1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích rủi ro tài chính tại công ty cổ phần Viglacera Thăng Long

97 416 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 913,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết của phân tích rủi ro Hầu như mọi việc chúng ta đang làm nhằm mục đích kinh doanh đều có liên quan đến một loại rủi ro nào đó: thói quen của khách hàng thay đổi, sự xuất hi

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng

dẫn trực tiếp của PGS TS Lê Đức Toàn

2 Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn và ghi ở phần tài liệu tham khảo cuối luận văn

3 Các kết quả, dữ liệu nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm nếu vi phạm quy chế do Ban Quản lý khoa học

và Đào tạo Sau đại học, Đại học Đà Nẵng đã phổ biến

Nguyễn Thị Hồng Duyên

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 4

1.1 KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÂN TÍCH RỦI RO 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro 4

1.1.1.2 Sự cần thiết của phân tích rủi ro 6

1.1.2 Nguồn thông tin để thực hiện phân tích rủi ro 7

1.1.2.1 Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp 7

1.1.2.2 Nguồn thông tin nội bộ khác 8

1.1.2.3 Các nguồn thông tin khác 8

1.2 NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH 10

1.2.1 Rủi ro tài chính 10

1.2.1.1 Khái niệm rủi ro tài chính và phân loại 10

1.2.1.2 Cách xác định rủi ro tài chính 10

1.2.2 Nội dung phân tích rủi ro tài chính 11

1.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên 11

1.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính qua chỉ tiêu chỉ số tài chính 17

1.2.2.4 Phân tích thông qua đòn bẩy tài chính, đòn bẩy tổng hợp trong phân tích tài chính 19

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG LONG 23

Trang 3

2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG

LONG ĐẾN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH 23

2.1.1 Đặc điểm về công tác tổ chức 23

2.1.1.1 Lịch sử hình thành 23

2.1.1.2 Định hướng phát triển 24

2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý tại công ty cổ phần Viglacera Thăng Long 25 2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý 25

2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận 25

2.1.2.3 Phân cấp quản lý 27

2.1.2.4 Kết quả hoạt động qua các năm 28

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG LONG 29

2.2.1 Phương pháp, nguồn số liệu dùng để phân tích rủi ro tại Công ty 29

2.2.2 Thực trạng công tác phân tích rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần Viglacera Thăng Long 30

2.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính qua độ biến thiên 31

2.2.2.2 Thông qua các chỉ số tài chính 48

2.2.2.3 Đòn bẩy tài chính, đòn bẩy tổng hợp trong phân tích tài chính 54 2.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG LONG 56

2.3.1 Ưu nhược điểm 56

2.3.1.1 Ưu nhược 56

2.3.1.2 Ưu nhược 57

2.3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 58

2.3.2.1 Rủi ro kinh doanh … 58

2.3.2.2 Rủi ro phá sản 59

2.3.3 Các nhân tố bên ngoài 59

2.3.3.1 Sự biến đổi nhu cầu thị trường 59

Trang 4

2.3.3.2 Sự biến đổi giá bán 60

2.3.3.3 Sự biến đổi về giá cả yếu tố đầu vào 60

2.3.4 Các rủi ro khác: 60

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG LONG 61

3.1 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 61

3.1.1 Hoàn thiện việc xác định công tác phân tích tài chính 61

3.1.1.1 Hệ thống các chỉ số biến thiên 62

3.1.1.2 Hệ thống các chỉ số tài chính 66

3.1.2 Các giải pháp bổ trợ khác 73

3.1.2.1 Dự báo rủi ro tài chính 73

3.1.2.2 Rủi ro phá sản 76

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 78

3.2.1 Kiến nghị về chính sách 78

3.2.2 Kiến nghị với Công ty Cổ phần Viglacera Thăng Long 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động qua các năm 28

Bảng 2.2: Chỉ tiêu phản ánh độ biến thiên doanh thu thuần kinh doanh 31

Bảng 2.3: Tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu 32

Bảng 2.4: Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu năm 2008, 2009, 2010 (đơn vị tính: %) 34

Bảng 2.5: Chỉ tiêu phản ánh độ biến thiên lợi nhuận thuần kinh doanh 36

Bảng 2.6: Đòn bẩy kinh doanh của các công ty năm 2008, 2009 38

Bảng 2.7: Đòn bẩy kinh doanh của các công ty năm 2009, 2010 39

Bảng 2.8: Hệ số an toàn của công ty Thăng Long năm 2009 41

Bảng 2.9 Chỉ tiêu phản ánh sự biến thiên của ROA của các công ty 42

Bảng 2.10 Chỉ tiêu phản ánh hệ số biến thiên ROE của các công ty 45

Bảng 2.11: Các chỉ tiêu phản ánh độ biến thiên ROE giữa các công ty 45

Bảng 2.12: Tính tự chủ về tài chính của công ty Thăng Long 46

Bảng 2.13: RE của công ty Thăng Long năm 2008, 2009, 2010 47

Bảng 2.14: Chỉ tiêu vòng quay của hàng tồn kho và khoản phải thu Công ty cổ phần VIglacera Thăng Long 48

Bảng 2.15: Chỉ tiêu vòng quay của hàng tồn kho và khoản phải thu của các công ty Hà Nội và Tiên Sơn 50

Bảng 2.16 : Bảng phân tích tỷ lệ nợ vay trong tổng nguồn vốn 51

Bảng 2.17: Khả năng thanh toán lãi vay công ty Viglacera 52

Thăng Long, Hà Nội, Tiên Sơn 52

Bảng 2.18: Khả năng sinh lợi của các công ty Thăng Long 53

Bảng 2.19: Đòn bẩy tài chính năm 2009, 2010 55

Bảng 3.1 : Kế hoạch doanh số bán hàng của các đơn vị trực thuộc 63

Bảng 3.2: Tình hình thực hiện khối lượng bán ra so với kế hoạch 64

Bảng 3.3 : Dự toán chi phí bán hàng 66

Bảng 3.4: Kế hoạch dự trữ hàng tồn kho 68

Bảng 3.5 : Phân tích quyết định cấp chiết khấu cho khách hàng trong năm 2011 70

Bảng 3.6 : Bảng tổng hợp tình hình phải thu khách hàng 71

Trang 7

Bảng 3.7 : Phân tuổi công nợ 72

Bảng 3.8 : Thủ tục thu hồi nợ quá hạn 72

Bảng 3.9: Dự báo rủi ro tài chính của công ty Viglacera Thăng Long 75

Bảng 3.10: Bảng phân tích tỷ lệ % các khoản phải thu trong tổng tài sản 77

Bảng 3.11: Tỷ trọng hàng tồn kho trong tổng tài sản 78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam gia nhập WTO cùng với xu hướng toàn cầu hoá, thì nền kinh tế Việt Nam phải hội nhập tham gia các tổ chức thương mại quốc tế và các khu vực mậu dịch tự do Điều này cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam bước vào sân chơi lớn sẽ có nhiều

cơ hội và không ít thách thức Cơ hội để tăng cường đầu tư, phát triển các dự

án với các đối tác nước ngoài Thách thức là doanh nghiệp phải kinh doanh trong điều kiện thị trường có nhiều biến động, tất cả mọi yếu tố thị trường như cung - cầu, giá cả, đối thủ cạnh trạnh luôn luôn thay đổi, luôn tiềm ẩn những yếu tố không chắc chắn Doanh nghiệp còn phải đối mặt với sự cạnh trạnh khốc liệt không chỉ với các doanh nghiệp trong nước và với cả các doanh nghiệp nước ngoài đang không ngừng gia tăng về số lượng và quy mô

Thực tế cho thấy, trong quá trình hoạt động kinh doanh, hầu hết doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều rủi ro Những rủi ro khác nhau sẽ có mức ảnh hưởng khác nhau đến doanh nghiệp Có những rủi ro tác động không lớn, nhưng có những loại rủi ro một khi đã xảy ra sẽ tác động rất lớn, thậm chí có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của doanh nghiệp Những rủi ro này có thể phát sinh bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp như: chính trị, môi trường, đối thủ cạnh tranh, thay đổi ngành,…

Để hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao doanh nghiệp phải nhận dạng và phân tích rủi ro mà doanh nghiệp đang gặp phải, cũng như xác nhận mức độ ảnh hưởng của nó: rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, rủi ro phá sản, rủi ro điều hành, từ đó tìm ra được các biện pháp nhằm hạn chế hạn chế rủi ro đó Trong các loại rủi ro đó thì rủi ro tài chính có ánh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 10

Chính vì những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Phân tích rủi ro tài chính tại Công ty Cố phần Viglacera Thăng Long” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Khái quát và hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến rủi ro tài chính tại công ty;

- Phân tích thực trạng và nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến rủi ro tài chính tại Công ty Cổ phần Viglacera Thăng Long;

- Trên cở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế các rủi ro tài chính tại Công ty Cổ phần Viglacera Thăng Long

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Là những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến công tác phân tích rủi

ro tài chính tại Công ty Cổ phần Viglacera Thăng Long

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp Luận văn thu thập các thông tin liên quan đến đề tài trên cơ sở lý thuyết và thực tế Những thông tin thu thập được, tác giả chọn lọc, phân loại theo từng đối tượng nghiên cứu và được phân tích đánh giá tổ chức và tổng hợp nhằm hoàn thành đề tài nghiên cứu

Trang 11

5 Những đóng góp của luận văn

Nghiên cứu, hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về lý thuyết về phân tích rủi ro tài chính

Nghiên cứu, đánh giá, thực trạng công tác phân tích rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần Viglacera Thăng Long

Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn công tác phân tích rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần viglacera Thăng Long

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÂN TÍCH RỦI RO 1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro

Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro xuất hiện khi có các biến cố bất ngờ xảy ra, có thể có hoặc không kèm theo tổn thất Có nhiều định nghĩa về rủi ro được các nhà nghiên cứu đưa ra Thường các định nghĩa được phát biểu tuỳ theo cách tiếp cận cũng như quan điểm của từng người và từng ngành Có thể phân loại rủi ro tuỳ theo việc con người có thể dự đoán được nó hay không như rủi ro thuần tuý và rủi ro suy đoán; hay phân loại rủi

ro theo tổn thất mà nó gây ra, phân loại theo đặc điểm của từng lĩnh vực…Ví

dụ, trong đầu tư tài chính, rủi ro đề cập đến sự không chắc chắn về lợi tức mà nhà đầu tư nhận được từ việc đầu tư Theo xác suất thống kê, rủi ro là biến cố ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất Đối với các doanh nghiệp, rủi

ro là bất cứ điều gì có khả năng ngăn cản sự phát triển của doanh nghiệp, có những rủi ro xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp, cũng như phát sinh bên trong doanh nghiệp Hay nói cách khác, rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp là những biến động tiềm ẩn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và khi có rủi ro doanh nghiệp không thể dự đoán chính xác kết quả mà doanh nghiệp mong muốn Dù cho có nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro, nhưng về cơ bản thì rủi ro phản ánh sự không chắc chắn, sự bất ngờ trong đó

có thể hoặc đem lại một hậu quả có lợi, hoặc một tổn thất Nhìn chung, rủi ro doanh nghiệp có thể xuất phát từ các nhân tố như

 Rủi ro từ tác động của môi trường: sự thay đổi các yếu tố môi

trường như kinh tế, chính trị, pháp luật, cạnh tranh trên thị trường, thông tin, văn hoá…có tác động mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Mỗi một quyết định kinh doanh của doanh nghiệp đều có liên quan đên các rủi ro này Ví dụ:

Trang 13

 Rủi ro kinh tế hay rủi ro do biến động môi trường kinh doanh: doanh nghiệp hoạt động kinh doanh luôn phải chịu tác động từ môi trường kinh tế nói chung và môi trường ngành mà mình đang hoạt động nói riêng Mỗi sự biến động về tình hình ổn định hay khủng hoảng đều là nhân tố ảnh hưởng đến sự

ổn định của doanh nghiệp Ví dụ, khi có suy thoái kinh tế thì sức mua của người tiêu dùng giảm và vì vậy doanh thu tiêu thụ, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng giảm đi

 Rủi ro công nghệ: là rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải khi công nghệ sản xuất thay đổi mà doanh nghiệp không theo kịp, hay máy móc lạc hậu, cũ

kỹ, hư hỏng… làm giảm hiệu quả hoạt động và giảm khả năng cạnh tranh

 Rủi ro thông tin: là việc thông tin nội bộ của doanh nghiệp bị rò rỉ ra ngoài làm ảnh hưởng đến hoạt động, sự cạnh tranh của công ty, ví dụ như chính sách giá, thông tin công nghệ, mẫu mã…hay là việc các thông tin mà doanh nghiệp thu thập từ bên ngoài để hỗ trợ cho việc ra quyết định kinh doanh bị sai lệch và doanh nghiệp có thể bị tổn thất khi dựa trên các thông tin

đó [4, tr27- 29]:

 Rủi ro do biến động giá yếu tố đầu vào: dù là doanh nghiệp thương

mai hay doanh nghiệp sản xuất đều bị ảnh hưởng bởi giá cả yếu tố đầu vào Việc thây đổi giá cả yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến Giá thành sản phảm của doanh nghiệp Điều này buộc doanh nghiệp phải tính đến các phương án thay đổi giá bán sao cho phù hợp Nếu tăng giá bán lên cho phù hợp với giá thành thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh và tiêu thụ Nếu không tăng giá bán thì công ty có thể giữ được thị phần nhưng sẽ có nguy cơ

bị lỗ…[4, tr34-35]

 Rủi ro trong giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế: trong loại giao

dịch này người bán và người mua thường có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau Do đó, doanh nghiệp thường gặp phải rủi ro khi lựa chọn sai đối tác kinh doanh, đối tác không có khả năng cung cấp hàng hoá, không có khả năng thanh toán, thiếu uy tín và kinh nghiệm; rủi ro về tỷ giá hối đoái…điều này dễ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hay doanh nghiệp

dễ đánh mất cơ hội kinh doanh [4, tr 36]

Trang 14

 Rủi ro nguồn nhân lực: yếu tố con người luôn luôn là nguồn lực vô

cùng quan trọng đối với công ty Rủi ro nguồn nhân lực xảy ra có thể là việc nhân viên của công ty ra đi mang theo kiến thức, bí quyết công nghệ của công

ty đi theo, hoặc rủi ro doanh nghiệp thiếu lao dộng có tay nghề cho hoạt động sản xuất dẫn đến không đáp ứng nhu cầu sản xuất…[4,37]

 Những rủi ro khác: rủi ro về môi trường tự nhiên như thiên tai, lũ

lụt, hạn hán…rủi ro liên quan đến yếu tố chính trị như chiến tranh, biểu tình…hay sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, sự thâm nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới…[4,37]

1.1.1.2 Sự cần thiết của phân tích rủi ro

Hầu như mọi việc chúng ta đang làm nhằm mục đích kinh doanh đều có liên quan đến một loại rủi ro nào đó: thói quen của khách hàng thay đổi, sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh mới, những yếu tố mới nằm ngoài tầm kiểm soát…Mặt khác, bản chất của các hoạt động kinh doanh luôn mang tính mạo hiểm nên việc phân tích các rủi ro của một doanh nghiệp là vấn đề rất được quan tâm không chỉ đối với các nhà đầu tư mà cũng vô cùng quan trọng đối với các nhà quản trị công ty Nhà đầu tư phân tích rủi ro để đưa ra quyết định liệu có nên đầu tư vào doanh nghiệp trong tình hình hiện tại với mức độ rủi ro như vậy không Đối với các nhà quản lý, cùng với việc phân tích hiệu quả doanh nghiệp, nếu biết cách phân tích và quản trị rủi ro, doanh nghiệp có thể đưa ra các đánh giá đầy đủ vè toàn cảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp, phát hiện những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh, trong huy động vốn và công tác thanh toán…Từ đó, quyết định nên thực hiện những gì để giảm thiểu những nhân tố gây xáo trộn kế hoạch kinh doanh, để hạn chế bớt những tổn thất có thể xảy ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong sự tương ứng giữa rủi ro với hiệu quả mong muốn nào đó

Ngoài ra, thông qua việc phân tích rủi ro doanh nghiệp cũng đánh giá được cách thức quản lý rủi ro của mình có hiệu quả hay không cũng như trình

độ, năng lực của ban quản trị doanh nghiệp

Trang 15

1.1.2 Nguồn thông tin để thực hiện phân tích rủi ro

1.1.2.1 Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp

Nguồn thông tin từ hệ thống kế toán

Phân tích tài chính nói chung và phân tích rủi ro doanh nghiệp nói riêng thì nguồn thông tin quan trọng nhất được sử dụng là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, và Thuyết minh báo cáo tài chính

Bảng cân đối kế toán là bản báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng

quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản dưới hình thái giá trị tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ tài sản mà đơn vị hiện có tại thời điểm báo cáo và tài sản đó từ đâu mà có, và cũng có ý nghĩa pháp lý về nghĩa vụ thanh toán đối với người bán, nhà nước Do vậy, căn cứ vào số liệu trên BCĐKT ở nhiều thời điểm khác nhau có thể đánh giá biến động tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp Từ đó có thể đưa đánh giá sơ bộ

về quy mô kinh doanh, đặc điểm chung về loại hình kinh doanh cũng như năng lực của doanh nghiệp Đồng thời bảng cân đối kế toán cung cấp số liệu

về tài sản và nguồn vốn để tính các chỉ tiêu tài chính phục vụ cho việc phân tích Tuy nhiên, không thể chỉ ra bức tranh cụ thể về tình hình tài chính tại doanh nghiệp vì số liệu trên BCĐKT là số liệu tổng hợp Vì vậy để có những phân tích chính xác, đầy đủ hơn cần có sự kết hợp với phân tích các báo cáo tài chính khác [1, tr 14]

Bảng báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản

ánh tổng hợp tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ (tháng, quý, năm) chi tiết theo các loại hoạt động, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác Từ bản báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ta có thể đánh giá sơ bộ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua doanh thu, giá vốn và lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp Ngoài ra, số liệu trên báo cáo này còn là cơ sở đánh Giá khuynh hướng hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm liền và

dự báo hoạt động trong tương lai [1, tr19]

Trang 16

Thuyết minh báo cáo tài chính: là bản báo cáo mô tả các phương pháp

kế toán, phương pháp tính giá, chế độ khấu hao…mà đơn vị đang sử dụng Và cung cấp thêm các thông tin chi tiết hơn cho các khoản mục quan trọng trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh như: tài sản cố định, tiền và tương đương tiền, các khoản vay, khoản phải thu phải trả, tình hình sử dụng nguồn vốn…phục vụ thêm cho công tác phân tích cho cụ thể và

xác thực [1, 21]

Ngoài các báo cáo tài chính đơn vị còn sử dụng thêm các báo cáo quản trị khác mang đặc thù của doanh nghiệp và nhu cầu quản lý để phân tích cụ thể hơn

1.1.2.2 Nguồn thông tin nội bộ khác

Thông tin nội bộ mà người phân tích có thể sử dụng cho công tác phân tích như quyết định, chiến lược kinh doanh chung của hội đồng cổ đông, ban quản trị để có thể nắm bắt được xu hướng kinh doanh của doanh nghiêp, cũng như có thể định hướng được những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải

Những thông tin mà nhà phân tích cũng cần chú ý đó là những thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp như ngành nghề kinh doanh, loại hình kinh doanh, quy mô kinh doanh, cơ cấu sản phẩm, thị trường, đặc điểm từng bộ phận doanh nghiệp, chính sách kinh doanh cũng như chính sách tài chính để có thể có hướng phân tích đúng đắn [5]

Ngoài ra, các báo cáo kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sản xuất của phân xưởng và các báo cáo của các bộ phận khác cũng là thông tin cần thiết cho công tác phân tích

1.1.2.3 Các nguồn thông tin khác

Ngoài thông tin từ các báo cáo kế toán ở doanh nghiệp, phân tích tài chính doanh nghiệp còn sử dụng nhiều nguồn thông tin khác để các kết luận trong phân tích tài chính nói chung có tính thuyết phục

 Nguồn thông tin từ kiểm toán viên

Nguồn thông tin từ kiểm toán viên mà nhà phân tích cần thu thập là những báo cáo kiểm toán, hồ sơ kiểm toán Những tài liệu đó chứng thực số liệu doanh nghiệp báo cáo trên báo cáo tài chính là trung thực hợp lý, phản

Trang 17

ánh đúng tình hình tài chính của doanh nghiệp Mặt khác, những báo cáo đó còn cung cấp thêm thông tin chi tiết về đặc điểm hoạt động của đơn vị mà người phân tích có thể tham khảo

 Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu nhiều tác động bởi nhân

tố môi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của nền kinh tế trong nước và các nền kinh tế trong khu vực Những thông tin thường quan tâm bao gồm: thông tin tăng trưởng, suy thoái kinh tế; thông tin lãi suất ngân hàng, trái phiếu kho bạc, tỷ giá ngoại tệ; thông tin về tỷ lệ lạm phát; các chính sách lớn của chính phủ, chính sách chính trị ngoại giao của nhà nước…

 Thông tin ngành

Mỗi doanh nghiệp đều hoạt động chuyên nghiệp trong một ngành nào

đó, và đặc trưng của từng ngành cũng rất ảnh hưởng đến đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Các thông tin ngành như là: mức độ và yêu cầu công nghệ ngành, mức độ cạnh tranh, quy

mô thị trường, tính chất cạnh tranh hay mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng, nhịp độ và xu hướng vận động của ngành, nguy

cơ xuất hiện các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng… những thông tin trên làm rõ hơn nội dung các chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro của doanh nghiệp

Đồng thời thông tin ngành dưới dạng các thông số trung bình ngành đã được thống kê là nguồn dữ liệu quan trọng để người phân tích làm cơ sở so sánh và đưa ra đánh giá về doanh nghiệp

 Thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh và trong phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình tài chính, cần nghiên cứu kỹ đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Những vấn

đề cần quan tâm bao gồm: mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả chiến lược tài chính và chiến lược kinh doanh; tính thời

vụ, tính chu kỳ trong hoạt động kinh doanh; mối liên hệ giữa doanh nghiệp

Trang 18

với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng và các tổ chức khác; các chính sách hoạt động khác…

1.2 NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH 1.2.1 Rủi ro tài chính

1.2.1.1 Khái niệm rủi ro tài chính và phân loại

Để phân tích rủi ro trong doanh nghiệp cần xác định rõ những rủi ro nào có ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động của doanh nghiệp Như đã phân tích

ở trên có nhiều loại rủi ro ảnh hưởng đến một doanh nghiệp nhưng trong nội dung phân tích của đề tài, việc phân tích và xác định rủi ro của doanh nghiệp được thực hiện dựa trên việc tính toán số liệu trên báo cáo tài chính cho nên các rủi ro dưới đây được phân loại theo từng khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp, gồm: rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, và rủi ro phá sản (rủi ro mất khả năng thanh toán)

Rủi ro tài chính: là loại rủi ro gắn liền với quyết định tài trợ hay nói

cách khác rủi ro tài chính là hậu quả của việc sử dụng đòn cân nợ trong cấu trúc vốn, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Rủi ro tài chính là loại rủi ro có thể triệt tiêu bằng cách là sử dụng cấu trúc vốn không có đòn cân nợ Tuy nhiên đây không phải là biện pháp hay vì khi không sử dụng các nguồn vốn vay thì công ty sẽ không có đủ vốn để đầu tư cho các hoạt động kinh doanh của mình Một cách tổng quát, những doanh nghiệp mà bản thân phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh có khuynh hướng sử dụng nợ ít hơn các doanh nghiệp gặp ít rủi ro trong kinh doanh hơn [3, 43]

1.2.1.2 Cách xác định rủi ro tài chính

Có nhiều phương thức xác định rủi ro, mỗi phương thúc điều có ưu và nhược điểm riêng Tuy nhiên, thông thường người ta thường sử dụng các phương thức sau để xác định rủi ro:

Dựa vào các hệ số biến thiên: Phân tích sự biến thiên của doanh thu, đòn bẩy kinh doanh, hệ số an toàn, Tính các chỉ tiêu qua xác xuất: Thông qua khả năng sinh lời ( ROA), ROE

Dựa vào các chỉ số tài chính : phân tích khả năng thanh toán, quản lý tái sản, quản lý nợ…;

Dựa vào phân tích đòn bẩy tài chính, đòn bẩy tổng hợp…

Trang 19

Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào một phần cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp tức là tùy thuộc vào mức độ sự dụng nợ Cho nên rủi ro tài chính là rủi

ro liên quan đến sử dụng nợ của doanh nghiệp nên ta phân tích rủi ro tài chính theo hướng sử dụng độ biến thiên của chỉ tiêu ở trên để đánh giá

1.2.2 Nội dung phân tích rủi ro tài chính

1.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua độ biến thiên

Rủi ro tài chính có thể hiểu là rủi ro gắn liền với sự biến thiên của kết quả và hiệu quả kinh doanh Cho nên theo quan điểm phân tích thống kê, để đo lường rủi

ro kinh doanh người ta sử dụng chỉ tiêu phương sai đại lượng kết quả kinh doanh, hay hiệu quả kinh doanh để đánh giá mức độ biến thiên của các đại lượng đó Ví

dụ để đánh giá độ biến thiên của chỉ tiêu k ta dùng phương sai (ký hiệu Var) để thể hiện và phương sai tính bằng bình phương độ lệch chỉ tiêu nghiên cứu với giá trị trung bình của nó

3

2

i=1ar(k)= ( i ) * i

Trong đó:

k i là giá trị thứ i của chỉ tiêu nghiên cứu (đó có thể là chỉ tiêu về kết quả kinh doanh hay chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nào đó được chọn để phân tích như: doanh thu, lợi nhuận, hiệu suất sinh lời…)

p i là xác suất để có được giá trị k i

Đôi khi để chỉ tiêu có giá trị tương ứng và phụ hợp về đơn vị người ta còn dùng thêm chỉ tiêu độ lệch chuẩn, độ lệch chuẩn được tính bằng căn bậc hai của phương sai

^ 2 1

Trang 20

kinh doanh thì nó có ý nghĩa là ở một mức hoạt động và quy mô tương tự nhau, doanh nghiệp hay phương án nào có phương sai hay độ lệch chuẩn của cùng một chỉ tiêu của doanh nghiệp hay phương án nào nhỏ hơn phương sai hay độ lệch chuẩn của doanh nghiệp hay phương án kia thì doanh nghiệp hay phương án đó có rủi ro kinh doanh thấp hơn, do mức độ biến thiên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là thấp hơn Tức là doanh nghiệp hoạt động ổn định hơn

Tuy nhiên, trong quá trình phân tích chỉ tiêu phương sai và độ lệch chuẩn có nhược điểm là các chỉ tiêu có thước đo khác nhau, giá trị kỳ vọng giữa các phương án so sánh khác nhau thì việc sử dụng phương sai và độ lệch chuẩn để so sánh là không có ý nghĩa Do vậy người ta dùng thêm chỉ tiêu hệ

số biến thiên, hệ số biến thiên được tính bằng tỷ số giữa độ lệch chuẩn của chỉ tiêu với giá trị kỳ vọng của nó

^

bt

H k

Hệ số biến thiên được để đánh giá rủi ro kinh doanh giữa các phương

án với nhau một cách chính xác hơn khi các phương án có thước đo khác nhau, có giá trị kỳ vọng khác nhau Với công thức như trên hệ số biến thiên

đã loại bỏ ảnh hưởng của nhân tố thước đo và quy mô, do đó nó có thể làm căn cứ so sánh giữa hai doanh nghiệp không cùng quy mô Hệ số này dùng để

so sánh giữa các phương án, hay giữa các doanh nghiệp hoặc các thời kỳ Phương án hay doanh nghiệp nào có hệ số biến thiên nhỏ hơn thì có rủi ro kinh doanh nhỏ hơn

Ngoài ra, ta cũng có thể căn cứ vào số liệu quá khứ để ước các giá trị trung bình và phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) Phương sai được ước lượng từ

dữ liệu quá khứ được xác định như sau:

n i

Trang 21

* Phân tích rủi ro tài chính thông qua đòn bẩy kinh doanh

Đòn bẩy kinh doanh hay hiệu ứng đòn bẩy kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của sự thay đổi của doanh thu đối với lợi nhuận Đòn bẩy kinh doanh được tính như sau

Độ lớn đòn bẩy kinh doanh =

% thay đổi lợi nhuận kinh

DT DT

Trong đó:

- LN là lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp (không có hoạt động tài chính)

- DT là doanh thu kinh doanh của doanh nghiệp

Hệ số K (đòn bẩy kinh doanh) cho biết cứ 1% thay đổi doanh thu kinh doanh thì lợi nhuận kinh doanh sẽ thay đổi K % Lợi nhuận tính theo độ lớn đòn bẩy kinh doanh không tính đến chi phí lãi vay nhằm loại bỏ ảnh hưởng của cơ cấu và chi phí nguồn vốn

Rủi ro gắn liền với sự không chắc chắn của hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào sự phân bổ giữa biến phí và định phí Trong trường hợp chi phí kinh doanh của doanh nghiệp được tách biệt thành biến phí và định phí thì hệ

số đòn bẩy kinh doanh tại một mức hoạt động của doanh nghiệp có thể được xem xét như sau:

Trong đó: Q: số lượng sản phẩm tiêu thụ

G: đơn Giá bán BPđv : biến phí đơn vị sản phẩm ĐP: tổng định phí

Công thức trên cho thấy, tại một mức hoạt động, tỷ lệ định phí trong tổng chi phí càng lớn thì độ lớn đòn bẩy kinh doanh càng cao và rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn Ngoài ra, hệ số đòn bẩy kinh doanh cho

K = ĐBKD = Q(G-BPđv)

Q(G-BPđv)-ĐP

Trang 22

thấy nếu hệ số này càng cao thì hiệu quả doanh nghiệp có thể đạt được càng cao nhưng rủi ro doanh nghiệp cũng càng lớn Vì chỉ một sự thay đổi nhỏ của doanh thu có thể dẫn đến một sự thay đổi lớn của lợi nhuận Khi doanh nghiệp mở rộng thị trường tăng doanh thu thì lợi nhuận sẽ rất lớn, nhưng khi giảm tiêu thụ thì lợi nhuận cũng sẽ giảm rất nhanh Nguyên nhân có thể do đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp khi có sự thay đổi giá cả yếu tố đầu vào, doanh nghiệp khó khăn trong việc thay đổi giá bán đầu ra, do việc thay đổi giá ảnh hưởng lớn tới số lượng hàng được bán ra [4,Tr 157-139]

* Phân tích rủi ro tài chính thông qua hệ số an toàn

Hệ số an toàn được định nghĩa là tỷ lệ giữa độ chênh lệch giữa doanh thu và doanh thu hòa vốn với doanh thu của doanh nghiệp[ 3,tr 109-111]

at

TT

DT DT H

DT

Ngoài ra ta có thể xem xét mối quan hệ giữa đòn bẩy kinh doanh và hệ số an toàn

Hệ số an toàn của một doanh nghiệp càng lớn thì rủi ro doanh nghiệp của doanh nghiệp càng bé, ngược lại hệ số an toàn càng bé thì rủi ro càng lớn Điều này được giải thích rằng khi hệ số an toàn càng lớn thì tỷ lệ giữa doanh thu trên doanh thu hoà vốn càng lớn, có nghĩa doanh nghiệp đang hoạt động ở mức doanh thu khá xa so với doanh thu hoà vốn và doanh nghiệp ít có khả năng bị lỗ, như vậy rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp thấp

Sản lượng, doanh thu hòa vốn của doanh nghiệp phụ thuộc một phần vào quy mô định phí Trong điều kiện lợi nhuận doanh nghiệp là dương và các nhân tố khác không đổi doanh nghiệp nào có định phí lớn hơn thì điểm hòa vốn lớn hơn, rủi ro sẽ thấp hơn Doanh nghiệp hoạt động càng xa điểm hòa vốn thì rủi ro kinh doanh càng thấp vì những thay đổi về giá bán, chi phí

DT - DThv

Trang 23

sẽ khó dẫn đến sự thua lỗ của doanh nghiệp Ngược lại hoạt động càng gần điểm hòa vốn thì độ lớn đòn bẩy kinh doanh càng cao, rủi ro càng lớn Doanh nghiệp hoạt động quá gần điểm hòa vốn thì sẽ rất mạo hiểm đó là điểm sát với giới hạn thua lỗ

inh hoạ nhận xét trên bằng đồ thị sau:

* Phân tích qua chỉ tiêu xác suất

Để đánh giá tổng quan mức độ rủi ro tình hình tài chính của đơn vị ta trước hết sẽ đánh giá mức độ ổn định của chỉ tiêu hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu, chỉ tiêu này càng ổn định thì rủi ro của doanh nghiệp là càng thấp Tương tự như phân tích rủi ro kinh doanh ta sẽ sử dụng các chỉ tiêu phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên:

Phương sai và độ lệch chuẩn của ROE được tính như sau:

Phương sai ROE

n

2

i=1( )= ( i ) * i

Var ROE ROE ROE p

Độ lệch chuẩn ROE   Var ROE( )

Hai hệ số này đều có tác dụng đánh giá độ biến thiên của ROE qua các năm, ở cùng một mức độ hoạt động và quy mô doanh nghiệp nào có phương sai và độ lệch chuẩn ROE càng nhỏ thì rủi ro tài chính càng thấp Tuy nhiên khi so sánh các doanh nghiệp ở quy mô, đơn vị tính và mức độ họat động khác nhau thì ta phải sử dụng hệ số biến thiên ROE:

Q1xBPđv

Q1xBPđv+ĐP

SDĐP

ĐP DTh v

Chi phí Doanh thu

Sản lượng Hòa vốn Q1 Sản lượng

Trang 24

H ROE

Hệ số này có tác dụng loại bỏ ảnh hưởng của quy mô và đơn vị nên nó

có ý nghĩa so sánh tốt hơn so với phương sai và độ lệch chuẩn khi so sánh giữa các đơn vị

Như đã nói ở trên hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là quyết định một phần bởi việc sử dụng nợ của đơn vị và rủi ro tài chính là rủi ro liên quan đến việc vay nợ cho nên phân tích tổng quan sự biến thiên của ROE không thôi thì sẽ chưa đủ, ta sẽ phân tích độ biến thiên của các chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp Do vậy ta xem xét công thức sau:

Với ∆RRTC là chênh lệch độ biến thiên hiệu quả tài chính

∆Hln/ts là ảnh hưởng của nhân tố hiệu quả kinh doanh

Trang 25

∆ĐBN là ảnh hưởng của độ biến thiên đòn bẩy nợ

1.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính qua chỉ tiêu chỉ số tài chính

Chỉ số tài chính: Không chỉ có ý nghĩa với nhà phân tích tài chính, mà

rất quan trọng với nhà đầu tư cũng như chính với bản thân doanh nghiệp và các chủ nợ Các chỉ số tài chính cho phép chúng ta so sánh các mặt khác nhau của báo cáo tài chính trong một doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong toàn thể ngành để xem xét khả năng chi trả cổ tức cũng như khả năng chi trả nợ vay [5,54-55]

* Chỉ số hiệu quả hoạt động

- Số vòng quay hàng tồn kho: Chỉ tiêu này chỉ nghiên cứu khả năng

luân chuyển của HTK

Số vòng quay hàng tồn kho

=

Giá vốn hàng bán Giá trị hàng tồn kho bình quân Chỉ tiêu này phản ánh khả năng luân chuyển hàng tồn kho của doanh nghiệp Trị giá chỉ tiêu này các cao thì công việc kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá tốt, khả năng hoán chuyển tài sản này thành tiền cao Chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho không chỉ thể hiện hiệu quả kinh doanh lưu chuyển hàng hóa mà còn thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi số vòng quay càng ngắn, chỉ tiêu này có ý nghĩa bổ sung cho các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán ở trên bởi vì số vòng quay này càng ngắn thì các chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành càng có ý nghĩa

Khi phân tích chỉ tiêu này cần quan tâm đến đặc điểm mặt hàng kinh doanh và ngành nghề kinh doanh Có thể tính chỉ tiêu này cho từng nhóm mặt hàng của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng

- Số phòng quay nợ phải thu: khả năng thu được tiền các khoản phải

Trang 26

nhanh Điều này được đánh giá là tốt vì khả năng hoán chuyển thành tiền càng nhanh thì khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ là tốt Chỉ tiêu này có

ý nghĩa bổ sung cho kết quả phân tích chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành

và khả năng thanh toán nhanh ở trên Nhưng chỉ tiêu này quá cao cũng không tốt vì điều này có thể do doanh nghiệp thắt chặt chính sách tín dụng đối với khách hàng, do vậy ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp Vì vậy, khi đánh giá khả năng chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền cần phải xem xét cùng với chính sách bán hàng của doanh nghiệp Chỉ tiêu này có thể tính cho toàn bộ doanh nghiệp hoặc tính riêng cho từng khách hàng

Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = 100%

x

Tổng nợ Giá trị vốn chủ sở hữu

Tỷ số này (%) cho biết quan hệ vốn huy động bằng đi vay và vôn chủ

sở hữu Tỷ số này chỏ chứng tỏ doanh nghiệpnits phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, co nghĩa là doanh nghiệp ít rủi ro Tuy nhiên, nó cung chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh tỷ số của một doanh nghiệp cá biệt nào đó với tỷ số bình quân của toàn ngành

Trang 27

Tỷ số khả năng trả lãi =

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Chi phí lãi vay

Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khó năng trả lãi vay Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không

đủ trả lãi vay Tỷ số khả năng trả lãi chỉ cho biết khả năng trả phần lãi của khoản đi vay, chứ không cho biết khả năng trả cả phần gốc lẫn phần lãi ra sao

Tỷ số khả năng trả nợ = Giá vốn hàng bán + Khấu hao + EBIT

Nợ gốc + Chi phí lãi vay

Tỷ số này cho biết để chuẩn bị cho mỗi đồng trả nợ gốc và lãi, doanh nghiệp có bao nhiêu đồng có thể sử dụng được [4,tr 37-39]

1.2.2.4 Phân tích thông qua đòn bẩy tài chính, đòn bẩy tổng hợp trong phân tích tài chính

* Đòn bẩy tài chính (DFL = Degree of Financial Leverage)

Đòn bẩy tài chính là việc sử dụng các chi phí tài chính cố định như: lãi vay, lợi tức cổ phần ưu đãi, thuê mua tài chính nhằm để khuếch đại lợi nhuận của chủ sở hữu doanh nghiệp[3,tr135]

Dòn bẩy tài chính dùng các chi phí tài chính cố định làm điểm tựa khi một doanh nghiệp sử dụng các chi phí tài chính cố định, một thay đổi trong EBIT sẽ được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn hơn trong thu nhập cảu mỗi cổ phần (EPS) Tác động số nhân này của việc sử dụng các chi phí tài chính cố định được gọi là độ nghiên đòn bảy tài chính

Độ nghiêng đòn bẩy tài chính(DFL) [3,tr42] của một doanh nghiệp được tính như phần trăm thay đổi trong thu nhập mỗi cổ phần do phần trăm thay đổi cho sẵn trong EBIT

Trang 28

Đòn bẩy tài chính có khả năng làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần nhưng cùng lúc đó sẽ đưa doanh nghiệp vào rủi ro lớn Có nghĩa là tỷ suất lợi nhuận càng cao thì nó sẽ càng lớn hơn, ngược lại nếu tỷ suất lợi

nhuận càng thấp nó sẽ càng thấp hơn

Nếu doanh nghiệp họat động kinh doanh hiệu quả mang lại lợi nhuận khi đó việc sử dụng nợ là đòn bẩy nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng ngược lại nếu doanh nghiệp họat động không có hiệu quả thì việc sử dụng nợ sẽ làm cho doanh nghiệp đi đến phá sản vì không có khả năng thanh

tóan các khỏan nợ

- Mục đích phân tích đòn bẩy tài chính:

Nhằm giúp cho các nhà quản trị tài chính thấy được tác động của việc

sử dụng nợ vay lê thu nhập cổ phần của cổ đông thường Và cũng cho thấy độ rủi ro đến vớ doianh nghiệp như thế nào khi doanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ bằng nợ vay.Để xem xét tác động của đòn bẩy tài cvhính lê thu nhập cổ

đông ta thấy cần phân tích mối quan hệ giữa EBIT và EPS

- Đòn bẩy tài chính với giá trị doanh nghiệp :

Đòn bẩy tài chính thể hiện mối quan hệ giữa tổng nợ vay chiếm trong tổng nguồn vốn của một doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định nào đó

Hệ số nợ

=

Tổng số nợ Tổng tài sản

Nhìn vào hệ số nợ ta có thể thấy được khái quát chính sách tài trợ vốn kinh doanh của doanh nghiệp, mức độ an tòan hay rủi ro của doanh nghiệp như thế nào Hệ số nợ càng cao, gánh nặng phải trả lãi vay càng lớn thì rủi ro càng cao, khả năng huy động thêm nợ của doanh nghiệp càng khó khăn và ngược lại

- Phân tích độ nghiêng đòn bẩy tài chính:

Độ nghiêng đòn bẩy tài chính là chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng nợ vay của doanh nghiệp và được định nghĩa là chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ % thay đổi của EPS do kết quả từ việc thay đổi 1% EBIT

Công thức:

Trang 29

DFL =

Tỷ lệ % thay đổi EPS

Tỷ lệ % thay đổi EBIT

DEL = EBIT – R – [ PD/ (1-t)]

- Ta thấy DFL luôn biến động khi EBIT thay đổi EBIT càng xa điểm hòa vốn bao nhiêu thì doanh nghiệp càng gặp ít rủi ro tài chính và ngược lại EBIT càng gần điểm hòa vốn thì doanh nghiệp càng có nguy cơ về rủi ro tài chính bấy nhiêu

- Khi rủi ro tài chính xảy ra thì doanh nghiệp không có khả năng chi trả các khoản chi phí tài chính cố định như:

+ Chi phí trả tiền lãi vay + Chi phí lợi tức cổ phiếu ưu đãi + Chi phí thuê mua tài chính Một khi chi phí cố định tài chính càng cao thì độ nghiêng của đòn cân

nợ càng lớn và ngược lại nếu chi phí tài chính cố định càng thấp thì độ nghiêng đòn cân nợ càng thấp rùi ro tài chính ít xảy ra

*Đòn bẩy tổng hợp:

Đòn bẩy tổng hợp xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng cả hai loại đòn bảy hoạt động và đòn bảy tài chính trong nỗ lực nhằm gia tăng thu nhập cho cổ đông Nó tiêu biểu cho độ phóng đại của gia tăng (hay sụt giảm) doanh

Trang 30

thu thành gia tăng (hay sụt giảm ) tương đối lớn hơn trong thu nhập mỗi cổ

phần,do việc doanh nghiệp sử dụng cả hai loại đòn bẩy

Độ nghiêng đòn bẩy tổng hợp được xác định như là % thay đổi trong

thu nhập mỗi cổ phần từ % thay đổi trong doanh thu

Tỷ lệ thay đổi EBIT Q(P-V) – FC -

DTL = DOL x DFL

Q ( P - V) DTL =

Q ( P – V ) – FC – I – [PD/ (1-t)]

Đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính có thể được kết hợp theo nhiều

cách khác nhau để đạt được mức đòn bẩy tổng hợp và mức rủi ro phù hợp.Rủi

ro kinh doanh cao có thể bù trừ với rủi ro tài chính thấp và ngược lại Tổng rủi

ro của công ty liên quan đến sự đánh đổi giữa rủi ro công ty và thu nhập kỳ vọng

Đánh đổi này phải phù hợp với mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông [3,42-46]

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG LONG

2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG LONG ĐẾN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH 2.1.1 Đặc điểm về công tác tổ chức

2.1.1.1 Lịch sử hình thành

Quá trình thành lập và phát triển của công ty có thể phân thành 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: trước khi cổ phần hóa

Công ty Cổ phần Gạch men Viglace Thăng Long được thành lập dưới hình thức Công ty Cổ phần, được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã được họp ở kỳ thứ 5, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 12/06/1999; Quyết định số 1778/QĐ-TXD ngày 31 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc chuyển nhà máy Gạch men Thăng Long thành Công ty ốp lát Thăng Long Viglacera – Tổng Công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng thành Công ty Cổ phần

Trụ sở chính của Công ty tại Phường Phúc Thắng – Thị xã Phúc Yên – Tĩnh Vĩnh Phúc

Vốn điều lệ của Công ty là: 88.708.850.000đồng

Công ty đang niêm yết tại Sở giao dịch chứng khóa Hà Nội, mã cổ phiếu: TLT

Giai đoạn 2: Từ khi cổ phần hóa đến nay

Công ty được cổ phần hoá và chính thức đi vào hoạt động theo hình thức cổ phần từ ngày 01/01/2006 Đây là bước đánh dấu một mốc chuyển đổi quan trọng trong lịch sử hoạt động, tạo thế chủ động cho công ty trên con đường hội nhập và phát triển Sau khi cổ phần hoá, vốn điều lệ của công ty là 69.898.000.000 đồng

Cổ phần phát hành đầu là: 6.543.700 cổ phần tương ứng với mệnh giá mỗi

cổ phần là 10.000 đồng Trong đó, cổ phần nhà nước là: 5.644.300 tương ứng với 86,25% vốn điều lệ, cổ phần ưu đãi bá cho người lao động trong công ty

Trang 32

chiếm 7,02%( bằng 459.000 cổ phần), cổ phần bán đấu giá chiếm 6,73%( bằng 439.000 cổ phần)

Trong quá trình phát triển, công ty thực sự là cầu nối tin cậy giữa khách hàng với ngành công nghiệp thép Việt Nam và thế giới, thông qua một mạng lưới kinh doanh rộng rãi phục vụ cho nhu cầu của khách hàng tại khu vực và

cả nước Cụ thể ngoài văn phòng, công ty có 3 ĐVTT trãi rộng trên khắp cả nước, hoạt động theo sự phân cấp và uỷ quyền của công ty Nhờ có hệ thống các ĐVTT rộng khắp và sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, công ty luôn thực hiện đầy đủ và kịp thời các cam kết với khách hàng và đã tạo được uy tín

và vị thế trong hoạt động kinh doanh gạch trong và ngoài nước Năm 2008,

2009 công ty cổ phần Viglacera Thăng Long được xếp hạng trong top 500 doanh nghiệp lớn nhất việt nam do báo điện tử vietnamnet kết hợp với công ty

cổ phần báo cáo đánh giá việt nam công bố

+ Chiến lược phát triển trung và dài hạn: tập trung nghiên cứu và triển khai các dự án xây dựng cao ốc văn phòng cho thuê, chung cư cao tầng, kinh doanh dịch vụ kho bãi…

Trang 33

2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý tại công ty cổ phần Viglacera Thăng Long

2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý

2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận

Đại hội đồng cổ đông: bao gồm tất cả các cổ đông có quyền bỏ phiếu

hoặc người được cổ đông ủy quyền, là cơ quan quyết định cao nhất của công

ty Quyền hạn, nhiệm vụ của ĐHĐCĐ được quy định ở điều26 điều lệ công

ty

Hội đồng quản trị: HĐQT là cơ quan quản lý do ĐHĐCĐ bầu và miễn

nhiệm, có đầy đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh công ty

Quan hệ kiểm soát Quan hệ phối hợp Quan hệ chỉ đạo

Khối Chi nhánh:

- Chi nhánh Miền Bắc

- Chi nhánh Miền Trung

- Chi nhánh Miền Nam Các phòng nghiệp vụ

Đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị

Ban Kiểm soát

Trang 34

trừ những thẩm quyền thuộc về ĐHĐCĐ Quyền hạn và nhiệm vụ của HĐQT được quy định tại điều 36 điều lệ công ty

Ban kiểm soát: BKS thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động

kinh doanh, quản trị và điều hành công ty BKS do ĐHĐCĐ bầu và bãi miễn, trong đó ít nhất phải có một thành viên có chuyên môn về kế toán BKS bầu một thành viên làm trưởng ban, quyền và nhiệm vụ của trưởng BKS được quy định tại điều 46 điều lệ công ty

Ban giám đốc: TGĐ là người điều hành mọi hoạt động của công ty,

chịu trách nhiệm trước HĐQT,trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ

và quyền hạn được giao TGĐ là người đại diện theo pháp luật của công ty Quyền hạn và nhiệm vụ của TGĐ được quy định tại điều 42 điều lệ công ty Các phó TGĐ giúp việc TGĐ và chịu trách nhiệm trước TGĐ về các nội dung công việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc đã được TGĐ ủy quyền theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty

Phòng kế toán tài chính: tham mưu cho HĐQT, TGĐ trong lĩnh vực

kế toán và tài chính Theo dõi ghi chép hoá đơn chứng từ; kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh bằng nghiệp vụ; chấp hành nghiêm chế độ báo cáo, quyết toán đảm bảo yêu cầu chính xác, trung thực, kịp thời, đầy đủ; định kỳ tổng hợp và phân tích tình hình hoạt động của công ty báo cáo HĐQT &TGĐ; xây dựng kế hoạch tài chính, vốn, phí, Đảm bảo sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm; tiến hành tự kiểm tra định kỳ công tác tài chính kế toán ở các ĐVTT

Phòng kế hoạch kinh doanh: tham mưu cho HĐQT, TGĐ về các lĩnh

vực: công tác kinh doanh, kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo, quản lý kho hàng hoá Xây dựng kế hoạch, cân đối kế hoạch hàng năm giao cho các đơn

vị, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị thực hiện các kế hoạch Tổ chức thực hiện các tác nghiệp cụ thể về kinh doanh Tổ chức công tác marketing, nghiên cứu

dự báo thị trường Theo dõi, quản lý các hợp đồng kinh tế trong toàn công ty

Phòng xuất nhập khẩu (XNK: tham mưu cho HĐQT, TGĐ trong lĩnh

vực kinh doanh xuất nhập khẩu Xây dựng kế hoạch toàn diện hàng năm về công tác kinh doanh XNK trình TGĐ phê duyệt; khai thác nguồn hàng, khách hàng và tổ chức thực hiện các hợp đồng kinh doanh XNK; theo dõi kiểm tra, quản lý các hợp đồng kinh tế về công tác XNK

Trang 35

Phòng tổ chức hành chính: tham mưu cho HĐQT, TGĐ về các lĩnh

vực: tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo vệ, quân sự, thanh tra, kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, công tác pháp chế quản trị hành chính, an toàn lao động, thi đua khen thưởng, kỷ luật

Phòng đầu tư phát triển: tham mưu cho HĐQT, TGĐ về các lĩnh vực:

công tác đầu tư phát triển, công tác kỹ thuật, công tác xây dựng cơ bản, công tác công nghệ thông tin, công tác quản lý hệ thống chất lượng Nghiên cứu, xây dựng các dự án đầu tư, phát triển; quản lý, sử dụng có hiệu quả tối đa nguồn lực cơ sở vật chất trang thiết bị hiện có của công ty

Ban thu hồi nợ và pháp chế hợp đồng kinh tế: tham mưu cho HĐQT

TGĐ về công tác thu hồi công nợ khó đòi, đề xuất các biện pháp xử lý nợ, công tác pháp chế hợp đồng kinh tế và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế

2.1.2.3 Phân cấp quản lý

Công ty cổ phần Viglacera Thăng Long là một công ty có quy mô lớn:

3 Chi nhánh phân bố trên khắp địa bàn cả nước, vì vậy công tác phân cấp quản lý tài chính tại các chi nhánh phải được quy định chặt chẽ Cụ thể, tình hình phân cấp quản lý tài chính như sau:

Các chi nhánh hoạt động theo quyết định thành lập của HĐQT, được sử dụng con dấu riêng theo quy định của pháp luật hiện hành, được tổ chức hạch toán kế toán phụ thuộc và hoạt động theo các nhiệm vụ kế hoạch được công

ty giao vào đầu năm

Quản lý sử dụng tiền vốn trong hạn mức ghi trong kế hoạch giao từ đầu năm, tài sản, lao động và các điều kiện vật chất khác một cách hợp lý, phù hợp với quy định của công ty nhằm thực hiện với hiệu quả cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch được giao Trong quá trình kinh doanh nếu đơn vị có nhu cầu

bổ sung vốn (ngoài hạn mức đã ghi trong kế hoạch) thì lập phương án giải trình cụ thể, trên cơ sở đó kiểm tra đánh giá và có đề xuất lên TGĐ giải quyết

cụ thể

Trang 36

Các hợp đồng mua bán hàng hóa phải được đăng ký tại phòng KHKD, trưởng các chi nhánh chỉ được ký kết và thực hiện khi đã hoàn thành các thủ tục đăng ký tại phòng KHKD

Trưởng các chi nhánh chịu trách nhiệm trước TGĐ và cơ quan pháp luật nếu xảy ra các thất thoát tiền vốn, tài sản và các vấn đề liên quan đến

sử dụng lao động

Nhiệm vụ kế hoạch của các chi nhánh được các phòng nghiệp vụ của công ty phối hợp với các chi nhánh xây dựng sát với tình hình thực tế và kế hoạch của toàn công ty để trình TGĐ phê duyệt

Các chi nhánh chịu sự chỉ đạo và quản lý toàn diện của công ty, các cơ quan chức năng liên quan theo pháp luật

2.1.2.4 Kết quả hoạt động qua các năm

Sau gần 4 năm đi vào hoạt động dưới hình thức cổ phần, mặc dù bước đầu có những khó khăn nhất định về tình hình biến động nguồn nhân lực, công nợ khó đòi từ DNNN chuyển sang lớn, giá cả thị trường trong nước và thế giới biến động thất thường khó dự đoán , đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh doanh của công ty Nhưng với quyết tâm và lòng nhiệt huyết của ban lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ công nhân viên, hoạt động kinh doanh của công ty đã đạt được những kết quả khả quan thể hiện ở các chỉ tiêu chính như sau:

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động qua các năm

Doanh thu và lợi nhuận công ty liên tục tăng qua các năm, so với năm

2008, năm 2009 doanh thu thuần tăng 15,63 %, lợi nhuận sau thuế tăng 58,58

% Tuy nhiên kết quả kinh doanh lũy kế đến quý II năm 2010 so với năm

2009 là thấp hơn rất nhiều, là do hai quý đầu năm 2009, giá gạch ngói trong

Trang 37

và ngoài nước tăng mạnh dẫn đến doanh thu và lợi nhuận tăng nhanh, nhưng đến đầu tháng 8/2009 giá gạch ngói giảm mạnh, làm cho kết quả quý iv công

ty lỗ 4,67 tỷ, năm 2010, công ty đang dần khôi phục lại

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA THĂNG LONG

2.2.1 Phương pháp, nguồn số liệu dùng để phân tích rủi ro tại Công ty

Với những chỉ tiêu đã xây dựng ở phần lý thuyết, việc thu thập số liệu được thực hiện để đáp ứng cho nhu cầu phân tích Nguồn số liệu chủ yếu được thu thập chủ yếu là báo cáo tài chính năm 2008, 2009, 2010; các báo cáo của công ty kiểm toán AAC các năm 2009, 2010 và báo cáo của công ty kiểm toán phương đông ICA năm 2008 Từ số liệu thu thập được ta sẽ tiến hành tính các chỉ tiêu đã được đề cập đến ở phần lý thuyết phản ánh tình hình rủi ro của doanh nghiệp trong ba năm 2008, 2009, 2010 Đối với mỗi chỉ tiêu tiến hành so sánh kết quả tính được giữa các năm để thấy được xu hướng rủi ro của doanh nghiệp như thế nào, cũng như xem xét có sự biến động nào giữa các năm không và nguyên nhân là gì từ đó để dự đoán và phòng ngừa rủi ro

Và so sánh các chỉ tiêu đó của công ty trong mối tương quan với ngành Do đặc thù một số chỉ tiêu có thể tính được trung bình ngành thì tiến hành so sánh với trung bình ngành, và ngành để so sánh ở đây là ngành xây dựng bao gồm các công ty hoạt động ngành xây dựng được niêm yết ở sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội Đối với một số chỉ tiêu không thể tính được trung bình ngành thì sẽ tiến hành so sánh với một số công ty có cùng đặc điểm và chức năng hoạt động thương mại như công ty để nhận xét

Tuy nhiên, do hạn chế về số liệu, nên đối với các chỉ tiêu cần số liệu chi tiết như chỉ tiêu hệ số an toàn thì do chỉ thu thập số liệu chi tiết được năm

2007, 2008 nên chỉ tính được cho một năm, ngoài các số liệu chính trên thì đề tài còn sử dụng nguồn thông tin thu thập từ việc phỏng vấn các kế toán viên trong công ty để hiểu rõ đặc điểm của công ty

Tóm lại, nguồn thông tin chủ yếu để phân tích vẫn là báo cáo tài chính năm 2007, 2008, 2009, 2010 và phương pháp chủ yếu sử dụng là phương pháp so sánh

Trang 38

2.2.2 Thực trạng công tác phân tích rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần Viglacera Thăng Long

Trong nền kinh tế còn khép kín chưa mở rộng giao lưu kinh tế như trước đây ở Việt Nam, việc phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp

là không được chú ý Ngày nay, việc mở cửa nền kinh tế thị trường với sự phát triển của thị trường chứng khoán dẫn đến thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp phải được công khai, và nhu cầu phân tích tài chính doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư ngày càng tăng Do đó, việc thực hiện phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp bắt đầu được chú ý Qua quá trình nghiên cứu tại công ty cổ phần Vglacera Thăng Long em nhận thấy quá trình phân tích báo cáo tài chính chưa thật sự được quan tâm đúng mức

Trước đây khi chưa cổ phần hoá thì việc tổ chức thông tin phục vụ cho công tác phân tích tình hình tài chính của công ty chỉ là dừng lại chủ yếu ở các báo cáo tài chính Nếu có chi tiết hơn thì chỉ là số liệu từ các sổ cái, sổ chi tiết sẵn có của hệ thống thông tin kế toán sẵn có của doanh nghiệp Việc phân tích của công ty do đó cũng chỉ được thực hiện cuối năm để cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý chứ chưa được thực hiện thường xuyên

Còn sau khi cổ phần hoá do yêu cầu phải công bố thông tin rộng rãi cho các nhà đầu tư và các cổ đông, công ty cũng bắt đầu quan tâm đến việc phân tích báo cáo tài chính Tuy nhiên, việc phân tích cũng như các chỉ tiêu phân tích mà công ty sử dụng cũng còn hạn chế., công ty chỉ mới đi phân tích các chỉ số phản ánh hiệu quả hoạt động, cấu trúc tài chính Việc phân tích các chỉ

số này cũng chỉ dừng lại ở mức độ căn bản, đó là các chỉ tiêu chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản (cơ cấu tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn trong tổng tài sản), chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn (tỷ lệ nợ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn), chỉ tiêu khả năng thanh toán ( khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh) và các chỉ số tỷ suất lợi nhuận (tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, ROA, ROE) Nghĩa là, việc phân tích chỉ dừng lại ở việc tính chỉ tiêu tài chính chưa đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng và nhận xét và đưa ra

tư vấn cho nhà quản trị công ty

Trang 39

Đối với việc phân tích rủi ro tài chính nói riêng thì công ty hoàn toàn chưa thực hiện Việc dự đoán rủi ro của doanh nghiệp chỉ mang tính chất định tính, chứ chưa có được thực hiện dựa trên phân tích tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp Và việc dự đoán rủi ro này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và khả năng phán đoán tình hình thị trường của nhà quản trị doanh nghiệp, chưa có sự hỗ trợ nhiều từ phòng kế toán Do đó, bên cạnh việc phân tích hiệu quả hoạt động, cấu trúc tài chính công ty cũng cần phải phân tích rủi

ro trong hoạt động và đi sâu vào việc đưa ra các đánh giá, nhận xét thông qua các kết quả tính toán được Để từ đó, giúp cho ban quản trị công ty định hướng, dự báo được những biến động cũng như rủi ro mà công ty sẽ gặp phải trong tương lai

2.2.2.1 Phân tích rủi ro tài chính qua độ biến thiên

Như đã đề cập đến ở phần lý thuyết, rủi ro tài chính của doanh nghiệp

có thể được đánh giá bằng sự ổn định trong việc thay đổi kết quả và hiệu quả kinh doanh là cao hay thấp Sự ổn định này có thể được đo lường bằng các chỉ tiêu phản ánh độ biến thiên của chỉ tiêu kết quả kinh doanh (doanh thu và lợi nhuận); chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROA) Mỗi chỉ tiêu đều có ý nghĩa riêng nên để có cái nhìn toàn diện thì phải xem xét độ biến thiên của các chỉ tiêu trên Dưới đây là số liệu về độ biến thiên của các chỉ tiêu này của công ty cổ phần Viglacera Thăng Long và một số công ty cùng ngành để so sánh Kết quả này được tính dựa trên số liệu kết quả kinh doanh của các công ty qua bốn năm 2007, 2008, 2009 và 2010

Bảng 2.2: Chỉ tiêu phản ánh độ biến thiên doanh thu thuần kinh doanh

Trang 40

Các bảng tính toán trên cho thấy việc sử dụng phương sai và độ lệch chuẩn cho kết quả khác với hệ số biến thiên Đó là vì quy mô của các doanh nghiệp này khác nhau và giá trị trung bình của các chỉ tiêu giữa các doanh nghiệp cũng khác nhau nên cần sử dụng hệ số biến thiên để đánh giá rủi ro kinh doanh

 Phân tích rủi ro kinh doanh qua chỉ tiêu doanh thu:

Theo bảng 2.2, hệ số biến thiên của chỉ tiêu doanh thu thuần kinh

doanh của 3 công ty CP Viglacera Thăng Long, công ty CPViglacera Hà Nội

và công ty CP Viglacera Tiên Sơn lần lượt là: 0,1951; 0,40497; 0,3581 Như vậy, hệ số biến thiên doanh thu của công ty là thấp hơn so với các công ty cùng ngành Các công ty này tuy không có cùng quy mô hoạt động với công

ty CP Viglacera Thăng Long nhưng là những công ty có chức năng hoạt động

và đặc điểm hoạt động khá tương đồng, là những công ty chuyên kinh doanh, sản xuất và nhập khẩu gạch ngói các loại Khi so sánh hệ số biến thiên thì yếu

tố quy mô đã được loại trừ, cho nên công ty CP Viglacera Thăng Long có hệ

số biến thiên doanh thu nhỏ hơn so với hai công ty cùng ngành thì theo lý thuyết có thể nói rằng rủi ro kinh doanh của công ty là nhỏ hơn so với hai công ty còn lại Để làm rõ vấn đề này cần xem xét một số yếu tố sau:

Bảng 2.3: Tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu

Doanh thu thuần bán

hàng và CCDV 929.602.900.804 1.183.232.464.658 1.368.151.848.677 925.162.717.796 Giá vốn hàng bán 901.165.043.595 1.133.676.781.768 1.285.269.420.595 887.157.483.918 Lợi nhuận gộp 28.437.857.209 49.555.682.890 82.882.428.082 38.005.233.878

Tỷ trọng giá vốn hàng

bán trên doanh thu 96,9408 95,8118 93,9420 95,8920

+ Từ kết quả trên cho thấy, một trong những yếu tố chính góp phần đem lại sự tăng trưởng trong kết quả kinh doanh của công ty là do công ty đã giảm được tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu (so với hai công ty còn lại thì tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu lại có xu hướng tăng qua các

Ngày đăng: 25/11/2017, 05:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trương Bá Thanh & Trần Đình Khôi Nguyên (Chủ biên) (2001), Phân tích hoạt động kinh doanh, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: Trương Bá Thanh & Trần Đình Khôi Nguyên (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2001
[2] TS. Nguyễn Thanh Liêm (Chủ biên) (2007), Quản trị tài chính, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh Liêm (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2007
[3] Ngô Thị Cúc và các cộng sự (2000), Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Ngô Thị Cúc và các cộng sự
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2000
[4] PGS.TS. Trương Bá Thanh (Chủ biên) (2008), Giáo trình kế toán quản trị, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán quản trị
Tác giả: PGS.TS. Trương Bá Thanh (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[5] TS. Nguyễn Minh Kiều, (2006) Tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thống kê
[6] Trang web của công ty CP chứng khoán www.cophieu68.com [7] Trang web của Công ty cổ phần Viglacera Thăng Long Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w