bảng 1.1 Mức độ đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân từ năm nhân trên địa bàn huyện Tuy Phước về số lượng 49 2.5 Quy mô vốn k
Trang 1PHẠM ĐỨC VŨ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN TUY PHƯỚC
TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2PHẠM ĐỨC VŨ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN TUY PHƯỚC
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã ngành: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN HỒNG LÊ
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
PHẠM ĐỨC VŨ
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 5
1.1.1 Khái niệm về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân 5
1.1.2 Các hình thức tổ chức kinh tế tư nhân 7
1.1.3 Đặc điểm của kinh tế tư nhân 11
1.1.4 Vai trò của kinh tế tư nhân 13
1.1.5 Lợi thế của kinh tế tư nhân 16
1.1.6 Hạn chế của kinh tế tư nhân 17
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 17
1.2.1 Gia tăng số lượng các doanh nghiệp 18
1.2.2 Mở rộng quy mô các nguồn lực 19
1.2.3 Phát triển hình thức tổ chức sản xuất 22
1.2.4 Phát triển các hình thức liên kết sản xuất 23
1.2.5 Mở rộng thị trường 26
1.2.6 Gia tăng kết quả sản xuất 28
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 29
1.3.1 Nhân tố về thị trường và đối thủ cạnh tranh 29
Trang 51.3.5 Hệ thống dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 33
1.3.6 Nhóm các nhân tố xã hội và điều kiện tự nhiên 35
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN HUYỆN TUY PHƯỚC GIAI ĐOẠN TỪ 2008- 2012 39
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN TUY PHƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
2.1.2 Đặc điểm xã hội 45
2.1.3 Đặc điểm kinh tế 46
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA HUYỆN TUY PHƯỚC GIAI ĐOẠN TỪ 2008- 2012 49
2.2.1 Sự phát triển số lượng các doanh nghiệp kinh tế tư nhân 49
2.2.2 Thực trạng về các yếu tố nguồn lực của kinh tế tư nhân 50
2.2.3 Sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh 57
2.2.5 Thực trạng về thị trường 62
2.2.6 Thực trạng kết quả sản xuất 66
2.3 NHỮNG KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN HUYỆN TUY PHƯỚC 70
2.3.1 Những kết quả đạt được 70
2.3.2 Những hạn chế 70
2.3.3 Nguyên nhân 72
Trang 63.1 CƠ SỞ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP 74
3.1.1 Quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước ta 74
3.1.2 Một số quan điểm nguyên tắc khác về phát triển KTTN 78
3.2 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN HUYỆN TUY PHƯỚC 78
3.2.1 Gia tăng số lượng doanh nghiệp 78
3.2.2 Gia tăng các yếu tố nguồn lực 79
3.2.3 Đẩy mạnh các hình thức liên kết 85
3.2.4 Phát triển thị trường 85
3.2.5 Mở rộng hoạt động cung ứng thông tin cho các doanh nghiệp 87
3.2.6 Tăng kết quả kinh doanh 88
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 90
3.3.1 Đối với Chính phủ 90
3.3.2 Đối với tỉnh Bình Định 91
3.3.3 Đối với huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7KTTN Kinh tế tư nhân
ĐHKTQD Đại học Kinh tế Quốc Dân
Hệ số ICOR Hệ số đầu tư tăng trưởng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
KTQD Kinh tế Quốc Dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
UBND Ủy ban nhân dân
HĐND Hội đồng nhân dân
UBMTTQVN Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
N,L,TS Nông, lâm, thủy sản
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 8NS Ngân sách
NHTM Ngân hàng thương mại
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 9bảng
1.1 Mức độ đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của
các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân từ năm
nhân trên địa bàn huyện Tuy Phước (về số lượng)
49
2.5 Quy mô vốn kinh doanh khu vực KTTN trên địa bàn
huyện Tuy Phước
50
2.6 Vốn kinh doanh bình quân của các doanh nghiệp kinh tế tư
nhân
51
2.7 Quy mô lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc
khu vực KTTN (Đơn vị tính: người)
2.10 Trình độ chuyên môn của chủ doanh nghiệp khu vực kinh
tế tư nhân huyện Tuy Phước năm 2012
Trang 102.16 Tình hình liên kết ngang của doanh nghiệp năm 2012 61 2.17 Thực trạng về tham gia hiệp hội của doanh nghiệp năm
2012
62
2.18 Tình hình xuất khẩu các doanh nghiệp kinh tế tư nhân trên
địa bàn thành huyện Tuy Phước
64
2.19 Giá trị sản xuất các ngành của các doanh nghiệp khu vực
KTTN huyện Tuy Phước (tính theo giá hiện hành)
66
2.20 Doanh thu thuần các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân 67 2.21 Tình hình nộp thuế của doanh nghiệp kinh tế tư nhân 68 2.22 Thu nhập bình quân của một lao động/tháng 69 2.23 Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp kinh tế tư nhân 69
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến kinh tế tư nhân
- Phân tích, đánh giá thực trạng ph át triển kinh tế tư nhân tại huyện Tuy Phước
Trang 13- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của KTTN, góp phần phát triển loại hình kinh tế này của huyện Tuy Phước trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc phát triển KTTN tại huyện Tuy Phước
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt nội dung: Tập trung nghiên cứu một số nội dung phát triển KTTN huyện Tuy Phước thông qua các loại hình doanh nghiệp của tư nhân: công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân
Về không gian: đề tài chỉ nghiên cứu nội dung trên tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Về thời gian: các giải pháp đề xuất trong luận văn này có ý nghĩa trong 05 năm đến
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp phân tích thực chứng, chuẩn tắc
Phương pháp lấy mẫu:
+ Dựa vào số lượng và cơ cấu thực tế của các loại hình KTTN mà quyết định chọn cơ cấu lấy mẫu Cỡ mẫu là n=100
+ Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo cơ cấu 60% là công ty TNHH, 30% là DNTN, 10% là công ty cổ phần
Trang 14Chương 3: Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân huyện Tuy
Phước
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đề tài kinh tế tư nhân đã có các công trình nghiên cứu của một số tác
giả như sau: GS.TS Hồ Văn Vĩnh (2001), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội TS.Nguyễn Thị Như Hà (2004), Các thành
sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội PGS.TS Trịnh
Thị Hoa Mai (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập,
NXB Thế giới, Hà Nội Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả bằng cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày khái niệm, vai trò, vị trí và thực trạng của KTTN trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các số liệu, luận chứng đưa ra được thống kê nhiều năm trước nên chưa sát thực với tình hình hiện nay GS TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS TS Nguyễn Quốc
Tế, TS Lương Minh Cừ (2003) trong cuốn sách: “Sở hữu tư nhân và Kinh
Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh, đã tập hợp rất nhiều bài viết, nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế về vấn đề phát triển kinh tế tư nhân Công trình này nêu lên tính tất yếu khách quan của KTTN, nhấn mạnh vai trò của sở hữu tư nhân và KTTN ở Việt Nam Công trình nghiên cứu do TS Vũ Hùng Cường làm chủ
nhiệm với tựa đề: “Kinh tế tư nhân và vai trò động lực tăng trưởng” là kết
quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp bộ về một số vấn đề cơ bản về phát triển khu vực tư nhân với tư cách là động lực cơ bản của mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020 Ở thành phố Đà Nẵng, vấn đề nghiên cứu kinh tế tư nhân cũng đã được quan tâm, hiện nay có các công trình nghiên cứu
sau: Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng, thực trạng và giải pháp của tác
Trang 15giả Trần Văn Năm Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm phát triển kinh tế tư
đề tài cấp thành phố của PGS TS Lê Thế giới (2004), Cải thiện môi trường
Lê Thế Giới (2007), Quản trị chiến lược, NXB Thống kê, thành phố Hồ Chí
Minh,Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 6, Đại học Đà Nẵng, luận văn Phát
Nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 -
2020” do Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng thực hiện, chủ nhiệm đề tài là TS Võ Thị Thúy Anh - Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng cũng có đề cập đến một số vấn đề phát triển KTTN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng Tác giả Trần Thị Thuỳ Trang có đề tài
những thành tựu và hạn chế của nó, từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển thương nghiệp tư nhân thành phố Tác giả Đào Thị Hồng Lý có đề tài Phát triển kinh tế tư nhân quận Sơn Trà Tỉnh Đà Nẵng (2011) Tác giả Lê Thanh Thảo Ly có đề tài Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thị xã An Nhơn, Tỉnh Bình Định (2012) Giáo trình kinh tế phát triển của đại học kinh tế Quốc Dân
Hà Nội Tác giả Mai Xuân Phúc (2011), Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Kon Tum, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng GS.TSKH Lương Xuân Quỳ (2011), Cơ cấu thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay Lý luận, thực tiễn và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Phòng thống kê Chi cục Thống kê huyện Tuy Phước, Cổng thông tin điện tử của huyện Tuy Phước, cổng thông tin điện tử của tỉnh Bình Định
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1.1 Khái niệm về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân
Hiện nay đối với thuật ngữ “khu vực tư nhân” tồn tại một số cách hiểu khác nhau tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận mang tính chất về sở hữu
Do vậy, trong thực tế các cách hiểu đó thường chỉ mang tính chất tương đối
và không thống nhất Ở Việt Nam, theo cách hiểu rộng nhất thì khu vực KTTN và khu vực KTNN (hay còn gọi là khu vực quốc doanh) là hai bộ phận cấu thành nền kinh tế Như vậy, tư nhân bao gồm cả các doanh nghiệp trong nước, lẫn doanh nghiệp nước ngoài dưới dạng liên doanh hay 100% vốn nước ngoài Đồng thời, cách hiểu này cũng đưa đến một hệ quả là khu vực KTTN bao gồm cả các cơ sở sản xuất nông nghiệp (như hợp tác xã nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy hải sản,…) và các doanh nghiệp phi nông nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhiều người không đồng ý với định nghĩa rộng này vì trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong các công ty cổ phần hóa có sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp nhà nước, và khi thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các công ty cổ phần có cổ đông là doanh nghiệp nhà nước, người ta không thể tách bạch được phần của doanh nghiệp nhà nước là bao nhiêu Cách hiểu thứ hai về KTTN dựa trên việc chia nền kinh tế thành 3 khu vực là khu vực nhà nước (quốc doanh), khu vực ngoài quốc doanh và khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài Định nghĩa này đã đưa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi “khu vực ngoài quốc doanh, coi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực riêng Theo đó, khu vực ngoài quốc doanh chỉ bao gồm các
Trang 17chủ thể kinh doanh trong nước, nhưng vẫn gồm các chủ thể sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp Trong giáo trình “Kinh tế phát triển” của ĐHKTQD khi phân tích về vấn đề tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 cũng xét theo khía cạnh tăng trưởng nhanh được thể hiện ở các khu vực kinh tế bao gồm: khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực vốn đầu
tư nước ngoài Có thể thấy rằng đã có sự tương đồng về khái niệm KTTN theo cách hiểu thứ 2 này Như vậy, các cách hiểu về các thuật ngữ “khu vực quốc doanh”, “khu vực ngoài quốc doanh” và “khu vực tư nhân” đều mang tính ước lệ chưa thống nhất hoàn toàn Trong chuyên đề này, thuật ngữ “khu vực kinh tế tư nhân” được hiểu hẹp hơn nữa, bao gồm các doanh nghiệp trong nước trừ bộ phận kinh tế phi nông nghiệp ngoài quốc doanh Khu vực này bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và không bao gồm bộ phận kinh tế nông nghiệp ngoài quốc doanh, kể cả lâm nghiệp, thủy sản, làm muối (bộ phận này gồm các cá nhân, hộ gia đình và hợp tác xã phi nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trông thủy, hải sản,…)
Trong luận văn chỉ giới hạn tập trung nghiên cứu khu vực kinh tế tư nhân dưới hình thức biểu hiện là các loại hình doanh nghiệp tư nhân bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
Phát triển kinh tế tư nhân, là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của các yếu tố, các bộ phận, các cơ sở, đặc biệt là các khu vực trong khu vực kinh tế tư nhân Chính sự phát triển của từng doanh nghiệp là yếu tố cơ bản quyết định nhất trong việc phát triển của cả khu vực kinh tế tư nhân Sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân đồng thời có sự biến đổi sâu sắc về mặt cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội theo chiều hướng tiến bộ
Trang 18Trong giai đoạn tập trung phát triển kinh tế thị trường, mục tiêu cuối cùng của sản xuất kinh doanh không chỉ đơn giản là sinh tồn ,mà tạo ra giá trị thặng dư Một mô hình kinh doanh mới ra đời được biểu hiện ở một cách thức
tổ chức sản xuất mới thông qua hình thức doanh nghiệp
1.1.2 Các hình thức tổ chức kinh tế tư nhân
Khi đề cập về kinh tế tư nhân, đại hội lần X của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định, về thành phần kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân
- Kinh tế cá thể được hiểu là kinh tế của một hộ gia đình hay một hộ cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao động làm thuê
- Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động trên cở sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
- Kinh tế tư bản tư nhân, về hình thức sản xuất,hình thức doanh nghiệp, bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và công ty
cổ phần được thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty Như phần trên đã trình, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phát triển của kinh tế tư nhân tại huyện Tuy Phước thông qua các loại hình doanh nghiệp, bao gồm:
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Chủ sở hữu duy nhất của một doanh nghiệp tư nhân là cá nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động
Trang 19kinh doanh của doanh nghiệp, có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làm giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặc chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ đầu tư đã đầu tư vào doanh nghiệp
Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp tư nhân sẽ là loại hình doanh nghiệp
ít được lựa chọn trong thời gian đến do những hạn chế và rủi ro của nó không đáp ứng xu hướng thay đổi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu kinh doanh là rất quan trọng, nó ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Về cơ bản, sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp, khả năng huy động vốn, rủi ro đầu tư, tính phức tạp của thủ tục
và các chi phí thành lập doanh nghiệp,tổ chức quản lý doanh nghiệp
thành viên và Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên Cả 2 loại hình này đều có những nội dung pháp lý gần giống nhau Đối với Công ty
Trang 20trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Thành viên công ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên tối thiểu là 2 và tối đa không vượt quá năm mươi người Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có ban kiểm soát
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như:
- Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn
- Số lượng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp
- Chế độ chuyển nhượng vốn điều chỉnh chặc chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập người lạ vào công ty Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng
có những hạn chế nhất định như:
- Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng
Trang 21- Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặc chẽ của pháp luật hơn doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh
- Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu
- Vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán
ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và giám đốc (tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có ban kiểm soát
Do có những đặc thù như vậy công ty cổ phần có những lợi thế nhất định, đó là :
- Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các
cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi ro của các cổ đông không cao
- Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lĩnh vực ngành nghề
- Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt, tạo điều kiện nhiều người góp vốn vào công ty Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất
Trang 22cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng của công ty cổ phần
Bên cạnh những lợi thế trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định như :
- Việc quản lý điều hành công ty rất phức tạp do số lượng cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể phân hóa thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích
- Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặc chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán
Như vậy, so với các loại hình doanh nghiệp khác, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có tính tổ chức xã hội hóa cao cả về vốn cũng như hoạt động
1.1.3 Đặc điểm của kinh tế tư nhân
+ KTTN gắn liền với lợi ích cá nhân – là động lực để thúc đẩy xã hội phát triển
Lợi ích cá nhân là động lực trước hết để phát triển xã hội KTTN là khu vực kinh tế năng động, người lao động tự chủ tiến hành hoạt động kinh doanh, do đó hoạt động có hiệu quả cao KTTN mà tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là mô hình tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hóa ở giai đoạn cao Hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa gắn liền với sự phân công lao động xã hội Trước khi xuất hiện nền đại công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa còn ở trình độ thấp, đó là nền sản xuất hàng hóa giản đơn, chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp Hình thức tổ chức sản xuất doanh nghiệp là hình thức tiên tiến, gắn liền với nền đại công nghiệp, phát triển cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở hình thức tổ chức này, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất tăng nhanh
Trang 23+ KTTN là nền tản của kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tế vận hành có hiệu quả Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sản xuất lớn, hiện đại và hiệu quả Và cơ chế thị trường hiện đại là môi trường để KTTN phát triển KTTN mà điển hình là mô hình tổ chức doanh nghiệp là sản phẩm tự nhiên của kinh tế thị trường, và tự lớn lên trong kinh tế thị trường KTTN ở nước ta được khôi phục từ sau công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, quan hệ sản xuất thống trị xã hội không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Do vậy, KTTN ở nước ta có một số đặc điểm riêng biệt khác nữa so với các nước trên thế giới: Thứ nhất, KTTN ở nước ta là kết quả của chính sách phát triển kinh
tế nhiều thành phần, là bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển KTTN nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Do đó, về mặt bản chất, nó khác với KTTN ở các nước
tư bản chủ nghĩa Thứ hai, KTTN ở nước ta mang trong mình yếu tố có tính
xã hội chủ nghĩa Điều này thể hiện ở chỗ: KTTN đại diện cho một lực lượng sản xuất mới góp phần giải phóng lực lượng sản xuất cũ, thúc đẩy tăng trưởng
xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,… Thứ ba, các doanh nghiệp
tư nhân thông qua hoạt động của mình củng cố, tăng cường khối đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Cuối cùng, mối quan hệ trực tiếp giữa các chủ doanh nghiệp tư nhân với người lao động doanh nghiệp không còn là quan hệ đối kháng, chủ - thợ, quan hệ giữa một bên là chủ sở hữu tư liệu sản xuất, một bên là người bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất mà là mối quan hệ hợp tác
Trang 241.1.4 Vai trò của kinh tế tư nhân
a Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế
Hiện nay, trừ một số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, còn lại hầu hết là do khu vực KTTN tham gia, thậm chí còn chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất lương thực, thực phẩm, nuôi trồng thủy hải sản, đánh cá, lâm nghiệp, hàng hóa bán lẻ, chế biến, sành sứ, giày dép, dệt may,… , đã mang về hàng tỷ đô la ngoại tệ cho nền kinh tế Chính sự phát triển phong phú đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh,… của khu vực KTTN đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp nhà nước, buộc khu vực KTNN phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh dịch vụ,… để tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa Qua đó, khu vực KTTN đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu vực kinh tế, làm cho nền kinh
tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nên sức ép lớn buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nên kinh tế thị trường nói chung
b Kinh tế tư nhân góp phần khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các nguồn nguyên liệu ở từng địa phương
Khu vực KTTN có hiệu quả đầu tư cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo tính toán,
để tạo 1 đơn vị giá trị GDP, Hệ số ICOR các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chỉ cần 3,74 đơn vị đầu tư, trong khi ở khu vực nhà nước cần tới 8,28 đơn vị và doanh nghiệp khu vực FDI cần 4,99 đơn vị Doanh thu trên tổng số tài sản khu vực tư nhân cũng cao hơn các khu vực khác, nếu với 1 tỉ đồng tài sản, doanh nghiệp tư nhân sẽ tạo ra được 1,18 tỉ đồng doanh thu, thì doanh
Trang 25nghiệp ở khu vực nhà nước chỉ tạo ra được 0,80 tỉ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 0,89 tỉ đồng Chính vì thế, vai trò của KTTN trong nền kinh tế ngày càng trở nên quan trọng Biều hiện, sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP cả nước ngày một tăng
Như vậy, vai trò của KTTN ngày càng quan trọng trong nền KTQD Ngoài ra, KTTN tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát
c Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năng động
Khu vực KTTN đã đóng góp quan trọng vào GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhất là trong những năm gần đây Đặc biệt trong nông nghiệp,
nó đã góp phần đáng kể trong trồng trọt, chăn nuôi và quan trọng hơn cả là trong các ngành chế biến, xuất khẩu, nhờ đó kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch sản xuất hàng hóa, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Hơn thế nữa, mục tiêu của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhập cao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh trong tổng sản phẩm quốc nội Trong nền kinh tế thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực công và khu vực tư nhân Một trong những đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân đối với phát triển kinh tế là khả năng huy động vốn cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất Trong một nền kinh tế đang phát triển, nguồn vốn rất khan hiếm, và đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn khi các tổ chức tài chính chưa phát triển và không có khả năng huy động tiền tiết kiệm từ dân
cư, cũng như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư Do
đó, khả năng huy động vốn của khu vực KTTN trở nên rất quan trọng Bên cạnh đó, sự phát triển của khu vực KTTN góp phần thu hút được nhiều lao động ở nông thôn vào các ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp
Trang 26chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đất nước Khu vực KTTN tăng về số lượng và khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế Nếu như trước đây, KTTN không được thừa nhận, bị coi là đối tượng của cách mạng XHCN, phải được cải tạo và xóa bỏ, với tư tưởng như thế trong giai đoạn đó KTTN vẫn chưa được phát triển mà hầu như còn bị vùi dập, kinh tế đất nước với sự hiện diện toàn bộ bởi kinh tế tập thể với cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp Từ đường lối đổi mới (Đại hội
6 của Đảng 12/1986) khẳng định nền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu dài thì KTTN được phát triển rất mạnh mẽ, tạo cho cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch cân bằng giữa KTTN và kinh tế tập thể Cơ cấu kinh tế có xu hướng chuyển dịch cân bằng không chỉ thể hiện về số lượng giữa KTTN và kinh tế tập thể, mà còn thể hiện rất rõ trong sự phát triển của các vùng lãnh thổ, và giữa các ngành Các doanh nghiệp đăng ký hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại chiếm 42% tổng số doanh nghiệp, công nghiệp và xây dựng 31%, dịch vụ khác 22%, nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 5%
d Kinh tế tư nhân đóng góp thu ngân sách
Đóng góp của các doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước có xu hướng tăng nhanh, bao gồm các nguồn thu: thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh, thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng trong nhập khẩu và các khoản phí khác Với sự phát triển nhanh chóng của khu vực KTTN đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước với số vốn huy động lớn trong xã hội, KTTN đã đóng góp ngày càng tăng vào ngân sách nhà nước Với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay thì chỉ trong một vài năm gần đây KTTN
sẽ thể hiện một vị thế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế và là chỗ dựa vững chắc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 27e Kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
KTTN phát triển sẽ tạo ra việc làm cho một lượng lớn lao động, góp phần vào việc ổn định đời sống cho người dân Thật vậy, trong giai đoạn 2000-2005, hằng năm khu vực KTTN cả nước thu hút khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc và đang trở thành nơi thu hút lao động chủ yếu của cả nước Phần lớn các doanh nghiệp khu vực KTTN có quy mô vừa và nhỏ, dễ thích nghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động nhàn rỗi nên đã góp phần vào giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp cho khu vực này Hơn nữa, nhờ chi phí tạo một việc làm mới rẻ hơn so với doanh nghiệp nhà nước (theo tính toán của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ hết 224 triệu đồng so với 436,5 triệu đồng) mà khu vực KTTN đã còn góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng việc làm cho nhà nước Chính vì vậy, khu vực KTTN đã giúp giải quyết việc làm cho phần lớn lao động Việt Nam
f Kinh tế tư nhân góp phần xoá đói giảm nghèo
1.1.5 Lợi thế của kinh tế tư nhân
- Về quan hệ sở hữu: Chủ doanh nghiệp là người trực tiếp sở hữu vốn, điều đó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển
- Về quan hệ quản lý: Do sở hữu vốn gắn liền với quản lý nên mối quan hệ giữa quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ, lợi ích gắn chặt với nhau
Do vậy, các cơ sở kinh tế tư nhân có tính chủ động cao, năng động ứng xử trước thị trường Bộ máy quản lý doanh nghiệp thường gọn nhẹ chứ không cồng kềnh như doanh nghiệp Nhà nước Nhà nước không cần đầu tư lớn và trực tiếp cho khu vực này mà chỉ cần có chính sách, chiến lược đúng đắn để khuyến khích và hỗ trợ
- Về hoạt động sản xuất kinh doanh: mục tiêu hoạt động của kinh tế tư nhân là lợi nhuận tối đa, ít bị các mục tiêu xã hội khác chi phối như đối với doanh nghiệp nhà nước Đây là cơ hội để doanh nghiệp tư nhân tối ưu cục bộ
Trang 28hiệu quả kinh tế
Về hình thức tổ chức kinh doanh rất đa dạng, linh hoạt nên tạo ra sự năng động, giảm bớt rủi ro cho nền kinh tế do tính thay thế lẫn nhau
1.1.6 Hạn chế của kinh tế tư nhân
Chúng ta không thể phủ định những mặt tích cực của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển nền kinh tế - xã hội của nước ta trong những năm qua
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân cũng còn những hạn chế và chứa đựng những bất lợi, như:
- Quá trình phát triển kinh tế tư nhân với bản chất vốn có chắc chắn sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, ảnh hưởng không tốt đến vấn đề công bằng
xã hội
- Mục tiêu kinh doanh là lợi nhuận, luôn xuất phát từ những chi phí và lợi ích cá nhân để quyết định vấn đề Các cơ sở sản xuất tư nhân sẵn sàng bỏ qua yếu tố tác động xã hội (kể cả khi có hại) để mưu lợi cho cơ sở của mình
- Tính tự phát trong sản xuất là đặc điểm về xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân
- Do điểm xuất phát thấp cho nên quy mô vốn của các cơ sở sản xuất tư nhân thường rất ít, không đáp ứng nhu cầu sản xuất
Vì vậy, cần phải đánh giá một cách khách quan, công bằng sự phát triển của nền kinh tế, chống khuynh hướng đề cao quá mức dẫn đến tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế tư nhân
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Phát triển kinh tế tư nhân là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của các yếu tố, các bộ phận, các cơ sở, đặc biệt là các khu vực trong khu vực kinh tế tư nhân Chính sự phát triển của từng doanh nghiệp là yếu tố cơ bản quyết định nhất trong việc thúc đẩy sự phát triển của cả khu vực kinh tế tư nhân Sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân đồng thời có sự biến đổi sâu
Trang 29sắc về mặt cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội theo chiều hướng tiến bộ
Phát triển kinh tế tư nhân là sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời có sự biến đổi sâu sắc về mặt cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội theo hướng tiến bộ
Phát triển kinh tế tư nhân được biểu hiện qua những vấn đề sau đây:
1.2.1 Gia tăng số lượng các doanh nghiệp
Phát triển số lượng các doanh nghiệp tư nhân là số lượng các doanh nghiệp của kinh tế tư nhân tăng lên đáng kể, năm sau nhiều hơn năm trước Đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của kinh tế tư nhân Phát triển số lượng là tiêu chí quan trọng thể hiện rõ ràng nhất sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân Phát triển kinh tế tư nhân trước hết là sự gia tăng
về số lượng doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân Doanh nghiệp càng nhiều thì sản phẩm, hàng hóa càng nhiều
Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành kinh tế tư nhân, vì vậy số lượng doanh nghiệp càng nhiều chứng tỏ kinh tế tư nhân ngày càng phát triển Tuy nhiên, phát triển số lượng doanh nghiệp không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mà phải được thể hiện bằng sự tăng lên về
số lượng doanh nghiệp hoạt động thực tế trên thị trường, có như vậy mới đánh giá đúng thực tế phát triển số lượng doanh nghiệp
Nhìn chung sự phát triển số lượng doanh nghiệp phải phù hợp với tình hình và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, phù hợp với cơ cấu ngành nghề trong khu vực, cũng như phù hợp với trình độ phát triển khoa học công nghệ của đất nước
Để phản ánh sự phát triển số lượng doanh nghiệp kinh tế tư nhân, có thể sử dụng 02 tiêu chí sau:
- Sự gia tăng về số lượng các doanh nghiệp
- Tốc độ tăng số lượng các doanh nghiệp
Trang 30Phát triển số lượng các doanh nghiệp phải được tiến hành cùng với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì các doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh mới đứng vững được trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập với các yếu tố môi trường thường xuyên biến động như hiện nay Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được nâng cao mới đánh giá thực chất sự phát triển, đánh giá doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân của một khu vực, một quốc gia
Sự phát triển về số lượng doanh nghiệp phải được kiểm chứng thông qua cạnh tranh, uy tín thương hiệu, nói cách khác chỉ tăng thêm số lượng những doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập mới đánh giá đúng thực chất sự phát triển của kinh tế tư nhân
Để phát triển số lượng các đơn vị, doanh nghiệp kinh tế tư nhân bằng cách tạo điều kiện để các doanh nghiệp ra đời và hoạt động, đó chính là tạo điều kiện về thủ tục hành chính, tạo điều kiện về tiếp cận nguồn vốn, đất đai,
cơ sở vật chất, thị trường để các doanh nghiệp ra đời và phát triển
1.2.2 Mở rộng quy mô các nguồn lực
Mở rộng quy mô các yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp có thể hiểu là làm cho các yếu tố về đất đai, lao động, nguồn vốn, hệ thống cơ sở vật chất của doanh nghiệp ngày càng tăng lên Đất đai, lao động, nguồn vốn là những yếu tố đầu vào cơ bản đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp tư nhân
Phải tăng quy mô các yếu tố nguồn lực của một doanh nghiệp bởi vì các yếu tố nguồn lực là thành phần cấu thành của quá trình sản xuất sản xuất không thể phát triển nếu các nguồn lực không được tăng cường
Để đánh giá quy mô của Doanh nghiệp, thường sử dụng các chỉ tiêu như: quy mô vốn, lao động, mặt bằng sản xuất, công nghệ, máy móc thiết bị
- Vốn: Vốn là một nguồn lực quan trọng cho bất kỳ loại hình doanh
nghiệp nào, các doanh nghiệp tăng quy mô vốn bằng các hình thức: tự tích
Trang 31lũy, huy động từ các cổ đông; vay ngân hàng Tiêu chí để xác định vốn của doanh nghiệp gồm:
+ Quy mô vốn kinh doanh
+ Vốn kinh doanh bình quân
- Lao động: Đây là một trong những yếu tố quan trọng cho sự phát triển
của doanh nghiệp Quy mô lực lượng lao động trong kinh tế tư nhân càng đông thể hiện quy mô, số lượng của thành phần kinh tế này chiếm tỷ trọng càng lớn trong nền kinh tế
Để phản ánh về lao động của doanh nghiệp kinh tế tư nhân, có thể dùng các tiêu chí sau:
+ Quy mô lao động và lao động bình quân trong mỗi doanh nghiệp; + Trình độ của người lao động;
+ Trình độ của chủ doanh nghiệp
Khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra công ăn việc làm mới; thu hút đông đảo lực lượng lao động tham gia
- Mặt bằng sản xuất kinh doanh: Đây là một trong những yếu tố cực
kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tất cả các doanh nghiệp
Mặt bằng sản xuất kinh doanh không chỉ là quy mô về diện tích mà là các yếu tố sinh lợi như vị trí thuận lợi, kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhà xưởng bố trí xây dựng hợp lý Đảm bảo mặt bằng sản xuất kinh doanh thuận tiện, hợp lý là thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp đó Thực tế cho thấy, mặt bằng sản xuất kinh doanh thuận lợi cũng là một lợi thế so sánh, tạo ra thế mạnh không nhỏ cho doanh nghiệp Phát triển mặt bằng sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp không đơn thuần là mở rộng diện tích kinh doanh mà còn là xây dựng các mặt bằng sản xuất kinh doanh phù hợp hơn, thuận tiện và hiệu quả hơn Để phản ánh mặt bằng sản xuất kinh doanh ta sử dụng tiêu chí là: Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn bình quân
Trang 32- Về công nghệ, máy móc thiết bị: Để phản ánh về công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ta dùng tiêu chí sau:
giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn bình quân
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh như hiện nay, công nghệ và máy móc thiết bị là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm Để nâng cao hiệu quả cạnh tranh, các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc thiết bị, các phương pháp, bí quyết sản xuất và năng lực quản lý Việc phát triển về công nghệ, máy móc thiết bị không chỉ là đầu tư theo kiểu mở rộng tức là mua nhiều máy móc, thiết bị mà cần quan tâm đến chiều sâu tức là phương pháp, bí quyết sản xuất, năng lực quản lý
Phát triển yếu tố này tức là giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, sản xuất ra sản phẩm có chất lượng phù hợp, đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giảm chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngược lại, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới làm hạn chế khả năng sản xuất, hạn chế năng suất và sản lượng, giảm chất lượng sản phẩm, tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, hạn chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Như vậy, sự phát triển của công nghệ, máy móc thiết bị chính là biểu hiện của khả năng nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô của doanh nghiệp chưa thể hiện được hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn sự tăng lên về vốn đầu tư dài hạn của mỗi doanh nghiệp phần nào thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp, nhưng để đánh giá sự phát triển cần phải xem xét hiệu quả mang lại sự gia tăng lượng vốn đầu tư đó
Trang 33Đối với các loại hình doanh nghiệp gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần phát triển không chỉ ở quy mô, số lượng mà còn thể hiện đối với từng ngành nghề Sự phát triển của kinh tế tư nhân còn thể hiện ở sự phát triển của từng loại doanh nghiệp Từ sau khi luật doanh nghiệp có hiệu lực, tạo môi trường để các loại hình doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân tăng nhanh hơn, thu hút nhiều nguồn đầu tư của xã hội, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động
Sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất phụ thuộc vào xu hướng phát triển của kinh tế xã hội Một doanh nghiệp khi mới thành lập cần nghiên cứu và lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất phù hợp nhất với điều kiện hiện có của doanh nghiệp và phù hợp với xu hướng phát triển Trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh khốc liệt cần nhiều vốn để trang bị máy móc thiết bị, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời uy tín của doanh nghiệp cần được giữ vững, với điều kiện đó thì những loại hình doanh nghiệp có khả năng chịu trách nhiệm cao, có khả năng huy động được nhiều vốn và có uy tín ngày càng tăng
Trang 341.2.4 Phát triển các hình thức liên kết sản xuất
Phát triển kinh tế tư nhân cũng chính là mở rộng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau trong khu vực KTTN
Sự liên kết đó nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Khi tiến hành liên kết, các doanh nghiệp cần tính toán, cân nhắc, lựa chọn loại liên kết để có thể phát huy năng lực của mình trong quá trình hoạt động
Các loại liên kết thường gặp là liên kết ngang và liên kết dọc
- Hình thành mối liên hệ liên kết ngang
Liên kết ngang là liên kết giữa các doanh nghiệp cùng loại Đã có không ít doanh nghiệp sản xuất nội thất, dệt may và hàng thủ công mỹ nghệ của chúng ta do quy mô nhỏ đã phải từ chối vì không đáp ứng được những đơn hàng của các hãng bán lẻ trên thế giới, và đã có rất nhiều hãng bán lẻ nổi tiếng thế giới đến Việt Nam để nhập khẩu hàng hóa là những mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam nhưng không tìm được nhà cung ứng hàng đảm bảo số lượng và tiến độ cho họ Để đáp ứng được những đơn hàng lớn đó, một phương án nhanh nhất cho các doanh nhân Việt là cùng liên kết lại để sản xuất và xuất khẩu
Liên kết ngang có thể làm cho nhiều cơ sở nhỏ như là một cơ sở lớn và làm xuất hiện lợi thế theo quy mô (tiết kiệm chi phí đặt hàng, vận chuyển, marketing,…) Liên kết ngang còn giúp các cơ sở chia sẻ kinh nghiệm, thông tin và các yếu tố nguồn lực khác
Hình thành các hình thức kinh tế hợp tác như: hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc lỏng lẽo hơn là các câu lạc bộ, nhóm, hội theo đối tượng sản xuất tại địa phương đối với kinh tế cá thể nông, lâm, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp Các
tổ chức này sẽ là người đại diện cho các cơ sở trong các giao dịch mua bán; là
Trang 35cầu nối cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ; là trọng tâm điều phối, chia sẻ nguồn lực
Thành lập và tham gia vào các hiệp hội ngành nghề một cách thực chất
là thực hiện liên kết ngang phù hợp đối với các doanh nghiệp kinh doanh ở các lĩnh vực khác Các hiệp hội ngành nghề là các tổ chức nghề nghiệp cần được kiện toàn theo hướng tăng cường năng lực, tính chuyên nghiệp, chuyên môn, tính thiết thực và hiệu quả Ngoài việc tuyên truyền, giáo dục văn hóa kinh doanh, ý thức chấp hành luật pháp và trách nhiệm cộng đồng cũng như thực hiện bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các thành viên, các hiệp hội cũng cần xây dựng chiến lược, kế hoạch và nội dung hoạt động hướng vào việc hỗ trợ, nâng cao lợi thế cạnh tranh của các hội viên
sơ chế nông lâm, thủy sản; gia công may mặc, giày da; lắp ráp cơ khí, điện tử, bán lẻ,…) Các khâu này mang lại giá trị gia tăng thấp với chi phí đầu vào cao
và giá bán thấp Năng lực thương lượng kém so với người mua (nguyên liệu hoặc nguyên liệu qua sơ chế), so với người bán (vải sợi, da giày, linh kiện, phụ tùng, thành phẩm,…) làm cho các cơ sở càng chịu nhiều áp lực và sự thua thiệt Tham gia hình thành các mối liên hệ liên kết dọc trong ngành giúp tháo
gỡ phần nào khó khăn này
Các cơ sở hoạt động trong công đoạn khai thác, sơ chế nguyên liệu (vật liệu xây dựng, nông lâm thủy sản, khoáng sản,…) cần tăng cường các nỗ lực liên kết dọc thuận chiều Đó là việc liên kết với các cơ sở chế biến có trình độ
Trang 36công nghệ cao trong địa phương (và có thể trong nước), có thể đóng vai trò là một cổ đông, hoặc là nhà cung cấp tin cậy cho các cơ sở đó Giá trị gia tăng lớn thu được từ hoạt động chế biến công nghệ cao có thể được chia sẻ
Các cơ sở hoạt động trong công đoạn lắp ráp có thể tham gia hình thành mối quan hệ liên kết dọc về hai phía (cung cấp và tiêu thụ) Trong điều kiện ở địa phương và trong nước, khi mà các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển thì đây là khó khăn rất lớn nếu muốn tham gia vào hướng cung cấp Dù vậy, chủ động tự chế tạo một số yếu tố đầu vào trong nhiều yếu tố, tăng cường mối quan hệ thêm chặt chẽ với các nhà chế tạo trong nước và địa phương là hết sức cần thiết Điều này cũng là gợi ý cho khu vực kinh tế tư nhân định hướng đầu tư vào các lĩnh vực mà các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ phát triển trong tương lai Về phía tiêu thụ sản phẩm, các cơ sở có thể tự tổ chức hệ thống phân phối của mình hoặc liên kết chặt chẽ với các nhà phân phối để tăng thêm tính chủ động và tìm kiếm lợi nhuận Với các cơ sở xuất khẩu, việc chủ động nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng để bán hàng trực tiếp không qua trung gian cần được chú trọng với những cách thức phù hợp với điều kiện của mình Trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp thì khai thác những tiện ích từ Internet là biện pháp hợp lý
- Khi liên kết thì nguyên tắc, quy tắc tổ chức hoạt động và đặc biệt là nguyên tắc phân phối lợi ích tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các đơn vị tham gia liên kết
* Tiêu chí đánh giá: Để phản ánh về liên kết của doanh nghiệp kinh tế
tư nhân, người ta có thể dùng một số tiêu chí sau:
+ Tỷ lệ liên kết giữa các doanh nghiệp có cùng chức năng;
+ Tỷ lệ liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất
Để tăng cường liên kết, các doanh nghiệp có thể tham gia các hiệp hội nhằm
mở rộng nắm bắt thông tin qua đó thuận lợi cho việc tăng cường các liên kết
Trang 37Thị trường là một môi trường mà ở đó xảy ra cạnh tranh giữa các sản phẩm
“có thể thay thế cho nhau vì cùng một mục đích sử dụng của người tiêu dùng” Một thị trường bao gồm hai yếu tố: thị trường sản phẩm và thị trường địa lý Mỗi thị trường lại bị chi phối bởi hai lực cung và cầu Hai lực này phụ thuộc vào “khả năng thay thế cho nhau” trên quan điểm của người tiêu dùng (cầu) và nhà sản xuất(cung)
Phát triển thị trường là từng doanh nghiệp phải tăng khả năng sản xuất hàng hóa dịch vụ, khả năng cung cấp sản phẩm cho thị trường, cho xã hội; là
sự hiểu biết vững chắc, rõ ràng về các loại thị trường trong và ngoài nước, về
cơ hội và thách thức hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, mở rộng thị trường,
có thêm thị trường mới để đạt được thị phần ngày càng lớn Có như vậy doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân mới tự khẳng định được, mới có vai trò trong thị trường và xã hội
- Thị phần doanh nghiệp bao gồm: thị phần hàng hóa, dịch vụ và cả thị phần kết hợp Trong nền kinh tế thị trường, điều mà người ta quan tâm nhất chính là nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác là đầu ra cho sản phẩm Trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay, nhân tố kỹ thuật không còn đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại của một doanh nghiệp mà nhân tố đó là nhu cầu của khách hàng Doanh nghiệp nào thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng sẽ chiếm được thị phần lớn và đưa doanh nghiệp phát triển Muốn phát triển doanh nghiệp cần thiết phải đầu tư đúng hướng và phù hợp với quy mô thị phần doanh nghiệp có trong tương lai
Trang 38Việc khu vực kinh tế tư nhân ngày càng chiếm lĩnh được thị phần lớn trên thị trường hiện nay, mở rộng sang các thị trường khác đặc biệt là thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ là biểu hiện của sự phát triển
- Tăng số lượng khách hàng: khách hàng là những người tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp Khách hàng có thể là người sử dụng sản phẩm hoặc không sử dụng sản phẩm Nguyên nhân là ở mục đích mua hàng của khách hàng không giống nhau
Khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng mang tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, các doanh nghiệp phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chủ tìm nguồn hàng, khách hàng, thị trường, , đồng thời phải tính toán xem nên sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất bán cho
ai, bán hàng ở đâu để mang lại lợi nhuận cao nhất
Thực tế cho thấy có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả dần dần khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường và phát triển sức mạnh ra các thị trường, là do các doanh nghiệp thu hút được ngày càng nhiều khách hàng, là do họ có chiến lược kinh doanh hợp lý Bên cạnh đó không ít doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản mà nguyên nhân chính là không thu hút được khách hàng và tăng số lượng khách hàng và dần dần đánh mất thị trường, thị phần Vì vậy, mọi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, muốn tồn tại và phát triển vững mạnh cần phải xây dựng cho mình một chiến lược phát triển thị trường và khách hàng hợp lý và kết quả cuối cùng là mang lại doanh thu lợi nhuận cao nhất cho các doanh nghiệp
Việc số lượng khách hàng ngày càng tăng lên là điều kiện để các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng lợi nhuận và khẳng định vị trí của mình trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài
Trang 39Thực tế hiện nay cho thấy nhiều doanh nghiệp đã thấy được vai trò đặc biệt của khách hàng để từ đó ngoài việc cung cấp sản phẩm chất lượng cao, giá cả hợp lý, phù hợp với nhu cầu của khách hàng còn có những nỗ lực to lớn trong quá trình tìm kiếm các chiến lược, giải pháp nhằm thu hút tối đa khách hàng đến với doanh nghiệp
1.2.6 Gia tăng kết quả sản xuất
Kết quả sản xuất của một doanh nghiệp nói riêng và các doanh nghiệp kinh tế tư nhân nói chung được biểu hiện ở tiêu chí sau:
- Giá trị sản lượng của doanh nghiệp: là năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định, thường là một năm, được quy đổi thành tiền
- Doanh thu thuần: là tổng thu nhập của doanh nghiệp do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra bên ngoài sau khi trừ các loại thuế
Doanh thu thuần của doanh nghiệp tăng lên cho thấy phần nào sự tăng trưởng của doanh nghiệp
- Nộp ngân sách Nhà nước: gồm toàn bộ các nguồn thu đã nộp ngân sách Nhà nước từ các đơn vị sản xuất kinh doanh
Thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước ngày càng tăng của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân cũng thể hiện sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc khu vực này, ngoài ra đó còn là nghĩa vụ của khu vực này đối với nền kinh tế
- Thu nhập bình quân của người lao động: là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả cuối cùng Tiền lương là thu nhập chủ yếu của người lao động, vừa là yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị các loại sản phẩm, lao động dịch vụ Do đó, thu nhập ngày càng tăng biểu hiện cho sự phát triển của doanh nghiệp
Trang 40- Lợi nhuận của doanh nghiệp: là số chênh lệch giữa doanh thu với giá trị vốn của hàng bán, chi phí lưu thông, chi phí quản lý
Lợi nhuận là tiêu chí chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận là nguồn vốn cơ bản để tái đầu tư trong phạm vi doanh nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân Lợi nhuận còn là đòn bẩy tài chính hữu hiệu thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƯ NHÂN
Khu vực kinh tế tư nhân chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có môi trường kinh doanh thích hợp Môi trường kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Một số nhân tố của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến sự phát triển của từng doanh nghiệp nói riêng và khu vực kinh tế tư nhân nói chung
1.3.1 Nhân tố về thị trường và đối thủ cạnh tranh
- Về thị trường: Một trong những nhân tố quyết định các doanh nghiệp
tư nhân có đầu tư vào một thị trường, một lĩnh vực nào đó hay không là khả năng tham gia thị trường, nhất là trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Khả năng này tạo thành từ những nhân tố không chỉ do nội lực bản thân doanh nghiệp mà chủ yếu phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thuận lợi
từ phía Nhà nước, xã hội là sự phát triển đồng bộ các loại thị trường như: thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường khoa học công nghệ, thị trường bất động sản… Cùng với việc thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch cũng như điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp, yếu tố tâm lý xã hội…
Đặc biệt, trong giai đoạn phát triển, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về mặt như vốn, công nghệ,