Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chủ trương này đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và trong Nghị quyết 01 NQ/TW của Bộ Chính trị, với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng về xuất khẩu. Để thực hiện được chủ trương của Đảng, cùng với việc đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta cần phải tăng cường mở rộng thị trường xuất khẩu. Đây là việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay. Hàng thủy sản là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam trong thời gian qua đã gặt hái được sự thành công rực rỡ. Cho tới nay, sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã được xuất khẩu đến 170 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó 3 thị trường lớn nhất là EU, Mỹ và Nhật Bản (chiếm tỉ trọng hơn 60% xuất khẩu thủy sản), đưa Việt Nam trở thành một trong 6 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu thế giới. Liên minh Châu Âu (EU), một thị trường nhập khẩu thủy sản đầy tiềm năng trong thời gian qua đã có những tác động rất tích cực đến việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu to lớn của xuất khẩu thủy sản sang EU, vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực, cố gắng trong thời gian tới để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này, nhằm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ về cho đất nước. Xuất phát từ nhận thức trên đây, cũng như vai trò to lớn của xuất khẩu thủy sản trong cơ cấu xuất khẩu của nước ta, tôi đã chọn đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU” để viết báo cáo chuyên đề thực tập. Kết cấu của chuyên đề bao gồm 3 phần chính: Chương I: Giới thiệu tổng quan về thị trường EU Chương II: Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU Chương III: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU trong những năm tới.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.Chủ trương này đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII vàtrong Nghị quyết 01 NQ/TW của Bộ Chính trị, với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng về xuất khẩu Để thực hiện được chủtrương của Đảng, cùng với việc đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng
ta cần phải tăng cường mở rộng thị trường xuất khẩu Đây là việc làm cần thiết và cấp báchhiện nay
Hàng thủy sản là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam trong thời gianqua đã gặt hái được sự thành công rực rỡ Cho tới nay, sản phẩm thủy sản của Việt Nam đãđược xuất khẩu đến 170 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó 3 thị trường lớn nhất là EU, Mỹ
và Nhật Bản (chiếm tỉ trọng hơn 60% xuất khẩu thủy sản), đưa Việt Nam trở thành mộttrong 6 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu thế giới
Liên minh Châu Âu (EU), một thị trường nhập khẩu thủy sản đầy tiềm năng trongthời gian qua đã có những tác động rất tích cực đến việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.Bên cạnh những thành tựu to lớn của xuất khẩu thủy sản sang EU, vẫn còn nhiều hạn chế,tồn tại đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực, cố gắng trong thời gian tới để đẩy mạnh xuất khẩuvào thị trường này, nhằm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ về chođất nước
Xuất phát từ nhận thức trên đây, cũng như vai trò to lớn của xuất khẩu thủy sản trong cơcấu xuất khẩu của nước ta, tôi đã chọn đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Namsang thị trường EU” để viết báo cáo chuyên đề thực tập
Kết cấu của chuyên đề bao gồm 3 phần chính:
Chương I: Giới thiệu tổng quan về thị trường EU
Chương II: Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU
Chương III: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU trong
những năm tới
Với những nội dung nghiên cứu như trên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu củachuyên đề là thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU trong vài nămgần đây và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và định hướng phát triển xuất khẩuthủy sản sang EU trong thời gian tới
Trang 2Phương pháp nghiên cứu mà tôi sử dụng trong quá trình xây dựng chuyên đề nàylà: kết hợp những kiến thức đã tích lũy trong quá trình học tập, kết hợp tổng hợp tài liệunghiên cứu, sách báo của viện nghiên cứu thương mại với việc đi sâu phân tích tình hìnhthực tế nhằm tìm ra hướng đi hợp lý nhất để giải quyết những vấn đề đặt ra trong chuyênđề.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt
tình của giáo viên hướng dẫn Ths Dương Thị Ngân đã giúp tôi giải quyết những vướng
mắc, hiểu rõ hơn về những vấn đề liên quan đến đề tài mà mình đã chọn và hoàn thành tốthơn chuyên đề thực tập
Trang 3CHƯƠNG I GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG EU
1.1 Giới thiệu tổng quan về thị trường EU
1.1.1 Về kinh tế-chính trị
Liên Minh Châu Âu (EU) là một tổ chức khu vực lớn nhất thế giới hiện nay, có sựliên kết tương đối chặt chẽ và thống nhất, được coi là một trong ba “siêu cường” có vị thếchính trị ngày càng tăng (đó là Mỹ, EU và Nhật Bản), có tốc độ tăng trưởng cao, tương đối
ổn định, có đồng tiền riêng, khá vững chắc Ra đời năm 1951 với sáu nước thành viên(Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Lúc Xăm Bua), ngày nay EU đã trở thành một tổ chứcliên kết khu vực tiêu biểu nhất của khối các nước tư bản chủ nghĩa Sau hơn 60 năm pháttriển và mở rộng, con số thành viên tới nay của EU là 27 nước, và trong tương lai sẽ còn cónhiều nước khác tham gia, nhằm mục tiêu đi đến một Châu Âu thống nhất Trong số nhữngnước công nghiệp phát triển, EU gồm nhiều nước có tiềm lực kinh tế hùng mạnh vào loạihàng đầu thế giới như Đức, Pháp, Italia, Anh,v.v Hiện nay, EU được coi là một tổ chức
có tiềm năng to lớn để hợp tác về mọi mặt, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và đầu tư.Vào năm 2009, sản lượng kinh tế của Liên minh châu Âu chiếm khoảng 21% tổng sảnlượng kinh tế toàn cầu, ước tính vào khoảng 14,8 nghìn tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớnnhất thế giới Liên minh châu Âu cũng đạt được sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu lớnnhất thế giới về hàng hóa và dịch vụ, đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn nhất đối vớicác thị trường lớn trên thế giới như Ấn Độ và Trung Quốc
Hơn nữa, buôn bán của EU với các nước đang phát triển cũng năng động như vớicác nước công nghiệp trên thế giới Trong thực tế, Đông Nam Á là vùng hiện đang có nhịp
độ tăng trưởng buôn bán cao nhất với EU, cả xuất lẫn nhập khẩu
Về chính trị, Liên minh Châu Âu (EU) không phải là một tổ chức đế quốc với hệ tưtưởng chính trị cứng nhắc, sắp sẵn Tất cả các công dân của các nước thành viên đượcquyền tự do đi lại và cư trú trong lãnh thổ của các nước thành viên Tất cả 27 chính phủđều thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung trên cơ sở hợp tác liên chính phủvới nguyên tắc nhất trí để vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực này
1.1.2 Hệ thống kênh phân phối hàng thủy sản
Hệ thống phân phối EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của mộtquốc gia, gồm mạng lưới bán buôn và mạng lưới bán lẻ Tham gia vào hệ thống phân phốinày là các Công ty xuyên quốc gia, hệ thống các cửa hàng, siêu thị, các công ty bán lẻ độclập, v.v
Trang 4Các Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations -TNCs) là các tập đoànlớn gồm rất nhiều công ty con Các cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở Tây Âu đã dẫntới sự thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế, kéo theo là trào lưu “Nhất thể hoá” và “Tổ chứclại” các Công ty xuyên quốc gia.
Nhất thể hoá hay là sự sát nhập hợp nhất của các Công ty xuyên quốc gia Xuhướng này đang diễn ra sôi động, đồng thời là một biểu hiện mới của nền kinh tế thế giớitrong giai đoạn hiện nay khi mà thế giới bước vào thế kỷ XXI Quá trình nhất thể hoá cácCông ty xuyên quốc gia EU diễn ra trong hầu hết các ngành từ lĩnh vực sản xuất đến lưuthông, và biểu hiện đậm nét ở các ngành: hàng không, sản xuất ô tô, tài chính-ngân hàng-bảo hiểm
Các công ty xuyên quốc gia EU tổ chức lại bằng cách tìm nguồn cung ứng từ nướcngoài, tập trung vào việc phát triển những sản phẩm công nghệ cao ở trong nước và hoạtđộng tiếp thị Rất nhiều công ty chú trọng tới khâu sản xuất, sau khi tổ chức lại đã chuyểnphần lớn hoạt động từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiếp thị tiêu dùng Những công tynày chuyển một phần sản xuất của họ ra nước ngoài hoặc tìm kiếm các nhà thầu nướcngoài Việc duy trì vừa đủ sản xuất trong nước cho phép họ có khả năng phản ứng nhanhvới những thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng Đồng thời việc đưa sản xuất ra nước ngoàigiúp họ có thể tận dụng được lao động rẻ ở nước ngoài để cung cấp sản phẩm với giá cạnhtranh
Các Công ty xuyên quốc gia EU thường phát triển theo mô hình, gồm: ngân hànghoặc công ty tài chính, nhà máy, công ty thương mại, siêu thị, cửa hàng,v.v Các Công tyxuyên quốc gia tổ chức mạng lưới tiêu thụ hàng của mình rất chặt chẽ, họ chú trọng từkhâu đầu tư sản xuất hoặc mua hàng đến khâu phân phối hàng cho mạng lưới bán lẻ Dovậy, họ có quan hệ rất chặt chẽ với các nhà thầu nước ngoài (các nhà xuất khẩu ở cácnước) để đảm bảo nguồn cung cấp hàng ổn định và giữ uy tín với mạng lưới bán lẻ
Hình thức tổ chức phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường EU là theotập đoàn và không theo tập đoàn Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa là các nhà sảnxuất và nhà nhập khẩu của một tập đoàn chỉ cung cấp hàng hoá cho hệ thống các cửa hàng
và siêu thị của tập đoàn này mà không cung cấp hàng cho hệ thống bán lẻ của tập đoànkhác Còn kênh phân phối không theo tập đoàn thì ngược lại, các nhà sản xuất và nhậpkhẩu của tập đoàn này ngoài việc cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoànmình còn cung cấp hàng hoá cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác và các công ty bán lẻđộc lập
Trang 5Rất ít trường hợp các siêu thị lớn hoặc các công ty bán lẻ độc lập mua hàng trựctiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài Mối quan hệ bạn hàng giữa các nhà bán buôn và bán
lẻ trên thị trường EU không phải là ngẫu nhiên mà phần lớn là do có quan hệ tín dụng vàmua cổ phần của nhau Các nhà bán buôn và bán lẻ trong hệ thống phân phối của EUthường có quan hệ làm ăn lâu đời và rất ít khi mua hàng của các nhà cung cấp không quenbiết cho dù giá hàng có rẻ hơn nhiều vì uy tín kinh doanh với khách hàng được họ đặt lênhàng đầu mà muốn giữ được điều này thì hàng phải đảm bảo chất lượng và nguồn cung cấp
ổn định Họ liên kết với nhau chặt chẽ thành một chuỗi mắt xích trong kinh doanh bằng cáchợp đồng kinh tế Các cam kết trong hợp đồng được giám sát nghiêm ngặt bởi các chế tàicủa luật kinh tế Việc đổ bể hợp đồng nhập khẩu sẽ kéo theo sự đổ bể của các hợp đồngcung ứng nội địa Vì vậy mà các nhà nhập khẩu của EU yêu cầu rất cao về việc tuân thủchặt chẽ các điều khoản của hợp đồng, đặc biệt là chất lượng và thời gian giao hàng
Hệ thống phân phối của EU đã hình thành lên một tổ hợp rất chặt chẽ và có nguồngốc lâu đời Tiếp cận được hệ thống phân phối này không phải là việc dễ đối với các nhàxuất khẩu Việt Nam hiện nay Theo nhóm nghiên cứu, các nhà xuất khẩu của ta muốn tiếpcận các kênh phân phối chủ đạo trên thị trường EU thì phải tiếp cận được với các nhà nhậpkhẩu EU Có thể tiếp cận với các nhà nhập khẩu EU bằng hai cách: thứ nhất, tìm các nhànhập khẩu EU để xuất khẩu trực tiếp (tìm các nhà nhập khẩu này qua các Thương vụ củaViệt Nam tại EU, Phái đoàn EC tại Hà Nội, các Đại sứ quán của các nước EU tại ViệtNam); thứ hai, những doanh nghiệp Việt Nam có tiềm lực kinh tế nên thành lập liên doanhvới các Công ty xuyên quốc gia EU để trở thành công ty con
1.1.3 Về mức sống dân cư
Ngày 1 tháng 1 năm 2011, tổng dân số của 27 quốc gia thành viên thuộc Liên minhchâu Âu dự tính đạt 501.259.840 người Tuy Liên minh châu Âu chỉ chiếm 3% diện tíchđất liền, dân số liên minh này chiếm đến 7,3% dân số thế giới Mật độ dân số lên đến 115,9người/km² đã khiến cho Liên minh châu Âu trở thành một trong những khu vực đông dân
cư nhất trên thế giới Liên minh châu Âu là nơi có nhiều thành phố toàn cầu hơn bất cứ khuvực nào khác trên thế giới, có tất cả 16 thành phố trên một triệu dân, trong đó lớn nhất làLuân Đôn
Liên minh Châu Âu là khu vực có mức GDP bình quân đầu người rất cao, trongnhững năm gần đây mức bình quân đó là khoảng gần 30.000 đô la Mỹ Thu nhập của phụ
nữ bằng 66,7% thu nhập của nam giới Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một số nămqua là trên 12000 tỷ USD, chiếm gần 30% GDP của thế giới
Trang 6EU là thị trường mà người dân có mức sống cao với số dân ít so với các khu vựckhác, nên nhu cầu ở EU là rất lớn ( luôn đạt mức 2% tăng trưởng) Hàng năm một ngườidân EU chi hơn một nửa mức GDP cho tiêu dùng cá nhân
1.1.4 Về thói quen tiêu dùng
EU là một thị trường rộng lớn Thị trường EU thống nhất cho phép tự do di chuyển sứclao động hàng hóa, dịch vụ và vốn giữa các nước thành viên Mỗi quốc gia thành viêntrong EU lại có đặc điểm dùng riêng Do vậy, có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu đadạng và phong phú về hàng hóa, dịch vụ Trên thực tế, có những loại hàng hóa rất được ưachuộng ở thị trường Pháp, Italia, Bỉ nhưng lại không được người tiêu dùng ở Anh, Ailen,Đan Mạch và Đức đón chào Tuy nhiên 27 nước thành viên EU đều là những quốc gia nằmtrong khu vực Tây Âu, Bắc Âu, và Đông Âu nên có những đặc điểm tương đồng về kinh tế
và văn hóa Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các nước thành viên khá đồngđều, cho nên người dân thuộc khối EU có những đặc điểm chung về sở thích và thói quentiêu dùng
Người tiêu dùng EU có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm có nhãn hiệu nổitiếng trên thế giới, quan tâm tới chất lượng hơn là giá cả Họ cho rằng, những nhãn hiệunày gắn liền với chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên dùng những sản phẩmmang nhãn hiệu nổi tiếng sẽ rất an tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng Nhiềutrường hợp, những sản phẩm này giá rất đắt, nhưng họ vẫn mua và không thích thay đổisang các sản phẩm không nổi tiếng khác cho dù giá rẻ hơn nhiều Đặc biệt đối với nhữngsản phẩm của các nhà sản xuất không có danh tiếng hay nói cách khác những sản phẩm cónhãn hiệu ít người biết đến thì rất khó tiêu thụ trên thị trường này Người tiêu dùng EU rất
sợ mua những sản phẩm như vậy, vì họ cho rằng sản phẩm của các nhà sản xuất không códanh tiếng sẽ không đảm bảo về chất lượng, vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sửdụng, do đó không an toàn đối với sức khoẻ và cuộc sống của họ
Mặc dù có sự khác biệt trong tiêu thụ giữa các nước khác nhau, các nhà hàng và dịch
vụ ăn uống luôn là mảng thị trường lớn nhất Ở nhiều nước, mảng thị trường này chiếm tới3/4 mức tiêu thụ Dù thủy sản được tiêu thụ tại nhà hàng hay gia đình thì đều phải qua vàidạng sơ chế trước khi tới tay người mua Giữa các nước, thói quen ăn uống rất khác nhau.Mức tiêu thụ thủy sản theo đầu người dao động từ 15- 17 kg
Thủy sản được nhập khẩu chủ yếu dưới dạng đông lạnh Hàng nhập thường là khốiđông lạnh, do phần lớn các mẻ lưới được làm lạnh ngay trên tàu Các hải sản đánh bắtđược làm lạnh trên bờ cả khối hoặc làm đông lạnh nhanh riêng rẽ (IQF) Nhìn chung sảnphẩm đông lạnh trên tàu được ưa chuộng hơn vì lý do chất lượng Các nhà nhập khẩu hải
Trang 7sản được làm đông lạnh, nói chung, thích loại sản phẩm được làm lạnh theo phương phápIQF.
Đối với mặt hàng thủy sản, mặc dù là một thị trường thống nhất, người dân tại các
nước EU lại có sở thích và thói quen tiêu dùng tương đối khác nhau Tuy nhiên, người tiêudùng tại EU nói riêng và châu Âu nói chung có một số điểm chung sau: họ đề cao chấtlượng, tính an toàn của thực phẩm chế biến từ thủy sản đối với sức khỏe người tiêu dùng
và môi trường, đánh giá cao tính thuận tiện của sản phẩm (sản phẩm thủy sản chế biến nhỏgọn, cắt lát miếng, lọc xương,… ghi nhãn rõ ràng) ưa thích các loại cá, tôm, … đặc sản củanước ngoài; không ăn nhiều với một món nữa và ăn nhiều món khác nhau; và chấp nhậnsản phẩm giá cao miễn là chất lượng đi đôi với giá cả Do sản lượng khai thác thủy sản của
EU rất thấp do đó nhu cầu đối với các sản phẩm thủy sản ngoại nhập của người dân EU có
xu hướng ngày càng tăng
Tuy nhiên trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, người tiêu dùng EU đã trở nên
“dễ tính hơn” và sẽ chuyển sang dùng các sản phẩm thiết yếu thay vì các sản phẩm đắttiền Trong lĩnh vực thủy sản, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm ngoại nhập đắt tiền sẽ giảmđáng kể
1.1.5 Về chính sách ngoại thương
Trong sự phát triển kinh tế của EU, ngoại thương đóng một vai trò hết sức quantrọng Nó đã đem lại sự tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm trong các ngành sản xuất,nghiên cứu, bảo hiểm, ngân hàng và rất nhiều ngành khác Do vậy, chính sách phát triểnngoại thương của EU có nhiệm vụ chỉ đạo các hoạt động ngoại thương đi đúng hướng đểphục vụ mục tiêu chiến lược kinh tế của Liên Minh
Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chungđối với các nước ngoài khối Uỷ ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy nhất cho LiênMinh trong việc đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp tronglĩnh vực này
Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị(Autonomous Commercial) và chính sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định(Treaty based Commercial policy), được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau: khôngphân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng Các biện phápđược áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về số lượng, hàngrào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu
Trang 8EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hoá: đẩy mạnh tự do hoá thươngmại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu và tiến tới xoá bỏ hạn ngạch,GSP) Hiện nay, 15 nước thành viên EU cùng áp dụng một biểu thuế quan chung đối vớihàng hoá xuất nhập khẩu Đối với hàng nhập khẩu vào khối, mức thuế trung bình đánh vàohàng nông sản là 18%, còn hàng công nghiệp chỉ là 2%.
Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ 1951 đến nay là những nhómchính sách chủ yếu sau: Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhậpkhẩu, chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện Việcban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triểnkinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của cácsản phẩm của Liên Minh trên thị trường thế giới Ngoài các chính sách, EU có Quy chếnhập khẩu chung
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các biệnpháp: Chống bán phá giá (Anti-dumping),chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả
EU đã ban hành chính sách chống bán phá giá và áp dụng thuế “chống xuất khẩu bánphá giá” để đấu tranh với những trở ngại trong buôn bán với thế giới thứ ba Thí dụ,đánh thuế 30% đối với những sản phẩm điện tử của Hàn Quốc và Singapore, nhôm củaNga, xe hơi của Nhật Bản, giày dép của Trung Quốc; đánh thuế 50%-100% đối với các
xí nghiệp sản xuất Camera truyền hình của Nhật Bản,v.v Trong khi đó, các biện phápchống hàng giả của EU cho phép ngăn chặn không cho nhập khẩu những hàng hoá đánhcắp bản quyền
Không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành
mạnh trong thương maị, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh thương mại vớicác nước đang phát triển và chậm phát triển Đó là Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập(GSP)- Một công cụ quan trọng của EU để hỗ trợ các nước nói trên Bằng cách này, EU
có thể làm cho nhóm các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) và nhóm cácnước chậm phát triển dễ dàng thâm nhập vào thị trường của mình Nhóm các nướcchậm phát triển được hưởng ưu đãi cao hơn nhóm các nước đang phát triển (xem danhsách các nước đang phát triển và chậm phát triển được hưởng GSP của EU trong Quyển
“Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cấp (GSP) của Liên Hiệp Châu Âu, Nhà Xuất bản Tàichính, Hà Nội tháng 12/1999)
Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU: Chương trình này trong
5 năm trở lại đây được cụ thể hoá ở 3 văn bản sau: (1) Qui định của Hội đồng (EC) số
Trang 93281/94 ngày 19/12/1994 về việc áp dụng một chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập 4năm (1995-1998) đối với các sản phẩm công nghiệp nhất định có nguồn gốc từ cácnước đang phát triển; (2) Qui định của Hội đồng (EC) số 1256/96 ngày 20/6/1996 vềviệc áp dụng một chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập trong nhiều năm từ 1/7/1996đến 30/6/1999 đối với một số sản phẩm nông nghiệp nhất định có nguồn gốc từ cácnước đang phát triển; (3) Qui định của Hội đồng (EC) số 2820 ngày 21/12/1998 về việc
áp dụng một chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập trong nhiều năm kể từ 1/7/1999đến 31/12/2001 đối với tất cả các sản phẩm có xuất xứ từ các nước đang phát triển
Hiện nay, EU đang áp dụng chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập cho thời kỳ từ1/7/1999 đến 31/12/2001 Theo chương trình này EU chia các sản phẩm được hưởng GSPthành 4 nhóm với 4 mức thuế ưu đãi khác nhau dựa trên mức độ nhậy cảm đối với bênnhập khẩu, mức độ phát triển của nước xuất khẩu và những văn bản thoả thuận đã ký kếtgiữa hai bên
Trong đó, thủy sản được xếp vào nhóm sản phẩm 3 – Nhóm sản phẩm bán nhạycảm : bao gồm phần lớn thuỷ sản đông lạnh (tôm, cua, mực đông lạnh, cá tươi ướp lạnh, cáđông lạnh), một số nguyên liệu và hoá chất, hàng công nghiệp dân dụng (điều hoà, máygiặt, tủ lạnh),v.v Nhóm mặt hàng này được hưởng mức thuế suất GSP bằng 35% thuếsuất tối huệ quốc (MFN) Đây là nhóm mặt hàng EU khuyến khích nhập khẩu
Hàng thủy sản xuất khẩu của việt Nam vào thị trường EU được hưởng ưu đãi thuếquan phổ cập (GSP) từ 1/7/1996 cho đến nay
Trong việc quản lý nhập khẩu, EU phân biệt 2 nhóm nước: nhóm áp dụng cơ chếkinh tế thị trường (nhóm I) và nhóm có nền thương nghiệp quốc doanh (nhóm II) - Statetrading Hàng hóa nhập khẩu vào EU từ các nước thuộc nhóm II (trong đó có Việt Nam)chịu sự quản lý chặt thường phải xin phép trước khi nhập khẩu Sau khi Việt Nam và EU
ký Hiệp định Hợp tác (1995) với điều khoản đối xử tối huệ quốc và mở rộng thị trường chohàng hóa của nhau thì quy định xin phép trước đối với nhập khẩu hàng Việt Nam được hủy
bỏ (trên thực tế) Tuy nhiên, cho đến trước ngày 14/5/2000 (ngày EU đưa ra quyết định
“Công nhận Việt Nam áp dụng cơ chế kinh tế thị trường”), EU vẫn xem Việt Nam là nước
có nền thương nghiệp quốc doanh và phân biệt đối xử hàng của Việt Nam với hàng củacác nước kinh tế thị trường khi tiến hành điều tra và thi hành các biện pháp chống bán phágiá Theo đánh giá của các chuyên gia Vụ Âu Mỹ- Bộ Thương mại thì việc EU công nhậnViệt Nam áp dụng cơ chế kinh tế thị trường chỉ có ý nghĩa là làm cho hàng hoá của ViệtNam không bị phân biệt đối xử so với hàng hóa của các nước kinh tế thị trường khi EU
Trang 10điều tra và thi hành các biện pháp chống bán phá giá chứ không tạo thêm ưu đãi cho xuấtkhẩu của Việt Nam
Riêng đối với mặt hàng thủy sản nhập khẩu, EU cũng có những quy định cụ thể
hết sức chặt chẽ Quy định kiểm tra thú y đối với mặt hàng thủy sản được cụ thể hóa trong
8 chỉ thị và quyết định sau: (1) Chỉ thị 97/78/EEC; (2) Chỉ thị 91/493/EEC; (3) Chỉ thị91/492/EEC; (4) Chỉ thị 96/22/EEC; (5) Chỉ thị 96/23/EEC; (6) Chỉ thị 92/48/EEC; (7)Quyết định 97/296/EEC; và (8) Chỉ thị 91/67/EEC Những Chỉ thị và Quyết định này đang
có giá trị hiệu lực thi hành
Bảy chỉ thị và Quyết định từ (2) đến (8) đều do các nước thứ Ba xuất khẩu hàngthuỷ sản vào EU phải tuân thủ Cơ quan chức năng của các nước này phải tiến hành kiểmtra hàng trước khi xuất khẩu sang thị trường EU Chỉ có một chỉ thị duy nhất (Chỉ thị97/78/EEC) do các nước thành viên EU phải tuân thủ và chịu trách nhiệm kiểm tra hàngnhập khẩu tại cửa khẩu trước khi cho nhập khẩu vào lãnh thổ EU :
- Chỉ thị 91/493/EEC ngày 22.7.1991 đề ra các điều kiện vệ sinh đối với việc sảnxuất và đưa vào thị trường các sản phẩm thuỷ sản cho người tiêu dùng Chỉ thị 97/79/EECsửa đổi điều 11 của Chỉ thị 91/493/EEC Chỉ thị 91/492/EEC ngày 15.7.1991 về nhữngđiều kiện vệ sinh trong việc sản xuất và đưa vào thị trường nhuyễn thể hai mảnh vỏ sống.Theo hai Chỉ thị này, Việt Nam phải chịu trách nhiệm kiểm tra điều kiện vệ sinh của hàngthuỷ sản trước khi xuất sang EU Kiểm tra y tế và giám sát điều kiện sản xuất, gồm 2 bước:(1) Giám sát chung: tiến hành ở tất cả các khâu từ đánh bắt, sản xuất, vận chuyển; (2)Kiểm tra đặc biệt: tiến hành kiểm tra cảm quan, kiểm tra ký sinh trùng, kiểm tra hoá học vàphân tích vi sinh Chỉ thị 92/48/EEC ngày 16.6.1992, ban hành các quy định vệ sinh tốithiểu áp dụng cho các sản phẩm thuỷ sản đánh bắt được trên một số loại tầu theo điều 3 (1)(a) (i) của Chỉ thị 91/493/EEC (các khoang chứa sản phẩm, đá làm đông lạnh,v.v phảiđảm bảo vệ sinh sạch sẽ) Ba Chỉ thị nêu trên đều nhằm mục đích đảm bảo vệ sinh thựcphẩm thuỷ sản và bảo vệ sức khoẻ cho người tiêu dùng EU
- Chương IV "Những điều kiện đặc biệt để xử lý thuỷ sản trên bờ" ở Phụ lục I thuộcChỉ thị 91/493/EEC, Phần "Điều kiện đối với sản phẩm tươi" có nêu: Trừ trường hợp cónhững phương tiện chuyên biệt để loại bỏ liên tục phế liệu, các loại phế liệu cần được bỏvào những thùng chứa không rò rỉ, có nắp đậy, dễ làm sạch, dễ khử trùng Không được đểphế liệu tích tụ trong khu làm việc Phế liệu phải được chuyển đi thường xuyên, hoặc mỗikhi đầy thùng chứa, hay ít nhất sau mỗi ngày làm việc Các thùng, vật, hoặc phòng chứadành riêng cho chất phế thải phải luôn được giữ sạch và nếu có thể, được khử trùng sau khi
Trang 11sử dụng Phế thải tồn trữ không được tạo nguồn gây nhiễm bẩn cho cơ sở sản xuất hoặcgây ô nhiễm môi trường.
- Điều 9, Chương III "Nhập khẩu từ nước thứ Ba” thuộc Chỉ thị 91/492/EEC cónêu: Điều kiện vệ sinh thực tế trong quá trình sản xuất và đưa nhuyễn thể hai mảnh vỏsống vào thị trường, đặc biệt việc giám sát các khu vực sản xuất về mặt nhiễm vi sinh vàgây ô nhiễm môi trường và về sự có mặt của các độc tố sinh học biển
- Chỉ thị 96/23/EEC ngày 29.4.1996 quy định về các biện pháp giám sát một sốhoạt chất và dư lượng của chúng trong động vật sống và các sản phẩm động vật Chỉ thịnày thay thế các Chỉ thị 85/358/EEC, 86/469/EEC và các Quyết định 89/187/EEC, 91/664/EEC Theo Chỉ thị 96/23/EEC, Việt Nam phải tuân thủ các biện pháp giám sát một số hoạtchất và dư lượng của chúng trong nuôi trồng thuỷ sản thì mới có thể xuất khẩu sản phẩmsang thị trường EU
- Quyết định 2002/863/EC ngày 29/10/2002 sửa đổi Quyết định 97/296/EC banhành danh sách những nước thứ Ba được phép xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản dùng làm thựcphẩm vào Cộng đồng Châu Âu Danh sách này chia làm hai nhóm nước: (1) Nhóm I - Cácnước và vùng lãnh thổ được nói đến trong một quyết định đặc biệt của Hội đồng trên cơ sởChỉ thị 91/493/EEC (72 nước, ở Châu á có: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia,
ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam); (2) Nhóm II - Các nước và vùng lãnh thổ đáp ứngcác yêu cầu của Điều 2(2) trong Quyết định Hội đồng số 95/408/EEC (35 nước, ở Châu á
có: Hồng Kông, Myanmar) Các nước thuộc Nhóm I được EU áp dụng chế độ kiểm tra thông thường Còn các nước thuộc Nhóm II bị EU áp dụng chế độ kiểm tra 100% các lô hàng thuỷ sản nhập khẩu vào EU Tuy nhiên, nếu các nước thuộc Nhóm I vi phạm Quy
định kiểm tra thú y ở mức độ nhất định (gây ảnh hưởng tới thị trường EU) EU sẽ áp dụngbiện pháp kiểm tra 100% các lô hàng thuỷ sản nhập khẩu, thời hạn áp dụng biện pháp nàydài hay ngắn tuỳ thuộc vào việc chấp hành quy định kiểm tra thú y của các doanh nghiệpthuỷ sản nước đó Nếu vi phạm nặng, EU sẽ đưa nước đó trở lại Nhóm II và áp dụng trở lạichế độ kiểm tra 100% các lô hàng thuỷ sản nhập khẩu
- Yêu cầu chung về sản xuất và tiếp thị các sản phẩm thủy hải sản tại EU được quyđịnh tại Council Regulation 852/2004 về vệ sinh thực phẩm và Council Regulation853/2004 quy định cụ thể các nguyên tắc về vệ sinh thực phẩm có nguồn gốc từ động vật
Hệ quả chính của phát luật này là chỉ được phép nhập khẩu sản phẩm thủy hải sản từnhững quốc gia đủ điều kiện xuất khẩu thủy hải sản sang Châu Âu Để một quốc gia thuộcthế giới thứ ba có đủ điều kiện xuất khẩu thì cần phải tuân theo một số các tiêu chuẩn liên
Trang 12quan tới tình hình sức khỏe động vật trong nước, năng lực của chính phủ, các kế hoạchkiểm soát chất gây ô nhiễm, và nhiều hơn nữa Do đó, quốc gia xuất khẩu phải kiểm soátmọi thứ từ trong nước trước cho dù quốc gia đó đã được phép xuất khẩu sang EU Ngoài
ra, bất kỳ nhà xuất khẩu nào có đủ điều kiện xuất khẩu cũng phải được phê chuẩn có đủđiều kiện xuất khẩu sang EU bởi chính cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia đó
Chế độ quản lý nhập khẩu của EU hết sức phức tạp, nên việc thu thập và phổbiến thông tin về thị trường này đến các nhà xuất khẩu của ta là việc làm có tầm quantrọng hàng đầu đối với chúng ta hiện nay Theo tính toán của UNCTAD, do thiếu thôngtin và không hiểu rõ các qui định về thủ tục của EU, các nước đang phát triển thực sựchỉ sử dụng được 48% các ưu đãi của EU trong chế độ GSP
1.2 Những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam khi xuất
khẩu hàng sang EU
1.2.1 Những cơ hội
Hiệp ước Maastricht đánh dấu sự ra đời của Liên Minh Châu Âu có giá trị hiệu lựcvào ngày 1/1/1993, cũng là ngày thị trường chung Châu Âu được chính thức hình thànhthông qua việc huỷ bỏ các đường biên giới nội bộ trong Liên Minh và tự do di chuyển cácyếu tố sản xuất giữa các nước thành viên Từ đó đến nay, EU không ngừng phát triển vàđang tiến tới Hợp Chủng Quốc Châu Âu Bởi vậy, xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trườngnày các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp những cơ hội và có những thuận lợi sau:
Thứ nhất: Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Cộng đồng Châu
Âu từ năm 1990 Hiệp định hợp tác với EU ngày 17 – 7 1995, tạo cơ hội thúc đẩy sự pháttriển mạnh mẽ mối qua hệ hợp tác với các quốc gia thành viên và cả cộng đồng trên mọilĩnh vực hỗ trợ phát triển khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, văn hoá xã hội, đầu
tư kinh tế thương mại, và đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổchức Thương mại thế giới WTO Điều này tạo điều kiện rất lớn cho hàng thủy sản ViệtNam có thể tiếp cận với thị trường EU, vốn là một thị trường phụ thuộc phần lớn vào hàngthủy sản ngoại nhập, là một cơ hội tốt, hứa hẹn đem lại thặng dư thương mại cao cho cácnhà xuất khẩu
Thứ hai: Việc ngành thuỷ sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu cao của EU về vệ sinh an
toàn thực phẩm đã giúp sản phẩm thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang EU không nhữngngày càng tăng mà còn có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường đòi hỏi khắt khe khác như
Mỹ, Nhật Bản và Canada
Thứ ba : Do sản lượng thuỷ sản khai thác tự nhiên ngày càng giảm vì những quy
định liên quan đến bảo vệ nguồn lợi và môi trường, nên EU ngày càng phụ thuộc vào thuỷ
Trang 13sản nhập khẩu Chính vì vậy, thương mại cũng sẽ được ưu tiên trong chính sách hỗ trợ của
EU, giúp các nước phát triển hiểu rõ hơn về WTO, các hàng rào kỹ thuật trong thương mạihoặc kiểm dịch động vật Ngành thuỷ sản Việt Nam có thể được lợi rất lớn do EU ưu tiên
hổ trợ trong lĩnh vực kiểm dịch động vật Ngoài ra EU còn dành quỹ hổ trợ thông qua quỹtín thác Châu Á, Quỹ đầu tư Châu Á Việt Nam là một trong 178 nước dược hưởng chế độ
ưu đãi thuế quan phổ cập( GSP) với mức thuế thấp hơn 3,5% so với mức thúe thôngthường Được hưởng GSP, thuế xuất khẩu thuỷ sản sang EU không những sẽ giảm, màviệc xem xét mức thuế sẽ được thực hiện sau 3- 5 năm chứ không phải hàng năm như trướcđây với số lượng mặt hàng nhiều hơn Hiện nay, tỷ lệ mặt hàng thuỷ sản được hưởng GSPlên tới 80% Bên cạnh đó, người tiêu dùng EU ngày càng tiêu dùng nhiều thuỷ sản hơn, vì
họ cho rằng thuỷ sản là loại thực phẩm sạch và bổ dưỡng Đây là tín hiệu tốt cho xuất khẩuthuỷ sản Việt Nam vào EU, hằng năm Việt Nam xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn hàng thuỷsản gồm tôm, cá ngừ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và nhiều mặt hàng cá đông lạnh các loại
Thứ tư : Nếu trước đây rất khó thực thi các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
vì giữa các nước khác nhau có những quy định khác nhau, thì bây giờ EU chỉ có một cơquan quản lý duy nhất là cục quản lý ATTPEU, một khuôn khổ luật pháp duy nhất và một
cơ chế duy nhất là luật chung về thực phẩm để có thể đảm bảo nếu xảy ra rủi ro liên quanđến an toàn thực phẩm thì chỉ trong vòng 1 giờ đã được đệ trình lên cục quản lý an toànthực phẩm EU Nếu biện pháp đề xuất được đa số thành viên cục quản lý an toàn thựcphẩm EU ủng hộ, thì sản phẩm có mới nguy cơ đó sẽ bị triệu hồi khỏi các kênh phân phốitrên thị trường Với những quy định mới này là hoàn toàn có lợi, thứ nhất nó dễ áp dụng,không phải nghiên cứu quá nhiều văn bản; thứ hai là mọi vấn đề rõ ràng hơn, các quy định
về vệ sinh an toàn thực phẩm đã được hệ thống hoá và đảm bảo tính logic; thứ ba là khôngmột nước thành viên nào được quyền đặt ra thêm quy định riêng đối với hàng nhập khẩu.Điều này sẽ phần nào giảm bớt các khó khăn, phiền phức trong quá trình kiểm dịch chấtlượng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam do vậy sẽnhanh tới được với người tiêu dùng EU, tránh bị tình trạng sản phẩm bị trả lại do quá hạn
vì thời gian kiểm dịch chất lượng quá dài Cũng như tránh các hiểu lầm trong quy địnhxuất khẩu đối với từng quốc gia khác nhau trong thị trường EU
Như vậy với các nhân tố nêu trên cùng với nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản có xu hướngtăng mạnh ở các nước châu Âu, hàng trăm doanh nghiệp Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu vàđược phép xuất khẩu vào thị trường EU sẽ tạo mọi nhiều cơ hội hơn để tăng cường xuấtkhẩu sang khối thị trường này Hiện EU là thị trường có mức tăng trưởng mạnh của thuỷsản Việt Nam Trong tương lai, mức tăng trưởng này có khả năng tiếp tục tăng mạnh Sự
Trang 14cạnh tranh với mức giá rẻ của các mặt hàng đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thựcphảm là yếu tố qyết định giữ vững thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam tạithị trường EU Có thể khẳng định triển vọng xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp ViệtNam sang thị trường này là rất tốt và ổn định trong các năm tới.
1.2.2 Những thách thức
Thứ nhất: EU thương lượng với các nước khác như một thực thể đồng nhất trong các
vấn đề thương mại toàn cầu và trở thành tiếng nói chung của Châu Âu trong các cuộc thảo luậnQuốc tế Các doanh nghiệp làm ăn ở Châu Âu tất nhiên phải tuân theo các quy tắc, hướng dẫn
và chịu sự giám sát của Uỷ ban Châu Âu (EC) EC đã ban hành và củng cố các quy tắc cạnhtranh và cấu trúc tổ chức liên quan đến những hoạt động như sáp nhập, chống độc quyền vàđánh thuế Thậm chí còn quyết định cả việc định giá, quảng cáo và các hoạt động hàng ngàykhác Tuy đã có một quy tắc hoạt động chung như vậy, nhưng thực tế đến nay chưa có hiệu lựchoàn toàn, nên có nhiều công ty nước ngoài đã hoạt động với sự hiểu lầm rằng thị trườngchung Châu Âu có nhiều mặt đồng nhất, cho nên đã phải chịu nhiều thất bại Cũng đã có nhiềudoanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU bị trả lại hàng hóa do không tìm hiểu rõquy định nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu gây tốn kém chi phí và thiệt hại nặng (do hàngthủy sản chế biến bị trả lại đã quá hạn không còn tiếp tục sử dụng được)
Thứ hai: EU là một thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) có chế độ
quản lý nhập khẩu chủ yếu dựa trên các nguyên tắc của Tổ chức này Các mặt hàng quản lýbằng hạn ngạch không nhiều, nhưng lại sử dụng khá nhiều biện pháp phi quan thuế Mặc dùthuế quan của EU thấp hơn so với các cường quốc kinh tế lớn và có xu hướng giảm, nhưng EUvẫn là một thị trường bảo hộ rất chặt chẽ vì hàng rào phi quan thuế (rào cản kỹ thuật) rấtnghiêm ngặt Do vậy, hàng xuất khẩu của ta muốn vào được thị trường này thì phải vượt quađược rào cản kỹ thuật của EU Rào cản kỹ thuật chính là qui chế nhập khẩu chung và các biệnpháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU, được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm:tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng,tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động Riêng đối với mặt hàng thủy sản nhập
khẩu, Từ 1/1/2010 tới EU sẽ áp dụng luật IUU về đánh bắt thủy sản, đây là trở ngại lớn nhất cho các doanh nghiệp hải sản Việt Nam khi xuất khẩu hàng qua EU Theo
quy định này, tất cả lô hàng hải sản muốn vào được thị trường EU đều phải chứng minhnguồn gốc (vùng biển khai thác, tàu khai thác…quy định điều tiên quyết để nhập khẩu sảnphẩm thuỷ sản vào EU là phải có chứng nhận về tính hợp pháp của sản phẩm) Đây là một
Trang 15trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam khi mà việc lấy đượcnguồn gốc xuất xứ từ các chủ tàu, chủ vựa là việc làm mất rất nhiều thời gian và chi phí.
Tóm lại, EU là thị trường đòi hỏi yêu cầu chất lượng rất cao, điều kiện thương mạinghiêm ngặt và được bảo hộ đặc biệt Các khách hàng EU nổi tiếng là khó tính về mẫu mốt, thịhiếu Khác với Việt Nam nơi giá cả có vai trò quyết định trong việc mua hàng, đối vớiphần lớn người Châu Âu thì chất lượng là một trong những yếu tố quyết định Chỉ khi cácyếu tố chất lượng và giá cả hấp dẫn thì khi đó sản phẩm mới có cơ hội bán được ở Châu
Âu Việc nhiều nước Châu Á khác, đặc biệt là Trung Quốc với tiềm năng xuất khẩu lớn và
đã có nhiều kinh nghiệm có mặt ở thị trường EU là một khó khăn lớn đối với Việt Nam khithâm nhập thị trường này Ngày nay, EU là một thị trường mở có quy mô lớn đối với cácnhà đầu tư và các sản phẩm nước ngoài Do đó, nó là một thị trường hết sức cạnh tranh vìlượng hàng nhập khẩu rất nhiều Nhiều mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trên thịtrường này đang bị sức ép rất mạnh của hàng thủy sản Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, Phần lớn hàng của các đối thủ cạnh tranh có ưu thế hơn hàng của ta về chất lượng, giá cả
và nguồn cung cấp ổn định
Trang 16CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẢU HÀNG THỦY SẢN CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU 2.1 Kết quả xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU hiện nay
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nguồn lợi thủy, hải sản giàu
có và phong phú trong khu vực và trên thế giới và có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanhnhất, đứng thứ 4 về sản lượng sản xuất và qui mô xuất khẩu thủy sản (sau Thái Lan,Indonesia, Malaysia)
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản không ngừng tăng Ngành thủy sản chiếm 21% GDPnông - lâm - ngư nghiệp và chiếm hơn 4% GDP trong nền kinh tế quốc dân (Nguồn: Sởthủy sản Hải Phòng ngày 4/12/2007) Theo số liệu Tổng cục thống kê, kim ngạch xuấtkhẩu thuỷ sản năm 2010 ước đạt 4,94 tỷ USD, tăng 16,3% so với năm 2009
Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản có sự thay đổi rõ nét trong nhiều năm qua.Nếu như trước đây Việt Nam chỉ xuất khẩu qua hai thị trường trung gian là Hồng Kông vàSingapore thì nay sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam đã có mặt tại 170 quốc gia trên thế giới
và được nhiều quốc gia ưa chuộng Trong số các thị trường xuất khẩu thủy sản của ViệtNam, thị trường EU được coi là thị trường xuất khẩu thủy sản chiến lược của Việt Nam vớithị phần chiếm 25,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (so với Mỹ 16% và Nhật Bản 19% )
Bảng 1 Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU
(triệu USD)
Tốc độ tăng(%)
Sản lượng (nghìntấn)
Tốc độ tăng(%)
(Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thủy sản)
Mặc dù gặp khủng hoảng song châu Âu vẫn là thị trường nước ngoài quan trọngnhất của mặt hàng thuỷ sản Việt Nam Năm 2009, giá trị xuất khẩu hàng thuỷ sản ViệtNam sang EU đạt 1,1 tỉ USD (đứng thứ 2 sau giày da về khối lượng xuất khẩu) Trong top
10 thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam, khối EU có 4 quốc gia đó là Đức,Tây Ban Nha, Hà Lan, Italia Các thị trường nhập khẩu lớn khác là Hàn Quốc, TrungQuốc, Hồng Kông, Australia và Đài Loan
Đặc điểm nổi bật trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU đó là
sự tăng trưởng mạnh của mặt hàng cá tra, basa cả về khối lượng cũng như giá trị Tuynhiên, cuộc khủng hoảng tài chính tòan cầu năm 2008 đã làm cho đồng euro giảm gía,
Trang 17đồng nghĩa với việc hàng xuất khẩu vào EU trở nên đắt đỏ hơn dù giá bán bằng đôla khôngđổi, vì vậy xuất khẩu vào EU giảm sút cộng thêm chiến dịch bôi xấu chất lượng sản phẩmthủy sản Việt Nam ở một số nước như Italia, Tây Ban Nha, Ai Cập… khiến cho lượng cá
có xuất xứ Việt Nam nhập khẩu vào thị trường EU đang có xu hướng giảm sút cả về sốlượng lẫn giá thành Mức giá giảm từ 2,28USD/kg (2009) xuống còn 2,13 USD/kg (2010)
EU là thị trường nhập khẩu lớn nhất cá tra giá xuất khẩu cũng giảm
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm giảm 4,3% kim ngạch xuất khẩu thủy sảncủa Việt Nam, trong đó xuất khẩu vào EU giảm 4,6% so với trước đó (đạt giá trị gần 1,11
tỉ USD) Tuy nhiên, mức giảm của thị trường EU vẫn không mạnh nếu như so sánh vớikim ngạch xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản với mức giảm lên tới 7,2% (sang Mỹ) và 12%(sang Nhật Bản) Sở dĩ, năm 2009 xuất khẩu thủy sản sang EU không sụt giảm nhiều như xuấtkhẩu sang Mỹ và Nhật Bản là do những nguyên nhân: Thứ nhất, kinh tế EU tuy đã rơi vào tìnhtrạng suy thoái nhưng nhìn chung vẫn còn sang sủa hơn so với Nhật Bản và Mỹ; Thứ hai, cácdoanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng tới các họat động xúc tiến thương mại và mở rộng thịtrường tại châu Âu, tham gia nhiều họat động quảng bá, hội chợ triển lãm thủy sản Nhờ vậy sốdoanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang EU đã tăng lên tới 330 doanh nghiệp
Bảng 2 Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu vào thị trường EU năm 2010
5 Cá sấy khô, muối, hun khói, băm viên 142,7 940,03
7 Động vật thân mềm khác (sò, trai, mực, ) 36 290 92 832,05
( Nguồn: Cơ sở dữ liệu EU : madb.europa.eu)
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu: Hàng thủy sản Việt Nam hiện đã xuất khẩu tới 27 quốcgia EU, gồm các mặt hàng sản phẩm cá, tôm, mực, bạch tuộc…
Trang 18- Nhóm sản phẩm cá: Đây là nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giátrị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU và cũng là mặt hàng có tốc độ phát triển caonhất trên thị trường EU Nhóm sản phẩm này bao gồm các mặt hàng chính là Cá ngừ tươi,
cá tra, cá basa, cá đông lạnh các loại Trong số sản phẩm từ cá, cá fillet của Việt Namchiếm tỷ trọng cao nhất và chỉ đứng sau Trung Quốc Cá fillet xuất khẩu từ các nước chiếmmột tỷ lệ khá cao khoảng 11,1% sản lượng nhập khẩu cá của thị trường EU Việt Nam lànước có năng suất và chất lượng cá cao, chi phí, giá thành thấp, cá xuất khẩu nước ta vìvậy có khả năng cạnh tranh hơn so với nhiều nước và dễ vượt qua các rào cản về vệ sinh antoàn thực phẩm của EU
- Nhóm sản phẩm tôm là nhóm sản phẩm quan trọng thứ hai sau cá fillet trong cơcấu xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU Tuy vậy, nhóm này chủ yếu là tôm đônglạnh và mới chỉ chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn, khoảng 4,31% sản lượng nhập khẩu của thịtrường này (trong khi đó Ecurado chiếm 12,39%, Ấn Độ chiếm 9,13% và Thái Lan chiếm4,46%) Sở dĩ như vậy vì năng suất và chất lượng nuôi tôm của Việt Nam còn thấp, làmcho chi phí, giá thành tôm xuất khẩu cao hơn so với các nước khác Thêm vào đó, khảnăng cạnh tranh của Việt Nam yếu, khó chiếm lĩnh thị trường EU Hơn nữa, trình độ vàkinh nghiệm marketing, quảng bá và tiếp thị trên thị trường nước ngoài của các doanhnghiệp Việt Nam kém, nguồn lực đầu tư cho việc mở rộng thị trường hạn chế
- Nhóm sản phẩm mực, bạch tuộc: Nhu cầu về mực vẫn chủ yếu là mực ống Lôligô,loại mực này được đánh giá là tốt trên thị trường EU nên lượng tiêu dùng có xu hướngtăng Tuy nhiên, đến nay nhóm sản phẩm này cũng mới chỉ chiếm một tỷ lệ khoảng 5,24%lượng nhập khẩu của thị trường EU, trong khi đó Thái Lan chiếm 7,53% và Ấn Độ chiếm10,3%
Về phía các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU, Hiệp hội
Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, ngày 25/3/2011 Tổng vụ sứckhỏe và bảo vệ người tiêu dùng (thuộc Ủy ban Châu Âu) đã chính thức công nhận 53doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đăng ký bổ sung và 72 doanh nghiệp thay đổi thông tintrong danh sách các doanh nghiệp được phép chế biến, xuất khẩu vào EU Như vậy tínhđến nay, Việt Nam đã có 379 doanh nghiệp chế biến thủy sản đủ điều kiện xuất khẩu vàothị trường này
Trong năm 2010 vừa qua các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam gặp khó khăn lớn doviệc thiếu nguyên liệu xuất khẩu Như đã phân tích, thị trường EU là một thị trường khótính và có những quy định kiểm dịch chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm hết sức nghiêmngặt do vậy họ thường xuyên có sự thay đổi quy định đối với những hàng hóa nhập khẩu
Trang 19đặc biệt là hàng thực phẩm, tuy nhiên đứng trước những quy định mới về xuất khẩu thủysản sang EU, người dân Việt Nam vẫn tỏ ra ngơ ngác và chậm thông tin dẫn đến khó khăncho những doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Từ ngày 1/1/2010 hàng thủy sản xuất khẩuvào Liên minh châu Âu (EU) sẽ chịu tác động của luật IUU Theo đó, các lô hàng buộcphải có giấy chứng nhận thể hiện thông tin về nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm.Tuy nhiên, đúng một tuần trước khi IUU có hiệu lực, tại cảng cá Phước Tỉnh (huyện LongĐiền, Bà Rịa - Vũng Tàu), các chủ tàu vẫn vô tư ra khơi mà không hay biết gì về IUU.Điều này cho thấy thực tế việc phổ biến quy chế xuất khẩu đến các ban ngành địa phươngcũng như việc tổ chức tập huấn cho các chủ tàu, chủ vựa còn quá chậm trễ Nhưng sốt ruộtnhất vẫn là các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang EU, việc thực hiện quy định mới sẽlàm tăng thêm chi phí cho doanh nghiệp khi phải đến tận nơi gặp các chủ tàu, chủ vựa đểlấy chứng từ, nhưng quan trọng hơn, nguồn hàng cho xuất khẩu vào năm tới sẽ bị ảnhhưởng nghiêm trọng nếu công tác chuẩn bị không kịp thời.
Thực tế cho thấy việc lấy chứng từ xác nhận nguồn gốc xuất xứ cho một lô hàng thủysản là một việc làm khó khăn, đòi hỏi mất nhiều thời gian và chi phí Các doanh nghiệp phảithuyết phục và tranh mua từng tàu cá để có nguyên liệu xuất khẩu, nhưng vẫn không mua đủđược số lượng chế biến Thực tế, trong một container hàng xuất khẩu sang EU, có hơn 10 mặthàng thủy sản khác nhau thì chỉ có vài tàu lớn trong hệ thống bạn hàng thu mua nguyên liệucủa công ty có được giấy chứng nhận khai thác Còn lại là những đại lý nhỏ, sản phẩm khôngtruy được nguồn gốc xuất xứ Do phải mua nhiều chủng loại và số lượng khác nhau ở nhữngđại lý trung gian, sau khi mua, công ty phải hỏi lại người bán hàng, tìm lại chủ tàu để truy xuấtnguồn gốc Điều này đã làm tăng chi phí và mất thời gian cho doanh nghiệp
Xét về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam: Việt Nam hiện có khoảng 400 doanh nghiệp chế biến thủy sản, chủ yếu là tôm và cá
tra Trong đó, có 26 doanh nghiệp đã lên sàn, niêm yết, quản trị hiện đại Mỗi phân đoạnsản xuất thủy sản xuất khẩu đều tạo ra một thị trường cạnh tranh cao để đa dạng hóa chủngloại, chất lượng, giảm chi phí đầu vào, không độc quyền
Cũng tại Việt Nam hiện đã hình thành các cụm nuôi trồng – chế biến – xuất khẩuthủy sản – phụ trợ ở các tỉnh Đồng bằng song Cửu Long Tính chuyên nghiệp và năngđộng của doanh nghiệp trong mỗi phân đoạn cũng đang được nâng lên Nhiều doanhnghiệp làm ăn bài bản, sử dụng quy trình công nghệ sản xuất hiện đại, quy mô lớn, áp dụng
mô hình quản trị tiên tiến, nhiều kênh tiếp nhận tài chính – tín dụng, chủ động dịch chuyểntrong chuỗi giá trị để tối đa hóa lợi nhuận…
Trang 20Đối với các chính sách thuế, thủ tục hải quan, theo các doanh nghiệp cũng đã đượccải thiện khá nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là việc kê khaihải quan, kiểm tra hàng hóa, hoàn thuế đầu vào, hải quan điện tử…
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn không ít thách thức ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Đó là các hiệp định thương mại 100%doanh nghiệp có biết về các hiệp định này, tuy nhiên mức độ tuân thủ còn khá thấp Kiểmdịch động thực vật được tuân thủ cao nhất (60%); tiếp đến là quy tắc xuất xứ (50%) vàthuế quan (42,9%) Mức độ tuân thủ các hiệp định liên quan đến chống bán phá giá, chốngtrợ cấp và hàng rào kỹ thuật là thấp nhất, trong khi đó, chính sách, quy định rào cản củanước nhập khẩu có xu hướng ngày càng khó khăn Điều này gây không ít khó khăn cho cácdoanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
Ngoài ra, Thạc sĩ Lưu Minh Đức, Ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnhtranh CIEM nhận xét các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam “đang ở đáy củachuỗi giá trị”, chi phí cho sản phẩm còn quá lớn trong khi không thể nâng cao được giáthành nên lợi nhuận thu về rất nhỏ Theo khảo sát của CIEM, trong 3 sản phẩm đem lạidoanh thu xuất khẩu lớn nhất cho ngành thủy sản, có 70% sản lượng xuất khẩu ở dạng sơchế (đông lạnh) Cứ 2,8 kg nguyên liệu cho ra 1 kg sản phẩm 1 kg cá phi-lê xuất khẩu thuđược 2,8 USD thì chi phí nguyên liệu đã hết 2,52 USD, còn lại 28 cent chênh lệch bao gồmtất cả chi phí sản xuất và lợi nhuận của DN nên lợi nhuận từ xuất khẩu rất thấp DN phải
bù đắp thêm bằng tiền bán phế phụ liệu từ da, mỡ cá
Theo CIEM, bản thân các DN xuất khẩu thủy sản của Việt Nam không tự tin nhiều
về lợi thế cạnh tranh của những sản phẩm xuất khẩu chủ lực do mình làm ra (chỉ 42% DN
tự tin vào sản phẩm chủ lực nhất, 36,8% DN tin vào sản phẩm chủ lực thứ hai và 31,6% tinvào sản phẩm chủ lực thứ ba)
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, đa phầncác doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ giải quyết khó khăn về vốn, trong đó chủ yếu là
hỗ trợ lãi suất, đơn giản hóa các thủ tục vay vốn, giảm bớt các yêu cầu về thế chấp và địnhgiá tài sản thế chấp cần phù hợp hơn với giá thị trường Bên cạnh đó, cần đơn giản hóa thủtục thuế và hải quan, cụ thể, đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế đầu vào, tinh giản các thủ tục
và quy trình hải quan, triển khai thuế và hải quan điện tử
Kết quả xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc vào hai yếu tố là lợithế so sánh và chính sách ưu đãi Trong thời gian tới, Việt Nam giảm dần ưu đãi, thực hiệnbiểu thuế theo cam kết WTO có thể khiến DN thủy sản khó khăn hơn trong xuất khẩu
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu hàng thủy sản Việt
Nam sang thị trường EU
Trang 212.2.1 Nguồn nguyên liệu
Nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu hàng thủy sản được cung cấp từ các hoạt độngkhai thác và nuôi trồng thủy sản Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn lợi thủysản phong phú, tạo ra nguồn hàng hóa dồi dào phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước
Bảng 4 Sản lượng cá biển khai thác phân theo địa phương
( Theo số liệu Tổng cục thống kê)Sản lượng khai thác vẫn tập trung nhiều ở các tỉnh duyên hải miền Trung, ĐôngNam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2010 thì