Hơn bao giờ hết, trong bối cảnh hiện nay, việc tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức để phát triển nhanh và bền vững, sớm đạt đến mục tiêu trở thành một đô thị lớn của cả nước, là trung
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ THỊ PHƯƠNG
PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ THỊ PHƯƠNG
PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ :60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN LÝ
Đà Nẵng - 2013
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tác giả luận văn
Võ Thị Phương
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8
7 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 9
1.1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 9
1.1.1 Nguồn lực con người 9
1.1.2 Vai trò của nguồn lực con người 13
1.2 QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 16
1.2.1 Khái niệm, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa 16
1.2.2 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay 18
1.3 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 29
1.3.1 Những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam về năng lực và phẩm chất của nguồn lực con người 29
1.3.2 Một số bất cập của việc phát huy nguồn lực con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38
Trang 5NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 39
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 39
2.1.1 Về số lượng nguồn lực con người 40 2.1.2 Về chất lượng nguồn lực con người 41
2.2 PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 49
2.2.1 Về đào tạo nguồn lực con người 49 2.2.2 Về sử dụng nguồn lực con người: 54 2.2.3 Về công tác tạo nguồn, quy hoạch, sử dụng cán bộ, công chức 56 2.2.4 Về chính sách thu hút nhân tài: 58
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 71
3.2.1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội ở Đà Nẵng để tạo tiền đề vật chất cho việc phát huy nguồn lực con người 71
Trang 6nâng cao tính tích cực của các tầng lớp nhân dân 76 3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo thông qua hệ thống giáo dục các cấp để phát huy nguồn lực con người 84 3.2.4 Thực hành dân chủ, duy trì sự đồng thuận của toàn xã hội để phát huy sức mạnh tổng hợp của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng 91 3.2.5 Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị các cấp ở Đà Nẵng đối với việc phát huy nguồn lực con người 97
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 LLLĐ ở Đà Nẵng giai đoạn 1997–2009 41 2.2 Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo 42
2.3 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động
2.4 Chuyển biến về chất lượng của công chức hành chính 44
2.5 Chuyển biến về chất lượng của cán bộ, công chức
2.6 Chi ngân sách TP Đà Nẵng cho sự nghiệp GD-ĐT
2.7 Số lượng cơ sở ĐTN ở Đà Nẵng (đến 31/12/2009) 52 2.8 NSLĐ TP Đà Nẵng qua các năm 1997-2009 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trên phạm vi thế giới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vẫn đang được coi là phương hướng chủ đạo, là con đường tất yếu phải trải qua của các nước đang phát triển Đối với Việt Nam, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là quá trình mang tính tất yếu, khách quan mà còn là một đòi hỏi bức thiết Bởi vì, từ một nền kinh tế tiểu nông phấn đấu đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta chỉ có một con đường là thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội nhưng cũng gặp không ít thách thức, khó khăn đòi hỏi chúng ta phải động viên và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực tạo thành nguồn lực tổng hợp để hiện thực hóa đường lối của Đảng
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nguồn lực con người Sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết, trong đó, nguồn lực con người là yếu tố quyết định nhất Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [9; tr.21]
Hiện nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược ưu tiên hàng đầu của Việt Nam mà nền tảng quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triển đó là nguồn lực con người Lịch sử phát triển xã hội đã chứng minh rằng, trong mọi giai đoạn, con người là yếu tố đóng vai trò quyết định sự phát
Trang 9triển của xã hội Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định
sự phát triển của xã hội không phải do bất kỳ một lực lượng siêu nhiên nào,
mà chính con người đã sáng tạo nên lịch sử của mình - lịch sử xã hội loài
người Nhận thức rõ nguồn lực con nguời là nguồn lực nội sinh quan trọng
nh ất, quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định một trong những nhiệm vụ trung tâm của chúng ta hiện nay là “phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Đại hội XI của Đảng ta đã xác định
rõ một trong những khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 là: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển
và ứng dụng khoa học, công nghệ” [13; tr.106]
Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát huy nguồn lực con người
là hai mặt thống nhất không thể tách rời của quá trình phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng mà trước hết là đường lối công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ khi chia tách từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
(1997) đến nay, thành phố Đà Nẵng đã không ngừng vươn lên “thay da đổi thịt” và trở thành thành phố trẻ, năng động, thành trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung - Tây Nguyên và cả nước Đó là thành quả của việc thành phố Đà Nẵng đã vận dụng, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách hợp lý, sáng tạo, phát huy nội lực, tận dụng được ngoại lực để phát huy nội lực
Một trong những nguyên nhân quyết định “tạo đà” để Đà Nẵng “cất cánh” chính là thành phố Đà Nẵng đã sớm nhận thức và đưa ra chủ trương, chính sách xây dựng, phát huy nguồn lực con người đáp ứng nhu cầu của sự
Trang 10nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Song, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố giai đoạn hiện nay, việc phát huy nguồn lực con người vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém Tại Đại hội lần thứ XX, Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã nghiêm túc đánh giá “Việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế chưa được chú trọng” [29; tr.77] và khẳng định “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế; xem phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định nâng cao lợi thế cạnh tranh của thành phố”[29; 105]
Hơn bao giờ hết, trong bối cảnh hiện nay, việc tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức để phát triển nhanh và bền vững, sớm đạt đến mục tiêu trở thành một đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội của miền Trung, thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020, đòi hỏi
Đà Nẵng phải có chiến lược đột phá về việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vì vậy, vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng vừa có ý nghĩa chiến lược lâu
dài vừa có tính cấp thiết Chọn đề tài "Phát huy nguồn lực con người trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay"
làm luận văn tốt nghiệp, tác giả luận văn hy vọng góp phần nhận thức đúng vai trò của việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa thành phố ở nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói
riêng trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề nguồn lực con người, nhất là nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm Từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề
Trang 11nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, trong số đó có một số công trình liên quan đến đề tài về nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau:
“Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” của
GS TS, Nguyễn Minh Đường (Chủ biên, Hà Nội 1996); “Gia đình, nhà
tr ường và xã hội với việc phát hiện tuyển chọn và đào tạo, bồi dưỡng, sử
d ụng và đãi ngộ người tài” của GS TS, Nguyễn Trọng Bảo (Nxb Giáo dục,
Hà Nội 1996); “Vấn đề phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp
1996); “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiên đại
hóa ở nước ta” của Trần Kim Hải (Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999); “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam,
Hữu Toàn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Phát triển nguồn nhân
l ực giáo dục đại học ở Việt Nam” của Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Sử dụng có hiệu quả nguồn lực con
ng ười ở Việt Nam” của TS Nguyễn Hữu Dũng (chủ biên), (Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2003); “Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Một số vấn đề lý
lu ận và thực tiễn” của Viện chiến lược phát triển, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam”của TS Đoàn Văn Khái, (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005);
tr ạng và giải pháp” của Chu Tiến Quang (chủ biên), (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2005); “Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu “của
Trang 12GS.TS Phạm Xuân Nam chủ biên, (Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2005);
“Ngu ồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
h ội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS TSKH, Lê Du Phong chủ biên, (Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghi ệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS Nguyễn Thanh chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); “Thị trường lao động Việt Nam - Thực
tr ạng và giải pháp” của TS Nguyễn Thị Thơm chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006); “Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm
b ảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của PGS.TS, Võ Văn Đức (chủ biên), (Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009); “Triết học Mác và thời đại” của
PGS.TS, Phạm Văn Đức, PGS.TS, Đặng Hữu Toàn, TS Nguyễn Đình Hòa (đồng chủ biên), (Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2009)
Về xây dựng, phát triển, huy động và sử dụng nguồn lực con người trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở thành phố Đà Nẵng có các công trình nghiên cứu tiêu biểu:
“ Đà Nẵng chủ động hội nhập và tăng tốc phát triển” của TS Trần Văn Minh (Tạp chí Cộng sản, số 787, 2008); “Định hướng và giải pháp phát triển
chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, số 15, 2011); “Phát triển nguồn nhân
l ực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” của Ths Lê Văn Phục (Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, số 15, 2011); “Để phát huy hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của PGS, TS Nguyễn Văn Nam (Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, số 15, 2011); “Một số giải
của Đặng Công Ngữ (Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, số 16 +17,
2011); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Trang 13thành ph ố Đà Nẵng” của TS Dương Anh Hoàng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2012); “Đề án quy hoạch (điều chỉnh) phát triển nhân lực thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2020” của UBND Thành phố Đà Nẵng (Văn phòng Ủy ban, Đà Nẵng 2012)
Nhìn một cách tổng quát, những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vai trò của nguồn lực con người đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa; vấn đề sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người Việt Nam nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các giải pháp để bồi dưỡng, đào tạo nguồn lực con người Việt Nam nhằm đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; vấn đề phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên, ở cấp độ của luận văn thạc sĩ chưa có một công trình nào đề cập một cách toàn diện vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng Chọn đề tài "Phát huy nguồn lực con
người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà
đầy đủ hơn vấn đề nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: khái quát các vấn đề cơ bản về xây dựng, phát triển, huy động và sử dụng nguồn lực con người nhằm góp phần vào việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có những nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất : Sử dụng chuyên ngành Triết học, vận dụng một cách hài hòa những kiến thức liên ngành (Chính trị học, Kinh tế học…) kết hợp với các
Trang 14quan điểm của Đảng để phân tích và lập luận cho việc phát huy nguồn lực con người tại Đà Nẵng
Thứ hai: Khái quát những đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng sử dụng nguồn lực con người của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thứ ba: Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta, nhất là ở địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài không đề cập đến tất cả các vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về nguồn lực con người mà chỉ giới hạn ở nội dung phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở thành phố Đà Nẵng hiện nay Các số liệu liên quan tới đối tượng nghiên cứu giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến vấn đề nguồn lực con người, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các tác phẩm, bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan trực tiếp đến nội dung đề cập trong luận văn
- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn vận dụng tổng hợp các nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn
Trang 15dịch và quy nạp, lịch sử và logic, các phương pháp điều tra xã hội học…trên
cơ sở quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài góp phần vào việc nhận thức vai trò, tác dụng to lớn của việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu tiếp tục phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay
- Kết quả của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu vấn đề có liên quan và trong việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết trình bày trong 108 trang
Trang 16CHƯƠNG 1
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC CON
b Nguồn lực con người
Khái niệm nguồn lực con người được sử dụng từ những năm 60 thế kỷ
XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trí con người trong sự phát triển Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay
Quan niệm về nguồn lực con người khá đa dạng, được đề cập đến từ những góc độ khác nhau Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định
sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được nhìn nhận như một phương tiện chủ yếu, bảo đảm tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ
Trang 17Trong lý luận về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn, một thành
tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất và kinh doanh Theo Liên Hiệp Quốc thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực
và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
Từ quan niệm mác xít về con người và mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và xã hội, có thể hiểu nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, trình độ tri thức, vị thế xã hội tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể
Dưới dạng tổng quát, nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với các đặc điểm của nó trong sự
phát triển xã hội Với cách hiểu như vậy, khái niệm nguồn lực con người bao
gồm những mặt cơ bản sau:
Th ứ nhất, nguồn lực con người là người lao động, là lực lượng lao động,
là nguồn lao động Từ đó, có thể thấy rằng, muốn khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người thì phải tạo việc làm và khai thác hợp lý nguồn lao động
Th ứ hai, nguồn lực con người phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ
cấu lao động trong các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo, cơ cấu trình độ lao động…
Th ứ ba, nguồn lực con người phản ánh chất lượng dân số, đặc biệt là chất
lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và trong tương lai gần
Trang 18Th ứ tư, nguồn lực con người là khái niệm hàm chứa cả sự liên hệ lẫn
nhau giữa các yếu tố nội tại trong nó; ảnh hưởng qua lại giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác
Th ứ năm, nguồn lực con người được xem xét với tư cách là một nguồn
lực bên trong, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội
Th ứ sáu, sức mạnh của nguồn lực con người biểu hiện qua sức mạnh của
thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí…, ở sự thống nhất biện chứng giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng không chỉ trong thực tế mà còn ở dạng tiềm năng
Bên cạnh khái niệm nguồn lực con người còn có các khái niệm khác liên quan như: nguồn nhân lực, nhân tố con người, yếu tố con người, tài nguyên con người…Trong thực tế, khái niệm nguồn nhân lực ngoài nghĩa rộng được hiểu như khái niệm nguồn lực con người thường còn được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động (tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp
và số lao động dự phòng), thậm chí còn có khi còn được hiểu là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động mà có khả năng lao động) Cũng như vậy, khái niệm tài nguyên con người còn được sử dụng với hàm ý nhấn mạnh phương diện khách thể của con người, coi con người như một loại tài nguyên cần được khai thác triệt để, hợp lý, có hiệu quả, đặc biệt là nguồn tiềm năng trí tuệ trong đó
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu “nguồn lực con người” là tổng hợp toàn bộ các yếu tố thể chất và tinh thần của con người, các hoạt động vật chất và tinh thần của họ đã, đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội
c Phát huy nguồn lực con người
Phát huy nguồn lực con người chính là nâng cao vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị của
Trang 19con người Phát huy nguồn lực con người là phát huy tất cả các khả năng, trí tuệ và phẩm chất tinh thần của con người, là nâng cao vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm tăng những giá trị đích thực và ý nghĩa lớn lao của nguồn lực này
Từ đó, có thể khẳng định rằng, phát huy nguồn lực con người thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng tựu trung lại là phát huy trên ba mặt cơ bản: phát huy nguồn nhân lực; sử dụng, khai thác nguồn nhân lực và tạo môi trường nuôi dưỡng nguồn nhân lực Điều đó liên quan đến hàng loạt vấn đề từ việc nuôi dưỡng, giáo dục - đào tạo đến việc tổ chức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực; từ việc phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân đến việc tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự cống hiến và hưởng thụ của con người; từ việc nâng cao năng lực và phẩm chất của người lao động với tư cách là chủ thể nhận thức và hoạt động thực tiễn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội đến khâu khai thác hợp lý, có hiệu quả trí lực, thể lực, tâm lực của con người với tư cách là khách thể của sự khai thác; từ việc sử dụng con người với tư cách là một nguồn nhân lực, động lực cho sự phát triển đến việc chăm lo cho con người với tư cách là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội… Rõ ràng là những vấn đề trên nếu thực hiện tốt sẽ phát huy được vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[12; tr.108-109] Đại hội X tiếp tục khẳng định: “phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người”[11; tr.179] Đại hội
XI của Đảng nhấn mạnh thêm: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược,
là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ,
cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh
Trang 20tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”[13; tr.130]
Khái niệm phát huy nguồn lực con người có liên quan đến khái niệm phát triển nguồn lực con người Phát triển nguồn lực con người là làm gia tăng các giá trị con người, làm cho con người trở thành những người lao động
có những năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Vai trò của nguồn lực con người
Có thể nói, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa không đơn giản là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biển đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, phát triển con người, đưa đất nước lên một trình độ phát triển mới về chất Năng lực nội sinh cho sự phát triển đó là nguồn lực con người Việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Khi nói đến các nguồn lực cơ bản của sự phát triển người ta thường nói tới
ba nguồn lực chủ yếu: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người và nguồn vốn Nhưng nếu trước đây, người ta đánh giá cao vai trò của kỹ thuật, của công nghệ, của các nguồn lực tự nhiên, thì hiện nay, ở hầu hết các quốc gia, người ta nói đến vai trò của con người, của nguồn lực con người Vì vậy, chính sách đầu
tư của các nước đang tập trung vào việc khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực con người
Xét trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển kinh tế – xã hội, nguồn lực con người luôn đứng ở vị trí trung tâm, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển xã hội Khẳng định điều đó là do:
dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ trở thành động lực của sự phát triển khi kết hợp với nguồn lực con người, trở thành khách thể chịu sự cải tạo, khai thác và
Trang 21sử dụng của con người
lõi là trí tuệ mới, là nguồn lực có tiềm năng vô hạn Tính vô hạn của trí tuệ con người được biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học, mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất trong con người
xã hội nếu biết chăm lo, nuôi dưỡng và khai thác nguồn lực con người một cách hợp lý Trong khi đó, các nguồn lực khác có thể bị khai thác cạn kiệt Đúng như nhà tương lai học người Mỹ Alvin Toffler đã nhận định: “tri thức
có tính chất lấy không bao giờ hết được” Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng tính
vô tận của tiềm năng trí tuệ thể hiện trên phạm vi cộng đồng, nhân loại chứ không phải ở mỗi cá nhân
khác một khi nó được vật chất hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đang đưa kinh tế thế giới vận động đến nền kinh tế của trí tuệ (kinh tế tri thức) Ở những nước công nghệp phát triển, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỷ lệ cao, yếu tố tri thức chiếm tới 65% giá thành sản xuất và 35% giá trị sản phẩm Giờ đây, sức mạnh của trí tuệ đạt đến mức con người có thể sáng tạo những máy móc “bắt chước” hay “mô phỏng” theo những đặc tính trí tuệ của chính con người Chính sức mạnh to lớn của trí tuệ con người đã làm thay đổi thang giá trị của các loại tài nguyên, các loại nguồn lực và ngày nay, đối tượng khai thác, tái tạo đang được chuyển vào chính bản thân con người
Ở Việt Nam, xuất phát từ thực tế đất nước và xu thế của thế giới, bắt đầu
từ Đại hội VI trở đi, Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Từ đó đến nay, Đảng ta luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế -
Trang 22xã hội Từ nhận thức đó, Đảng ta cũng đi đến khẳng định nguồn lực con người là yếu tố quyết định nhất cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Song vấn đề đặt ra là cần hiểu đúng về luận điểm coi nguồn lực con người là yếu tố quyết định nhất cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khi nói nguồn lực con người có vai trò quyết định thì điều đó hoàn toàn không có nghĩa là tách nguồn lực con người một cách biệt lập với nguồn lực
tự nhiên và các nguồn lực khác Trái lại, cần phải đặt nguồn lực con người trong mối quan hệ với các nguồn lực hiện có
Vai trò của nguồn lực con người được thể hiện vừa với tư cách là chủ thể, vừa với tư cách là khách thể của các quá trình kinh tế - xã hội
Trong quan hệ với nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác thì nguồn
lực con người thể hiện với tư cách là chủ thể của sự khai thác, sử dụng Chính
con người với sức lực và trí tuệ của mình là nhân tố quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng và phát huy vai trò của nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác Nhưng con người không chỉ quyết định hiệu quả của việc khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác hiện có mà còn góp phần tạo ra các nguồn lực mới
Nh ư vậy, với tư cách là chủ thể, con người không chỉ quyết định hiệu quả
của việc khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác hiện có
mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của tương lai
Với tư cách là khách thể, nguồn lực con người trở thành đối tượng của
sự khai thác, sử dụng, đầu tư và phát triển Khi nói đến vai trò của nguồn lực con người với tư cách đối tượng của sự khai thác, sử dụng, người ta nói đến tính chất không bị cạn kiệt của nguồn lực con người Tính vô tận của nguồn lực con người biểu hiện ở chỗ nó không chỉ có khả năng tái sinh và tự sản
Trang 23sinh về mặt sinh học mà còn không ngừng tự đổi mới, phát triển về chất nếu biết chăm lo bồi dưỡng và sử dụng hợp lý
Như vậy, con người xuất hiện vừa với tư cách là chủ thể vừa với tư cách
là khách thể của các quá trình kinh tế – xã hội Là chủ thể, con người khai
thác, sử dụng các nguồn lực khác hiện có, đồng thời qua đó góp phần tạo ra các nguồn lực mới, để duy trì sự tồn tại và phát triển của chính con người và
xã hội Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác cả về thể lực và trí lực cho mục tiêu phát triển xã hội Vấn đề ở đây là chúng ta cần nhận thức đúng vai trò quyết định của nguồn lực con người và đầu tư thỏa đáng cho chiến lược con người là điều kiện bảo đảm cho sự thắng lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2 QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.2.1 Khái niệm, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là một quá trình chuyển đổi từ một xã hội trước công nghiệp sang xã hội công nghiệp Đó là một quá trình thay đổi lớn lao, sâu sắc và toàn diện, bao quát hầu hết tất cả các lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống con người từ kinh tế đến xã hội và môi trường Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa là quá trình hình thành phương thức sản xuất dựa trên
cơ sở kỹ thuật cơ khí và tổ chức sản xuất theo lối công nghiệp trong một thời
kỳ lịch sử nhất định
Tương tự như vậy, hiện đại hóa cũng hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, hiện đại hóa được hiểu là quá trình tất yếu dành chung cho tất cả các quốc gia lạc hậu, chậm tiến nhằm tìm cách phát triển nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển Theo nghĩa hẹp, hiện đại hóa là quá trình chuyển biến xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp
Nhận thức rõ sự gắn kết tất yếu giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tại
Trang 24Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Đảng ta khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội,
từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo
ra năng suất lao động xã hội cao”[8; tr.65]
Như vậy, về thực chất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình cải biến lao động thủ công thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để đạt được năng suất lao động xã hội cao Đó là quá trình xây dựng một xã hội văn minh, cải biến căn bản các ngành kinh tế, các hoạt động xã hội theo phong cách của nền công nghiệp hiện đại, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình phức tạp, bao hàm những nội dung cơ bản sau đây:
M ột là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình trang bị và trang bị lại
công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế, nhất là các ngành có vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân
phát triển công nghiệp, mà là quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nước; nó thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu kinh tế mới hợp lý cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực và lợi thế của đất nước
chất - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học
B ốn là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng chính là quá trình hội nhập
quốc tế về các mặt kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ
Trang 25N ăm là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một phương thức có tính phổ
biến để thực hiện mục tiêu phát triển của mỗi nước
1.2.2 Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi nhận thức rõ tính quy luật
và vai trò của công nghiệp hóa đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta, tại Đại hội III (1960), Đảng ta đã đưa ra đường lối và tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
Về thực chất, mô hình công nghiệp hóa thời kỳ 1960 - 1985 là công nghiệp hóa bắt đầu từ công nghiệp nặng, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, xem nhẹ vai trò của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; dựa vào cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, xem nhẹ cơ chế thị trường
Trên thực tế, với đường lối, mô hình công nghiệp hóa đó, chúng ta đã mắc phải sai lầm về nội dung, cách thức tiến hành và phải trả một giá đắt cho việc kéo dài mô hình “công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa” như vậy
Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta đã đổi mới tư duy và đường lối công nghiệp hóa phù hợp với thời đại và điều kiện, mục tiêu của đất nước So với thời kỳ trước đổi mới, mô hình công nghiệp hóa thời kỳ này ngày càng được định hình rõ hơn, với đặc trưng là hướng vào xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu; kết hợp công nghiệp hóa với hiện đại hóa trên cơ sở phát triển kinh tế tri thức, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế Chính quá trình công nghiệp hóa theo mô hình đó, sau hơn 25 năm đổi mới, kinh tế - xã hội nước ta
đã có sự phát triển vượt bậc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí và mức hưởng thụ vật chất tinh thần của nhân dân từng bước tăng lên
Có thể nêu lên các đặc trưng chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta hiện nay như sau:
Th ứ nhất, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa; kết hợp với công
Trang 26ngh ệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại
hóa ở những khâu quyết định
Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang có những bước phát triển nhanh chóng và xu thế quốc tế hóa kinh tế hiện nay, công nghiệp hóa nhất thiết phải gắn liền với hiện đại hóa Thực chất của quá trình hiện đại hóa nền kinh tế là không ngừng nâng cao trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo tiến trình phát triển của khoa học và công nghệ trên thế giới Tuy nhiên, quá trình này khi thực hiện ở nước ta sẽ gặp phải một nghịch lý Một mặt, nếu không kịp thời sử dụng các kĩ thuật và công nghệ hiện đại để nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế thì nguy cơ tụt hậu xa hơn
sẽ tăng lên Mặt khác, nếu dồn tất cả mọi sự đầu tư cho việc trang bị kỹ thuật
và công nghệ hiện đại thì lại có nguy cơ không phù hợp với điều kiện hiện có, lãng phí nhiều tiềm năng và nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc Để khắc phục nghịch lý này, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta cần áp dụng đồng thời nhiều trình độ kỹ thuật và công nghệ mà các nước đi trước đã thực hiện ở những thời điểm khác nhau Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể vừa từng bước hiện đại hóa kinh tế, vừa khai thác được các nguồn lực và lợi thế của đất nước
Trong điều kiện thiếu vốn, dư thừa lao động như nước ta hiện nay, chúng ta không thể đi ngay vào trình độ cao của kỹ thuật và công nghệ một cách phổ biến trên quy mô toàn xã hội Nhưng đối với những ngành mũi nhọn, những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, những công đoạn quan trọng mà điều kiện cho phép thì cần áp dụng ngay trình độ hiện đại, thực hiện “ đi tắt, đón đầu” để tạo ra bước nhảy vọt từ thủ công lên hiện đại, với bước đi tuần tự thủ công, nữa cơ khí, cơ khí, tự động hóa…; đồng thời, phát huy đầy đủ tính
ưu việt của công nghệ truyền thống, hiện đại hóa công nghệ truyền thống, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc Trong quá trình lựa chọn công nghệ để hiện đại
Trang 27hóa nền kinh tế, chúng ta phải xem xét toàn diện các yêu cầu, không chỉ về tính hiện đại của công nghệ mà còn cả hiệu quả kinh tế - xã hội và yếu tố an toàn sinh thái của nó
Ở nước ta, việc tiếp nhận, chuyển giao và phát triển công nghệ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hết sức cần thiết Song, vấn đề quan trọng hơn là phải có cơ chế chính sách hợp lý để việc chuyển giao công nghệ vừa đạt được mục tiêu khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, vừa đáp ứng được mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái Chỉ như vậy, chúng ta mới có được công nghệ mới, hiện đại, có hàm lượng chất xám cao, công nghệ sạch, kết hợp được các mục tiêu kinh tế và sinh thái, đồng thời nhờ đó, mới có thể thực hiện được công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt
Th ứ hai, công nghiệp hoá, hiện đại hoá được thực hiện trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy hiệu quả
Nếu như trước đây, công nghiệp hoá được tiến hành theo cơ chế tập trung, bao cấp, kế hoạch hoá cao đối với các chỉ tiêu pháp lệnh nghiêm ngặt, thì giờ đây công nghiệp hoá, hiện đại hoá được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng hướng xã hội chủ nghĩa Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh đó trước hết phải tuân thủ các quy luật của nền kinh tế thị trường, như giá trị, cung - cầu, cạnh tranh Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng còn thị trường mới là nơi phản ánh nhu cầu xã hội, có tiếng nói quyết định trong việc phân bố các nguồn lực cho sản xuất và kinh doanh Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho con người tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội đa dạng Nó kích thích tính chủ động, tích cực, tháo vát, sáng tạo của
Trang 28người lao động, làm cho họ khôn ngoan hơn, quyết đoán hơn Cơ chế thị trường cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho sự chuyển dịch kinh tế lao động, cả người sử dụng lao động lẫn người lao động đều có thể chủ động trong việc sử dụng lao động và việc làm…
Và do vậy, trong nền kinh tế thị trường, tiềm năng và sức mạnh của nguồn nhân lực được khai thác hợp lý, triệt để và hiệu quả hơn Nói một cách khái quát, cơ chế thị trường có tác dụng làm cho chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá năng động, biết cách tính toán, có ý thức quyết định
và luôn đề cao hiệu quả Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có những hạn chế
và khuyết tật của nó, mà nếu không được chủ động khắc phục, điều tiết thì quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ không đạt được mục tiêu ổn định
xã hội, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường, vì lợi nhuận người ta sẵn sàng bất chấp mọi yêu cầu bảo đảm về mặt xã hội và bảo đảm về mặt môi trường của sự phát triển Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước, một bộ phận không thể thiếu của bộ phận quản lý quá trình công nghiệp hoá, hiên đại hoá Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình thông qua các công cụ chủ yếu, như định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế - xã hội, các quỹ quốc gia để điều tiết quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải hướng vào việc ưu tiên thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển, của các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, các vùng lãnh thổ, các doanh nghiệp có khả năng đem lại tích lũy nhanh, tích lũy lớn và hiệu quả kinh tế cao để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh Mặt khác, công nghiệp hóa, hiện đại hoá phải bảo đảm mục tiêu dân chủ, công bằng, văn minh, đảm bảo an ninh quốc gia và sự phát triển bền vững Khi hiệu quả kinh
tế đã đạt được, sẽ cho phép thực hiện hiệu quả xã hội, ngược lại, hiệu quả xã
Trang 29hội được bảo đảm lại góp phần tạo nên động lực thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội không phải mọi lúc, mọi nơi đều có quan hệ tỷ lệ thuận, song hành, tương ứng Hiệu quả kinh
tế là điều kiện quyết định thực hiện hiệu quả xã hội, song không phải cứ đạt được hiệu quả kinh tế là có hiệu quả xã hội, thậm chí có lúc nó làm tổn hại đến hiệu quả xã hội Tình hình này đã diễn ra ở một số nước trong quá trình công nghiệp hoá Nguyên do là không xem xét hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội và ngược lại; không gắn tăng trưởng kinh tế với cải thiện đời sống nhân dân, gắn thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội với bảo
vệ môi trường sinh thái, với phát triển bền vững Do vậy, phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo chủ yếu quyết định việc hoạch định chính sách, lựa chọn phương hướng phát triển, phương án đầu tư và trang bị công nghệ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như trong từng ngành, từng thành phần kinh tế, từng vùng và từng doanh nghiệp
Th ứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của
t ất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Là sự nghiệp của toàn dân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều trí tuệ, sức người, sức của Chỉ có huy động sức mạnh và khả năng sáng tạo to lớn của toàn dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự điều hành có hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước thì mới bảo đảm thắng lợi
Cũng cần nói rằng, công nghiệp hóa trước đây và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đều nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy vậy, trước đây, trong quá trình công nghiệp hóa, chúng ta vẫn chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để
Trang 30nhân dân phát huy tốt vai trò của mình với tư cách là người chủ đích thực của
sự nghiệp công nghiệp hóa Công nghiệp hóa trong thời kỳ này được hiểu như
là công việc của Nhà nước, được thực hiện chủ yếu thông qua một thành phần kinh tế - thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm hai khu vực quốc doanh và
tập thể
Quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân thể hiện ở chỗ, trước hết công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, đó là thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa do nhân dân thực hiện bằng sức lao động, tài năng, năng lực sáng tạo, tiền vốn, tài sản của toàn dân, phát huy sức mạnh và lợi thế so sánh của các thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt, thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Ba là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ thực sự là sự nghiệp của nhân dân và do nhân dân khi xây dựng được và thực hiện tốt cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia, góp phần xây dựng đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kiểm tra quá trình thực hiện đường lối đó Có thể nói rằng, việc huy động mọi nguồn lực trong nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội là biện pháp quan trọng bảo đảm sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước
Th ứ tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với việc xây dựng nền
“Mở cửa” nền kinh tế là sự đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy
và quan điểm kinh tế của Đảng và Nhà nước Đó là sự thay đổi quan niệm về độc lập, tự chủ trong kinh tế - độc lập, tự chủ không có nghĩa là “tự cấp, tự túc, thúc đẩy nền kinh tế”, mà chỉ có nền kinh tế mạnh, phát triển vững chắc mới có khả năng độc lập, tự chủ, đồng thời là tiền đề bảo đảm cho sự độc lập
Trang 31tự chủ của dân tộc “Mở cửa ”cả bên trong và bên ngoài chính là điều kiện
để kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, khai thác tổng hợp nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta
đã khẳng định: “Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế,
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới…”[10; tr.29] Tiếp tục quan điểm này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, một lần nữa, Đảng
ta khẳng định: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải nhất thiết gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, “trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách”, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải thúc đẩy xây dựng nền kinh tế mở Đó là nền kinh tế dựa trên cơ sở phát triển các quan hệ hợp tác đa phương, đa hình thức, hướng mạnh vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, nhằm tạo nguồn vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nguồn vốn trong nước là chính, nhưng trong giai đoạn đầu, đối với một nước nghèo như nước ta thì việc thu hút vốn từ nước ngoài có vai trò rất quan trọng Nó hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện đổi mới công nghệ, nhờ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện đẩy mạnh
xuất khẩu
Th ứ năm, khoa học và công nghệ được xác định là nền tảng và động lực
Về thực chất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại,
Trang 32nhằm đạt năng suất lao động xã hội ngày càng cao hơn Do vậy, nói đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nói đến việc áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế
- xã hội; không thể có công nghiệp hóa, hiện đại hóa nếu không dựa vào khoa học và công nghệ Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ thực sự là nền tảng và động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển khoa học và công nghệ, gắn khoa học và công nghệ với sản xuất và đời sống chính là chìa khóa bảo đảm sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhận thức rõ vai trò đó của khoa học và công nghệ, Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết quan trọng về khoa học và công nghệ Đặc biệt, hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: “ Khoa học, công nghệ
là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII một lần nữa nhấn mạnh: “Cùng với giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học, công nghệ” [10; tr.59] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh một lần nữa, quan điểm coi phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực tiễn phát triển của hơn 25 năm đổi mới, đã chứng tỏ việc chúng ta
áp dụng những tiến bộ khoa học, đổi mới công nghệ, tiếp thu công nghệ tiên tiến là một yếu tố rất quan trọng làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân Để đạt được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) những năm qua, ngoài yếu tố chuyển đổi cơ chế, mở cửa, chủ động, hội nhập với thị trường khu vực và thế giới, thì yếu tố tăng lực lượng sản xuất qua vốn, lao động và công nghệ là rất quan trọng Trong hoạt động sản xuất,
Trang 33kinh doanh thường thấy nổi lên vấn đề vốn, nhưng phân tích kỹ thì thực ra, vốn phần lớn cũng là để đổi mới và tiếp thu công nghệ (mua thiết bị, máy móc – phần cứng của công nghệ) mua công trình, bí quyết công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề, năng lực quản lý cho người lao động .( phần mềm của
công nghệ)
Để khoa học và công nghệ thực sự là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ với thực tiễn, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải tăng đầu
tư cho hoạt động khoa học và công nghệ đúng với nghĩa “quốc sách hàng đầu” Đồng thời, phải tìm ra động lực cho sự phát triển của bản thân khoa học
và công nghệ; động lực này nằm ở lợi ích của những người nghiên cứu, phát minh và ứng dụng có hiệu quả khoa học và công nghệ Như vậy, vấn đề quan trọng đặt ra là chính sách khoa học và công nghệ không chỉ giới hạn ở việc xử
lý các vấn đề công nghệ và kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa mà còn phải khai thác có hiệu quả các tiến bộ khoa học và công nghệ, đặc biệt là phải quan tâm xây dựng và phát huy tốt lực lượng nghiên cứu và ứng
dụng khoa học, công nghệ
Th ứ sáu, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải lấy việc phát huy nguồn
l ực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững;công
nghi ệp hóa hiện đại hóa phải gắn với mục tiêu phát triển bền vững
Đặc điểm quan trọng này không chỉ do điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển đất nước quy định, mà còn chi phối bởi bối cảnh thời đại Sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội Nếu trước đây, quá trình công nghiệp hóa tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên thì giờ đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại hướng vào việc khai thác con người, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ của con người Mặt khác, công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 34hóa không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu tăng trưởng mà quan trọng hơn là phải đạt được mục tiêu phát triển nhanh và phát triển bền vững Đó là sự gia tăng không chỉ về lượng trước hết là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), mà còn
về chất, trước hết là phúc lợi của nhân dân Trong toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn với tăng trưởng kinh tế với việc giải quyết các vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường sống, vì lợi ích không chỉ của thế hệ hôm nay mà còn của thế hệ tương lai Do vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay đòi hỏi phải biết nuôi dưỡng, phát triển và khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực là con người, công nghiệp hóa do con người và vì con người
Như vậy, đối với nước ta hiện nay, để thực hiện thành công đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực phát huy những lợi thế vốn
có của đất nước, tận dụng tối đa mọi cơ hội, mọi khả năng có thể có để nhanh chóng đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu khoa học và công nghệ, “từng bước phát triển kinh tế tri thức” Cùng với đó, chúng ta phải ra sức phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam; lấy phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ làm nền tảng
và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhìn lại chặng đường hơn 50 năm thực hiện công nghiệp hóa đất nước,
có thể khái quát những bước chuyển lớn, mang tính đột phá trong phát triển tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng ta về công nghiệp hóa như sau:
M ột là, đã chuyển mô hình công nghiệp hóa từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang mô hình công nghiệp hóa sử dụng những yếu tố hợp lý của cơ chế thị trường Nội dung cốt lõi của sự chuyển biến này là thay đổi cơ chế phân
bổ, điều tiết các nguồn lực cho công nghiệp hóa
Trang 35Hai là, từ bỏ quá trình công nghiệp hóa “khép kín” theo kiểu thay thế nhập khẩu trên tinh thần “tự lực cánh sinh”, chuyển sang thực hiện công nghiệp hóa gắn liền với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng mạnh vào xuất khẩu, coi xuất khẩu là hoạt động trọng yếu
công nghiệp hóa theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, với tư duy hiện vật chuyển sang công nghiệp hóa gắn với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ thực hiện công nghiệp hóa một cách riêng biệt sang thực hiện công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa
B ốn là, công nghiệp hóa ở nước ta, xét về bước đi, từ mô hình “tuần tự
cổ điển” chuyển sang mô hình “rút ngắn hiện đại”, đồng thời thực hiện hai nội dung là: vừa xây dựng nền công nghiệp hiện đại, vừa từng bước phát triển kinh tế tri thức
N ăm là, xác định nội dung công nghiệp hóa cụ thể cho từng thời kỳ cụ
thể, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ hàng đầu trong giai đoạn hiện nay
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện mới Đó là: giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; khoa học - công nghệ là động lực và mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên
Trang 361.3 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.3.1 Những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam về năng lực và phẩm chất của nguồn lực con người
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tự nó luôn đặt ra những đòi hỏi khách quan
về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn lực con người với những năng lực và phẩm chất cần thiết Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay đòi hỏi người lao động phải có những năng lực và phẩm chất cần thiết sau đây:
M ột là, người lao động Việt Nam phải có lòng yêu nước nồng nàn, có
phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần tự cường dân tộc cao, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Lòng yêu nước đó phải thấm sâu vào con tim, khối óc và phải được biểu hiện bằng những tình cảm, hành động, việc làm cụ thể, chứ không phải một tình yêu trừu tượng hoặc mơ hồ nào đó Ý thức đó phải được thấm nhuần vào từng người và toàn dân tộc để trở thành sức mạnh tinh thần to lớn, một động lực nội sinh cho sự phát triển kinh tế- xã hội, động lực cho sự cố gắng, kiên trì vượt khó, vươn lên sánh kịp các nước trong khu vực và trên thế giới Nghĩa
là, lòng yêu nước và ý thức dân tộc phải được kế thừa và phát huy với những nội dung mới, biểu hiện mới
và công nghệ đòi hỏi cao về phẩm chất trí tuệ ở người lao động - một phẩm chất được coi là quan trọng nhất hiện nay
Có tất cả những phẩm chất đạo đức và chính trị đó mà thiếu tri thức, kiến thức khoa học, tức có đức mà không có tài, thì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, cũng chẳng khác gì ông Bụt ngồi trên tòa sen, không làm điều gì xấu
Trang 37nhưng cũng chẳng làm được việc gì có ích cho đời Tri thức, trí tuệ thực sự là yếu tố thiết yếu của mỗi con người, bởi vì “tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều là tất nhiên phải thông qua đầu óc họ”, tức là phải thông qua trí tuệ Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đỏi hỏi người lao động phải có năng lực sáng tạo, có khả năng áp dụng những thành tựu của khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; có năng lực thu thập và xử lý thông tin trong điều kiện bùng nổ thông tin; có sự nhạy bén, thích nghi nhanh và thực
sự làm chủ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại Đồng thời, người lao động phải có khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là, phải có kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp
và cách mạng khoa học - công nghệ đòi hỏi người lao động phải có năng lực hoạt động thực tiễn tốt Cụ thể là người lao động ở các mức độ khác nhau phải có các khả năng thiết yếu sau: có khả năng xử lý tình huống có vấn đề trong điều kiện kinh tế thị trường và cách mạng khoa học- công nghệ; có năng lực tham gia hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và tổ chức thực hiện, biết quản lý sản xuất, kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường và phân công lao động quốc tế; biết chấp nhận cạnh tranh, dám mạo hiểm, dám
hy sinh lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ vì lợi ích lâu dài, lợi ích toàn cục,
B ốn là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta tiến hành trong xu thế
toàn cầu hóa với tư cách là xu thế khách quan, do đó đòi hỏi người lao động Việt Nam phải biết chủ động hội nhập quốc tế Bởi hội nhập trên tư thế hoàn toàn chủ động là điều kiện của việc xử lý đúng mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh Khác với toàn cầu hóa; hội nhập quốc tế
Trang 38là hành động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm tiếp thu tri thức, kinh nghiệm, sức mạnh của các yếu tố bên ngoài để phát huy, tăng cường sức mạnh của đất nước mình Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài trong điều kiện Việt Nam còn nhiều hạn chế, yếu kém, đặt ra những đòi hỏi búc xúc về chất lượng nguồn lực con người Việt Nam Một vấn đề rất lớn khác là làm sao để hội nhập mà không bị hòa tan, đồng thời vẫn bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc
N ăm là, yếu tố không thể thiếu đối với người lao động là sức khỏe cơ thể
tốt, trí lực cao Sức khỏe là yêu cầu đầu tiên đối với người lao động mọi thời đại lịch sử, mọi quốc gia khác nhau, song ở từng thời đại, từng quốc gia khác nhau có những yêu cầu với mức độ, nội dung khác nhau Nhìn chung, sức khỏe được hiểu không phải chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự thoải mái, hoàn thiện về thể chất, về trí tuệ và về điều kiện xã hội cho sự phát triển con người Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp đơn thuần hay lao động trí óc đều trước hết phải có sức khỏe theo cách hiểu như trên Tuy nhiên, trước hết người lao động phải có sức khỏe cơ thể với tư cách là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện thiết yếu để chuyển tải tri thức và hoạt động thực tiễn; để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Đồng thời, phải có trí lực- đó là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin, ý chí và năng lực sáng tạo của con người
Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa như hiện nay, hàm lượng trí tuệ, chất xám trong sản phẩm lao động chiếm tỷ trọng rất lớn, thì yêu cầu về trí lực càng cao Song, muốn lao động trí tuệ có hiệu quả, muốn thúc đẩy năng lực sáng tạo thì người lao động không những phải có sức khỏe cơ thể tốt, mà hơn thế nữa, còn phải có trí lực cao Để có trí lực cao, họ phải có sức khỏe cơ thể tốt; thể lực không khỏe
Trang 39mạnh thì sẽ hạn chế đáng kể sự phát triển trí lực - yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người
xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt phẩm chất cần thiết như: có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo dưỡng thiết bị máy móc, phương tiện sản xuất, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động khẩn trương, chính xác, có lương tâm nghề nghiệp , nghĩa là người lao động phải có văn hóa lao động công nghiệp Có thể nói, một trong những phẩm chất quan trọng nhất của văn hóa lao động công nghiệp là tinh thần trách nhiệm cao đối với chất lượng sản phẩm được sản xuất ra
B ảy là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi người lao động phải có văn
hóa sinh thái Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa liên quan đến các vấn
đề phức tạp trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên, mà chỉ có thể giải quyết được nhờ trình độ cao của văn hóa sinh thái Nó đòi hỏi người lao động phải có sự hiểu biết và trách nhiệm cao trong việc bảo vệ, cải thiện môi trường sống vì sự phát triển bền vững, hay nói một cách ngắn gọn là phải có văn hóa sinh thái Đây là vấn đề cấp bách, sống còn không chỉ đối với mỗi quốc gia - dân tộc, mà còn đối với nền văn minh nhân loại
Mặt khác, phát triển bền vững đòi hỏi kết hợp chặt chẽ, hài hòa mục tiêu kinh tế với mục tiêu sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phục vụ không chỉ lợi ích trước mắt của thế hệ hôm nay mà còn lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai vốn dĩ cũng có quyền hưởng thụ những gì mà giới tự nhiên mang lại Như vậy, để đạt được sự phát triển lâu bền trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi sự hiểu biết và tinh thần trách nhiệm cao của người lao động về việc bảo vệ môi trường với tính cách là một trong những năng lực và phẩm chất rất quan trọng của họ
Trang 40Tám là, người lao động Việt Nam trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải có năng lực phát huy những giá trị truyền thống, giá trị văn hóa của dân tộc, kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đòi hỏi phải đề cao các giá trị nhân văn Nó đòi hỏi người lao động phải có lối sống lành mạnh, nhân nghĩa, nếp sống văn minh, coi trọng chữ tín, sống khoan dung và tôn trọng sự đa dạng, sự khác biệt, gắn bó với nhau trên cơ sở đồng thuận và bình đẳng công dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Họ phải hiểu biết và tôn trọng pháp luật, kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng biểu hiện trong lao động, ở hành vi, cách ứng xử, giao tiếp với người khác, với cộng đồng Đồng thời, với tư cách là chủ thể của hoạt động lao động sản xuất, chủ thể quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, họ phải biết phấn đấu và đấu tranh thực hiện dân chủ, công bằng và bình đẳng xã hội Để làm được điều này người lao động phải có sự hiểu biết, có trình độ học vấn nhất định và nhất là phải có văn hóa dân chủ
Trên đây là sự phác thảo khái quát về những phẩm chất và năng lực chủ yếu cần có của người lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó cũng chính là những yếu tố cơ bản của một nhân cách phát triển Cần thấy rằng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa một mặt đòi hỏi nguồn lực con người phải đáp ứng những yêu cầu mà nó đặt ra, nhưng mặt khác, công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại mở ra những cơ hội, khả năng, điều kiện
để con người với tư cách là nguồn lực có khả năng, tự phát triển và hoàn thiện Đó là biện chứng giữa hoàn cảnh và con người, giữa khách thể và chủ thể Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những thành tựu mà nó đạt được sẽ tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và phát triển chất lượng nguồn lực con người ở nước ta