KTTN ra đời cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hóa, nó phát triển một cách tự nhiên và đây là điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước hay sở hữu tập thể, các d
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh tế Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh
tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh
tế Đến nay, kinh tế tư nhân đã trở thành một lực lượng kinh tế có ý nghĩa chính trị toàn cầu Phát triển k inh tế tư nhân cũng có nghĩa là bảo tồn tính
đa dạng phong phú của đời sống kinh tế, xem nó như là nguồn gốc của mọi
sự phát triển
Ở Việt Nam, cùng với quyết định đúng đắn và kịp thời chuyển nền kinh
tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, Đảng
và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân Phát triển kinh tế tư nhân và áp dụng các nguyên tắc thị trường là một chủ trương phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, do vậy nó nhanh chóng khơi dậy được tiềm năng của thành phần kinh tế này và đạt được những thành quả to lớn sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, dù không còn rơi vào cảnh bị lên án và phủ nhận như một thời, kinh tế tư nhân vẫn chưa phát triển đẩy đủ và hiệu quả so với yêu cầu đặt
ra, nhất là khi Luật doanh nghiệp năm 2000 (và sau đó là Luật doanh nghiệp năm 2005) ra đời với nhiều chủ trương mang tính đột phá nhằm cởi trói sức sản xuất cho khối doanh nghiệp kinh tế tư nhân Điều này thể hiện qua khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân của nhiều địa phương ở Việt Nam, trong số đó có tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh miền T rung có nhiều lợi thế về tự nhiên cũng như văn hóa xã hội để phát triển mạnh mẽ, đa dạng các thành phần kinh tế,
Trang 2đặc biệt là kinh tế tư nhân Tuy vậy, những năm vừa qua, theo đánh giá, khảo sát về mặt kinh tế thì mặc dù đã có những thành tựu nhất định nhưng sức đóng góp của thành phần kinh tế tư nhân vẫn còn một số mặt hạn chế và cản trở Có thể nói, tìm hiểu, nghiên cứu các giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế toàn tỉnh Quảng Nam thông qua hoạt động của các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân là một vấn đề quan trọng, đáng quan tâm trong thời điểm hiện nay
Chính vì vậy, dù không có điều kiện đi hết bức tranh toàn cảnh của kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời kỳ mới, chúng tôi thiết nghĩ lựa chọn một địa phương đang có sự đi lên trong hoạt động của thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời là nơi có nhiều biểu hiện đa dạng trong sự phát triển của thành phần này để tìm hiểu, nghiên cứu cũng là một phương thức thích hợp để nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc
dân Đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Nam” cũng là một nỗ lực
của chúng tôi với hy vọng đóng góp công sức cho sự phát triển của một vùng đất vốn “địa linh nhân kiệt” đang nỗ lực hết mình để bắt kịp với sự đi lên của toàn đất nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng hợp cơ sở lý luận chung về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam;
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể là các doanh nghiệp kinh tế tư nhân tại tỉnh Quảng Nam;
- Đề xuất một số giả i pháp phát triển nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào các doanh nghiệp kinh tế tư nhân và các chính sách liên quan đến sự phát triển doanh nghiệp kinh tế tư nhân
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 3+ Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Nam
+ Về mặt thời gian: Từ khi có Luật doanh nghiệp năm 2005 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích thống kê toán: Được sử dụng để phân tích đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp kinh tế tư nhân về các yếu tố tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp;
- Phương pháp mô hình hóa;
- Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa các văn bản về các chính sách điều hành của chính quyền tỉnh Quảng Nam liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế tư nhân;
- Một số phương pháp khác
Nguồn dữ liệu thu thập chủ yếu bao gồm các tư liệu thống kê, điều tra kinh tế - xã hội của Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam, văn bản và tư liệu của các ngành, các cấp chính quyền trong tỉnh
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu (3 trang), phần kết luận (2 trang) và tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1 - Cơ sở lý luận chung về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Chương 2 - Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Nam
Chương 3 - Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Nam
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở VIỆT NAM
1.1 Kinh tế tư nhân – Khái niệm, đặc trưng và vai trò
1.1.1 Khái niệm kinh tế tư nhân (KTTN)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới kinh tế Thông qua các chính sách kinh tế mới của đất nước, KTTN được hồi sinh và phát triển trong một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước Đến nay, từ thực tiễn hơn 20 năm đổi mới cơ chế kinh tế nói trên, KTTN đã có chỗ đứng vững chắc và thực sự trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, xung quanh khái niệm KTTN vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau và có những cách phân loại khác nhau về các hình thức KTTN
Kinh tế tư nhân (KTTN) là một khái niệm dùng để chỉ loại hình kinh tế tồn tại trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
Sở hữu là một phạm trù lịch sử, bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con
người với quá trình chinh phục thiên nhiên Sở hữu nguyên thủy là hình thức
sở hữu đầu tiên của loài người, dựa trên nền sở hữu tập thể Cùng với quá trình vận động của lịch sử, sở hữu tư nhân và KTTN xuất hiện vào cuối phương thức sản xuất công xã nguyên thủy, gắn liền với sự phân công lao động và sự hình thành kinh tế hàng hóa Trải qua quá trình vận động và phát triển của lịch sử, KTTN không ngừng phát triển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào hình thái, quy mô và tính chất của sở hữu tư nhân Vì vậy, KTTN có thể được hiểu là một loại hình kinh tế gồm nhiều hình thức kinh tế khác nhau dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
Trang 51.1.2 Đặc trưng cơ bản của kinh tế tư nhân
Thứ nhất: KTTN là các đơn vị kinh doanh, hoạt động vì mục đích hàng
đầu là lợi nhuận
Trong một số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước hay kinh
tế tập thể, mục tiêu lợi nhuận với họ không phải là hàng đầu và có một số doanh nghiệp trong lĩnh vực công cộng hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận Trong khi đó KTTN luôn coi mục tiêu sinh lời đặt lên vị trí hàng đầu, nếu không sinh lời thì đồng nghĩa với việc phá sản Chính vì vậy, thước đo về mức độ sinh lời cũng phản ánh được sự phát triển lớn mạnh của khu vực kinh
tế này Đương nhiên để sinh lời thì KTTN phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phải luôn đổi mới công nghệ và quản lý…và đây chính là điều khiến cho KTTN luôn năng động, linh hoạt và là động lực phát triển cho nền kinh tế
Như vậy, KTTN hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận là hàng đầu, đó cũng chính là đặc điểm khác biệt so với một số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước
Thứ hai: KTTN có quy mô đa dạng và khả năng tối ưu hóa tổ chức
sản xuất
Với đặc điểm hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh nên KTTN luôn phải lựa chọn các quy mô phù hợp để tối ưu hóa tổ chức sản xuất, cũng chính vì lẽ đó mà KTTN tồn tại với quy mô rất đa dạng, từ các công ty xuyên quốc gia khổng lồ cho tới doanh nghiệp nhỏ và vừa Đây cũng
là điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước Các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thường có quy mô khá lớn, rất ít các doanh nghiệp quy mô nhỏ Lý do tồn tại các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn
ở một số nước bởi lẽ, một số doanh nghiệp cung cấp hàng hóa công cộng hoặc
vì một lý do nào đó mà doanh nghiệp đó được tồn tại độc quyền nên quy mô lớn mới hiệu quả Tuy nhiên trên thực tế các doanh nghiệp quy mô lớn thuộc
Trang 6sở hữu nhà nước thường mở rộng quy mô không vì sự tối ưu hoá sản xuất mà
vì động cơ muốn mở rộng doanh nghiệp để có thêm các đặc quyền và uy lực của người lãnh đạo Điều này khác với KTTN, quy mô sản xuất có thể mở rộng hoặc thu hẹp để đạt mục tiêu tối ưu hoá sản xuất Cũng chính vì khả năng lựa chọn quy mô sản xuất hợp lý mà các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân sử dụng lao động một cách hiệu quả Các chủ doanh nghiệp tư nhân thường căn cứ vào yêu cầu thực sự của công việc để tuyển chọn người và căn
cứ vào năng lực đóng góp của người lao động để có cơ chế trả công hợp lý, khuyến khích được người lao động và đào tạo được một đội ngũ doanh nhân
và công nhân kỹ thuật lành nghề cho nền kinh tế Đồng thời chủ doanh nghiệp cũng có thể sa thải ngay tức thì những lao động yếu kém, không hiệu quả Đây cũng là điểm khác biệt với cơ chế trả công một cách bình quân chủ nghĩa trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước
Thứ ba: KTTN là các đơn vị kinh tế có tính năng động và linh hoạt cao
trong hoạt động sản xuất – kinh doanh
KTTN ra đời cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hóa, nó phát triển một cách tự nhiên và đây là điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc
sở hữu Nhà nước hay sở hữu tập thể, các doanh nghiệp này thường được ra đời với sự nỗ lực nhân tạo của Nhà nước và tập thể, tiếp theo là hàng loạt các
ưu đãi để chúng tồn tại và phát triển
Sức sống của nền KTTN thể hiện ở tính năng động và linh hoạt Với một ý tưởng kinh doanh khả thi sẽ có thể tức thì được hiện thực hóa bởi các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực tư nhân Quá trình ra quyết định nhanh chóng và gọn nhẹ đó chỉ có được ở các tổ chức kinh doanh thuộc khu vực tư nhân Cũng vì sự ra đời là khách quan và tính năng động, linh hoạt cao nên KTTN có khả năng tồn tại và thích ứng với mọi hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của nền kinh tế Thực tế cho thấy trong thời gian dài, ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây KTTN vẫn tồn tại ở những loại hình và mức độ khác
Trang 7nhau trong một số lĩnh vực cho dù nó bị Nhà nước cấm đoán và phong toả ở mọi phương diện Thực tế cũng cho thấy khi các chính sách cấm đoán ở các quốc gia này được nới lỏng đôi chút thì KTTN hồi sinh và phát triển mạnh mẽ như “nấm sau mưa” Trong thời kỳ trước đổi mới, khu vực tư nhân ở Việt Nam vẫn tồn tại xét ở góc độ khu vực tư nhân phi chính thức Sau đổi mới kinh tế, khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ mà không nhận được sự ưu ái của Nhà nước Các chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ yêu cầu được đối xử công bằng và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác chứ họ không yêu cầu sự
ưu ái của Nhà nước đối với họ Điều này minh chứng rõ tính năng động và linh hoạt của KTTN trong bất kỳ hoàn cảnh kinh tế nào
Thứ tư: KTTN hoạt động dựa trên sự thống nhất giữa quyền sở hữu và
quyền sử dụng tài sản
Vì KTTN dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, cho nên sự tồn tại dưới hình thức là các loại hình doanh nghiệp hay hộ gia đình, người sản xuất nhỏ thì về bản chất nó vẫn thuộc sở hữu tư nhân Người chủ sở hữu có quyền quyết định hoàn toàn mọi quá trình sản xuất kinh doanh và đương nhiên các quyết định đó đi liền với quyền lợi và trách nhiệm của chính
họ Nguyên tắc hoạt động của KTTN là “bốn tự”: i) tự bỏ vốn, ii) tự tổ chức, iii) tự chủ trong kinh doanh và iv) tự bù lỗ Đây là cơ chế để gắn kết kết quả hoạt động (lợi ích) với năng lực hoạt động của chính các chủ doanh nghiệp tư nhân KTTN hoạt động bởi chính vốn liếng của mình (cho dù là vốn vay) nên mọi quyết định phải được cân nhắc kỹ lưỡng và mang lại hiệu quả, tức phải sinh lời, phải làm cho hoạt động kinh doanh luôn phát triển, đồng vốn phải không ngừng lớn lên Điều này khác biệt với các giám đốc doanh nghiệp Nhà nước hay nhà quản lý trong kinh tế tập thể, họ hoạt động không dựa trên vốn hay không hoàn toàn trên đồng vốn của chính mình mà đó là vốn liếng của Nhà nước, của tập thể Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản trong các đơn
vị kinh tế này không có sự thống nhất, chính vì vậy mà trách nhiệm và quyền
Trang 8lợi thường không đi liền với nhau, do đó các quyết định của họ sẽ có thể không phản ánh sự thận trọng, kỹ lưỡng và tính hiệu quả Mục đích lãnh đạo của họ có thể không chỉ là làm cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận mà
là các mục đích khác như thăng tiến ở một chức vụ quản lý khác cao hơn Trên đây là các đặc điểm rõ nét nhất về khu vực KTTN ở các nước khi
so sánh với khu vực kinh tế công cộng và đây cũng là những ưu thế của KTTN so với kinh tế công cộng trong tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên KTTN cũng có mặt trái của nó mà chính vì lẽ đó, sự tồn tại khu vực kinh tế công cộng ở mọi quốc gia là khách quan và cần thiết bởi vai trò của chúng trong việc cung cấp hàng hoá công cộng và một số hàng hoá - dịch vụ khác mà khu vực tư nhân cung cấp không hiệu quả xét về khía cạnh hiệu quả xã hội
Đối với các nước đang phát triển và đang chuyển đổi, khu vực KTTN
có thêm một số đặc điểm sau:
+ KTTN ở các nước chuyển đổi được hình thành từ nhiều con đường khác nhau, ngoài hình thức tự phát triển, thành lập mới các doanh nghiệp tư nhân thì còn một con đường khác là chuyển đổi sở hữu, tư nhân hoá các xí nghiệp do Nhà nước sở hữu
+ Quy mô của khu vực KTTN ở các nước đang phát triển còn nhỏ bé, chiếm tỷ trọng không nhiều trong GDP, trình độ công nghệ lạc hậu và thiếu
kỹ năng quản trị và kinh nghiệm kinh doanh…
+ Đa phần các doanh nghiệp tư nhân ở các nước đang phát triển có quy
mô vừa và nhỏ, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp và năng lực cạnh tranh yếu kém Đây cũng là đặc điểm chung của nền kinh tế các nước đang phát triển, số các doanh nghiệp tư nhân ở các nước này có quy mô lớn là rất ít
1.1.3 Các hình thức kinh tế tư nhân ở Việt Nam
- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
Trang 9nghiệp Doanh nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập làm chủ Cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp Thông thường chủ doanh nghiệp là giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp có không quá 50 thành
viên góp vốn thành lập công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình Công ty TNHH có thể chỉ có một thành viên
Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn) Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Như vậy, trong công ty TNHH có sự phân tách tài sản: tài sản của công ty và tài sản của thành viên Nguyên tắc phân tách được
áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty
- Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của
công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu
cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu
Trong suốt quá trình hoạt động của công ty CP ít nhất phải có 3 thành viên tham gia công ty cổ phần Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn cho nên có sự liên kết của nhiều thành viên và vì vậy việc quy định số thành viên tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần Ở hầu hết các nước đều có quy định số thành viên tối thiểu của công ty cổ phần
Trang 10- Công ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một hình thức của công
ty đối nhân, trong đó có ít nhất 2 thành viên (đều là cá nhân và là thương nhân) cung tiến hành hoạt động thương mại (theo nghĩa rộng) dưới một hãng chung (hay hội danh) và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản
nợ của công ty
Ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp
và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
1.1.4 Vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta
Điều này thể hiện ở chỗ, thứ nhất, với trình độ phát triển như hiện nay
của lực lượng sản xuất ở nước ta, sự tồn tại của KTTN vẫn là nhu cầu khách
quan, thứ hai, KTTN đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thứ ba, sự phát triển của KTTN
trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã đóng góp không nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của đất nước
Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất xã hội nào muốn đạt hiệu quả tăng trưởng cao đều phải thực hiện nền kinh tế thị trường Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh
tế nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTTN có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 11Sự phát triển của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm gắn liền với chủ trương đúng đắn của Đảng về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Những thành tựu kinh tế quan trọng đạt được qua 20 năm đổi mới đất nước là bằng chứng sinh động, xác nhận một cách thuyết phục sự khởi sắc của nền kinh tế nói chung và triển vọng tiềm tàng của KTTN nói riêng Bởi vậy, có thể nói, đối với nước ta, phát triển KTTN là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây có thể coi
là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới của đất nước trong những năm sắp tới
Sự phát triển của KTTN đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội, như huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư với số lượng lớn vào sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao sức sản xuất của xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới vừa làm tăng của cải vật chất cho xã hội, vừa làm giảm áp lực giả i quyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại thị trường, làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, vừa góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội Sự biến đổi của quan hệ sở hữu khiến quan hệ quản lý và phân phối cũng thay đổi, do vậy, quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt và phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất vốn còn thấp và phát triển không đều giữa các vùng, ngành trong cả nước Nhờ vậy, đã khơi dậy và phát huy được tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính vì những lý do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng, sự phát triển của KTTN đã đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Trang 12Sự xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc KTTN trong tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất, kinh doanh đã đẩy lùi dần tình trạng độc quyền, làm cho sản xuất hàng hoá phát triển, thị trường được mở rộng, các quy luật kinh tế thị trường phát huy được tác dụng đẩy lùi
cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp vốn đã ăn sâu trong tiềm thức xã hội Thông qua việc phát triển KTTN mà quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy Ở nước ta hiện nay, trong mối quan hệ giữa kinh tế nhà nước và KTTN, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quyết định bản chất và định hướng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh
tế, còn KTTN là “chỗ dựa thiết yếu”, “có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” Sở dĩ KTTN có vai trò như vậy là vì những
lý do sau đây:
Thứ nhất, KTTN tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn, đóng
góp đáng kể vào giá trị thu nhập của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Cũng cần nói thêm rằng, hiện nay, không một quốc gia nào trên thế giới lại coi nhẹ vai trò, vị trí của KTTN
Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, ở các nước có nền kinh
tế phát triển cao và hiệu quả, tỷ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân của khu vực KTTN bao giờ cũng cao hơn khu vực kinh tế Nhà nước
Thứ ba, KTTN tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày
càng lớn vào ngân sách Nhà nước, tham gia tích cực và hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội
Thứ tư, ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, KTTN đã
và đang từng bước khẳng định vị trí “chỗ dựa thiết yếu” của nó theo đúng quy luật của nền kinh tế thị trường Nó đã thực sự trở thành một bộ phận của kinh tế dân doanh, thể hiện định hướng phát triển theo nguyên tắc “lấy dân làm gốc” với mục tiêu thực hiện dân giàu, nước mạnh KTTN đang có cơ hội phát triển mạnh cả về bề rộng lẫn chiều sâu, cả về quy mô số lượng lẫn chất lượng
Trang 13Thứ năm, phát triển KTTN là một tất yếu xuất phát từ quy luật về sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Nếu chúng ta chỉ coi kinh
tế Nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng mà không đặt KTTN vào đúng vị trí của nó, thì về thực chất, chúng ta vẫn coi sở hữu là mục đích của mọi chính sách Chúng ta không thể để quan hệ sản xuất vượt quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như trước đây, cũng như không thể “ép” kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể phải có tiềm lực lớn hơn KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong khi chúng chưa đủ khả năng làm điều đó một cách hiệu quả
Ngoài ra KTTN còn có một vai trò quan trọng mà không thể không nói đến, đó là giá trị nhân văn của KTTN Thực tế cho thấy KTTN có vai trò đắc lực tạo ra sự phát triển của xã hội, tạo cho mỗi cá nhân vô số cơ hội có việc làm để khẳng định mình, để mưu cầu cuộc sống và hạnh phúc, tức là góp phần tạo ra con người với nhiều phẩm chất tốt đẹp hơn Phát triển kinh
tế, suy cho cùng không phải là mục tiêu mà chỉ là phương tiện Mục tiêu cao nhất của nhân loại là xã hộ i phát triển, con người phát triển Có thể nói rằng KTTN là một phương tiện quan trọng để con người có cơ hội hoàn thiện mình trong quá trình phát triển hướng thiện của nhân loại Con người đã sáng tạo ra và quyết định lựa chọn KTTN để phát triển, nhưng đồng thời KTTN lại là môi trường tốt để con người tự thân phát triển, con người có cơ hội tự hoàn thiện vì sự phát triển của chính nó và thông qua đó phát triển toàn xã hội Như vậy, cho dù còn những cách nhìn nhận khác nhau về vai trò của KTTN nhưng rõ ràng là KTTN đang từng bước trở thành động lực chính cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tạo sự ổn định xã hội, là công
cụ quan trọng để tạo công ăn việc làm cho người lao động, tiếp nhận những tri thức, công nghệ, phương pháp quản lý mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn nhàn rỗi, tạo nguồn thu
Trang 14cho ngân sách Nhà nước và tạo động lực cạnh tranh và phát triển kinh tế Hay nói một cách khác phát triển KTTN cũng có nghĩa là bảo tồn tính đa dạng và phong phú của đời sống kinh tế, xem nó như là nguồn gốc của mọi
sự phát triển
1.2 Nội dung và tiêu chí phát triển kinh tế tư nhân
1.2.1 Nội dung phát triển kinh tế tư nhân
1.2.1.1 Về mặt lượng
- Phát triển số lượng, mở rộng qui mô các doanh nghiệp
Phát triển số lượng và qui mô các doanh nghiệp là những tiêu chí quan trọng thể hiện sự lớn mạnh của doanh nghiệp KTTN Số lượng doanh nghiệp gia tăng hằng năm chứng tỏ doanh nghiệp KTTN ngày càng phát triển Tuy nhiên, gia tăng số lượng doanh nghiệp không chỉ tăng về số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mà phải được thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng doanh nghiệp hoạt động thực tế trên thị trường, có như vậy mới đánh giá đúng tình hình phát triển số lượng doanh nghiệp KTTN
Mở rộng quy mô của doanh nghiệp có thể hiểu là làm cho các yếu tố về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh tăng lên Vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh là những yếu tố đầu vào cơ bản đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp KTTN Việc gia tăng về vốn, lao động và mở rộng mặt bằng sản xuất kinh doanh thể hiện được sự phát triển của doanh nghiệp Trong các yếu tố về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh thì yếu tố vốn có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển của doanh nghiệp Nếu vốn đầu tư dài hạn bình quân của doanh nghiệp KTTN cao sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của khu vực này trong tương lai
Phát triển số lượng và qui mô doanh nghiệp phải được tiến hành cùng với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh mới đứng vững được trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập với nhiều yếu tố môi trường thường xuyên biến động
Trang 15như hiện nay Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp KTTN ngày càng được nâng cao mới đánh giá đúng thực chất sự phát triển doanh nghiệp KTTN của một địa phương, một quốc gia
- Sự tăng lên về vốn
Vốn là một trong những yếu tố đầu vào quyết định đối với sự tăng trưởng phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào và các doanh nghiệp KTTN không phải là ngoại lệ Nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường trong điều kiện hết sức khó khăn, đặc biệt là KTTN, sau một thời gian dài bị xã hội kỳ thị và phân biệt đối xử thì đến nay mặc dù đã có những bước phát triển vượt bậc về số lượng lẫn chất lượng nhưng đa phần đều là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ Hơn nữa, khi mà nước ta đang đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì trong tương lai không xa các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp KTTN nói riêng sẽ phải đối mặt, cạnh tranh với những doanh nghiệp nước ngoài với nguồn vốn khổng lồ Chính vì vậy, một trong những nội dung
cơ bản nhất của quá trình phát triển KTTN chính là quá trình tăng lên về vốn Vốn cho phát triển KTTN có thể huy động từ nhiều nguồn như quỹ hỗ trợ của chính phủ hoặc vay vốn ngân hàng, vốn huy động thông qua thị trường chứng khoán, vốn huy động thông qua các nguồn phi chính thức khác như vay của bạn bè, người thân
- Thu hút lực lượng lao động
Việc phát triển KTTN trong cơ cấu nền kinh tế gắn liền với việc thu hút đông đảo nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này Hiện nay, tâm lý xã hội Việt Nam nói chung đã vượt qua thái độ coi thường việc làm ăn kinh doanh theo tư tưởng “trọng nông, khinh thương” ngày xưa Số lượng thí sinh thi đại học, cao đẳng vào những ngành kinh tế đang ngày càng tăng đột biến, hứa hẹn một nguồn lao động dồi dào cho các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, nhìn chung người Việt Nam vẫn có xu hướng ưa chuộng vào làm việc tại khu
Trang 16vực Nhà nước do tin tưởng sự ổn định trong công việc và khả năng thăng tiến nghề nghiệp Do vậy, nguồn nhân lực cho KTTN hiện nay còn mỏng và yếu kém về lượng và chất Cần thiết phải có sự đầu tư, quan tâm để phát triển lực lượng lao động cả về số lượng lẫn trình độ để lĩnh vực KTTN mở rộng, chiếm lĩnh thị trường, cạnh tranh được với các khu vực kinh tế khác và bắt kịp sự
tiến bộ của thị trường trong nước và thế giới
1.2.1.2 Về mặt chất
- Trang bị công nghệ hiện đại cho các doanh nghiệp kinh tế tư nhân
Ở đây nội dung của quá trình phát triển KTTN chính là quá trình đổi mới không ngừng công nghệ - kỹ thuật và thiết bị ngày một tiên tiến, hiện đại trong các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, trong chu kỳ tái sản xuất của sản phẩm Thực hiện quá trình phát triển KTTN trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay phải gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân về phương tiện công nghệ, ở cả phần cứng
và phần mềm
Hiện đại hoá trang thiết bị máy móc dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật là mục tiêu vươn tới của bất kỳ một doanh nghiệp nào, nhưng không phải là với bất kỳ giá nào mà phải căn cứ vào tình hình thực tế, vào điều kiện cụ thể của từng nước cũng như của từng doanh nghiệp Trong điều kiện nước có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ quản lý có hạn, các doanh nghiệp thuộc KTTN phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thiếu vốn đầu tư thì việc hiện đại hoá trang thiết bị máy móc trước hết có thể giải quyết dần dần, chỉ nên tập trung vào lĩnh vực chủ chốt, làm chỗ tựa cho các doanh nghiệp cùng phát triển Do vậy, quá trình trang bị và trang bị lại máy móc thiết bị phải đảm bảo tạo cho doanh nghiệp có đủ tiềm lực để có thể cạnh tranh không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường thế giới
Trong điều kiện ngày nay, quá trình trang bị và trạng bị lại công nghệ của doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt, gắn liền với tình hình thực tiễn của quá trình
Trang 17hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, tích cực mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp
- Nâng cao trình độ quản lý, tay nghề và tác phong lao động cho đội ngũ lao động
Để có thể tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách nhanh chóng và hiệu quả, các doanh nghiệp KTTN phải liên tục cải tổ chính mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng cường sức cạnh tranh Để làm được điều này các doanh nghiệp KTTN phải dựa vào các nguồn nội lực của mình là chính, trong đó có nguồn nhân lực, một trong những nguồn lực được xem là có giá trị và có vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp KTTN ở nước ta hiện nay Đội ngũ lao động chính là những người sẽ nắm bắt khoa học kỹ thuật và là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp Để tạo ra một sản phẩm đẹp, có chất lượng, có tính cạnh tranh cao trên thị trường thì trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp cũng như kỹ năng của người lao động là vô cùng quan trọng Chính vì vậy, quá trình đào tạo, nâng cao trình độ quản lý, tay nghề cho người lao động là một quá trình có tính quy luật trong tiến trình phát triển kinh tế nước ta nói chung và phát triển KTTN nói riêng Vấn đề là làm thế nào để có thể tạo ra được một nguồn nhân lực ổn định, có trình độ, tay nghề cao phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp và đáp ứng được tác phong làm việc thời công nghiệp hoá và hội nhập
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là sự nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ thông qua mức độ hài lòng và thỏa mãn của khách hàng, cũng như sự trung thành của khách hàng với sản phẩm, dịch vụ
và sự tiến bộ về hành vi, thái độ phục vụ của các doanh nghiệp
Trước nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp với những tiện ích cao và tính năng hiện đại Đòi hỏi doanh nghiệp
Trang 18không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hoàn thiện hệ thống công nghệ và hệ thống phân phối, nâng cao phong cách phục vụ và trình độ giao tiếp của đội ngũ nhân viên đối với khách hàng
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nhất để thu hút được khách hàng đến với doanh nghiệp Do đó, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp trước hết phải được phản ánh qua các chỉ tiêu là độ thỏa mãn của khách hàng và độ an toàn
- Tăng cường liên kết doanh nghiệp
Thực tế thì trong thời gian qua, các doanh nghiệp KTTN chưa quan tâm nhiều đến việc liên kết và tồn tại quan niệm việc liên kết chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp lớn với nhau, hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết với nhau hay chỉ ít các doanh nghiệp lớn phải đóng vai trò chủ chốt trong các mối liên kết giữa các doang nghiệp Nhưng các thương gia cho rằng, sự liên kết phải là sự bình đẳng và dựa trên nguyên tắc tự nguyện mới có thể khai thác hết tiềm năng của mỗi doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp lớn là khả năng về tài chính, công nghệ, quản lý còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò là chuyên gia cộng với giá cả hợp lý Hay nói cách khác, thế mạnh của tất cả các doanh nghiệp sẽ được khai thác tốt Hơn thế nữa, sự liên kết đa dạng giữa các doanh nghiệp mạnh và yếu vì mục tiêu cùng phát triển chứ không phải riêng cho doanh nghiệp nào
Phát triển KTTN cũng chính là mở rộng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp KTTN, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế khác nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việc phát triển các hiệp hội giúp doanh nghiệp giải quyết các tranh chấp, khiếu mại, các quyết định cấm, dừng nhập khẩu của phía nhập khẩu, do doanh nghiệp thiếu cán bộ thông thạo ngoại ngữ, am hiểu pháp luật thương mại quốc tế để kiểm soát các giao dịch, tránh bị thua thiệt áp thuế chống phá giá, theo đuổi các vụ kiện… Đặc biệt trong quá trình toàn cầu
Trang 19hóa kinh tế, các quy định pháp lý của WTO lên đến hàng trăm ngàn trang với nội dung phức tạp thì việc các doanh nghiệp đơn độc trong thương trường quốc tế là bất lợi lớn cần khắc phục
- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Phát triển KTTN trong điều kiện hiện nay phải gắn liền với quá trình toàn cầu hoá thị trường và quốc tế hoá đời sống kinh tế Ngày nay, mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá đời sống kinh tế đã và đang trở thành xu thế phát triển mạnh của thời đại Các doanh nghiệp thuộc KTTN trong quá trình phát triển, tham gia vào thị trường thế giới đều trở thành một
bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, chịu tác động tương hỗ và ảnh hưởng của những biến động kinh tế - xã hội nói chung của thế giới Về nguyên tắc, quá trình phát triển KTTN phải dựa trên nội lực của từng doanh nghiệp, tuy nhiên trong điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế như hiện nay thì những ngoại lực cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhất là giai đoạn đầu khi nội lực của các doanh nghiệp còn yếu T rên cơ sở các mối quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp thuộc KTTN có thể tiếp cận học hỏi được khoa học
kỹ thuật, trình độ quản lý từ bên ngoài và cả các nguồn vốn thông qua quá trình liên doanh, hợp tác, đôi bên cùng có lợi Như vậy, phát triển KTTN phải gắn liền với quá trình phát triển và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh, khi các sản phẩm thay thế hoặc các sản phẩm tương tự được đưa ra với mức giá thấp hơn các sản phẩm cùng loại; hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng và dịch vụ ngang bằng hay cao hơn các đối thủ cạnh tranh
Trang 20Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: sản lượng, doanh thu, thị phần, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Trong
đó, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là tiêu chí quan trọng nhất đánh giá sự phát triển về chất của doanh nghiệp KTTN Ngoài các chỉ tiêu định lượng trên, năng lực cạnh tranh còn được đánh giá qua các chỉ tiêu định tính như: chất lượng hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh; khả năng đáp ứng các yêu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh; thương hiệu, uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi bức thiết nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm nhiều nội dung, nhiều khía cạnh khác nhau
1.2.2 Tiêu chí phát triển kinh tế tư nhân
1.2.2.1 Các tiêu chí về sự phát triển về lượng của các doanh nghiệp KTTN
- Tỷ lệ doanh nghiệp khu vực KTTN đang hoạt động trong khu vực trên
tổng dân số của địa phương đó
Tiêu chí này thể hiện mức độ hoạt động của các doanh nghiệp KTTN, thể hiện một cách trực tiếp sự phát triển về lượng của doanh nghiệp KTTN
- Vốn đầu tư dài hạn của KTTN trên đầu người
Tiêu chí này thể hiện mức độ sẵn lòng chấp nhận đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp tư nhân cũng như mức độ tin tưởng vào sự phát triển của địa phương
- Lợi nhuận bình quân của mỗi doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp phản ánh mức độ hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp, khả năng khai thác tiềm lực tại chỗ của mỗi địa phương
1.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá về sự phát triển bền vững nội tại của doanh nghiệp tư nhân
- Vị trí hoạt động
Trang 21Lợi thế về bố trí địa lý là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế theo vị trí Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, gần các trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn về thị trường các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, nguồn nhân lực) và thị trường tiêu thụ sản phẩm, có ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp
- Tổng số vốn đăng ký, số vốn đầu tư thực hiện
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào nền kinh tế; vốn đầu tư bình quân của một dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất
- Hiệu quả hoạt động
Các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; thu nhập bình quân tính trên 1 đơn vị lao động, trên
1 ha
- Trình độ ứng dụng KHCN
+ Kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp
+ Thông tin về công nghệ (tài liệu hướng dẫn sử dụng, các bí quyết công nghệ)
+ Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ + Xuất xứ của công nghệ (năm và nước sản xuất)
- Liên kết kinh tế
+ Tỉ lệ liên kết của các doanh nghiệp tư nhân trong cùng địa phương và các doanh nghiệp tư nhân trong địa phương này với địa phương khác trong nước và nước ngoài
1.2.2.3 Các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của doanh nghiệp
- Tác động lan tỏa về mặt kinh tế
Trang 22+ Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đóng góp vào ngân sách địa phương
+ Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam + Tác động thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam
- Tác động lan tỏa về mặt công nghệ
+ Mức độ đổi mới KHCN của các doanh nghiệp
+ Khả năng tiếp thu và ứng dụng bí quyết công nghệ được chuyển giao của doanh nghiệp
+ Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ
- Tác động lan tỏa về mặt xã hội
Chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng xã hội của KTTN được tập trung vào các chỉ tiêu về khả năng giải quyết việc làm cho lao động địa phương:
+ Sử dụng lao động địa phương: quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân
+ Số người tham gia cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp tư nhân trong tổng số lao động địa phương
+ Ảnh hưởng của các doanh nghiệp dân doanh đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương
+ Mức độ tham gia vào đào tạo nghề và tiếp nhận lao động, trong đó, đối với lao động địa phương và lao động từ nơi khác đến
+ Việc phát triển vốn con người (trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ ứng xử, khả năng hợp tác và làm việc theo nhóm, )
- Tác động lan tỏa về mặt bảo vệ môi trường
+ Mức độ khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên
+ Mức độ giải quyết vấn đề ô nhiễm
+ Mức độ ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường
Trang 23+ Có báo cáo môi trường của các doanh nghiệp
1.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân
1.3.1 Nhóm nhân tố kinh tế và hội nhập
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Nguồn lực kinh tế - xã hội, nhất là dân cư và nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học kỹ thuật và công nghệ, cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng trong từng giai đoạn
Kinh tế - xã hội mà kém phát triển, thu nhập thấp không những ảnh hưởng đến năng lực tích luỹ trong thu nhập để lập nghiệp của người dân mà còn ảnh hưởng đến sức mua của dân cư mà các nhà đầu tư phải tính đến trong việc lựa chọn phương án đầu tư
- Môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh chính là yếu tố quyết định tới v iệc thu hút vốn đầu tư cũng như khuyến khích các doanh nghiệp phát triển một cách có
hệ thống
Để có một môi trường kinh doanh thật sự thuận lợi chúng ta cần thay đổi tư duy, ít nhất là có thể sửa đổi luật Nên gỡ bỏ tâm lý phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước; tăng cường ưu đãi, khuyến khích về hỗ trợ vốn, về thuế nhằm thu hút đầu tư hiệu quả hơn nữa
- Quy mô và chất lượng các yếu tố đầu vào
Việc mở rộng hay thu hẹp kinh doanh của chủ doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào các nguồn lực của doanh nghiệp về vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, đất đai Cụ thể:
+ Nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
Vốn luôn là một yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng đối với hoạt động
Trang 24sản xuất kinh doanh Nếu xem xét trên góc độ nguồn hình thành, vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm: vốn tự có, vốn huy động từ các nguồn trong nước (vốn vay từ các tổ chức tín dụng, vốn huy động thông qua thị trường chứng khoán), vốn huy động từ các nguồn bên ngoài (vốn từ quan hệ thanh toán quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp nước ngoài)
Hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp tư nhân phản đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài có vốn lớn gấp hàng chục, thậm chí là hàng trăm, hàng nghìn lần so với các doanh nghiệp KTTN Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp KTTN khi tham gia vào thị trường quốc tế cần có những sự chuẩn bị hết sức kỹ càng, đặc biệt là về nguồn vốn Chính vì vậy, một chính sách ổn định và tạo điều kiện để có thể huy động được các nguồn vốn là hết sức quan trọng đối với sự phát triển ổn định của các doanh nghiệp thuộc KTTN hiện nay
+ Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực luôn được coi là vấn đề quan trọng sống còn đối với các doanh nghiệp Phương pháp và nghệ thuật sử dụng nguồn lao động hiện có, những chương trình bồi dưỡng làm phong phú thêm nguồn nhân lực, chiến lược xây dựng thế hệ tiếp theo, chương trình tuyển chọn và bồi dưỡng thế hệ lãnh đạo tiếp sau của doanh nghiệp là những vấn đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Các doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tức là phải tham gia vào quá trình cạnh tranh toàn cầu Muốn cạnh tranh được thì hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp phải có chất lượng cao, giá thành rẻ hơn các đối thủ cạnh tranh khác Mà chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ lại phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố chủ chốt là trình độ công nghệ và trình độ chuyên môn, tức là chất lượng của nguồn nhân lực Chính vì vậy, việc nhanh chóng tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là vấn đề có ý nghĩa
Trang 25sống còn đối với mỗi doanh nghiệp Mà điều này không thể chỉ là nỗ lực của riêng bản thân doanh nghiệp hay Nhà nước mà cần phải có sự phối hợp đồng bộ của cả hai Trong đó vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực này là rất lớn có ảnh hưởng quyết định đến nguồn nhân lực không chỉ của thành phần KTTN mà còn
là của cả nền kinh tế nói chung
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp ngoài việc tạo ra các sản phẩm mới thì các doanh nghiệp cần phải cải tiến, nâng cao chất lượng các sản phẩm hiện
có Mà điều này lại phụ thuộc phần lớn vào sự thay đổi công nghệ, trang bị máy móc của mỗi doanh nghiệp Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay thì việc doanh nghiệp nào càng nhanh chóng nắm bắt và áp dụng được KHCN hiện đại vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp đó càng
có nhiều cơ hội để tồn tại và phát triển
+ Đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh:
Mặt bằng sản xuất kinh doanh không chỉ là quy mô về diện tích mà là các yếu tố sinh lợi như vị trí thuận lợi, kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhà xưởng bố trí, xây dựng hợp lý Đảm bảo mặt bằng sản xuất kinh doanh thuận tiện, hợp lý là thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp đó Ngay cả đối với một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng cần mở rộng mặt bằng, đầu tư máy móc thiết bị, chuyển đổi cơ cấu sản xuất Thực tế cho thấy, mặt bằng sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp không đơn thuần là mở
Trang 26rộng diện tích sản xuất kinh doanh mà còn là xây dựng các các mặt bằng sản xuất kinh doanh phù hợp hơn, thuận tiện hơn, hiệu quả hơn
Nếu thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp phải đi thuê lại của dân hoặc của các doanh nghiệp với chi phí cao Chính điều này sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh, tính ổn định, việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp
- Năng lực của chủ doanh nghiệp
Đây là một nhân tố có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, thậm chí có tính quyết định trong sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp
Năng lực của chủ doanh nghiệp bao gồm tâm lý, ý chí làm giàu và tài kinh doanh của chủ doanh nghiệp Tâm lý, ý chí làm giàu của chủ doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến việc khởi sự doanh nghiệp cũng như vượt qua những thăng trầm trong kinh doanh Tài kinh doanh thể hiện ở năng khiếu
và kiến thức trong kinh doanh Đây là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhân tố này đối với doanh nghiệp KTTN ở nước ta còn thiếu và yếu Điều đó hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển của KTTN
- Hội nhập kinh tế với hoạt động của KTTN
Việt Nam đã trải qua hơn hai thập kỷ đổi mới và hội nhập kinh tế Đến nay, nước ta vẫn đang tiếp tục quá trình hội nhập và thực hiện các sáng kiến hội nhập, bao gồm tự do hóa đa phương thương mại và đầu tư, đàm phán song phương, thực thi các cam kết WTO, đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập ASEAN, đàm phán các FTA khác và đàm phán trong khuôn khổ WTO Hội nhập kinh tế đã tác động mạnh mẽ lên toàn bộ nền kinh tế quốc gia, trong
đó có lĩnh vực KTTN Nói chung, tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và KTTN nói riêng chịu ảnh hưởng tích cực từ quá trình hội nhập Tuy nhiên, hội nhập cũng đặt ra nhiều thách thức đối với kinh tế nước ta trên mọi lĩnh vực Việc gỡ bỏ các hàng rào thương mại, sự thay đổi trong đầu tư
Trang 27nước ngoài… ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp KTTN Nếu không
có chiến lược tốt, nguồn vốn mạnh, công nghệ cải tiến, con người được đào tạo bài bản,… rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong khu vực KTTN dễ bị đào thải khỏi vòng xoay của kinh tế thị trường
1.3.2 Nhóm nhân tố văn hóa - xã hội
Ngày nay không chỉ các nhà kinh tế mà các nhà văn hóa cũng đều thống nhất cho rằng, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Tác động của văn hóa đến kinh tế là hết sức rộng lớn và phức tạp
Trong hệ thống các giá trị văn hóa xã hội, các giá trị văn hóa tinh thần, văn hóa phi vật thể có tác động mạnh mẽ và phổ biến đến hoạt động kinh doanh, trong đó có hoạt động của các doanh nghiệp KTTN, thông qua rất nhiều các biến số khác nhau, song có thể được chia thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất, bao gồm tập hợp các biến số như: trình độ sử dụng
những cải tiến kỹ thuật, những phát hiện khoa học trong các lĩnh vực của đời sống sản xuất xã hội, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật của những người lao động; trình độ phổ cập giáo dục, văn học nghệ thuật trong nhân dân Đặc điểm của những biến số này là nó không tồn tại chính trong cái gọi là “yếu tố môi trường văn hóa” thuộc hệ thống các yếu tố của môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, mà nó được luật pháp hoá hay thể chế hoá dưới dạng những biến số của môi trường luật pháp; môi trường khoa học, kỹ thuật và công nghệ; hoặc môi trường dân số; môi trường nhân khẩu học
Nhóm thứ hai, bao gồm rất nhiều biến số như: ngôn ngữ; những biểu
tượng; tôn giáo; cách sử dụng thời gian, không gian; cách quan niệm về tình bạn, tình hữu nghị; tâm lý; lối sống, nếp sống; truyền thống, tập quán, tập tục, những điều cấm kỵ v.v Thông thường trong nghiên cứu lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn các biến số văn hóa thuộc nhóm thứ hai này mới chính thức được sắp xếp và được xem xét như là những bộ phận cấu thành và
Trang 28tạo nên nội dung đích thực của yếu tố “môi trường văn hóa” cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp KTTN
Do vậy, khi nghiên cứu hoạt động của các doanh nghiệp KTTN, không thể không tính đến vai trò của yếu tố văn hóa xã hội Ngoài ra, trong xã hội hiện đại, các mối quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế cần phải “hiện đại”, có văn hóa Chính điều đó cũng kéo theo những vấn đề liên quan như phát triển văn hóa doanh nghiệp hay tác động tâm lý xã hội như một phương thức góp phần thúc đẩy KTTN đi lên
- Văn hóa doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng cao nếu tạo được một môi trường văn hóa tích cực, lành mạnh, dân chủ để phát huy được năng lực của đội ngũ lao động trong doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp gắn với danh tiếng và thương hiệu của doanh nghiệp
Dưới một góc độ nào đó, văn hóa doanh nghiệp là cấu thành và công cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp Thông qua xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ định hướng và điều chỉnh tư duy, suy nghĩ
và hành động của các thành viên trong doanh nghiệp, cũng như định hướng suy nghĩ và hành động của các đối tác của doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp càng gia tăng, vai trò của văn hóa doanh nghiệp càng trở lên quan trọng Khi quy mô kinh doanh gia tăng, doanh nghiệp cần triển khai phân cấp, phân quyền Văn hóa doanh nghiệp trở thành chất kết dính của toàn bộ hệ thống
Chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh
tế thế giới đòi hỏi hàng hóa và các dịch vụ của Việt Nam phải cạnh tranh thắng lợi không chỉ trên đất nước mình và cả ở các quốc gia khác Thành tựu
về công nghệ thông tin cũng đang xói mòn không ít các giá trị của xã hội truyền thống trong đó có việc khẳng định vai trò của lớp người trẻ tuổi, của tiếng nói cá nhân và nhóm nhỏ, sự phân tầng xã hội và khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng Những thay đổi từ môi trường bên ngoài như vậy, sự
Trang 29cạnh tranh khắt khe trên quy mô toàn cầu đặt doanh nghiệp KTTN Việt Nam trước những bắt buộc phải lựa chọn, phải thay đổi để làm ăn có hiệu quả khi môi trường kinh tế - xã hội đã khác trước Xây dựng văn hóa là bước tiếp cận nâng cao năng lực của doanh nghiệp tư nhân, tạo nên một hệ thống nhân sự, người lao động có trí thức, có tay nghề và có văn hóa, từng bước thúc đẩy KTTN phát triển.
- Tác động của tâm lý xã hội
Tâm lý xã hội tác động rất lớn đến các quan hệ xã hội nói chung, các quan hệ kinh tế nói riêng Việc thừa nhận hay không thừa nhận, coi trọng hay khinh rẻ tác động rất lớn đến sự phát triển của KTTN Tuy nhiên, tâm lý xã hội không bất biến Sự biến đổi của nó phụ thuộc trước hết vào quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Nó có tính chất quyết định cho việc định hướng tâm lý chung của xã hội Mặt khác nó còn phụ thuộc vào sự tuyên truyền giáo dục để tạo ra sự đồng thuận trong xã hội
Hiện nay, nhìn chung, tâm lý xã hội Việt Nam đã chấp nhận hoạt động kinh doanh thương mại, vượt qua tư tưởng “trọng nông, khinh thương” Thậm chí, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, những tư tưởng thực dụng, chạy theo đồng tiền và lợi nhuận trước mắt khiến cho lĩnh vực kinh tế ngày càng được coi trọng, một lực lượng lớn lao động đổ xô vào đây để tìm kiếm cơ hội việc làm
và sự thăng tiến nghề nghiệp Tuy nhiên, chính lối suy nghĩ đơn giản, bất chấp mọi giá để làm ra đồng tiền khiến các hoạt động kinh doanh dễ bị biến tướng,
vi phạm pháp luật Cần có một định hướng trong tâm lý xã hội về giá trị của lao động, không có việc làm ăn kinh tế dễ kiếm ra tiền hơn các lĩnh vực khác và cần thiết phải có sự hiểu biết, tôn trọng những quy luật của hoạt động kinh doanh, nhất là kinh doanh tư nhân Xây dựng văn hóa doanh nghiệp chính là một việc làm cần thiết từ đây
Bên cạnh đó, có một thực tế rằng đa số người lao động Việt Nam vẫn thích làm ăn trong các doanh nghiệp Nhà nước Có lẽ do tư tưởng bao cấp đã
Trang 30ăn sâu, và cũng bắt nguồn từ thói quen lao động, tác phong công nghiệp của người lao động Việt Nam chưa thích nghi kịp với tính chất làm ăn của doanh nghiệp tư nhân Mặt khác cũng do các doanh nghiệp dân doanh vẫn chưa đảm bảo được quyền lợi người lao động Như vậy, bên cạnh việc nâng cao ý thức xã hội về lĩnh vực KTTN, chính các doanh nghiệp tư nhân phải nỗ lực đáp ứng nhu cầu xã hội để có thể thu hút nhân lực cho hoạt động của chính mình
1.3.3 Nhóm nhân tố chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước
- Vai trò định hướng của Nhà nước đối với phát triển KTTN
Vai trò định hướng của Nhà nước thể hiện ra bằng việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế trong đó có KTTN phát triển theo định hướng đã định sẳn Các định hướng phát triển của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, một định hướng đúng, hợp lý có thể giúp các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN phát triển một cách mạnh mẽ Ngược lại, nó cũng có thể kìm hãm, thậm chí triệt tiêu luôn thành phần kinh tế này như trước thời kỳ đổi mới Thực tế những năm qua cho thấy, muốn KTTN phát triển mạnh mẽ, có hiệu quả, mang tính ổn định cao, thì Nhà nước phải có định hướng chiến lược
rõ ràng Các định hướng chiến lược có thể thực hiện bằng cách lựa chọn những chính sách ưu tiên cho phát triển, những chính sách khuyến khích ưu đãi Các chính sách này cần được Nhà nước xây dựng thành một hệ thống chính sách đồng bộ, từ các vấn đề môi trường, đất đai, đầu tư, tài chính, thuế cho đến việc hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp thông tin thị trường, tư vấn pháp luật Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần làm tốt vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động của các đơn vị kinh tế này KTTN chỉ phát triển lành mạnh, bền vững, tuân thủ pháp luật và theo đúng định hướng trên cơ sở Nhà nước làm tốt vai trò kiểm soát, điều chỉnh của mình Bởi vì, đặc điểm của KTTN là tính tự phát, luôn luôn chạy theo lợi nhuận, chúng có thể tạo ra các ảnh hưởng ngoại la i tiêu cực, các hoạt động sản xuất có tác động phụ có hại
Trang 31đến môi trường thiên nhiên, xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên… Đây chính là vấn đề phát sinh đòi hỏi Nhà nước phải có sự định hướng, can thiệp một cách mạnh mẽ, rõ ràng nhằm điều hoà những mâu thuẫn về lợi ích giữa KTTN với Nhà nước và xã hội, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh cho KTTN phát triển một cách bền vững
- Trình độ tổ chức quản lý của bộ máy Nhà nước
Đây là nhân tố quan trọng để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống Vấn đền này liên quan đến cơ cấu bộ máy quản
lý, đến các thể chế tổ chức hành chính cũng như thủ tục hành chính
Rõ ràng chúng ta đã nhận thấy vai trò quan trọng của Nhà nước trong quản lý, điều tiết hoạt động của khu vực KTTN Nhưng để Nhà nước phát huy hết vai trò của mình ở lĩnh vực này cần thiết phải có một bộ máy hoạt động hiệu quả dựa trên trình độ quản lý và một hệ thống thể chế, tổ chức hành chính, thủ tục hành chính phù hợp, nhất quán, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp KTTN đầu tư, phát triển Thực tế ở đất nước ta trong thời gian vừa qua, so với yêu cầu đặt ra, việc đổi mới cơ chế, chính sách, tạo điều kiện phát triển KTTN vẫn còn nhiều hạn chế; việc thể chế hoá một số nội dung của Nghị quyết còn chậm, chưa đồng bộ, một số quy định chưa sát với thực tiễn nên khó thực hiện; nhiều vướng mắc về cơ chế, chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện chưa được tháo gỡ kịp thời; một số cơ quan quản lý nhà nước các cấp chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực vẫn còn phức tạp; việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý chưa thật mạnh mẽ Nhiều nơi chưa quan tâm đến định hướng phát triển KTTN theo quy hoạch ngành và lãnh thổ… Nguyên nhân xuất phát một phần từ trình độ quản lý của bộ máy Nhà nước, các cơ chế, chính sách Nhà nước trong lĩnh vực KTTN còn hạn chế và chưa đồng bộ
Như vậy, trong sự phát triển của thành phần KTTN không thể không thấy vai trò của yếu tố quản lý, năng lực và trình độ quản lý của các cấp chính
Trang 32quyền địa phương và trung ương Chính vì thế, trong những nghị quyết Đại hội Đảng, Đảng và Nhà nước ta luôn ý thức về việc tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực quản lý của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động của KTTN, nhằm giúp cho thành phần kinh tế này có điều kiện cất cánh
- Chúng tôi nghiên cứu những nội dung, tiêu chí về mặt lượng và mặt chất để phát triển KTTN; đồng thời, tìm h iểu và phân tích những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của KTTN ở Việt Nam Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định những định hướng quan trọng để tiến đến phân tích thực trạng và nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp phù hợp cho sự phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Nam trong các chương tiếp theo
Trang 332.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Quảng Nam là tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam, có toạ độ địa lý 14°57'10" đến 16°03'50" vĩ độ Bắc và 107°12'40" đến 108°44'20" kinh độ Đông, diện tích tự nhiên 10.438,37 km2 Phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây giáp với tỉnh Kon Tum và tỉnh Xê Kông (Lào), phía Nam giáp với tỉnh Quảng Ngãi, phía Bắc giáp với thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên - Huế Địa hình Quảng Nam nghiên từ Tây sang Đông, phía Tây là vùng đồi núi, chiếm trên 3/4 diện tích Dựa vào đặc điểm địa hình, địa thế của tỉnh có thể phân ra 3 vùng rõ rệt: vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng ven biển Vùng trung du có diện tích tự nhiên 3.060 km2, với địa hình đồng bằng trung du, đồi núi thấp Vùng hạ lưu ven biển có diện tích tự nhiên khoảng 1.834 km2, sở hữu nhiều hệ sinh cảnh quan trọng, như rừng dừa nước
hạ lưu sông Thu Bồn, rừng ngập mặn, rạn san hô ở Núi Thành, rạn san hô ở quần đảo Cù Lao Chàm, các thảm cỏ biển vùng cồn cát gần bờ cửa sông Thu Bồn, cùng nhiều bãi ương, bãi đẻ của các loài, bãi tắm và khu nghỉ dưỡng nằm dọc theo bờ biển Phía Tây có nhiều ngọn núi cao như: Ngọc Linh 2.598m, Lum Heo 2.045m, Tion 2.032m, Gole-Lang 1.855m Các con sông lớn đều chảy từ dãy Trường Sơn ra biển Đông: sông Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa
rõ rệt, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12
Trang 34Nhiệt độ trung bình năm 25,7°C, nhiệt độ cao nhất 39,5°C và thấp nhất là 10°C Lượng mưa trung bình hằng năm 2.830 mm; mùa mưa tập trung vào tháng 9 đến tháng 12 Độ ẩm không khí trung bình 86%, cao nhất 92% (từ tháng 11 và tháng 12), thấp nhất 68% (từ tháng 4 đến tháng 7) Lượng bốc hơi hằng năm từ 600 mm - 1.000 mm, cao nhất vào các tháng 5, 6, 7 Tỉnh Quảng Nam nằm trong khu vực thường xuyên gánh chịu những trận mưa bão, lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt đời thường của người dân nơi đây
Quảng Nam có một số nguồn tài nguyên khoáng sản đã và đang được khai thác, mang lại hiệu quả kinh tế cho Tỉnh, trong đó phải kể đến: than đá ở Nông Sơn (trữ lượng khoảng 10 triệu tấn), Ngọc Kinh (trữ lượng khoảng 10 triệu tấn); vàng gốc và sa khoáng ở Bồng Miêu, Du Hiệp, Trà Dương; cát trắng công nghiệp với trữ lượng lớn ở các huyện Thăng Bình, Núi Thành và các mỏ nước khoáng, nước ngọt chất lượng tốt Ngoài ra, trên địa bàn Tỉnh còn có nguồn khí metan, uranium, đá vôi, đá granít, đất sét, cát sợi titan, thiếc, cao lanh, mi ca và các loại nguyên liệu cung cấp cho xây dựng, sành sứ, thủy tinh
Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Nam
Trang 35Tính đến thời điểm cuối năm 2010 Quảng Nam có tất cả 18 đơn vị hành chính cấp huyện và 240 đơn vị hành chính cấp xã, dân số trung bình gần 1,42 triệu người, mật độ dân số 136 người/km2 Quảng Nam có 2 thành phố là Tam
Kỳ và Hội An, Tam Kỳ là trung tâm hành chính của Tỉnh
Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Nam như vậy ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển kinh tế tỉnh nói chung và khu vực KTTN của tỉnh nói riêng
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền T rung, Quảng Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Trục giao thông Bắc – Nam với tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không đều đi qua ngang tỉnh T ỉnh còn có đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 14D, 14B, 14E nối đồng bằng ven biển với các huyện trung du miền núi, kéo thẳng sang biên giới Việt – Lào và các tỉnh Tây Nguyên, tương lai gần còn nối với với hệ thống đường xuyên Á tạo vị trí thuận lợi cho tỉnh để giao lưu kinh tế với bên ngoài
Ngoài việc nằm trên hành lang kinh tế Đông – Tây, Quảng Nam còn nằm giữa Đà Nẵng (Trung tâm kinh tế lớn của khu vực miền Trung) và khu vực phát triển công nghiệp dịch vụ Chu Lai Dung Quất, đây là một khu vực đang được hình thành và phát triển ở phía Nam Cảng Kỳ Hà, sân bay Chu Lai, cùng với diện tích mặt bằng đất cát ven biển rộng, gần hệ thống lưới điện quốc gia, có nguồn nước ngọt dồi dào, gần trục giao thông đường bộ, đường sắt, tạo thuận lợi cho việc hình thành các khu công nghiệp, dịch vụ du lịch, các đô thị mới
Địa hình chia làm ba vùng như trên cũng tạo nên cơ cấu kinh tế đặc thù Chẳng hạn, vùng đồng bằng hẹp phát triển kinh tế nông nghiệp (lúa nước và các loại cây ngắn ngày), vùng trung du chủ yếu là trồng rừng, chăn nuôi, khai thác khoáng sản…, vùng núi tập trung có thế mạnh về rừng, cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và khoáng sản Môi trường sinh thái đa dạng, tài nguyên tương đối phong phú, cảnh quan đẹp là điều kiện để Quảng Nam phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Trang 36“Với vị trí địa lý của mình, Quảng Nam có nhiều điều kiện kinh tế thuận lợi trong quan hệ và giao lưu kinh tế với các địa phương trong cả nước cũng như với các nước láng giềng Hơn thế nữa, Quảng Nam còn là một trong
số rất ít địa phương trong cả nước có sân bay, cảng biển, đường sắt và quốc
lộ, đồng thời là nơi triển khai mô hình Khu kinh tế mở đầu tiên trong cả nước
với những chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn” [Theo Cổng thông tin điện tử
Quảng Nam, www.quangnam.gov.vn]
2.1.2 Kinh tế
Quảng Nam là một tỉnh có tiềm năng kinh tế mạnh và đa dạng Với diện tích 1.043,8 nghìn ha, 9 loại đất khác nhau, kết hợp với khí hậu nhiệt đới, phù hợp với việc trồng trọt các cây công nghiệp như dứa, sắn, bông, mía, điều, cao su, cà phê…cũng như chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm mà điển hình là đà điểu được đưa vào nuôi tại Quảng Nam, phát triển tốt, phù hợp với điều kiện vùng cát ven biển, nông nghiệp là một thế mạnh kinh tế của tỉnh Những doanh nghiệp KTTN có điều kiện để khai thác thế mạnh này, tạo nên một khu vực KTTN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có đóng góp lớn cho ngân sách toàn tỉnh
Ngoài ra, công nghiệp cũng là hướng phát triển được quan tâm hàng đầu
ở Quảng Nam Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng bình quân hàng năm 22% Đặc biệt có ưu thế mạnh là công nghiệp chế biến các nguyên liệu sẵn có tại địa phương như cát trắng, quế, bạch đàn và cây lá tràm, các sản phẩm từ gỗ, hàng hải sản… Mặt khác khoáng sản Quảng Nam đa dạng và phong phú như: than đá ở Nông Sơn, Ngọc Kính; vàng gốc và sa khoáng ở Bồng Miêu, Du Hiệp, Trà Dương; uranium, nguyên liệu làm xi măng (đá vôi) được đánh giá là giàu nhất trong các tỉnh phía Nam Các khoáng sản khác như đá granít, đất sét, cát sợi titan, thiếc, cao lanh, mi ca và các nguyên liệu cung cấp cho xây dựng, sành sứ, thuỷ tinh…được phân bố tại nhiều nơi trong tỉnh, cùng với ngư trường
có trữ lượng cá, tôm, mực rất lớn sẽ tạo tiền đề và thúc đẩy công nghiệp khai
Trang 37thác phát triển mạnh Không riêng gì các doanh nghiệp Nhà nước có điều kiện hoạt động kinh tế công nghiệp mà hiện nay số lượng các doanh nghiệp tư nhân gặt hái được nhiều thành công, có vốn đầu tư lớn trong lĩnh vực này cũng cho thấy một vấn đề đáng quan tâm của KTTN trong tỉnh
Và một đặc điểm kinh tế nổi bật nữa cần phải nói đến ở tỉnh Quảng Nam, đó là kinh tế du lịch Đây cũng là lĩnh vực mà KTTN dễ tiếp cận và hoạt động có hiệu quả Bởi Quảng Nam là mảnh đất có nhiều di sản văn hóa nổi tiếng trong nước và quốc tế Các di sản văn hóa nàygắn kết với tài nguyên
du lịch biển trong tổng thể trung tâm du lịch miền Trung: Huế - Đà Nẵng – Hội An đã tạo cho Quảng Nam khả năng phát triển mạnh du lịch và dịch vụ Hai di sản văn hoá thế giới là phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn và nhiều địa điểm di tích lịch sử và văn hoá (theo thống kê Quảng Nam có khoảng 61 điểm
du lịch) cùng với nhiều loại hình văn hoá (như hát tuồng, hát đối) cùng với các quần thể kiến trúc khác như chứng tích Núi Thành,…tạo nên những điểm
du lịch thu hút khách đến tham quan, tìm hiểu Những làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống độc đáo (làng đúc Phước Kiều, làng ươm tơ dệt lụa Mã Châu, làng mộc Kim Bồng.) và những vùng ruộng, đồn, sông nước giữ nguyên nét điển hình của làng quê Việt Nam, hội đủ các yếu tố phát triển du lịch đồng quê, du lịch vườn, tạo thêm sức hấp dẫn đối với khách du lịch Lượng du khách, cả trong nước và nước ngoài, đến Quảng Nam trong những năm qua liên tục tăng (từ khoảng 357.000 người năm 2006 đến 411.000 người năm 2007 và 627.000 người vào năm 2010), kéo theo sự gia tăng các cơ sở du lịch và dịch vụ du lịch Bên cạnh đó, số ngày lưu trú trung bình của du khách cũng gia tăng từ 2,1 ngày cho mỗi du khách năm 2006 lên 2,17 ngày cho mỗi
du khách vào năm 2010 T rong 8 năm qua, tốc độ tăng GDP của tỉnh bình quân hàng năm là 9,3%/năm Riêng năm 2004, chỉ tiêu này đạt 11,5% và là năm thứ hai Quảng Nam có tốc độ tăng trưởng GDP đạt hai con số
Trang 38Cơ sở hạ tầng trong những năm qua được quan tâm đầu tư đúng mức tạo
cơ sở vững chắc cho phát triển kinh tế xã hội cũng như thu hút vốn đầu tư, ngân sách Nhà nước ưu tiên cho đầu tư xây dựng cơ bản tăng lên hằng năm từ 4.270 tỷ năm 2005 tăng lên 5.668 tỷ năm 2010, chủ yếu tập trung xây dựng các công trình trọng điểm như đường giao thông, trường học, bệnh viện, lưới điện Đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có trên 93% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% xã có trạm y tế và trường Tiểu học, trên 95% hộ dân sử dụng điện
Tổ chức và mạng lưới kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua phát triển mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng Việc đầu tư trang thiết
bị cũng như xây dựng mới các điểm kinh doanh, củng cố và tăng cường mạng lưới chợ, các điểm kinh doanh dịch vụ, các trung tâm cụm xã/phường, huyện hình thành nên một số khu vực kinh doanh tập trung quan trọng với
sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đông đảo
hộ kinh doanh cá thể, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
Giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng ổn định từ năm 2005 đến 2010, bình quân hằng năm tăng 17,3%, giá trị tạo ra trong năm 2010 cao gấp 1,6 lần so với năm 2005 Đóng góp ngành dịch vụ vào trong cơ cấu tổng sản phẩm tăng dần qua các năm nhưng với tốc độ chậm từ 35% năm 2005 tăng lên 37% năm 2010 Tuy nhiên, sau khi chính thức được tái lập (01 tháng 01 năm 1997), kinh tế tỉnh Quảng Nam chủ yếu dựa vào các hoạt động sản xuất sản phẩm sơ cấp thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản Đất rộng, hạ tầng cơ sở chưa hoàn thiện và sự đầu tư phát triển chưa hợp lý đã gây nhiều khó khăn cho Quảng Nam trong phát triển các ngành kinh tế quan trọng và phát huy những lợi thế vốn có về địa thế, tài nguyên và con người
Trong tương lai, tỉnh sẽ phát triển mạnh về nhiều mặt, phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp vào giai đoạn 2015-2020 Quảng Nam là một trong số rất ít địa phương trong cả nước có cả sân bay, cảng biển, đường sắt và quốc lộ, là nơi triển khai mô hình Khu kinh tế mở đầu tiên trong cả nước với những chính sách ưu
Trang 39đãi đầu tư hấp dẫn Với 2 di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn và Hội An, bãi biển dài, đẹp, những làng nghề truyền thống đặc sắc và các lễ hội độc đáo, vùng đất này hứa hẹn nhiều cơ hội cho việc phát triển ngành kinh tế du lịch
Những vấn đề liên quan đến đặc điểm kinh tế như trên chi phối khá mạnh mẽ đến khu vực KTTN Quan tâm đầy đủ đến đặc điểm và diễn biến kinh tế tại địa phương, chúng ta mới có cơ sở để xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ và hiệu quả cho sự phát triển của KTTN tỉnh Quảng Nam
2.1.3 Đặc điểm xã hội
Đặc điểm cư dân, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Nam khá phong phú,
đa dạng và có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, trong đó có lĩnh vực KTTN
2.1.3.1 Dân số, lao động
Sau hơn 10 năm thành lập tỉnh, tình hình dân số và lao động của tỉnh có nhiều chuyển biến cả về số lượng và chất lượng Quy mô dân số trung bình năm 2009 toàn tỉnh có 1.417.756 người (727.477 nữ), trong đó dân số thành thị 257.944 người chiếm 18%, nông thôn người chiếm 1.159.812 người chiếm 82% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm qua các năm từ 12%0 năm 2005 giảm xuống còn gần 11% năm 2009
Số người trong độ tuổi lao động năm 2009 là 926.958 người chiếm 65,4% tổng dân số, trong đó số lao động đang hoạt động trong các ngành nghề kinh tế có 785.198 người tăng trên 5% so với năm 2005, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 5,07%, số lao động được tạo việc tăng lên hằng năm từ 31.070 người năm 2005 lên 37.500 người năm 2009 Những cố gắng trong công tác giải quyết việc làm trong thời gian qua đã đem lại kết quả đáng
kể, cơ cấu lao động của tỉnh đã có sự chuyển biến theo hướng tích cực giảm NLTS và tăng phi NLTS, tỷ lệ lao động đang hoạt động trong khu vực NLTS giảm từ 71% năm 2005 xuống còn 65% năm 2009, phi NLTS tăng từ 29% lên 35% năm 2009 (trong đó, CN - XD 15%, DV 20%)
Trang 40Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số tỉnh Quảng Nam
TT Tê n huyệ n/thị Diệ n tích (km 2 ) Dân số
(người)
Mật độ dâ n số (người/km 2 )
01 Thành phố Tam Kỳ 92,64 100.594 1.086
02 Thành phố Hộ i An 61,45 84.711 1.379
03 Huyện Tây Giang 901,20 15.625 17
04 Huyện Đông Giang 811,29 22.761 28
05 Huyện Đại Lộc 585,55 162.339 277
06 Huyện Điện Bàn 214.28 200.068 934
07 Huyện Duy Xuyên 298,42 131.266 440
08 Huyện Quế Sơn 250,75 97.537 389
09 Huyện Nông Sơn 455,92 34.524 78
10 Huyện Nam Giang 1.836,50 20.519 11
11 Huyện Phước Sơn 1.141,27 21.222 19