Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức; Trong
Trang 1Do đặc điểm cấu trúc địa hình nước ta, dân tộc thiểu số sống rải rác khắp các tỉnh trong cả nước, đặc biệt là miền núi có tầm quan trọng chiến lược trên nhiều phương diện Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc sử dụng và đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số và xem đây là lực lượng chủ yếu tại địa phương
để thúc đẩy sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của miền núi nói riêng và cả nước nói chung
Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và miền núi bước đầu được tăng cường
và củng cố Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững
Kon Tum là một tỉnh miền núi, nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng NNL còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu mà công cuộc đổi mới trên địa bàn đòi hỏi Kon Tum có vùng rừng núi rộng lớn tiềm năng đất đai, tài nguyên và lao động phong phú, nhưng trong thực tế vẫn chưa khai thác đầy đủ về NNL hiện có Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng NNL làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm phát huy NNL các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum trong công cuộc đổi mới hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Đó là lý do em chọn đề tài “
Phát triển NNL các dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum” làm luận văn cao học của
mình
Trang 22 Mục đích nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển NNL
- Phân tích thực trạng nguồn dân tộc thiểu số ở tỉnh Kon Tum trong thời gian qua
- Trên cơ sở phân tích tình hình sử dụng và phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở nước ta, luận văn đề xuất một số giải pháp phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở Kon Tum trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
a Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiển liên quan đến NNL các dân tộc thiểu số tại tỉnh Kon Tum
b Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu sự phát triển NNL các dân tộc thiểu số tại tỉnh Kon Tum
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu các nội dung trên tại tỉnh Kon Tum
- Về thời gian: Các giải pháp được đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong những năm tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử
- Phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa
và các phương pháp khác
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 Chương
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực
Chương 2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số tỉnh
Kon Tum
Chương 3 Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số
tại tỉnh Kon Tum trong thời gian tới
Trang 3CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.1.1 Các khái niệm
Nhân lực: Nhân lực là sức người, cụ thể hơn, nhân lực là nguồn lực của mỗi
người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người Nhờ sức lực đó phát triển đến độ cần thiết, con người tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, tôn giáo, chính trị, văn hóa, xã hội…
Nguồn Nhân lực: Là tổng hợp cá nhân con người cụ thể tham gia vào quá
trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động
Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về "nguồn nhân lực" chẳng hạn như:
NNL là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức;
Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với NNL đã đưa ra định nghĩa NNL là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người Quan niệm về NNL theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của NNL Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những Có chế thích hợp trong quản lư,
sử dụng Quan niệm về NNL như vậy cũng đã cho ta thấy phần nào sự tán đồng của Liên hợp quốc đối với phương thức quản lý mới
Trang 4NNL là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức
Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về NNL là:
Số lượng nhân lực: Nói đến NNL của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai Đấy là những câu hỏi cho việc xác định số lượng NNL Sự phát triển về số lượng NNL dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu
tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.v.v của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu
tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng NNL;
Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về NNL Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: Cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.v.v Cơ cấu NNL của một quốc gia nói chung được quyết định bởi Cơ cấu đào tạo và Cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỉ lệ nhất định nhân lực Chẳng hạn như Cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5 - 3 - 1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật,
3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư; đối với nước ta Cơ cấu này có phần ngược là tức là số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn số công nhân kỹ thuật Hay Cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực công của nước ta cũng đã có những biểu hiện của sự mất cân đối
Tóm lại, NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và Cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai, là tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới
Trang 5Nguồn nhân lực Dân tộc thiểu số
Là tổng hợp nhân lực của các DTTS Trong đó dân tộc có số dân ít (có thể là hàng trăm, hàng ngàn và cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất
có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân đông, trong các quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý thức về tổ quốc chung và ý thức về dân tộc mình Những DTTS có thể cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn khó khăn Vì vậy, các Nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách ” bình đẳng dân tộc, nhằm xóa bỏ dần những chênh lệch trong sự phát triển
kinh tế - xã hội giữa dân tộc đông người và các dân tộc thiểu số” [33, tr.655]
Như vậy, quan niệm trên đã nói lên nét đặc thù của các DTTS đó là: có số dân
ít, cư trú trong một quốc gia thống nhất; trong quốc gia đó có thể có hai, ba, bốn, thậm chí vài chục DTTS như ở Việt Nam, Trung Quốc, Nga [34, tr.239]
DTTS dù dân số ít song có tiếng nói riêng và có thể có chữ viết riêng, những phong tục tập quán, những truyền thống văn hóa bản địa có nhiều nét độc đáo riêng
Ở một số nước thuộc địa, phụ thuộc do bị chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản thực hiện chính sách đồng hóa cưỡng bức và chính sách ngu dân, nên một số dân tộc thiểu số có thể mất dần tiếng nói và những nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình
Phát triển nguồn nhân lực
Liên hợp quốc sử dụng khái niệm "phát triển nguồn lực con người” theo nghĩa rộng bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống
UNESCO sử dụng khái niệm “phát triển nguồn lực con người” theo nghĩa hẹp, đó là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với phát triển của đất nước
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), phát triển NNL không phải chỉ có sự chiếm lĩnh hành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thoả măn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân
Trang 6Ở nước ta “phát triển NNL” được các nhà khoa học Việt Nam nêu khá nhiều trong các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau:
Theo GS.VS.TS Phạm Minh Hạc:
Phát triển NNL được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [14]
TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: phát triển NNL được coi là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội Theo tác giả, quá trình này bao gồm sự phát triển
về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người [5]
Như vậy, mặc dù với nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về phát triển NNL, song tựu chung lại, phát triển nguồn lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng NNL (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội), nhằm đáp ứng đòi hỏi về NLL chho sự phát triển KT-XH trong từng giai đoạn phát triển
+ Các DTTS đoàn kết thống nhất trong cộng đồng chung, có truyền thống yêu nước nồng nàn và là lực lượng cách mạng to lớn Điều đó, được chứng minh
qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào các DTTS
đã đoàn kết thống nhất, một lòng một dạ dưới sự lảnh đạo của Đảng, đã đóng góp sức người sức của vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước
Trang 7+ Các DTTS có nền văn hoá rất đa dạng và phong phú mang đậm bản sắc của dân tộc mình, cho dù có sự phát triển giao thoa giữa các nền văn hoá, giữa các
dân tộc với nhau.Tuy nhiên, do nhiều dân tộc cư trú ở những địa bàn xa xôi, hiểm trở, tách biệt, không thuận lợi cho phát triển nên việc bảo lưu, giữ gìn bản sắc văn hoá của các dân tộc, việc loại bỏ những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu và việc tiếp thu những giá trị mới, tiến bộ cũng gặp nhiều khó khăn [1,13]
Từ các đặc điểm của dân tộc thiểu số trên nó ảnh hưởng đến sự phát triển của NNL, cụ thể:
Chất lượng NNL các DTTS nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của cả nước Mặc dù trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta
đã quan tâm đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển NNL này, nhưng hiện nay so với dân tộc đa số, trình độ học vấn của NNL các DTTS nhìn chung còn rất thấp, tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ cao, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề thấp, lực lượng lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, ở nông thôn và hầu hết chưa qua đào tạo Bên cạnh đó, đồng bào các DTTS còn chịu ảnh hưởng nặng của những tư tưởng, tâm lý, thói quen của người sản xuất nhỏ và các phong tục tập quán cũ, lạc hậu Đó là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến
quá trình phát triển của NNL này [8;30]
1.1.3 Ý nghĩa phát triển nguồn nhân lực các DTTS
Thứ nhất, NNL các DTTS là chủ thể thực hiện quá trình phát triển kinh tế ở vùng đồng bào DTTS và là chủ thể hưởng thụ những thành quả do việc phát triển kinh tế mang lại
Trong học thuyết duy vật lịch sử của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Lênin coi con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất, mà hơn nữa con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử Bằng hoạt động lao động sản xuất, con người đã cải tạo tự nhiên để thoả măn nhu cầu của mình, đồng thời cải tạo chính bản thân mình Ph.Ăngghen viết: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải , là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: “lao động đã sáng
Trang 8Mác-tạo ra bản thân con người” [20, tr.641]
Đối với đồng bào các DTTS, chính sách dân tộc nhất quán: “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” [13, tr.121] của Đảng và Nhà nước ta đang từng bước đi vào cuộc sống, làm cho đồng bào các dân tộc nhận thức rõ được tầm quan trọng của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Chính vì vậy, bằng sự nỗ lực phấn đấu không ngừng, các DTTS cùng với nhân dân cả nước đóng vai trò là chủ thể tích cực tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đồng thời góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội mà trước hết là phát triển nông nghiệp, nông thôn nơi địa phương đồng bào sinh sống, thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo, định canh định cư, góp sức người, sức của vào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; từng bước xoá bỏ phương thức sản xuất lạc hậu, kém hiệu quả, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn giữa vùng núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng [17]
Thứ hai, NNL các DTTS là chủ thể sáng tạo, giữ gìn, phát huy và hưởng thụ các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc của các tộc người, góp phần làm phong phú và
đa dạng nền văn hoá chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá dân tộc có chiều sâu cội nguồn có chiều dài lịch sử và chủ thể sáng tạo văn hoá rất thông minh, cần cù Đó là kết quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó không thể không nói đến sự đóng góp to lớn của NNL các DTTS trong nền văn hoá chung
Văn hoá mang tính dân tộc vì nó được sáng tạo, lưu truyền trong cộng đồng dân tộc với một sắc thái riêng và được kết tinh trong quá trình lao động, sản xuất,
nó thể hiện đặc tính riêng như: phong cách truyền thống, khát vọng, thế giới tinh thần, tâm hồn, nhân cách của con người, thể hiện sức sống, trình độ phát triển của mỗi dân tộc Thông qua đó, văn hoá của mỗi vùng, mỗi dân tộc thể hiện tính đặc sắc, tính độc đáo, đặc thù, chẳng hạn:
Nét độc đáo của vùng văn hoá Tây Bắc được thể hiện ở : các làn điệu Xoè Thái, múa khèn của người Mông, tục uống rượu cần bên bếp lửa, bộ Sử thi Đẻ đất,
Trang 9Đẻ nước, Trường ca Út Thêm, làn điệu Then
Vùng văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên đó là nghệ thuật cồng chiêng, lễ bỏ
mả, tục đâm trâu, tượng nhà mồ, đặc biệt là các trường ca nổi tiếng như: Trường ca Đam San, Xing Nhă, Đãm Di
Vùng văn hoá Tây Nam Bộ là nơi có sự hiện diện của đồng bào Khơ-me với nghệ thuật sân khấu Dù Kê, Dì Kê đặc sắc
Tất cả các yếu tố văn hoá trên thể hiện tính độc đáo của mỗi dân tộc, từ đó tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng
Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, việc tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại để bổ sung làm phong phú và phát triển nền văn hoá dân tộc theo hướng hiện đại, đang trở thành cơ hội của các quốc gia, các dân tộc Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, các hoạt động văn hoá văn nghệ có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhân cách, làm phong phú đời sống tinh thần Việt Nam Bản sắc dân tộc
và tính chất tiên tiến của nền văn hoá phải được thấm đậm ” [21,tr.268]
Trong điều kiện đó, đòi hỏi phải đấu tranh không khoan nhượng với xu thế lai căng làm băng hoại văn hóa bản địa truyền thống của đồng bào các DTTS Thực
tế hiện nay cho thấy, xu thế “Kinh hoá” đang diễn ra đã làm mất đi những nét văn hoá riêng của một bộ phận DTTS, ví dụ: nhà Sàn, nhà Rông được thay thế bằng những vật liệu mơí (xi măng, sắt thép ); hay trang phục truyền thống ít được giới trẻ ưa chuộng, thay vào đó là các bộ âu phục; một số phong tục, tập quán như cưới xin cũng ít nhiều bị thay đổi từ trang phục cho đến hình thức tổ chức ; hiện tượng nam nữ thanh niên không thiết tha với những làn điệu truyền thống của dân tộc mình; bên cạnh đó, còn xảy ra tình trạng đáng lo ngại như: nạn đào bới cổ vật, trộm cắp nhạc cụ truyền thống của các dân tộc v.v
Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các DTTS trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá tiên tiến phù hợp với điều kiện kinh
tế, chính trị của từng dân tộc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào các DTTS tiếp tục phát triển, sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá mới
Trang 10Thứ ba, NNL các DTTS là chủ thể giữ gìn an ninh biên giới, giữ vững chủ quyền quốc gia và đấu tranh làm thất bại những âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch
Xuất phát từ đặc điểm cư trú của đồng bào DTTS ở những địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt lại là những vùng biên giới giáp với các nước, đó là những nơi thông thương, phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá nhưng cũng là địa bàn
có nhiều vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội Lợi dụng những vấn đề đó, trong những năm gần đây, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tăng cường tuyên truyền, kích động chống phá cách mạng, khoét sâu vào những vấn đề nhạy cảm như: đất đai, sự chêch lệch mức sống , kết hợp với việc lợi dụng vấn đề tôn giáo ở Việt Nam để tuyên truyền đạo trái phép vào vùng DTTS nhằm tạo nền tảng tư tưởng và xã hội cho sự ra đời của “Nhà nước Đề Ga tự trị”,
“Nhà nước Khơmer Crôm”, “Vương quốc Mông” Mặt khác, các thế lực thù địch còn kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, gieo rắc quan điểm về quyền tự trị dân tộc,
về một nhà nước riêng, hoặc tổ chức các cuộc bạo động, gây rối nhằm lật đổ chính quyền cách mạng, điển hình là bạo động chính trị diễn ra ở Tây Nguyên đòi thành lập “Nhà nước Đề Ga tự trị” vào tháng 02/2001 và tháng 4/2004 [12,18]
Trong những năm qua, nhằm đấu tranh làm thất bại những âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch, Đảng ta chủ trương tiếp tục thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò làm chủ, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội để tiến hành CNH - HĐH đất nước Thấm nhuần tư tưởng và quan điểm trên, Đảng ta đã và đang tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác vận động quần chúng nhân dân, trong đó việc tuyên truyền đối với đồng bào DTTS là nhiệm vụ quan trọng góp phần xây dựng khối đại đoàn kết và giữ vững chủ quyền quốc gia [43]
Thứ tư, NNL các DTTS là chủ thể giữ gìn bảo vệ môi trường sinh thái vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tạo ra sự phát triển bền vững
Cũng như các quốc gia đang phát triển, Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn
đề về môi trường, trong đó, rừng đang chịu sức ép lớn do hậu quả của chiến tranh, tình trạng khai thác bừa bãi, không đảm bảo tái sinh rừng liên tục, tình trạng du
Trang 11canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy, cháy rừng, khai thác mở rộng lâm trường, sắn bắn thú rừng đã xâm hại đến tài nguyên rừng một cách nghiêm trọng
Vì vậy vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để có đất sản xuất, mở rộng phát triển công nghiệp, đảm bảo chất lượng dân số mà rừng không bị tàn phá, môi trường không bị xâm hại, tạo bước cho sự phát triển bền vững tức là sự phát triển không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện nay mà còn không làm tổn hại đến lợi ích của các thế hệ tương lai
1.2 NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.2.1 Cơ cấu của NNL phải đáp ứng mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương
Cơ cấu NNL được xác định theo yêu cầu của chiến lược phát triển kinh
tế, xã hội mà địa phương, tổ chức đã xây dựng Nói cách khác phải xuất phát từ mục tiêu của địa phương, tổ chức, từ yêu cầu công việc phải hoàn thành, từ yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, từ quy trình công nghệ mà chuẩn bị
cơ cấu NNL cho phù hợp Từ đó vừa đạt đuợc hiệu quả, mục, vừa sử dụng có hiệu quả từng thành viên của tổ chức, vừa kích thích đuợc tính tích cực lao động của các thành viên đó Điều này cũng có nghĩa là, khi chiến lược, mục tiêu, điều kiện kinh doanh của địa phương, tổ chức thay đổi, thì cơ cấu của NNL phải thay đổi
tương ứng
Để chuẩn bị cho việc phát triển trước tiên phải biết rõ nhu cầu trước mắt và trong tương lai về NNL, đặc biệt là ngành nghề nào có thể phát triển lâu dài ở địa phương, trong cả nước Như vậy công tác điều tra, nghiên cứu nhu cầu về ngành nghề, trình độ, số lượng NNL là điều không thể bỏ qua Việc sử dụng kết quả điều tra, thống kê của các cơ quan chức năng của tỉnh tạo điều kiện cho nhà trường có cái nhìn đúng và xa về nhiệm vụ hiện tại và tương lai Nói chung, muốn thực hiện phát triển kinh tế nhất thiết phải có những điều kiện cần thiết phục vụ cho phát triển, trong đó có nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu Việc lên kế hoạch đào tạo NNL phải được đồng xây dựng bởi cơ quan chức năng nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, trong đó cơ quan chức năng nắm vai trò chủ đạo xây dựng kế hoạch lâu dài, nhà trường đóng góp bằng kế hoạch ngắn hạn và cụ thể, doanh nghiệp đóng góp qua góp ý, thỏa thuận hoặc cam kết sử dụng nhân lực trong tương lai
Trang 12Với đặc điểm là khu vực DTTS, miền núi, có tỷ lệ người DTTS chiếm lớn nên việc sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, chính quyền các cấp, các doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu, khách quan Xác định tầm quan trọng đó về công tác phát triển NNL các dân , trong những năm qua Đảng và nhà nước luôn quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương chú trọng đến việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng người dân tộc thiểu số làm việc tại các cơ quan, đơn vị ở địa phương [2] Nhờ đó, số lượng, chất lượng cán bộ công chức người DTTS ở các địa phương này dần tăng lên, tình trạng hẫng hụt nguồn cán bộ người DTTS đã từng bước được khắc phục, chính quyền cơ sở ngày càng được củng cố và hoàn thiện, đội ngũ cán bộ người DTTS đang dần được trẻ hoá, có trình độ chuyên môn, đa dạng về thành phần dân tộc, cán
bộ nữ người DTTS tăng lên nhiều so với trứơc đây Tất cả những kết quả đạt được
đó đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội, ổn định an ninh-chính trị trên địa bàn
Thực trạng công tác bố trí, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, chúng ta nhận thấy có một số ưu điểm
Công tác quy hoạch cán bộ luôn được thực hiện thường xuyên Đội ngũ cán
bộ người DTTS đã được quy hoạch một bước căn bản, có tính kế thừa, rộng khắp và dần trẻ hoá đội ngũ
Công tác bố trí, sử dụng các em học sinh, sinh viên người DTTS sau tốt nghiệp luôn được quan tâm thực hiện tốt Ngay từ khâu tuyển chọn ban đầu để cử đi đào tạo, các tỉnh đã có kế hoạch bố trí công tác cho các em sau này khi ra trường
Đa phần các em sau khi tốt nghiệp đều trở về địa phương công tác và được tiếp nhận, bố trí công việc đúng với chuyên ngành đào tạo Một số đơn vị, địa phương còn chủ động hợp đồng với các em ngay sau khi ra trường vào làm việc Đa số các
em đều phát huy được năng lực, trình độ và kiến thức đã được học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc Nhiều người đã được quy hoạch, bố trí,
bổ nhiệm vào các chức danh chủ chốt ở các đơn vị, sở, ngành, địa phương
Trong chính sách đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ: một số tỉnh đã ban hành và
tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả một số chính sách về đào tạo, bố trí, sử dụng con
Trang 13em người dân tộc thiểu số Hàng năm, tỉnh đều dành một nguồn kinh phí để hỗ trợ cho các em học sinh, sinh viên người DTTS đang học tại các trường đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: Một số cấp ủy, lảnh đạo cơ quan, đơn vị chưa thấy hết tầm quan trọng của công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ người DTTS
Công tác quy hoạch cán bộ người DTTS còn lúng túng, chưa đồng bộ, chưa
có cơ cấu cán bộ hợp lý
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS còn bị động và không theo quy hoạch, thiếu kế hoạch thực hiện lâu dài
Việc sử dụng, bố trí việc làm cho các em sau khi ra trường còn lúng túng và
bị động Việc bố trí, sử dụng một số trường hợp chưa phù hợp với trình độ, năng lực của các em được đào tạo
Chế độ đãi ngộ các em học sinh người DTTS trong đào tạo và bố trí, sử dụng sau khi ra trường còn bất cấp, chưa bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế Nhìn chung cơ cấu NNL DTTS chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số NLL của cả nước (khoảng hơn 13%) và trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.2.2 Phát triển chất lượng của NNL
Chất lượng của NNL là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người Nội dung của việc phát triển chất lượng NNL
a Nâng cao kiến thức của NNL
* Nâng cao kiến thức tổng hợp
Kiến thức tổng hợp là những hiểu biết chung về thế giới của con người Việc nâng cao kiến thức tổng hợp nhằm tạo mặt bằng dân trí, làm cơ sở nền tảng cho đào tạo NNL phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng NNL, và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội, phản ánh mà nguồn lao động cung cấp cho xã hội trong thời kỳ mới – thời kỳ hội nhập Trình độ
Trang 14văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn
* Nâng cao kiến thức chuyên ngành
Sự phát triển như vũ băo của khoa học công nghệ yêu cầu người lao động phải có trình độ học vấn cơ bản, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt, để có khả năng tiếp thu và áp dụng công nghệ mới Người lao động làm việc một cách chủ động, linh hoạt và sáng tạo, sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động hiện đại, tiên tiến
Đối với NNL nói chung thì việc ưu tiên đầu tư cho dạy nghề ở trình độ cao: lao động không có kỹ thuật cao, bán lành nghề, lành nghề, lao động trình độ cao… Cùng với phát triển các cơ sở dạy nghề công lập, cần thực hiện việc phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề thông qua việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân có điều kiện
mở ra cơ sở dạy nghề, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề cho các đơn vị kể cả tư nhân
Xây dựng cơ sở liên kết giữa các đơn vị đào tạo nghề với các trường đại học, cao đẳng trong việc khảo sát nhu cầu NNL cho các ngành nghề, nhất là những ngành nghề mới sử dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại, để từđó có kế hoạch cho việc đào tạo theo địa chỉ và phù hợp với những tiêu chuẩn mà doanh nghiệp đặt ra Đồng thời, vận động các doanh nghiệp hỗ trợ các cơ sở đào tạo và người học nghề như cho phép các cơ sở dạy nghề gửi sinh viên đến thực tập sau khi đã hoàn thành kiến thức, kỹ năng nghề cơ bản vào tìm hiểu qui trình vận hành thiết bị của doanh nghiệp; cử các cán bộ làm công tác chuyên môn của doanh nghiệp đến giảng dạy hoặc tham gia các hoạt động thực hành của sinh viên tại trường; hỗ trợ hoặc bán lại cho các cơ sở đào tạo với giá rẻ các thiết bị, máy móc của doanh nghiệp do chuyển đổi công nghệ, thiết bị… Như vậy, sinh viên sẽ thu được nhiều lợi ích từ việc đào tạo
Đa dạng hóa các loại hình ngành nghề cần được đào tạo Bên cạnh các ngành nghề truyền thống, cần đầu tư vào việc phát triển đào tạo các ngành nghề mới như lĩnh vực sản xuất vật liệu mới…Cần xây dựng các chương trình đào tạo một số ngành nghề đặc thù mà hiện nay trong nước chưa đào tạo hoặc chưa có khả năng
Trang 15đào tạo, phải sử dụng chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật nước ngoài như công nghệ cao, công nghệ di truyền
* Nâng cao kiến thức đặc thù
Kiến thức đặc thù là những kiến thức đặc trưng mà người lao động trực tiếp tham gia hoặc được đào tạo.Trình độ lành nghề và tác phong làm việc của người lao động được thể hiện ra khi họ sử dụng các công cụ sản xuất thành thạo, đáp ứng những yêu cầu về chất lượng sản phẩm, cùng những sản phẩm hàng hoá có tính chuyên nghiệp hoá Người lao động có trình độ nghề nghiệp không những cần
có kỹ năng lao động mà còn phải có sáng tạo trong quá trình sản xuất Thực tế cho thấy chỉ khi nào người lao động, người quản lý có kiến thức và trình độ nghề nghiệp thì mới tiếp cận, nhanh chóng tiếp thu, vận dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, có ý thức và tinh thần sáng tạo
Kiến thức đặc thù của NNL các DTTS là kỹ thuật thâm canh các loại cây trồng, cách phòng chống bệnh cho đàn gia súc, gia cầm… góp phần nâng cao nhận thức cho người dân Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế cho thấy, phương pháp “cầm tay chỉ việc” cho đồng bào DTTS thường được áp dụng đối với các ngành, nghề thuộc lĩnh vực nông - lâm nghiệp, chăn nuôi - thú y Việc thực hiện phương pháp này với các ngành, nghề phi nông nghiệp như: sửa chữa xe máy, cơ khí, sửa chữa
đồ điện… tại vùng cao lại rất khó thực hiện, mặc dù những ngành, nghề này đòi hỏi yếu tố thực hành cao
b Nâng cao kỹ năng NNL
Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác,
động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó Những kỹ năng sẽ giúp cho người công nhân đó hoàn thành tốt công việc của mình, quy định tính hiệu quả của công việc
Kỹ năng nghề nghiệp là một dạng năng lực đặc biệt, phản ánh sự hiểu biết
về trình độ nghề nghiệp, mức độ tinh xảo khéo léo; việc lặp đi lặp lại các thao tác một cách thành thục, trở thành kỹ xảo
Kỹ năng nghề nghiệp có được nhờ quá trình giáo dục, đào tạo và sự rèn luyện trong công việc, nó là bội số chung của môi trường giáo dục và môi trường
Trang 16c Nâng cao nhận thức NNL
Trình độ nhận thức của người lao động là trình độ phản ánh mức độ sự hiểu biết về chính trị, xã hội và tính tự giác trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nhận thức của người lao động được coi là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển NNL, vì trình độ nhận thức của mỗi người khác nhau, dẫn đến kết quả cũng khác nhau Cùng một công việc, song người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có thể có kết quả thấp hơn người có trình độ nghiệp vụ chuyên môn thấp, nhưng lại có kết quả cao hơn Là do nhận thức mỗi người khác nhau, do động cơ được giải quyết, hay không được giải quyết, do tầm quan trọng của việc phải làm Từ đó dẫn đến hành vi, thái độ làm việc của người này khác người kia Vì vậy, phải có giải pháp nâng cao trình độ nhận thức cho người lao động, nhằm tạo cho họ có đủ trình độ
Trang 17thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức
Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với các công việc, điều này sẽ được thể hiện qua các hành vi của họ Một người có kỹ năng tốt nhưng thái độ không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đời sống của đồng bào DTTS vẫn còn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, nhận thức về pháp luật, chính trị - xã hội của các DTTS còn hạn chế Tuy nhiên mặc dù còn nghèo, nhưng đồng bào các DTTS có tính tự trọng cao; cần cù, siêng năng, thật thà, thẳng thắn, thường tin vào những điều có thật; vì vậy việc nâng cao nhận thức và trình độ cho người lao động là DTTS sẽ tạo nền tảng phát triển bộ phận NNL này
1.2.3 Nâng cao động lực thúc đẩy NNL
Dù là người kinh hay đồng bào DTTS, mọi người đều sống và làm việc có những nhu cầu khác nhau Đó là nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu xã hội và cũng có thể là nhu cầu hoạt động, làm việc Đây là đòi hỏi khách quan của mọi con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của họ trong những điều kiện
nhất định Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành
động Đó chính là sức mạnh bên trong thúc đẩy con người hoạt động, chỉ đạo
hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu Như vậy,
động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn tâm trí, sức lực theo đuổi mục tiêu của tổ chức để đáp ứng, thỏa măn những nhu cầu cá nhân Những động cơ làm việc cá nhân phục vụ mục tiêu chung, có lợi cho tổ chức, cho xã hội, đem lại những điều tốt đẹp cho mọi người được xem là những động cơ trong sáng, tốt đẹp Để nâng cao động lực thúc đẩy NNL chúng ta cần tập trung chủ yếu vào các yếu tố sau:
a Bằng các yếu tố vật chất
Nâng cao động lực thúc đẩy người lao động bằng yếu tố vật chất tức là dùng yếu tố vật chất để nâng cao tính tích cực làm việc của người lao động Yếu tố vật chất được hiểu là: lương cơ bản, thưởng, các khoản phụ cấp, các khoản phúc lợi xã hội…Đây là những yếu tố con người cần phải có và dùng nó để thoả măn các nhu cầu tối thiểu của mình Chính vì vậy yếu tố vật chất được sử dụng như là một đòn
Trang 18bẩy để kích thích tính tích cực của người lao động
Yếu tố vật chất luôn là yếu tố được hầu hết người lao động quan tâm khi đề cập đến công việc Chính vì vậy, muốn động viên người lao động, trước hết người quản lí phải đưa ra mức lương đủ có thể thuyết phục, thứ đến, phải xây dựng chính sách, chế độ đảm bảo các quyền lợi họ và phải có cơ chế thưởng, phạt rõ ràng Đối với các DTTS yếu tố vật chất có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy trong công việc, với điều kiện kinh tế còn nghèo việc ban hành các chính sách ưu đãi cho người lao động là DTTS đã tạo động lực lao động và làm việc, yên tâm công tác và phát triển kiến thức chuyên môn
b Bằng các yếu tố tinh thần
Các yếu tố này đem lại sự thoả măn về tinh thần cho người lao động, sẽ tạo ra tâm lý tin tưởng, yên tâm, cảm giác an toàn cho người lao động Nhờ vậy,
họ sẽ làm việc bằng niềm hăng say và tất cả sức sáng tạo của mình
Phần thưởng tinh thần thường luôn là động lực có tác dụng thúc đẩy mạnh
mẽ đối với người lao động Nếu người lao động làm việc với tinh thần phấn chấn thì công việc sẽ rất hiệu quả
Muốn nâng cao động lực thúc đẩy người lao động làm việc bằng yếu tố tinh thần thì doanh nghiệp phải tìm hiểu những tồn tại làm ảnh hưởng đến tinh thần người lao động, làm hạn chế và kìm hăm lòng nhiệt tình, sự hăng say và khả năng sáng tạo của người lao động Chính vì vậy, để có thể tạo ra động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt, doanh nghiệp phải tìm ra những vướng mắc làm giảm sút tinh thần làm việc, từ đấy, đưa ra biện pháp cụ thể để giải quyết từng vấn
đề
Đời sống của các đồng bào DTTS gắn liền với các hoạt động văn hóa tinh thần, các phong tục tập quán đặc trưng từ bao đời nay Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các DTTS vùng sâu, vùng xa thực chất còn rất nhiều hạn chế, càng ở
xa càng thiếu thông tin, càng khao khát các hoạt động văn hóa nghệ thuật
Trong vùng đồng bào các DTTS từ xa xưa do nhu cầu của cuộc sống đã xuất hiện những nghề truyền thống nổi tiếng và độc đáo Nghề và làng nghề truyền thống đã vun đắp hội tụ được các nghệ nhân tài trí sáng tạo, những bàn tay
Trang 19vàng làm ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, hoàn mỹ vừa có giá trị kinh tế vừa
có giá trị thẩm mỹ, văn hóa
Khôi phục, bảo tồn và phát huy các phong tục tập quán tốt, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín di đoán, phát triển nghề và làng nghề truyền thống không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần và mức hưởng thụ văn hóa cho cộng đồng dân cư, cho đồng bào các dân tộc
c Bằng cải thiện điều kiện làm
Tức là, có thể nâng cao động lực thúc đẩy người lao động bằng cách cải thiện các điều kiện làm việc của họ Điều kiện làm việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ tiêu hao sức lực của người lao động trong quá trình tiến hành sản xuất Mức độ tiêu hao sức lực và trí lực của người lao động phụ thuộc vào hai nhóm nhân tố chính, đó là tính chất công việc và tình trạng vệ sinh môi trường làm việc
Cải thiện điều kiện làm việc còn là việc thực hiện tốt các chính sách an toàn lao động, đầu tư máy móc thiết bị chuyên dùng để tăng năng suất và cải thiện môi trường xung quanh người lao động Môi trường này bao gồm: môi trường tự nhiên, môi trường tâm lý, môi trường văn hoá
Cải thiện điều kiện làm việc không những để bảo vệ sức khoẻ, tránh bệnh nghề nghiệp cho người lao động mà còn nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Để cải thiện điều kiện làm việc, cần phải làm thay đổi tính chất công việc cũng như cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường và thực hiện tốt các chính sách an toàn lao động
Tính chất công việc là đặc điểm công việc hoặc đặc điểm ngành nghề của công việc, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến mức độ tiêu hao và trí tuệ của người lao động Để thay đổi tính chất công việc, cần phải tập trung vào nghiên cứu cải tiến công cụ lao động, đổi mới công nghệ, trang bị đầy đủ thiết bị kỹ thuật mới cho quá trình lao động
Tình trạng vệ sinh môi trường nơi làm việc bao gồm các yếu tố: ánh sáng,
Trang 20tiếng ồn, nhiệt độ, bụi, độ ẩm, thành phần không khí…Tình trạng vệ sinh môi trường làm việc không tốt có thể làm năng suất lao động giảm, tỷ lệ sai sót tăng Thông thường, mức độ cải thiện tình trạng vệ sinh mô trường làm việc phụ thuộc vào mức sống và khả năng tài chính của doanh nghiệp
d Bằng sự thăng tiến
Là sử dụng sự thăng tiến hợp lý để kích thích, thúc đẩy người lao động Ngoài những nhu cầu no đủ về vật chất, nhu cầu được tôn trọng, được quý nể luôn dành vị trí rất lớn trong mục tiêu sống của hầu hết mọi người, biểu hiện của
nó chính là khát khao được thăng tiến trong cuộc đời, trong sự nghiệp
Thăng tiến có nghĩa là đạt được một vị trí cao hơn trong tập thể Người được thăng tiến sẽ có được sự thừa nhận, sự quý nể của nhiều người Lúc đó, con người thoả măn nhu cầu được tôn trọng Vì vậy, mọi người lao động đều
có tinh thần cầu tiến Họ khao khát tìm kiếm cho mình cơ hội thăng tiến để có thể phát triển nghề nghiệp, họ nỗ lực làm việc để tìm kiếm một vị trí khá hơn trong sự nghiệp của mình Nói một cách khác, sự thăng tiến là một trong những động lực thúc đẩy người lao động làm việc
Đối với đồng bào DTTS Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu phải gắn với quy hoạch, kế hoạch đào tạo cho từng chức danh Việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được thực hiện hàng năm Công tác tuyển chọn các em học sinh người DTTS để cử đi đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tại các trường trong cả nước phải được chú trọng
Công tác bố trí, sử dụng các em học sinh, sinh viên người DTTS sau tốt nghiệp luôn được quan tâm thực hiện tốt Ngay từ khâu tuyển chọn ban đầu để cử đi đào tạo, phải có kế hoạch bố trí công tác cho các em sau này khi ra trường Đa phần các em sau khi tốt nghiệp đều trở về địa phương công tác và được tiếp nhận, bố trí công việc đúng với chuyên ngành đào tạo Một số đơn vị, địa phương còn chủ động hợp đồng với các em ngay sau khi ra trường vào làm việc để các em đều phát huy được năng lực, trình độ và kiến thức đã được học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết công việc Nhiều người đã được quy hoạch, bố trí, bổ nhiệm vào các chức danh chủ chốt ở các đơn vị, sở, ngành, địa phương
Trang 21Trong chính sách đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ: các tỉnh đã ban hành và tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả một số chính sách về đào tạo, bố trí, sử dụng con em người dân tộc thiểu số Hàng năm, tỉnh đều dành một nguồn kinh phí để hỗ trợ cho các em học sinh, sinh viên người DTTS đang học tại các trường đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước
Hiện nay, NNL tại vùng dân tộc và miền núi đang đứng trước khó khăn,
thách thức Ở rất nhiều địa phương đội ngũ cán bộ DTTS chưa đáp ứng yêu cầu cả
về trình độ học vấn, chuyên môn, phân công công việc còn bất hợp lý Vì vậy, công tác quy hoạch và phát triển NNL làm công tác dân tộc đang trở thành một vấn
đề cấp bách trong giai đoạn đất nước là đổi mới và hội nhập hiện nay
Về chính sách cán bộ người DTTS ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiết phải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán
bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp Người có uy tín ở vùng DTTS được bồi dưỡng, tập huấn, được hưởng chế độ đãi ngộ và các ưu đãi khác để phát huy vai trò trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn dân cư, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DTTS
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Tự nhiên là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất vật chất: Là một trong những yếu tố cơ bản của những điều kiện sinh hoạt vật chất Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên như Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến hướng phát triển NNL tại địa phương Vai trò đó thay đổi cùng với
sự phát triển của xã hội Môi trường tự nhiên là nơi sinh tồn của con người, xã hội
Ở trình độ mông muội, khi con người chỉ biết chủ yếu hái lượm những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên thì con người hoàn toàn lệ thuộc vào tự nhiên, cuộc sống của xã hội phụ thuộc chủ yếu vào môi trường tự nhiên
Khi trình độ văn minh cao hơn, nhất là khi khoa học kỹ thuật phát triển thì
Trang 22con người từng bước chinh phục tự nhiên, khai thác tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu của mình Nhưng nhìn chung, tự nhiên vẫn có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho quá trình sản xuất xã hội, qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội
Do tập quán của người DTTS là sống du canh du cư nên những thói quen trong cuộc sống hằng ngày và lối suy nghĩ vẫn còn theo tập quán cũ, chưa quen với môi trường mới Họ vẫn chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có để khai thác mà không ý thức được rằng đó chỉ là nguồn thu không bền vững và nhanh cạn kiệt Họ thường sống ở những nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, những nơi
có sự ưu đãi của thiên nhiên như: nhiều thú rừng, gần nguồn nước, măng rừng Thói quen ăn uống khô khan, dựa vào tự nhiên là chính làm cho họ không có ý thức về việc học tập, áp dụng kỹ thuật nông lâm nghiệp vào trồng trọt, chăn nuôi góp phần cải thiện bữa ăn, cuộc sống hằng ngày Và một khi tài nguyên bị khai thác hết thì cuộc sống của họ tiếp tục bị đe dọa
1.3.2 Điều kiện kinh tế
Tốc độ phát triển kinh tế của địa phương nhanh hay chậm, cơ cấu kinh tế của địa phương có phù hợp ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển NNL các DTTS tại địa phương
Hiện nay, Việt Nam đang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh
tế tri thức nhằm thực hiện chiến lược vừa phát triển “tuần tự” vừa “đi tắt đón đầu”
để tránh nguy cơ tụt hậu, lạc hậu, tạo ra sự phát triển nhanh nên nhất thiết phải coi trọng phát triển nguồn lực con người, xây dựng và phát triển NNL đủ về số lượng, mạnh về chất lượng Chiến lược phát triển NNL trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH theo cách đó phải được hoạch định, được xuất phát từ quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tính tất yếu phải xây dựng con người, phát triển con người
Do điều kiện kinh tế còn nghèo, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn, các DTTS đa phần chỉ chú trọng vào các công việc sản xuất cổ truyền để kiếm cái ăn cái mặc hàng ngày, họ không chú tâm nâng cao trình độ văn hóa, kiến thức để có
Trang 23thể phát triển toàn diện hơn, nâng cao đời sống kinh tế Vì vậy việc tuyên truyền phổ biến các kiến thức chuyên môn sẽ giúp đồng bào DTTS có cái nhìn xa hơn về việc phát triển toàn diện mình
1.3.3 Điều kiện xã hội
a Hệ thống giáo dục
Có rất nhiều yếu tố tác động tới sự phát triển của một đất nước: Con người, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Nhưng hơn tất cả là yếu tố con người Con người là trung tâm của mọi hoạt động và là nhân tố quan trọng nhất quyết định
sự phát triển của đất nước
Một đất nước có khoa học kỹ thuật hiện đại, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì sẽ điều kiện lớn để phát triển nền kinh tế Tuy nhiên con người lại là người phát minh, tạo ra khoa học công nghệ Con người có trình độ cao thì mới có khả năng tạo ra được khoa học công nghệ hiện đại, có bước đột phá Và hiện nay thì tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố quyết định Nhiều quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế ( Nhật Bản, Hàn Quốc ) nhưng lại có một nền kinh
tế rất phát triển do có khoa học kỹ thuật hiện đại nên có khả năng tìm ra các nguồn nguyên liệu mới thay thế cho các nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên
Như vậy ta có thể thấy là nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia NNL mà có trình độ cao thì sẽ tạo ra một nền khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng khai thác một cách tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hiện đại, phục vụ cho
sự phát triển ngày cành mạnh mẽ của đất nước Ngược lại NNL mà có trình độ thấp thì việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn, tài nguyên thiên không được khai thác tốt, gây lảng phí, dẫn đến kết quả là đất nước sẽ ngày càng tụt hậu so với các nước trên thế giới
Như vậy ta có thể thấy là việc nâng cao trình độ cho NNL là một yêu cầu cấp thiết và đào tạo, phát triển NNL là một thực tế khách quan không thể không quan tâm Xu hướng hiện nay của thế giới là đầu tư phát triển NNL, tiến tới “ nền kinh tế tri thức”
Trong thời gian qua, giáo dục nói chung, giáo dục đại học và sau đại học nói
Trang 24riêng đã gắng tạo điều kiện tốt nhất có thể, đã đề ra nhiều chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, quá trình thực thi các chính sách đó đang bộc lộ nhiều yếu kém, một số chính sách chỉ mang tính giải quyết tình thế là chính, chưa đáp ứng yêu cầu hình thành chiến lược lâu dài và ổn định, đủ khả năng giải quyết triệt để vấn đề
Chúng ta đang thực hiện một chương trình đào tạo chung cho cả nước, điều
đó có những mặt tích cực và cũng bộc lộ những hạn chế Chung về chương trình sẽ đào tạo ra những con người có thể tham gia vào hoạt động sản xuất và đời sống xã hội ở những môi trường khác nhau, dễ tổ chức dạy học, lại dễ đánh giá, kiểm tra v.v nhưng việc đánh giá khách quan nhất phải là hiệu quả công việc khi sinh viên
ra trường tham gia vào các hoạt động thực tiễn Do điều kiện tự nhiên của từng vùng đã làm cho con người có tư chất, lối sống, cách làm việc khác nhau Nếu không tính đến những đặc thù tự nhiên của từng vùng để đào tạo ra những con người tương xứng thì khi vào hoạt động thực tiễn hiệu quả sẽ không cao Đối với sinh viên người miền núi và dân tộc nói chung, do môi trường xã hội ít được tiếp xúc những công nghệ hiện đại, khi còn học ở bậc phổ thông thì chỉ dừng lại ở học lý thuyết là chủ yếu, mặt bằng kiến thức phổ thông còn thấp hơn so với đồng bằng và thành thị, cho nên khi đào tạo đối tượng này, nếu không tăng thời gian thực hành, thực tiễn thì hiệu quả sẽ rất khiê Về chính sách phát triển giáo dục và đào tạo: Học sinh, sinh viên người DTTS rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học
b Hệ thống y tế
Theo tổ chức y tế thế giới – WHO, sức khỏe là trạng thái con người thoải mái về mặt thể chất, trí tuệ và xã hội, sức khỏe con người biểu hiện tổng hợp của trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, nó là yếu tố quan trọng của chất lượng cuộc sống, Mặt khác bảo vệ sức khỏe của con người là nhu cầu cơ bản, là hạnh phúc của mỗi gia đình và cộng đồng Bảo vệ sức khỏe cho mọi thành viên trong xã hội nhằm giảm khả năng mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và làm cho con người ngày càng phát triển
Đây là một lĩnh vực công tác mang tính chất đặc thù chuyên môn cao, với
Trang 25đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, công tác này còn gặp nhiều khó khăn, bởi một mặt điều kiện dịch vụ còn nhiều thiếu thốn, mặc khác đồng bào DTTS chủ yếu thuộc diện nghèo nên khả năng tiếp cận điều kiện chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển NNL của tỉnh nhà
c Chính sách phát triển văn hóa
Sự phát triển ổn định, bền vững của các yếu tố văn hóa vừa là mục tiêu vừa
là động lực cho mọi quá trình phát triển kinh tế xã hội, nó thể hiện ở mấy điểm sau: Một là, các yếu tố văn hóa làm định hướng và làm nền cho việc lựa chọn và xác định mô hình đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của đời sống kinh tế xã hội Hai là thông qua hệ thống các chuẩn mực, định hướng các giá trị, các yếu tố văn hóa xã hội khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, phát huy tính tích cực, sáng tạo bằng cách khai thác tốt tài nguyên thiên nhiên sẳn có, đồng thời tiếp thu và vận dụng tốt các nguồn lực bên ngoài
Ba là, Yếu tố văn hóa đóng vai trò điều tiết sự phát triển Với mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của đa số người dân trong cộng đồng, các định hướng giá trị, các khuôn mẫu hành vi trong ứng xử với tự nhiên, với công việc, với người khác và với bản thân mình sẽ đảm bảo phát triển đúng hướng và bền vững
Có thể coi các biểu hiện trên chính là cơ chế tác động của các yếu tố văn hóa
xã hội đối với sự phát triển Bởi thông qua quá trình nhận thức và vận dụng của các chủ thể, thông qua hoạt động hoạch định chính sách cũng như tổ chức hiện thực hóa các chính sách đó trong thực tiễn, phương thức tác động của các yếu tổ văn hóa xã hội sẽ đưa lại những hiệu quả khác nhau
Đối với các DTTS việc hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn, bảo tồn các
di tích lịch sử, văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng Đồng bào DTTS được ưu đãi, hưởng thụ văn hóa; hỗ trợ xây dựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào DTTS Bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền
Trang 26thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, định kỳ tổ chức ngày hội văn hóa - thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng địa điểm có người dân tộc ở địa phương
1.3.4 Chính sách phát huy NNL của địa phương
Chính sách là một phương tiện quan trọng trong định hướng mọi hoạt động kinh tế xã hội và hành vi của các chủ thể tham gia trong hoạt động theo những mục tiêu, phương hướng đã định trước của nhà nước
Các chính sách ảnh hưởng đến việc phát triển NNL của địa phương bao gồm các chính sách về kinh tế xã hội, chính sách việc làm, chính sách văn hóa, chính sách về giáo dục đào tạo, chính sách về khoa học công nghệ…
Chính sách kinh tế - xã hội hướng dẫn việc sử dụng và tận dụng các nguồn nhân tài vật lực để đáp ứng kịp thời có hiệu quả và tiết kiệm nhằm giải quyết một số vấn đề chính sách mà nhà nước quan tâm
Ở nước ta, chính sách phát triển kinh tế xã hội là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra trong lĩnh vực đó Vì vậy chính sách nhà nước luôn phản ánh đường lối chủ trương của Đảng và định hướng phát triển của các hoạt động trong mỗi lĩnh vực, đường lối đó
1.4 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DTTS TẠI VIỆT NAM
Tỉnh Tây Ninh
Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 17 DTTS đang sinh sống, chiếm khoảng 1,69% dân số toàn tỉnh Ngoài dân tộc Kinh, có 4 DTTS đông nhất là: Khmer 7.158 người (0,65%), Hoa 4.542 người (0,5%), Chăm 3.312 người (0,30%) và Tà Mun 1.839 người (0,17%) Ngoài ra còn một số dân tộc khác có số lượng ít hơn nhiều (0,07%)
Chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các DTTS được
cụ thể hóa bằng chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt (gọi tắt là Chương trình 134) và chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) Việc thực hiện hai chương trình này đã mang lại
Trang 27hiệu quả thiết thực đối với cộng đồng các DTTS trên địa bàn tỉnh Các công trình hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm xá, điện đã làm thay đổi diện mạo các vùng biên giới Các ngành chức năng và chính quyền địa phương đã hướng dẫn đồng bào áp dụng những kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất cây trồng Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã mang lại hiệu quả khả quan Trong thời gian từ năm 1999 đến hết năm 2009 Từ nguồn vốn của Chương trình 134 và 135, hàng trăm hộ đồng bào DTTS đã được cấp nước sinh hoạt, đất sản xuất và nhà ở Một số địa phương đã thực hiện tốt chính sách đối với đồng bào các DTTS như Châu Thành đã cấp cho mỗi hộ 1 ha đất sản xuất Ở Tân Châu, mỗi hộ được cấp 0,5 ha từ quỹ đất của địa phương Tại xã Hòa Thạnh của huyện Châu Thành, tất cả các hộ người dân tộc Khmer đã xóa được tình trạng nhà dột nát, tranh tre, nứa lá nhờ thực hiện chương trình nhà đại đoàn kết dành cho hộ nghèo
Hiệu quả từ Chương trình 134 và 135 là không nhỏ, giúp nâng cao đời sống, kinh tế, văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Tỉnh Lạng Sơn
Ở Làng Thành, xã Quang Lang, huyện Chi Lăng có diện tích đất lâm nghiệp hơn 400 cây ăn quả lâu năm Các hộ đồng bào dân tộc Tày sinh sống ở đây đều trồng các loại cây ăn quả như: na dai, nhăn, vải thiểu, cùng nhiều loại cây hoa màu khác như dưa hấu, khoai tây, thuốc lá Với cây na dai, hằng năm mỗi hộ gia đình trong thôn có thu nhập từ 10 – 20 triệu đồng
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn ở nhiều huyện vùng đồng bào DTTS ở Lạng Sơn cho thấy, bà con các dân tộc đều rất nỗ lực vươn lên phát triển kinh thế nông hộ, việc xóa đói giảm nghèo đạt một số thành quả, cùng với nhân dân địa phương đã tập trung giúp bà con các dân tộc, nhất là vùng đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xức như: thiếu lương thực, không đủ tư liệu sản xuất, thiếu đất ở và đất sản xuất Tập trung chỉ đạo đầu tư hỗ trợ chuyển đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường, ưu tiên NNL, xây dựng hạ tầng nông nghiệp nông thôn vùng cao, vùng biên giới, tạo động lực cho bà
Trang 28con các dân tộc vươn lên xóa đói, giảm nghèo bền vững
Tỉnh Thanh Hóa
Mường Lát là huyện vùng cao biên giới khó khăn của tỉnh Thanh Hoá Nơi đây có đường biên dài 100km giáp với Lào, đồng bào dân tộc Mông và Thái chiếm hơn 90% dân số, tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 62% Không có vốn, thiếu kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, đẻ dày và đông con là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng bà con chưa thoát được đói nghèo Để từng bước giúp bà con thoát khỏi đói nghèo, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách đầu tư Cụ thể các nguồn vốn đầu tư của Bộ quốc phòng và Bộ Lao động-thương binh và Xã hội, Đoàn kinh tế quốc phòng 5 đóng quân trên địa bàn đã hỗ trợ các xã của huyện xây dựng mô hình xoá đói giảm nghèo Cùng với việc nâng cấp hệ thống kênh mương tưới tiêu và chăn nuôi, xây dựng công trình bể tự chảy phục vụ sinh hoạt cho bà con, là hỗ trợ cây và con giống mới, tập huấn khoa học kỹ thuật áp dụng trong chăn nuôi và trồng trọt đã từng bước giúp bà con chuyển đổi tập quán sản xuất, mang lại năng suất cao, góp phần giảm nghèo bền vững
Trong quá trình thực hiện dự án tỉnh hỗ trợ cho nhân dân các chương trình xoá đói giảm nghèo, đời sống bà con được nâng cao, rút kinh nghiệm sản xuất, trước đây chăn nuôi, trâu bò thả rông, không chăm sóc Hiện nay bà con đã nắm bắt khoa học kỹ thuật áp dụng vào chương trình xoá đói, giảm nghèo của Nhà nước Đặc biệt là chương trình đã hướng dẫn nay bà con đã áp dụng vào sản xuất và đặc biệt hỗ trợ đời sống của nhân dân
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CÁC DTTS TẠI TỈNH KON TUM
2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KON TUM ẢNH HƯỚNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DTTS
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Kon Tum ảnh hưởng đến việc phát triển NNL các
DTTS
Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới nằm ở phía Bắc Tây Nguyên trong tọa độ địa lý từ 107020'15'' đến 108032'30'' kinh độ Đông và từ 13055'10'' đến 15027'15'' vĩ độ Bắc, có diện tích tự nhiên 9.676,5km2, chiếm 3,1% diện tích toàn quốc, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142km), phía Nam giáp tỉnh Gia Lai (203km), phía Đông giáp Quảng Ngăi (74km), phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia (có đường biên giới chung dài 280,7km) Tổ chức hành chính gồm 01 thành phố và 8 huyện (thành phố Kon Tum; huyện ĐãkGlei, Ngọc Hồi, Đãcktô, Đãk Hà, Sa Thầy, Kon Rẫy, Konplong, Tumơrông)
Về địa hình: Phần lớn lảnh thổ Kon Tum nằm ở phía Tây Trường Sơn, địa hình có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Nhìn chung địa hình ở đây da dạng; đồi núi, cao nguyên, vùng thung lũng xen kẽ nhau Đồi núi chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, có nhiều đỉnh núi cao hơn 2.000m như: đỉnh Ngọc Linh cao 2.598m, đỉnh Ngọc Kinh cao 2.066m Với địa hình khó khăn, cơ sở
hạ tầng hạn chế gây khó khăn trong việc nâng cao chất lượng NLL các DTTS
Về khí hậu: Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, có 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, thời tiết nắng nóng, hanh khô, ít có mưa, kết hợp với gió mùa Đông Bắc Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.722mm, nhiệt độ trung bình 22 - 230C, nhiệt độ thay đổi theo địa hình, cứ lên cao 100m thì nhiệt độ giảm xuống 0,60C; biên độ nhiệt trong ngày dao động rất lớn, nhất là mùa
Trang 30khô từ 8 - 100C, điều này ảnh hưởng đến tuổi thọ của các công trình xây dựng Độ
ẩm hàng năm từ 78% đến 81%
Về thổ nhưỡng: Kon Tum bao gồm nhiều loại đất, đất feralit có độ phì tự nhiên cao thích hợp trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, lương thực, thực phẩm
và một số cây công nghiệp ngắn ngày (sắn, dứa )
Khoáng sản: Kon Tum rất đa dạng về cấu trúc địa chất và khoáng sản Trên địa bàn có 21 phân vị địa tầng và 19 phức hệ mắc ma đã được các nhà địa chất nghiên cứu xác lập, hàng loạt các loại khoáng sản như: sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, kim loại phóng xạ, nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng v.v
Tài nguyên nước: Chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía Bắc và phía Đông Bắc của tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, bao gồm: sông Sê San: do 2 nhánh chính là Pô Kô và Đãkbla hợp thành Nhánh Pô Kô dài 121km, bắt nguồn từ phía Nam của núi Ngọc Linh, chảy theo hướng Bắc Nam, nhánh này được cung cấp từ suối Đãksong dài 73km, bắt nguồn từ phía Nam núi Ngọc Linh từ các xã NgọcLây, MăngRi, huyện Đãktô, nhánh Đãkbla dài 144km bắt nguồn từ dăi núi Ngọc Linh Nhìn chung, nguồn nước, chất lượng nước thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi, khai thác, sử dụng nước giải khát và chữa bệnh
2.1.2 Đặc điểm kinh tế của Kon Tum ảnh hưởng đến việc phát triển NNL
Điểm xuất phát của tỉnh thấp Sau khi tái thành lập tỉnh (1991) nền kinh tế trong trạng thái thấp kém; các cơ sở công nghiệp nhỏ bé, manh mún; kết cấu kinh
tế, xã hội khó khăn lạc hậu Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chủ yếu là tự phát Bảng 2.1 Cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Kon Tum năm 2009
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Kon Tum
Tổng sản phẩm (GDP) bình quân hàng năm tăng 13%, giai đoạn 2006 – 2010 riêng năm 2009 tăng 11, 6% tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 19,51% lên
Trang 3121,48%; thương mại dịch vụ tăng từ 32,55% lên 34,11%; nông lâm thủy sản từ 47,94% giảm xuống 44,41% Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh liên tục tăng qua các năm từ 320,37 tỷ năm 2007 lên 542,92 tỷ năm 2008 và năm 2009 đạt 827,
41 tỷ đồng ; chi ngân sách đã ưu tiên cho đầu tư phát triển bình quân hàng năm tăng 19%, riêng năm 2009 là 14,45 %
Nông nghiệp:
Với đặc điểm các đồng bào DTTS tập trung chủ yếu tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, Sản xuất nông nghiệp là chủ yếu vì vậy việc tăng cường các công tác khuyến nông, khuyến lâm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho NLL là các DTTS nhằm tăng sản lượng và thu nhập cho đồng bào DTTS đang được tỉnh đẩy mạnh triển khai
Tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và có những chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng bình quân 11 %/năm Tỉnh đã quan tâm phát triển một
số loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng của từng vùng và có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, đồng thời đã đưa vào thử nghiệm một số loại cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Trong đó trồng trọt chiếm giá trị chủ yếu, năm 2009 giá trị sản xuất nông nghiệp từ trồng trọt chiếm 2.484.547 triệu đồng (Chiếm hơn 81%) Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp trên toàn tỉnh
Bảng 2.2: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế phân
theo ngành kinh tế qua các năm
Trang 32Nguồn: Theo số liệu niên giám thống kê Kon Tum
Công nghiệp - xây dựng: tăng trưởng cao, tăng bình quân 113,9 %/năm ,
nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được xây dựng mới, mở rộng về quy mô; có một
số doanh nghiệp nước ngoài liên doanh đầu tư sản xuất, kinh tế tư nhân đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần tăng nguồn thu ngân sách và giải quyết việc làm cho người lao động
Bảng 2.3: Giá trị Công nghiệp và xây dựng phân theo huyện, thành phố
- Huyện Kon Plông 1.360 1.807 2.692 2.780 2.820
- Huyện Ngọc Hồi 11.301 15.022 17.395 12.261 12.611
- Huyện Sa Thầy 24.915 40.113 47.804 49.229 48.765
Nguồn: Theo số liệu niên giám thống kê Kon Tum
Ngoài các công trình thủy điện, thủy lợi, giao thông do Trung ương đầu tư, một số công trình thủy điện nhỏ, đường biên giới, đường đến trung tâm xã được tỉnh đầu tư xây dựng, nâng cấp; mạng lưới điện đến 100% số hộ được sử dụng điện Việc mở rộng đô thị và phát triển kinh tế đô thị được quan tâm đầu tư, xây dựng, đã
Trang 33đang tiến hành đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu của các khu, cụm công nghiệp Hòa Bình, Sao Mai, Đãkbla; và một số hạng mục khu kinh tế cửa khẩu quốc
tế Bờ Y đã đưa vào sử dụng bước đầu phát huy hiệu quả Nhiều thị trấn huyện lỵ được quy hoạch, xây dựng mới góp phần làm thay đổi đáng kể diện mạo chung của tỉnh Tổng giá trị từ công nghiệp và xây dựng năm 2009 đạt 637.520 triệu đồng tăng 1,064 lần so với cùng kỳ năm 2008 Trong đó đặc biệt thành phố Kon Tum đạt 423.822 triệu đồng tăng 1,1 lần so với tổng giá trị sản xuất cùng kỳ năm trước.
Thương mại dịch vụ: có bước phát triển, tăng đều qua các năm và từng bước
được mở rộng đến các xã vùng sâu, vùng xa Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt 17,9% so với năm 2008 Hoạt động bưu chính, viễn thông có bước chuyển biến mạnh trong việc hiện đại hóa trang thiết bị,
cơ sở vật chất kỹ thuật, góp phần nâng số dân được sử dụng điện thoại lên bình quân 52,88 máy/100 dân
Bảng 2.4: Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết quả hoạt động của
ngành bưu chính, viễn thông
Doanh thu bưu chính, viễn thông Triệu đồng 57.362 62.613 133.734 138.000 272.659
Trang 34Nguồn: Theo số liệu cục thống kê tỉnh Kon Tum
Người DTTS tỉnh Kon Tum trong quá trình sống của mình đã có những ứng
xử phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường rừng núi Các dân tộc ở nơi đây trong xuất phát điểm đi lên làm ăn lớn XHCN có sự khác nhau Nhưng nhìn chung hoạt động kinh tế trước đây của đồng bào các dân tộc chủ yếu dựa vào tự nhiên, mang tinh chất tự cung tự cấp, đóng kín Như thế nhu cầu lớn đặt ra hiện nay đối với sản xuất kinh tế của các dân tộc là cần phải nhanh chóng chuyển đổi tính chất của nền kinh tế, đưa nền kinh tế tự cung tự cấp đóng kín sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá, thị trường Cố nhiên đây là một việc làm rất khó khăn vì phải phá vỡ truyền thống lâu đời của đồng bào các dân tộc: Sản xuất chủ yếu để tiêu dùng chứ không phải để buôn bán Hơn thế nữa điều kiện miền núi khác xa với đồng bằng: dân cư thưa thớt, cơ sở hạ tầng hết sức yếu kém, sức mua của người dân có hạn … cũng là những cản trở trong định hướng phát triển kinh tế hàng hoá Nhưng nếu như chúng ta có sự quan tâm đúng mức, có sự đầu tư thoả đáng cho đồng bào các dân tộc, thì tin rằng những trở ngại trên sẽ dần dần được khắc phục, những thế mạnh trong kinh tế của người DTTS sẽ được phát huy cao độ
Việc phát triển thương mại, dịch vụ, hệ thống bưu chính viễn thong sẽ giúp đồng bào DTTS nhanh tiếp cận với nền kinh tế thị trường, có định hướng sản xuất
để tăng thu nhập, ổn định đời sống kinh tế
2.1.3 Đặc điểm xã hội của tỉnh Kon Tum ảnh hưởng đến việc phát triển NNL DTTS
Dân số và lao động:
Kon Tum là tỉnh có dân số trẻ Đến năm 2009, dân số toàn tỉnh là 432.865 người (Niên giám thống kê 2009) Kon Tum có 25 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 53%, có 6 dân tộc ít người sinh sống lâu đời bao gồm :
Xơ Đãng, Bana, Giẻ-Triêng, Gia Rai, Brâu và Rơ Măm, Sau ngày thống nhất đất nước (năm 1975) một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác đến sinh sống, làm cho thành phần dân tộc trong tỉnh ngày càng đa dạng
Đến năm 2009, số người trong độ tuổi lao động có khoảng 275.508 người làm việc trong các ngành kinh tế , trong đó lao động nông - lâm - thuỷ sản có
Trang 35khoảng 162.470 người
Với NNL các DTTS dồi dào là tiềm năng to lớn để phát triển nền kinh tế của tỉnh Kon Tum Tuy nhiên do trình độ, năng lực của các DTTS còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của tỉnh bên cạnh đó các đồng bào DTTS chủ yếu tập trung tại các vùng sâu, vùng xa, khó khăn về địa lý nên việc đào tạo để nâng cao chất lượng của NNL này còn nhiều khó khăn
Bảng 2.5: Cơ cấu NNL các DTTS tại tỉnh Kon Tum phân theo các thành phần
Nguồn: Số liệu thống kê Viện Dân tộc
Công tác xóa đói giảm nghèo:
Trong những năm qua, giảm nghèo là một trong những chương trình được ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh ta Do vậy, cùng với sự quan tâm của các Bộ, ngành Trung ương, tỉnh ta đã có nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện để người dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, xóa đói giảm
Trang 36nghèo
Cùng với việc công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực khai hoang, phục hóa, mở rộng diện tích trồng trọt, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một diện tích cây trồng… các cấp chính quyền
đã thực hiện phân công cán bộ, Đảng viên giúp đỡ các hộ nghèo, vận động các gia đình giàu và khá giúp đỡ các hộ gia đình khó khăn về vốn, giống… Bên cạnh đó, tỉnh Kon Tum còn triển khai hiệu quả, linh hoạt, lồng ghép đồng bộ các chương trình, dự án, các chương trình mục tiêu quốc gia như: chương trình 135 (giai đoạn II), chương trình 168, chương trình 134, chương trình cho hộ nghèo vay vốn sản xuất; tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; xây dựng các công trình hạ tầng như đập thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương nội đồng; hỗ trợ máy móc, kinh phí khai hoang; đào tạo nghề … Vì vậy, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh đã giảm qua từng năm Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm từ 38,63% (năm 2006) xuống còn 16,34% (năm 2010- theo tiêu chí cũ)
Được tiếp sức bởi những chính sách ưu đãi, với khát vọng vươn lên, nhiều hộ gia đình đã chiến thắng đói nghèo, vươn lên làm giàu Dù ở vùng thuận lợi hay vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, chúng ta đều có thể bắt gặp những gương điển hình trong xóa đói giảm nghèo
Tuy kết quả giảm nghèo ở tỉnh ta đạt được nhiều kết quả đáng mừng, song thực tế, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn vẫn còn khá cao, nguy cơ tái nghèo có thể xảy
ra, bởi vì nguy cơ thiên tai thường xuyên đe dọa làm ảnh hưởng đến việc sản xuất của người dân; trình độ học vấn của hộ nghèo phần lớn còn thấp nên việc tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất, chăn nuôi gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, một bộ phận hộ nghèo có tâm lý trông chờ thụ động vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không muốn thoát nghèo, chưa phát triển hết nội lực để phát triển sản xuất nhằm thoát nghèo… Vì vậy, thời gian tới, để xóa đói giảm nghèo tỉnh một cách bền vững, ta đang tích cực tiếp tục triển khai mạnh các biện pháp để xóa đói giảm nghèo và coi đây là nhiệm vụ rất quan trọng, cần phải tập trung nhân lực, sức lực và các biện pháp, giải pháp lâu dài Trong đó, những biện pháp sẽ được áp dụng là: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm chuyển biến về nhận thức của người dân làm thay
Trang 37đổi phương thức sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học trong trồng trọt và chăn nuôi; xác định các loại cây trồng mũi nhọn, có giá trị kinh tế cao đưa vào sản xuất như cây cao su, bời lời, cà phê, bắp lai, mỳ cao sản, các loại cây dược liệu…Bên cạnh
đó, kết hợp, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương phục vụ sản xuất Đồng thời, có những chính sách ưu tiên, ưu đãi về vốn cho các hộ nghèo; tổ chức các lớp tạp huấn, làm các mô hình để chuyển giao khoa học đến các hộ nghèo, mở các lớp đào tạo nghề, tạo việc làm cho người dân, đặc biệt là người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa…Tuy nhiên, để công tác xóa đói giảm nghèo đạt hiệu quả , đòi hỏi sự nỗ lực, quan tâm của các ngành, các cấp, chính quyền địa phương và đặc biệt là sự quyết tâm của mỗi người dân
Vấn đề lao động, việc làm: có bước chuyển đáng kể Công tác đào tạo nghề
được quan tâm hơn; mạng lưới các trung tâm đào tạo nghề được mở rộng đến một
số huyện với nhiều hình thức đào tạo nghề đa dạng; Tuy nhiên đa số lao động vẫn trung chủ yếu ở Nông nghiệp và lâm nghiệp, năm 2009 số lao động ở nông thôn chiếm hơn 69% lao động trên toàn tỉnh Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị vẫn chiếm hơn 2% trong tổng số lao động
Một số khó khăn trong vấn đề lao động việc làm tại tỉnh nhà là
- Một số xã, phường, thị trấn chưa thật sự quan tâm tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về công tác đào tạo nghề, nhất là lao động nông thôn Do đó lao động nông thôn vẫn chưa ý thức được: việc tham dự đào tạo nghề gắn với việc làm, XKLĐ là một trong những giải pháp thoát nghèo; bản thân người lao động được đào tạo nghề vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào việc được bố trí, sắp xếp việc làm nên chưa chủ động tìm việc làm phù hợp vời ngành nghề được đào tào
Bảng 2.6: Công tác tạo việc làm cho người lao động
Trang 38Nguồn: Số liệu thống kê của Sở Lao động tỉnh Kon Tum
- Trình độ học vấn của học viên thấp nên phương pháp đào tạo nghề chủ yếu hiện nay là cầm tay chỉ việc, tỷ lệ thời gian thực hành cao hơn (chiếm 2/3) Lao động nông nghiệp hầu như chưa được đào tạo, nếu có, chỉ mới dừng lại ở mức tập huấn, bồi dưỡng ngắn ngày về kỹ thuật canh tác, chăm sóc, thu hoạch
- Năng lực tổ chức triển khai chương trình một số nơi của chính quyền cấp
xã, phường còn yếu Sự phối kết hợp giữa các ngành chức năng trong việc triển khai thực hiện các chương trình đôi lúc chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ Công tác tuyên truyền, giúp đỡ hội viên của các Hội đoàn thể chưa được quan tâm thường xuyên,
có nơi buông lỏng
- Các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề, hợp tác xã được thành lập trong những năm gần đây, bước đầu được khôi phục, còn hạn chế về số lượng và quy mô hoạt động Công nghiệp chế biến là chủ yếu, một số ngành nghề có tính chất thời vụ
do đó chưa thu hút được lực lượng lao động vào làm việc, kết quả tiếp nhận, sử dụng lao động còn thấp
Trang 392006 0.88 1.06 0.7
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Kon Tum
Qua bảng số liệu 2.7 ta thấy tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị còn chiếm
tỷ lệ lớn, đặc biệt năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp 2,14% tăng 0,62%, tỷ lệ thất nghiệp năm 2009 tăng một phần do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Giáo dục - đào tạo: tiếp tục phát triển và đạt được nhiều kết quả Quy mô các
ngành học, bậc học được mở rộng; tỷ lệ học sinh huy động đến lớp đạt tỉ lệ cao; khắc phục được tình trạng thiếu giáo viên ở vùng sâu, vùng xa; chất lượng dạy và học được nâng lên, duy trì tốt kết quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học; đồng thời tăng cường công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tổng số trường trên địa bàn tỉnh là 242 trường, trong đó tiểu học 127 trường, trung học cơ sở 87 trường, trung học phổ thông 18 trường và 10 trường Trung học, tập trung chủ yếu ở Thành phố Kon Tum Công tác xã hội hóa giáo dục, công tác khuyến học bước đầu thực hiện có kết quả tốt Cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư theo hướng đồng bộ, kiên
cố, đã chú ý ưu tiên hơn cho những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS
Trang 40Bảng 2.8: Số trường phân theo huyện, thành phố năm 2010
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Kon Tum Công tác y tế: chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có bước tiến bộ, mạng
lưới y tế cơ sở tiếp tục được tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ
y, bác sĩ, đẩy mạnh việc khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và đồng bào DTTS Một số loại dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi Công tác dân
số - kế hoạch hóa gia đình được chú trọng
Những hoạt động gần đây, có thể nói ngành y tế tỉnh Kon Tum đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trên mọi lĩnh vực Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng dưới sự lảnh đạo của Ðảng bộ tỉnh, sự đầu tư kịp thời của Trung ương và địa phương, cùng sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ, công chức, công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào thành quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Những thành quả nổi bật của ngành trong năm qua là hệ thống y tế trong toàn
Tiểu học Trung
học cơ
sở
Trung học Phổ thông