiều thăng trầm phát triển của lịch sử mà làng nghề ngày nay không chỉđơn thuần là những hoạt động sản xuất với công nghệ thủ công mà một số côngđoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa
Dù đã có nhiều làng nghề cổ truyền bị mai một và biến mất, theo thống kê đến22/9/2010, ở Việt Nam có trên 2000 làng nghề, , trải dài trên khắp các tỉnh thànhtrong cả nước với nhiều loại hình, ngành nghề sản xuất, trong đó đồng bằng sôngHồng chiếm đến gần ½ số làng nghề của cả nước
Thủ công mỹ nghệ Vật liệu xây dựng, gốm sứ Nghề khác
Hình 1.1 Phân bố các làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
(Nguồn: Sách Làng nghề Việt Nam và môi trường )
2.1.2 Tiêu chí làng nghề
Đối với nghề truyền thống, tiêu chí gồm 3 điểm sau:
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương hơn 50 năm tính đến thời điểm được côngnhận
- Nghề đã tạo ra được những sản phẩm mang bản sắc văn hóa địa phương, vùng,miền, dân tộc
- Nghề đã gắn với tên tuổi của nghệ nhân nào đó hay tên tuổi của làng nghề
Đối với làng nghề, thì tiêu chí cũng gồm 3 điểm sau:
Trang 17- Tối thiểu phải có 30% tổng số hộ gia đình trên địa bàn có tham gia các hoạtđộng sản xuất của ngành nghề tại địa phương.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh phải ổn định ít nhất là 2 năm tính đến thời điểmđược xét duyệt công nhận
- Đảm bảo chấp hành tốt các thể chế, chính sách pháp luật của Nhà nước
Còn đối với làng nghề thủ công truyền thống hay gọi tắt là làng nghề truyền thống,
thì điều kiện phải có là đã đạt tiêu chí làng nghề đồng thời có ít nhất một nghềđược coi là truyền thống theo quy định của Thông tư
Và đối với những làng chưa đạt yêu cầu thứ nhất và thứ hai của công nhận làngnghề nhưng có tối thiểu là một nghề truyền thống được công nhận tại Thông tư thìcũng được gọi là Làng nghề truyền thống
(Nguồn: Theo Thông tư số 116/2006/TT – BNN 18/2/2006 của
Bộ NN&PTNT – trích Báo cáo Môi trường quốc gia 2008 )
Thêm nữa, hiện nay, theo xu thế phát triển chung của cả nền kinh tế, các vùngnông thôn cũng đang vươn lên mạnh mẽ, xuất phát từ sự hình thành nhu cầu mớicủa thị trường tiêu thụ cộng với việc tổ chức đầu tư gia công của các cơ sở sảnxuất, tổ chức xuất nhập khẩu; sự nhạy bén thị trường mà xuất hiện nhiều làng nghềmới bên cạnh các làng nghề truyền thống
2.2 Phân loại và đặc trưng của từng loại làng nghề
Hiện nay, với nhiều cách tiếp cận vấn đề, mục đích sử dụng hay tiêu chí khácnhau mà có những quan điểm phân loại làng nghề theo khác nhau Tuy nhiên,theo hướng tiếp cận môi trường thì phân loại theo ngành nghề sản xuất và loại hìnhsản phẩm là ưu việt hơn cả Theo đó, chúng ta có thể phân ra thành 6 nhóm ngànhnghề cụ thể sau:
Các làng nghề tái chế: đa phần là mới hình thành với số lượng cũng không nhiều,
nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và chất lượng Ở các làng nghề này, côngnghệ sản xuất đang dần được cơ khí hóa
Các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: có nhiều làng nghề từ xa xưa, sản
phẩm mang tính lịch sử, văn hóa lâu đời như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may cho rađời nhiều kiệt tác nghệ thuật Quy trình sản xuất không biến đổi nhiều, đòi hỏi laođộng phải có trình độ tay nghề cao, thẩm mỹ tốt
Trang 18Các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: đây là loại hình làng nghề chiếm
40% tổng số làng nghề, có truyền thống lâu đời và sản phẩm có nét đặc sắc về vănhóa, giá trị thẩm mỹ và kinh tế Bao gồm các làng nghề về gốm, sứ, thủy tinh,chạm khắc, mạ vàng bạc, hàng thủ công mây tre đan, nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ, sơnmài
Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: đa số sử
dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu nhiều về trình độ, sản xuất thủ công,gần như không thay đổi gì về quy trình so với lúc mới hình thành Ví dụ: nghề nấurượu, làm bánh đa, bún, miến, bánh đậu xanh với những nguyên liệu nông sảnnhư gạo, ngô, khoai sắn
Các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác: với đặc thù này mà các
làng nghề này phải tập trung ở vùng có khả năng cung ứng nguyên liệu cho hoạtđộng xây dựng, ra đời từ hàng trăm năm nay Lao động phần lớn là thủ công, côngnghệ thô sơ, tỉ lệ cơ khí hóa thấp
Các nhóm ngành khác: các làng nghề chế tạo công cụ thô sơ như búa, liềm, cuốc
xẻng, mộc gia dụng
2.3 Tác động tích cực của làng nghề đối với sự phát triển KT – XH.
Các làng nghề Việt Nam trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song hành vớiquá trình phát triển KT – XH và văn hóa của đất nước, tạo ra những sản phẩm cógiá trị cao, trở thành thương phẩm nổi tiếng, đem lại danh tiếng mỗi làng nghề Vìvậy mà mục tiêu khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống nông thôn làmột trong những nhiệm vụ trọng tâm trong đẩy mạnh kinh tế nông thôn
Thứ nhất, góp phần tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn: việc khôi phục và phát triển không ngừng của các làng nghề truyền thống
cũng như những làng nghề mới trong nhiều năm gần đây đang góp phần khôngnhỏ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương, cải thiện và nâng cao đờisống cho người tại chính làng nghề và cả lao động các vùng phụ cận Hoạt độnglàng nghề đang ngày một thể hiện được chỗ đứng vững chắc của mình khi thu hútđược nhiều thành phần kinh tế tham gia, bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế tập thể vàcác tổ chức, doanh nghiệp
Trang 19Trong nhiều năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn ngày càng giatăng, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm làng nghề không ngừng tăng lên, đem lạinguồn thu nhập đáng kể, góp phần quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, tạo việclàm cho người dân lúc nông nhàn, nâng cao chất lượng cuộc sống Theo thống kêthì mức thu nhập trong ngành nghề cao gấp ba, bốn lần so với thu nhập của ngườilao động thuần nông Chính sự chênh lệch này mà ngày càng nhiều người đã ýthức chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất thủ công nghiệp
Thứ hai, làng nghề phát triển cũng đem lại một bộ mặt mới sáng sủa, khang trang hơn cho cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn: với việc thu nhập đang tăng lên, đời
sống nhân dân được cải thiện thì nhu cầu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng là một tấtyếu Nhu cầu về thông tin, điện, nước, giao thông, trường học, trạm y tế rất cầnthiết đối với sự phát triển nông thôn Sự đi lên về kinh tế đem lại cho làng một bộmặt mới đầy đủ, no ấm và đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng góp phần thực hiệnmục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống không chỉ nhân dân trong làng mà cả cácvùng miền lân cận
Thứ ba, làng nghề - với những ưu điểm và tiềm năng phát triển cũng là một ưu thế
để đẩy mạnh thêm hoạt động du lịch làng nghề: bên cạnh những lợi thế sẵn có của
tự nhiên như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, hệ thống di tích lịch sử, nhữngphong tục tập quán là nét văn hóa đặc sắc bản địa, thì bản thân các làng nghề vớiđặc trưng ngành nghề cũng mang trong mình một sức hấp dẫn đặc biệt Điểm đángchú ý của du lịch làng nghề đó chính là cơ hội được quan sát, tận mắt chứng kiếnquá trình sản xuất ra các sản phẩm mang đậm bản sắc của địa phương, thêm nữa là
có thể tham gia trực tiếp vào một khâu nào đó của quá trình Tiềm năng phát triển
du lịch tại các làng nghề là không nhỏ, phát hiện đưa vào quy hoạch cụ thể và có
kế hoạch nghiêm túc, rõ ràng sẽ lại mang lại một nguồn thu lớn nữa cho làng, hỗtrợ gia tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp, dịch vụ cho chính địa phương, cũngnhư tăng tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất có thể giới thiệu và quảng bá sảnphẩm tới du khách
2.4 Tác động tiêu cực của làng nghề đối với môi trường địa phương.
2.4.1 Các vấn đ ề môi trường tại làng nghề
Tác động đến môi trường tự nhiên tại địa phương: Nổi cộm của ô nhiễm môi
trường làng nghề chính là lượng các CTR, khí thải, nước thải không qua xử lý sau
Trang 20cùng bị đổ thải trực tiếp ra môi trường ngoài, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môitrường đất, môi trường không khí, các nguồn nước mặt, nước ngầm tại mỗi địaphương và cả các vùng lân cận, đặc biệt là dọc các con sông Ô nhiễm môi trườnglàng nghề có một số đặc điểm :
Thường là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi nhỏ như khu vực thôn, làng,
xã Bởi quy mô không lớn lại nằm trong khu dân cư sinh hoạt nên gây khó khăncho phân tách và khó quy hoạch
Với từng loại hình làng nghề thì lại có một đặc trưng ô nhiễm môi trường riêng, có
tác động trực tiếp đến môi trường đất, nước, không khí tại địa phương:
Bảng 1.1.Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất đối với từng loại hình làng c tr ng ô nhi m t s n xu t ưng ô nhiễm từ sản xuất đối với từng loại hình làng ễm từ sản xuất đối với từng loại hình làng ừ sản xuất đối với từng loại hình làng ản xuất đối với từng loại hình làng ất đối với từng loại hình làng đối với từng loại hình làng ới từng loại hình làng ừ sản xuất đối với từng loại hình làng i v i t ng lo i hình l ng ại hình làng àng ngh ề.
BOD 5 , COD,
độ màu, tổng N, hoá chất, thuốc tẩy…
Bụi, CO, SO 2 ,
NO 3 , hơi axit, kiềm, dung môi.
Ô nhiễm nhiệt,
độ ẩm, tiếng ồn
Bụi, CO, SO 2 ,
NO 2 , NO 3 , CH 4
Ô nhiễm nhiệt,
độ ẩm Tái chế
phế liệu
- Bụi giấy, tạp chất từ giấy phế liệu, bao
bì hoá chất.
- Xỉ than, rỉ sắt, vụn kim loại nặng.
- Nhãn mác, tạp không tái sinh, chi tiết kim loại, cao su.
- pH, BOD 5 , COD, SS, tổng N, tổng P,
độ màu.
- COD, SS, dầu
mỡ, CN – kim loại.
- BOD 5 , COD, tổng N, tổng P,
độ màu, dầu mỡ.
- Bụi, SO 2, H 2 S, hơi kiềm.
- Bụi, CO, hơi kim loại, hơi axit, Pb, Zn,
HF, HCl, THC.
- Bụi, CO, Cl 2 , HCl, THC, hơi Dung môi.
BOD, COD,
SS, độ màu, dầu mỡ, công nghiệp.
- Bụi, SiO 2 , CO,
SO 2 , NO 3 , HF, THC.
- Bụi, hơi xăng, dung môi, oxit Fe, Zn, Cr
Ô nhiễm nhiệt, tiếng
ồn, độ rung.
Trang 21(Nguồn : Báo cáo Môi trường quốc gia
Tác động đến đời sống con người: Với hoạt động sản xuất ngành nghề tại các
làng nghề đang đe dọa không chỉ đối với môi trường địa phương mà nghiêm trọnghơn là đến cuộc sống người dân bản địa
Thứ nhất, đó là sức khỏe suy giảm, bệnh tật gia tăng, tuổi thọ trung bình đang giảm đi tại các làng nghề ô nhiễm: Thực tế minh chúng tại nhiều làng nghề hiện
nay, số lượng người bị suy kiệt về sức khỏe, mắc các chứng bệnh đang có xuhướng gia tăng, theo đặc trưng ô nhiễm ở mỗi loại hình làng nghề Các bệnh về hôhấp, tai mũi họng, bệnh ngoài da, bệnh về thần kinh đang trở nên nhiều hơn tạicác làng nghề Tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề cao hơn hẳn so với các khuvực không phải làng nghề Gánh nặng bệnh tật, mang di chứng suốt đời và tuổi thọtrung bình của những người dân tại đây cũng thấp hơn so với tuổi thọ trung bìnhcủa cả nước
Thứ hai, ô nhiễm môi trường làng nghề gây tổn thất lớn đối với nền kinh tế.
- Ô nhiễm môi trường làng nghề đang gây ra ảnh hưởng xấu đến sức khỏe conngười, làm gia tăng thêm chi phí khám, chữa bệnh, gánh nặng bệnh tật làm giảmnăng suất lao động do tiêu tốn thời gian và không đảm bảo sức khỏe, thiệt hại vềkinh tế là điều tất yếu nhận thấy
- Một khi môi trường bị ô nhiễm, người ta sẽ phải tính đến việc giải quyết vấnnạn ô nhiễm và dĩ nhiên vấn đề phát sinh tiếp theo là chi phí trong đó có chi phíthời gian, công sức, tài chính để xử lý, giảm thiểu ô nhiễm tại các làng nghề
- Điều nữa là sự ô nhiễm ấy cũng sẽ làm giảm đi sức hút du lịch của làng nghề,lượng khách du lịch sẽ dần ít đi, gây tổn thất về kinh tế
Thứ ba, ô nhiễm môi trường tất sẽ dẫn đến nảy sinh các tranh chấp, xung đột môi trường: Do nhận thức chưa cao nên người dân phần lớn vẫn đặt lợi ích kinh tế lên
hàng đầu, do đó mà xuất hiện các mâu thuẫn và xung đột môi trường Có thể là:
- Xung đột giữa các nhóm xã hội trong bản thân làng nghề: các loại chấtthải được xả thẳng ra môi trường gây ảnh hưởng tới cộng đồng trong vùng, chính
là nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp, khiếu kiện
Trang 22- Xung đột giữa làng nghề và làng không phải làng nghề: nảy sinh khiquyền lợi của làng không làm nghề bị ảnh hưởng do chịu ô nhiễm môi trường từcác làng nghề lân cận.
- Xung đột giữa hoạt động sản xuất và cảnh quan tự nhiên: việc ô nhiễmnghiêm trọng gây mất cảnh quan thiên nhiên, dĩ nhiên sẽ dẫn đến những bức xúctrong cộng đồng
- Xung đột trong QLMT tại địa phương: nảy sinh khi cơ quan chức năng vàchính quyền địa phương xử lý vi phạm đối với các cơ sở sản xuất gây ra ô nhiễmbằng các chính sách và pháp luật được quy định cụ thể
2.4.2 Nguyên nhân các ảnh hưởng tới môi trường
Chính những tồn tại của quá trình hình thành và phát triển làng nghề là nguyênnhân làm cho môi trường làng nghề bị đe dọa nghiêm trọng Những nguyên nhân
đó là:
Quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề vốn là nhỏ, khó có khả năng phát triển vì sự
hạn chế về không gian, kỹ thuật Một khi sản xuất được mở rộng thì nguy cơ lấnchiếm sang không gian sinh hoạt và sẽ dẫn đến ô nhiễm khu vực sinh sống của dân
cư, chất lượng môi trường đi xuống
Quy trình công nghệ và thiết bị sản xuất đa phần còn lỗi thời, lạc hậu do vốn đầu
tư của các cơ sở sản xuất tại làng nghề còn thấp, khó có khả năng điều chỉnh để
đổi mới công nghệ có lợi cho sinh thái nên nguyên nhiên liệu bị tiêu hao lãng phí,làm tăng phát thải chất ô nhiễm ra ngoài môi trường, ảnh hưởng tới giá thành sảnphẩm và chất lượng môi trường
Quan hệ sản xuất còn mang nặng tính chất gia đình, dòng họ, làng xóm nên họ chỉ
tuân theo một quy trình sẵn có theo truyền thống thường được gọi là bí quyết giatộc, cùng với nếp sống tiểu nông cố hữu vốn có từ nguồn gốc nông dân của chủcác cơ sở sản xuất tại các làng nghề cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng lớn Dokhông ý thức được những tác hại lâu dài nên họ thường không lựa chọn quy trìnhcông nghệ mới mà chủ yếu là thủ công Thậm chí, một số còn đưa những nguyênnhiên liệu rẻ tiền, độc hại, không có dụng cụ đảm bảo vệ sinh, an toàn lao độngnhằm hạ giá thành sản phẩm để tăng tính cạnh tranh
Nhận thức của từ chủ sản xuất đến người lao động còn thiếu hiểu biết về việc
BVMT do chủ yếu là lao động thủ công, trình độ văn hóa thấp Họ chỉ xem lợi
Trang 23nhuận là quan trọng mà chưa ý thức được hết tầm quan trọng của vấn đề ô nhiễmtới môi trường sống.
Công tác QLMT tại địa phương còn bị xem nhẹ, chưa được quan tâm đúng mực
đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho công tác này Hệ thống thu gom và
xử lý chất thải ở hầu hết các làng đều không đạt yêu cầu
2.5 Các công cụ QLMT áp dụng trong QLMT làng nghề.
2.5.1 Công cụ pháp lý
Cũng giống như QLMT nói chung thì QLMT làng nghề cũng cần sử dụng đếncông cụ pháp lý như một căn cứ để áp đặt việc BVMT là cần thiết và được quyđịnh cụ thể, rõ ràng như thế nào
Công cụ này đề ra các tiêu chuẩn môi trường: Bao gồm tiêu chuẩn môi trường
như tiêu chuẩn môi trường đất, tiêu chuẩn môi trường nước, tiêu chuẩn môi trườngkhông khí là những thước đo, giới hạn cho phép để từ đó đánh giá được mức độ ônhiễm tại từng vùng, địa phương có làng nghề và được dùng làm cơ sở để xác địnhchế tài xử lý, quản lý theo hướng bền vững về sinh thái
Xây dựng các chính sách BVMT làng nghề: Các chính sách BVMT làng nghề được
đưa ra, tiếp đó sẽ cụ thể hóa bằng việc xây dựng chiến lược BVMT làng nghề pháttriển thân thiện hơn với môi trường, cuối cùng là sẽ lựa chọn các mục tiêu khả thi
để lập kế hoạch thực hiện rõ ràng
Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về BVMT tại địa phương: Các cơ quan
chức năng và chính quyền có quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát và cưỡng chế,yêu cầu các làng nghề phải tuân thủ theo những quy định chung và quản lý chặtchẽ được các loại chất thải độc hại trong và sau sản xuất, xử lý nghiêm các hành vi
vi phạm làm tổn hại đến môi trường, trong luật BVMT quốc gia Ngoài ra, cáchoạt động thi đua khen thưởng, khuyến khích hoạt động sản xuất có lợi cả về kinh
tế và môi trường đưa vào trong quản lý chung tại địa phương hằng năm, cũng nhưchính các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
2.5.2 Công cụ kinh tế
Thuế/ phí môi trường đánh vào nguồn gây ô nhiễm làng nghề: Các chất ô nhiễm
chịu loại thuế/phí môi trường tại làng nghề này là các chất thải vào môi trườngnước (COD, BOD, kim loại nặng ) như Quy định 67/2003/NĐ – CP của Chính
Trang 24phủ ngày 13/6/2003; vào khí quyển (SO2, CO, NOx ) và vào đất (chất thải rắn,mùn, xỉ ) trên cơ sở tính chất và hàm lượng chất gây ô nhiễm.
Thuế/phí môi trường đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm làng nghề: Thuế/phí môi
trường này được áp dụng với những loại sản phẩm gây tác hại đến môi trường khiđưa ra thị trường tiêu thụ hay khi hủy bỏ, như vỏ hộp, vỏ chai, giấy bao gói khôngthân thiện môi trường
Phí dịch vụ môi trường: Phí sử dụng dịch vụ môi trường như phí sử dụng nước
sạch, bãi đỗ xe, phí thắng cảnh sinh thái các làng nghề, phí hành chính nhằmđóng góp tài chính cho việc cấp phép, giám sát và quản lý hành chính của chínhquyền đối với công tác BVMT tại làng nghề
Phí môi trường: Phí môi trường cho việc hệ thống xử lý ô nhiễm bằng công nghệ
kỹ thuật, phí vệ sinh môi trường cộng đồng, thu gom và xử lý rác thải giảm thiểuđược phần lớn lượng rác thải tại các làng nghề hiện nay
2.5.3 Công cụ kỹ thuật
Đây là công cụ quan trọng trong QLMT làng nghề vì việc đánh giá, quan trắc môitrường, xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải là vô cùng cần thiết Thông qua quytrình quan trắc kỹ thuật, các nhà quản lý, các chuyên gia mới có được những thôngtin đầy đủ, chính xác về hiện trạng và dự báo diễn biến môi trường đất, nước,không khí hay tiếng ồn Sau đó tiến hành định hướng phương pháp giải quyết theohướng kỹ thuật, đó là xử lý bằng công nghệ kỹ thuật và áp dụng quy trình côngnghệ mới ưu việt hơn sẽ giảm thiểu được lượng phát thải, giải quyết được lượng ônhiễm trước đó, lấy lại phần nào sự trong lành cho môi trường
2.5.4 Công cụ tuyên truyền, giáo dục
Đây là công cụ cũng vô cùng cần thiết được áp dụng để xây dựng nhận thức đầy
đủ và đúng đắn cho chủ cơ sở và người lao động hoạt động sản xuất tại các làngnghề Giáo dục và truyền thông môi trường cho chính những người đang trực tiếpsản xuất tại làng nghề, giúp cho họ có cái nhìn thiện chí hơn với môi trường, chia
sẻ những kiến thức, kinh nghiệm để hạn chế tối đa việc gây ô nhiễm, tổn hại đếnmôi trường Nhận thức tốt là quan trọng trong việc thay đổi thái độ, hành vi có lợicho BVMT và công tác QLMT làng nghề tại địa phương
2.5.5 Công cụ hỗn hợp
Trang 25Với bốn loại công cụ được áp dụng trong QLMT làng nghề mà giữa chúng cũngluôn có sự bổ sung hỗ trợ cho nhau nên việc kết hợp các công cụ lại cùng nhau,phát huy được những điểm mạnh và hạn chế những điểm hạn chế của từng loạicông cụ, sẽ đem lại được sự chính xác, nhạy bén và hiệu quả cao hơn
3 Kinh nghiệm quản lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên thế giới và Việt Nam
3.1 Trên thế giới
Trên thế giới cũng có một số nước có mô hình phát triển làng nghề như làng nghềrượu sochu, nấm đông cô của Nhật Bản hay Trung Quốc với hiện có 50 000 làngnghề áp dụng mô hình OVOP của Nhật Bản (mỗi làng một sản phẩm) đã giúp chocác làng nghề từ hoạt động tự phát, phân tán sang hoạt động chuyên sâu, quy môlớn theo nhu cầu thị trường Họ cũng từng vấp phải những vấn đề tương tự ViệtNam và có những phương án QLMT cho riêng quốc gia mình
Hiện trạng môi trường đất, nước, không khí tại các làng nghề Trung Quốc làm đauđầu các nhà quản lý Trung Quốc trong nhiều năm Trong mỗi giai đoạn kế hoạchnăm năm thì tỷ lệ đầu tư và vốn cho việc quản lý là khác nhau Chiến lược huyđộng vốn của Trung Quốc có hiệu quả chuẩn bị cho vệ sinh môi trường nông thôn
Về quản lý nước, đối với Trung Quốc thì tiêu chuẩn Quốc gia là tiêu chuẩn nướcuống duy nhất Ở nhiều làng nghề thì khó đạt tiêu chuẩn nước, do vậy mà Chínhphủ đã ban hành Hướng dẫn giám sát chất lượng nước cho vùng nông thôn nóichung và làng nghề nói riêng Bài học về kinh nghiệm quản lý nước thải, chất thảirắn và vệ sinh môi trường tại khu vực làng nghề nói riêng và vùng nông thôn nóichung của Trung Quốc cho thấy, cần phải cả chiến lược, quy hoạch đi đôi với cóphù hợp điều kiện, tập quán của nhân dân hay không và công tác truyền thông quacác chiến dịch được duy trì liên tục và rộng rãi
Đối với nước Nhật thì lượng phát thải rắn ở các làng nghề cụm công nghiệp làkhông nhỏ Họ có bộ khung pháp lý quốc gia giảm thiểu chất thải rắn nhằm xâydựng một xã hội tái chế như Luật quản lý rác thải về giữ vệ sinh nơi công cộng,Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể được tái chế, Luật tái chế vỏhộp và bao bì Theo đó, mà ở các làng nghề địa phương, thay bằng việc quản lýchất thải truyền thống với dòng nguyên liệu theo một hướng mà áp dụng xử lý theo
mô hình 3R ( giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng) Cùng với đó là là hoạt động thoát
Trang 26nước và hệ thống sông ngòi tại các địa phương làng nghề của Nhật Bản cũng nhưcách sử dụng hiệu quả bùn cặn sau khi xử lý nước thải
3.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác QLMT làng nghề được triển khai trong vài năm trở lại đây
và bước đầu cũng thu được những kết quả tốt Các công cụ QLMT được đưa vào
áp dụng cho QLMT làng nghề, không những Trung ương mà cả các địa phươngcũng tự xây dựng cho mình phương hướng quản lý riêng phù hợp với điều kiện vàtính chất làng nghề trong vùng
Tại nhiều tỉnh đã có chiến lược quy hoạch không gian dành cho làng nghề với mụcđích tập trung quần thể với hệ thống xử lý chất thải và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ tậptrung, hạn chế mức thấp nhất mức ô nhiễm phát thải, tiết kiệm nguyên nhiên liệu
và xử lý, giảm thiểu chất thải như công nghệ yếm khí với làm hệ thống biogas tạicác làng nghề chăn nuôi, nông sản; công nghệ đốt nung từ than sang khí gas hoặckhí hóa lỏng LPG đối với các sản phẩm gốm sứ tại các làng nghề gốm
Nguồn tài chính dành cho BVMT làng nghề ngày càng nhiều, có các chính sách hỗtrợ kinh phí, giảm thuế, ưu đãi vốn được áp dụng Cộng thêm sự xuất hiện củanhiều hương ước ra đời tại các làng nghề, các hoạt động BVMT của nhiều tổ chứctình nguyện cùng sự đóng góp tài chính của các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình đãhoạt động hiệu quả
Tuy nhiên công tác QLMT làng nghề vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập
- Các văn bản quy phạm phát luật về QLMT làng nghề còn thiếu và đôi chỗ chưarành mạch với nhiều quy chuẩn chung là sự áp tiêu chuẩn quá cao đối với các làngnghề về kinh phí và điều kiện kỹ thuật để lắp đặt hệ thống xử lý đạt quy chuẩnhiện hành
- Chức năng, nhiệm vụ để QLMT làng nghề của các cấp từ Bộ, Sở, ban ngành,địa phương là chưa rõ ràng, chồng chéo, thiếu sát sao
- Chiến lược quy hoạch cho các khu, cụm công nghiệp tập trung cho làng nghềcòn nhiều thiếu sót, chưa đồng bộ, thống nhất
- Những yếu tố đòn bẩy như nguồn tài chính, công nghệ, nhân lực chưa đáp ứngđược yêu cầu với khối lượng công việc lớn và cấp bách trong hiện tại mặc dù tìnhtrạng ô nhiễm đã diễn ra từ lâu
Trang 27- Hiệu lực thực thi pháp luật để QLMT làng nghề còn yếu kém, chưa phát huyđược hiệu quả, việc phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức BVMT cho cộng đồngngười lao động làng nghề còn bị bỏ ngỏ.
- Chưa đẩy mạnh huy động đầy đủ các tiềm năng trong cộng đồng gồm dân trí,
sự ủng hộ, trách nhiệm của doanh nghiệp, hộ sản xuất tại làng nghề trong công tácBVMT làng nghề
TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Không thể phủ nhận những tác động tích cực đến nhiều mặt của KT – XH từ hoạtđộng sản xuất nhiều năm qua của các làng nghề nhưng những hậu quả mà nhữnghoạt động này gây ra cho môi trường cũng không thể xem nhẹ, khi chất lượng môitrường tại các làng nghề đang ngày càng đi xuống, gây ảnh hưởng nghiêm trọngtới sức khỏe người dân và gây ra những tổn thất KT – XH khác Việc QLMT làngnghề trong giai đoạn hiện nay là vô cùng quan trọng và cần thiết trong hoạch địnhcác chiến lược phát triển bền vững kinh tế nông thôn Công tác này thực hiện đượccần có các công cụ đặc thù cho môi trường làng nghề hiện nay
Trong chương I vừa nêu, vấn đề được nêu ra là cơ sở lý luận, khái niệm củaQLMT, các công cụ QLMT nói chung, sau đó là giới thiệu sơ qua về làng nghề,đặc thù của QLMT làng nghề, các công cụ QLMT được áp dụng đối với làngnghề Cuối cùng là những kinh nghiệm QLMT trên thế giới và ở Việt Nam đểthấy được những sự khác biệt, những tiến bộ cần học hỏi cho Việt Nam Tóm lại,trong chương I này, trọng tâm cần chú ý là QLMT và công cụ QLMT đặc trưngcho làng nghề để làm bước đệm cho chương II khi đi sâu vào công tác QLMT tạimột địa phương, cụ thể ở đây là QLMT tại làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ -Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
Trang 28CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QLMT TẠI LÀNG NGHỀ ĐỒNG KỴ - THỊ XÃ TỪ SƠN – TỈNH BẮC NINH.
2 Giới thiệu chung về làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh
2.1 Vị trí địa lý
Đi từ trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 20 km về phía Đông Bắc, theo đường Quốc
lộ 1A tới km 18 rẽ trái đi thêm chừng 2km hay theo một cách chỉ dẫn khác là nằmtrên đường tỉnh lộ 232, nay đổi tên thành đường Nguyễn Văn Cừ, dựa trên consông Ngũ Huyện Khê, chúng ta đã đặt chân đến với làng nghề đồ gỗ mỹ nghệĐồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh
- Phía Bắc giáp với xã Tam Sơn
- Phía Đông giáp với xã Đồng Nguyên
- Phía Tây giáp với xã Phù Khê
- Phía Nam giáp với Quốc lộ 1
Cho đến nay, làng nghề gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ được coi là một trong những làngnghề giàu nhất của tỉnh Bắc Ninh, không chỉ nổi tiếng nhất về đồ mỹ nghệ trongtỉnh mà còn được biết đến trong cả nước
2.2 Điều kiện tự nhiên và hành chính
Theo nguồn tài liệu tỉnh Bắc Ninh, trước 1997 Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang( gồm có 2 thôn là Bính Hạ, Trang Liệt, Đồng Kỵ ) của huyện Tiên Sơn, tỉnh HàBắc
Từ 1997 đến 8/1999, Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang - huyện Tiên Sơn - tỉnh BắcNinh khi đã được phân tách các tỉnh
Tới 9/1999 Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang - huyện Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh
Và từ 2008 đến nay, theo Quyết định đưa huyện Từ Sơn trở thành thị xã Từ Sơnthì phân tách xã Đồng Quang thành 2 phường là phường Trang Hạ và phườngĐồng Kỵ Phường Đồng Kỵ gồm 7 khu phố chính: phố Thanh Bình, phố Đại Đình,phố Thanh Nhàn, phố Đồng Tâm, phố Tân Thành, khu Đồng Tiến
Trang 29Tổng diện tích đất tự nhiên của làng Đồng Kỵ, theo như thống kê của tỉnh BắcNinh (2008) là 334,29ha Với:
- Đất nông nghiệp là 199,04 ha
- Đất phi nông nghiệp là 132,84 ha
- Đất chưa qua sử dụng là 2,41 ha
2.3 Điều kiện kinh tế – xã hội.
Dân số: Đồng Kỵ hôm nay đang diễn ra quá trình đô thị hoá khá nhanh Dân số
đông với khoảng 13000 của năm 2006, cộng thêm tỉ lệ sinh cao và tính đến ngày31/12/2008 là có 4152 hộ với 19833 dân
Kinh tế: Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ năm 2007
đạt được là 250 tỷ đồng, so với năm 2006 đã tăng 28,2% và so với kế hoạch nămtăng 8,3% Đối với 2 quý I và II của năm 2008 thì đạt được là 81 tỷ đồng, đã tăng
so với kế hoạch đề ra là 30% Bình quân giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp, dịch vụ đạt được con số là 210 tỷ đồng/ năm đã tăng 16,6%
Làng Đồng Kỵ ngày nay đang thật sự “ lên hương” và được mệnh danh là “lànggiám đốc” từ khoảng chục năm trở lại đây Ở Đồng Kỵ, hầu như không có hộnghèo hay có người bị thất nghiệp vì lao động luôn trong tình trạng thiếu chứ ít khithừa
Ngày nay, số hộ làm làm sản xuất nông nghiệp ở đây còn rất ít mà chủ yếu chuyểnsang sản xuất thủ công nghiệp Sản lượng nông nghiệp không đáng kể
Ngoài ra, vì là loại hình làng nghề truyền thống nên Đồng Kỵ lại phát huy thêmđiểm mạnh nữa về du lịch Hiện nay, đang có các tour du lịch về với làng nghềĐồng Kỵ, về với lễ hội rước pháo diễn ra vào mùng 3, mùng 4 và mùng 5 Tết hằngnăm tại đây
Cơ sở hạ tầng: ở Đồng Kỵ có cấu trúc hạ tầng khá đầy đủ, hệ thống thông tin
truyền thông rộng khắp, có một trạm y tế phường, với 1 trường tiểu học và 1 trunghọc cơ sở Nhà thi đấu của thị xã Từ Sơn cũng được đặt tại đây gần đối diện vớiKCN Đồng Kỵ Con đường dẫn vào làng nghề được đổ bê tông thẳng tắp nối liềngiữa KCN và làng nghề sản xuất truyền thống
Trang 30Xã hội – giáo dục: Sự phát triển đáng nể của các cơ sở ở Đồng Kỵ kèm với đó là
tốc độ đô thị hoá đến chóng mặt với làng quê này Ngày nay, Đồng Kỵ khôngnhững giàu có về vật chất mà cả về tinh thần Không có cảnh trẻ con không được
đi học, tỷ lệ người phổ cập THCS, THPT luôn cao, người học cao đẳng, đại học,cao học cũng tăng lên, học thức, văn hoá của người dân trong làng ngày một cao
2.4 Lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề
Theo như nghiên cứu qua các tài liệu để lại và truyền miệng thì làng nghề Đồng
Kỵ được xác định là đã có lịch sử tồn tại và phát triển khoảng 300 năm về trước.Đầu tiên được biết đến với tên làng Cời, đây là ngôi làng với dáng dấp điển hìnhcủa làng quê Kinh Bắc, cổ kính có, hiện đại có Từ xưa, đây là đã làng “báchnghệ” nổi tiếng với nghề mộc, chạm khảm với 4-5 đời các hộ ngày nay đã theonghề này
Dưới các triều đại phong kiến chưa hề chú trọng các phương hướng khuyến khíchphát triển các làng nghề nhưng cũng chính vì xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, cộngvới tính chất của một nền kinh tế tiểu nông, bó hẹp trong khuôn khổ làng, xã,hương ấp mà cái cần có đủ dụng cụ, đồ dùng trong gia đình cũng như sinh hoạt mànghề ra đời Thời phong kiến, có nghề mộc nhưng quy mô còn nhỏ, sản xuất cònmanh mún Nghề mộc Đồng Kỵ và hôm nay là làng nghề Đồng Kỵ từ đó mà ra đời
và phát triển
Nhưng từ những năm sau đổi mới, tức từ 1986, khi Nhà nước quyết tâm bỏ từ chế
độ bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, thì như gặp thời cùng với sựnăng động, nhạy bén trên thương trường mà làng nghề Đồng Kỵ phất lên nhanhchóng, trở thành một trong những làng nghề giàu có nhất của tỉnh Bắc Ninh, khẳngđịnh chỗ đứng cho hàng thủ công mỹ nghệ trong và ngoài nước
Đã có một thời gian, Đồng Kỵ gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm,thị trường của Đồng Kỵ gần như bị đóng băng Khoảng những năm đầu của thập
kỷ 90, đồ gỗ của Đồng Kỵ đứng trước nguy cơ bị mai một Nhưng cho đến hiệnnay, Đồng Kỵ lại lấy được vị thế và đang ngày một khẳng định sự lớn mạnh khôngngừng Đặc biệt trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm
2010 vừa qua, làng nghề Đồng Kỵ thật tự hào khi tác phẩm quý nổi tiếng Chiếudời đô cũng có sự tham gia của nghệ nhân tài ba của làng Đồng Kỵ
3 Thực trạng hoạt động của làng nghề Đồng Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh.
3.1 Quy mô hoạt động sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ
Trang 313.1.1 Chủng loại, số lượng sản phẩm của làng nghề Đồng Kỵ
Từ những nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên cùng bàn tay khéo léo của nhữngngười thợ lành nghề đã chế tác ra vô vàn những sản phẩm mộc khác nhau, đa dạng
về mẫu mã, phong phú về kiểu dáng, tinh xảo về đường nét với đầy đủ các nhómchủng loại:
Các sản phẩm nội thất như bộ bàn ghế, giường, sập, tủ loại này mang lại thu
nhập khá cao và cũng là nguồn thu chính của các doanh nghiệp trong làng Đây làloại mặt hàng cao cấp, đòi hỏi trình độ tay nghề khá trở lên, ngoài sự sáng tạo, sựnhạy bén với thay đổi ngoài thị trường, người thợ cũng cần có khiếu thẩm mỹ cao
Đồ nội thất chiếm khoảng 70% tổng doanh thu làng nghề
Các sản phẩm trang trí mang yếu tố tâm linh, tôn giáo như tượng, đồ thờ
cúng chiếm khoảng 15% doanh thu Tuỳ theo mục đích sử dụng, yêu cầu củakhách hàng mà chúng có nhiều loại với hình dáng, đường nét, màu sắc, kích cỡkhác nhau
Các sản phẩm thuộc loại vật liệu xây dựng phục vụ thiết kế nhà cửa như cầu
thang, lan can, cửa sổ chỉ chiếm khoảng 15% tổng doanh thu của làng Loại nàykhông đòi hỏi tay nghề điêu luyện như mặt hàng đồ nội thất, phần lớn được tiêuthụ trong nước
3.1.2 Số hộ và lao động làng nghề
Làng nghề Đồng Kỵ có 4152 hộ thì có đến 95% số hộ tham gia sản xuất đồ gỗ mỹnghệ, đã giải quyết việc làm được cho gần 5000 lao động trong làng và trên 4000lao động ngoài tỉnh như các lao động từ Hà Nội, Bắc Giang, Hưng Yên, TháiBình…với mức thu nhập bình quân hiện nay là 2 – 7 triệu đồng/tháng/người(2009) Nghề thủ công mỹ nghệ này, ngoài sự lành nghề thì người thọ đòi hỏi phải
có óc quan sát, sự sáng tạo, khiếu thẩm mỹ cao, do vậy mà vấn đề đào tạo tay nghềcho người thợ rất được chú trọng Nghề này cần một quá trình rèn luyện chăm chỉ,kiên nhẫn và cũng cần có cái tâm, cái nhiệt huyết với nghề mới theo đuổi lâu dàiđược
Trong làng, việc người thợ cả là kỹ sư, cử nhân không hiếm Các doanh nghiệp,hợp tác xã hiện đang mở các lớp đào tạo nghề cho rất nhiều thanh niên ở các tỉnhkhác, với số lượng 20 đến 30 người trong lớp, khoá học kéo dài 18 tháng Sau khikết thúc khoá học thì những người được đào tạo này sẽ trở thành thợ cho làng nghề
Trang 32Đồng Kỵ Đây là bước làm tiết kiệm, tận dụng được nguồn nhân lực bên ngoàiphục vụ cho kinh tế địa phương và giúp tạo việc làm cho các địa phương khác.Tính đến thời điểm hết năm 2010, Đồng Kỵ đã nhận đăng ký sản xuất của 149doanh nghiệp, hợp tác xã.
3.1.3 Thị trường và các vấn đề kinh doanh liên quan
Nhắc đến đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, là nhắc đến một thương hiệu được đảm bảo về
uy tín và chất lượng sản phẩm, đáng tin cậy cho khách hàng cả trong và ngoàinước
Trước năm 2000, thị trường chủ yếu của đồ gỗ Đồng Kỵ là các tỉnh bạn lân cận.Nhưng sang đến năm 2001 thì Đồng Kỵ đã xuất khẩu được lượng lớn hàng hóa ranước ngoài Thị trường ưa chuộng của đồ mỹ nghệ của làng là các nước trong khuvực Đông Nam Á và Đông Á như Malaysia, Singapo, Đài Loan, Trung Quốc …vàmột số nước ngoài châu Á như EU, Mỹ, Canada, Braxin…
Nhận thức được thị trường trong nước là trọng điểm nên 2 năm lại đây, các doanhnghiệp tại đây đã quan tâm và quay lại với thị trường nội Hiện nay, có khoảng 200doanh nghiệp, hợp tác xã cùng hàng nghìn hộ sản xuất kinh doanh, ở các tỉnhthành khác trong nước đều có các cửa hàng buôn bán sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ.Khâu tiếp thị cho sản phẩm ngày càng được chú trọng như việc cho ra đời Hội sảnxuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ hay trang web của riêng đồ gỗ Đồng Kỵ
để giới thiệu, quảng bá sản phẩm bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh là việc làm đángkhích lệ, tập hợp được nhiều hộ kinh doanh cá thể, tìm được một hướng đi bài bản
và tạo dựng được một thương hiệu tin cậy, rất đặc trưng, ngay cả ở nước ngoài, khicạnh tranh với đồ gỗ các nước bạn thì đồ gỗ Đồng Kỵ vẫn có được chỗ đứng vữngchắc
3.2 Quy trình hoạt động sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh.
3.2.1 Nguyên liệu sản xuất
Nguyên liệu sản xuất chính là gỗ tự nhiên Ngoài ra, còn gồm:
- Keo cồn làm kết dính và đóng rắn trong quá trình lắp ghép, tạo sảnphẩm thô
- Giấy giáp để làm nhẵn bề mặt sản phẩm gỗ
Trang 33- Xăng và củ xi dùng để đánh bóng bề mặt
- Bột đắp gồm có bột đa, bột đất, mùn chả dùng để gia công bề mặt, phachế cồn keo, khắc phục được khuyết tật của sản phẩm
- Sơn và vecni dùng để làm bóng bề mặt, tăng tính hấp dẫn
3.2.2 Các trang thiết bị sản xuất
Các sản phẩm mộc được tạo ra từ các công cụ là đục, cưa, trạm, khuôn vẽ Nếutrước đây, xẻ gỗ được thực hiện thủ công, thì nay đã được thay thế bằng nhữngchiến cưa Sau khi gỗ được cắt thành từng khối theo các mục đích sử dụng khácnhau thì tiếp tục được vẽ theo khuôn Cuối cùng là dùng đục để tạo ra các hoa văn,đương nét – là công việc quan trọng nhất để quyết định tính thẩm mỹ của một sảnphẩm mỹ nghệ Đặc trưng sản xuất của làng nghề Đồng Kỵ là bán cơ giới, cáccông đoạn được cơ giới hóa khoảng 75% là một thuận lợi so với sản xuất thủ côngtrước đây
3.2.3 Quy trình sản xuất
Trang 34Hình 2.1 Sơ đồ quy trình sản xuất tại làng nghề Đồng Kỵ
(Nguồn: http://baigiang.violet.vn/)
Trang 354.Thực trạng môi trường làng nghề Đồng Kỵ - Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
4.1 Hiện trạng môi trường nước.
Làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ cùng với bốn làng nghề khác là làngnghề sản xuất thép Châu Khê, làng tái chế giấy Phong Khê, làng tái chế giấy PhúLâm và làng tái chế sắt Đa Hội, đang hàng ngày trực tiếp đổ các CTR và nước thảiđộc hại xuống dòng sông Ngũ Huyện Khê, khiến cho con sông với 24km chạy quađịa phận tỉnh Bắc Ninh này như bị bức tử từng ngày từng giờ
Bảng 2.1.Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước mặt và nước thải
TCVN 5945- 2005B
Trang 36Bảng 2.2 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước ngầm
(nước giếng khoan) tại làng nghề Đồng Kỵ
Kết quả nước ngầm
QCVN 09
Kết quả nước ngầm Tiêu chuẩn số
1329-2002 BYT/QĐ *
4.2 Hiện trạng môi trường đất.
Ô nhiễm môi trường đất tại làng nghề Đồng Kỵ chủ yếu là do các CTR phát sinhtrong quá trình hoạt động như các đầu mẩu gỗ thừa, mùn gỗ sau khi bào, giẻ lauchứa dung môi hữu cơ hay cặn hóa chất Tuy nhiên thì lượng CTR này với lượngthải không quá lớn, lại được tận dụng để dùng cho đun nấu hay làm các chi tiếtnhỏ hơn trong sinh hoạt hằng ngày nên tác động của nó đến môi trường khôngđáng kể
Nhưng vì có hoạt động sản xuất diễn ra nên theo nghiên cứu tình toán, người tavẫn nhận thấy lượng Cacbon, Nito hay Photpho tại vị trí như cống thải chung hay
bờ mương là nơi thải CTR thì có độ mùn trong đất thấp hơn các khu vực khôngdiễn ra hoạt động sản xuất như ở vị trí đình làng, đường làng, khu canh tác
Trang 37Bảng 2.3 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường đất.
4.3 Hiện trạng môi trường không khí
Bảng 2.4 Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường không khí t i ại hình làng
Axeton mg/m 3
Butyl axetat mg/m 3
THC mg/m 3
SO 2
mg/m 3
CO mg/m 3
K7 Hộ chà gỗ 1 0,45 0,02 0,028 1,388 0,0251 10,175 0,0208 K8 Khu công cộng 0,2 0,01 0,039 1,422 0,0223 11,195 0,0285
(Nguồn : http://baigiang.violet.vn )
Cũng giống như các làng nghề thủ công mỹ nghệ khác, làng nghề đồ gỗ mỹ nghệĐồng Kỵ cũng gặp phải tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng, đây cũngchính là vấn đề ô nhiễm chính tại làng so với môi trường đất và không khí nêutrên
Sự ô nhiễm không khí ở làng nghề chủ yếu là do bụi, SO2, NO2 Hầu hết các hộ ởđây phun sơn có diện tích nhỏ lại không có quạt hút nên hơi của các dung môi
Trang 38(butyl axetat hay axetol ) không được thông khí, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọngđến môi trường không khí Thêm nữa là cùng với đó là lưu lượng các phương tiệnvận chuyển nguyên nhiên liệu rồi đến sản phẩm cũng góp phần làm tăng lượng khí
ô nhiễm vào môi trường Còn các thông số về CO, H2S, O3 đều nằm trong giới hạncho phép theo TCVN 5937:2005 và QCVN 05:2009/ Bộ TN&MT
4.4 Các vấn đề môi trường tại làng nghề Đồng Kỵ
4.4.1 Nguồn gây ô nhiễm từ làng nghề
Đối với môi trường nước: nguồn phát sinh loại ô nhiễm này có thể do hai nguồn
thải:
Nguồn thứ nhất do nước thải sinh hoạt hằng ngày của con người Đặc tính nướcthải là chứa nhiều vi sinh vật và các chất hữu cơ, được biểu hiện bằng thông số giátrị Coliform, BOD5, COD, SS, tổng Nitơ
Nguồn thứ hai là nước mưa chảy tràn trôi những lượng thải trong sản xuất với đặctính nước thải là có lẫn chất mùn cưa, những mảnh gỗ vụn, tạp chất của dung môihữu cơ hay bị đổ thừa, ngoài ra còn có cả rác nhỏ Do không có xử lý cặn hóa chất,dung môi hữu cơ còn thừa hay thu gom những mảnh vụn trong quá trình như bào,cưa, đánh giấy ráp nên lượng thải cùng với sự hòa quyện của nước mưa sẽ cuốntrôi theo dòng nước, làm tăng ô nhiễm cho con sông Ngũ Huyện Khê chảy quađây
Đối với môi trường đất: nguồn phát sinh chủ yếu vẫn là do việc thải bỏ các CTR
như giáp ráp thừa, vỏ hộp sơn từ hoạt động sản xuất ra các khu vực như cốngthải, bờ mương, gây ứ đọng cục bộ
Đối với môi trường không khí: ở đây do đa phần các hộ phun sơn không có hệ
thống quạt hút lại làm việc trong một không gian chật hẹp nên hơi các dung môinhư axetol hoặc butyl axetat đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng khôngkhí Hơi của các dung môi hữu cơ phát sinh trong khâu đánh thuốc gồm có sơn vàđánh vecni để hoàn thiện sản phấm cuối cùng, gây ra ô nhiễm mùi nghiêm trọng
Bảng 2.5. Các công đoạn sản xuất gây ô nhiễm
trường (MT)
Trang 39Làm phẳng, tạo hình
(chà, đánh nền, chạm trổ)
Bụi, tiếng ồn CTR (gỗ vụn, mùn)
MT không khí
MT đất Làm nhẵn, sửa khuyết tật Bụi gỗ, tiếng ồn, hơi keo
CTR (giấy giáp thải, mùn gỗ)
Dung môi hữu cơ còn thừa
MT không khí
MT nước Đánh thuốc Hơi các dung môi hữu cơ
Ngoài ra, tiếng ồn cũng là một trong những tác nhân gây ô nhiễm, không chỉ ảnhhưởng đến cuộc sống mà ít nhiều cũng ảnh hưởng đến môi trường làm việc Vấn
đề này hiện khó khắc phục ở những công đoạn pha gỗ, chà, đục mộng, khoan, bào.4.4.2 Những hậu quả do ô nhiễm môi trường làng nghề Đồng Kỵ gây ra
a Đối với môi trường tự nhiên
Môi trường nước đang bị phù dưỡng do ô nhiễm, khiến suy thoái thủy vực Vìchưa có hệ thống xử lý nước thải sau một số công đoạn mà lại xả thải trực tiếp racác cống rãnh, kênh mương nội đồng sau đó là ra con sông Ngũ Huyện Khê cùngvới bốn làng nghề khác nằm dọc con sông này đang đổ thải cùng mà khiến chonước sông mất đi màu xanh vốn có của nó, hàm lượng kim loại nặng cao hơn mứccho phép, đe dọa nguồn thủy sinh đang tồn tại dưới nước mặt và gây ra mùi hôi