Việt Nam vốn là một dân tộc anh hùng, giàu lòng yêu nước thương nòi, kính trọng đạo nghĩa, là một dân tộc thấm nhuần giáo lý Khổng Mạnh và tư tưởng các tôn giáo khác từ thời kỳ lập quốc cho tới ngày nay. Nền văn minh nông nghiệp và hệ tư tưởng, triết lý đến từ phương Bắc là Trung quốc đã thấm đượm, nhào nặn dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước mà trong đó gia đình là một cơ cấu căn bản rất cần thiết cho sự sống còn của dân tộc qua trường kỳ lịch sử. Các mối liên hệ tương quan giữa các thành viên trong gia đình Việt Nam đã được biểu thị qua hệ thống tam cương, ngũ luân, ngũ thường mà sách vở kinh điển của Nho gia như Luận ngữ, Mạnh tử, Ðại học, Trung dung hay các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu. Mặc dù là những sách thánh của Trung quốc tự ngàn xưa nhưng những đạo lý này vẫn thường hay nhắc đến, trong đó chữ Hiếu có ảnh hưởng rất đậm nét trong phong cách hành xử của người Việt Nam. Tinh thần hiếu đó đã hun đúc nên tâm tính hiền hòa, nhẫn nhục của người Việt Nam - chính là yếu tố cốt cán giúp cho xã hội bền vững và gia đình phát triển qua nhiều thế hệ. Bởi thế, em chọn đề tài : ‘‘ Giá trị nhân văn của chữ Hiếu trong truyền thống văn hóa Việt Nam’’ . Bài viết là sự cố gắng rất nhiều của bản thân. Tuy nhiên k thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy sửa chữa để bài viết của em hoàn thiện hơn.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam vốn là một dân tộc anh hùng, giàu lòng yêu nước thương nòi, kính trọng đạo nghĩa, là một dân tộc thấm nhuần giáo lý Khổng Mạnh và tư tưởng các tôn giáo khác từ thời kỳ lập quốc cho tới ngày nay Nền văn minh nông nghiệp và
hệ tư tưởng, triết lý đến từ phương Bắc là Trung quốc đã thấm đượm, nhào nặn dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước mà trong đó gia đình
là một cơ cấu căn bản rất cần thiết cho sự sống còn của dân tộc qua trường kỳ lịch
sử Các mối liên hệ tương quan giữa các thành viên trong gia đình Việt Nam đã được biểu thị qua hệ thống tam cương, ngũ luân, ngũ thường mà sách vở kinh điển của Nho gia như Luận ngữ, Mạnh tử, Ðại học, Trung dung hay các kinh Thi, Thư,
Lễ, Nhạc, Xuân thu Mặc dù là những sách thánh của Trung quốc tự ngàn xưa nhưng những đạo lý này vẫn thường hay nhắc đến, trong đó chữ Hiếu có ảnh hưởng rất đậm nét trong phong cách hành xử của người Việt Nam Tinh thần hiếu đó đã hun đúc nên tâm tính hiền hòa, nhẫn nhục của người Việt Nam - chính là yếu tố cốt cán giúp cho xã hội bền vững và gia đình phát triển qua nhiều thế hệ Bởi thế, em
chọn đề tài : ‘‘ Giá trị nhân văn của chữ Hiếu trong truyền thống văn hóa Việt Nam’’ Bài viết là sự cố gắng rất nhiều của bản thân Tuy nhiên k thể tránh khỏi
những thiếu sót Rất mong thầy sửa chữa để bài viết của em hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn Thầy ạ !
I ĐỊNH NGHĨA NHÂN VĂN VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CÁC ĐẠO GIÁO
Trang 21 Định nghĩa nhân văn
Nhân văn : Nhân là con người; Văn : 文 văn vẻ; văn từ; cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là "văn", như văn minh, văn hóa (Hanosoft Dictionary )
Tính nhân văn: phẩm chất tốt đẹp, đạo đức, sáng tạo của con người Tính nhân văn được thể hiện trong những lãnh vực như lịch sử, văn hóa, triết học, tâm lý học
Chủ thuyết nhân văn: bao gồm tất cả những cố gắng, tư tưởng và trào lưu lấy con người tiến lên tự do làm trung tâm, _xuất phát từ sự tôn trọng giá trị con người, tin vào sức sáng tạo vô biên của con người, yêu con người và cuộc sống trần gian Chủ trương phát triển mọi khả năng con người và xã hội.[1]
2 Giá trị nhân văn của các đạo giáo
Nếu quy chiếu những định nghĩa vừa kể vào thánh ngôn của Đức Thái Thượng Đạo Tổ trên đây, chúng ta sẽ nhận thức rõ ràng rằng các đạo không đòi hỏi người giữ đạo những gì khác hơn là những tiêu chuẩn của nhân văn như:
- Tự biết mình,
- Bảo trì nhân bản của nhân lọai và phục vụ cho hạnh phúc chung cho nhân Loại Như thế, có thể nói một câu rốt ráo rằng các mối đạo chân chính đều nhắm mục đích thiết thân của con người là quay về với chính mình, với chính phẩm chất nhân tính của xã hội loài người
a Đạo lão
Đạo Đức Kinh là một học thuyết triết học mà các học giả kim cổ Đông Tây đều rất bái phục về vũ trụ luận và đạo đức luận Đặc điểm của học thuyết là không
đề cập các giáo điều hay tín ngưỡng, mà chủ yếu dạy cho con người lối sống tự chủ
Trang 3phù hợp với qui luật vũ trụ Tính tích cực của Đạo Đức Kinh là ứng dụng các nguyên lý vận hành của Đạo (vũ trụ) để phát huy thành Đức, tức là thực hành các nguyên tắc trị thân (cá nhân con người) và trị thế (xã hội nhân lọai)
b Đạo phật
Đạo Phật thường nhắc đến tuyên ngôn bất hủ của Đức Thế Tôn Thích Ca:
"Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn" Nếu hiểu đó là câu nói tự tôn của Ngài thì thật là sai lầm Cái "ngã" ở đây chính là "con người lớn" mà Đức Lão Tử đã đề cập
Đó là con người đang mang cái Đạo nội tại, là bất cứ ai làm người đều là một chủ thể đáng được đề cao, suy tôn; là đối tượng cần phải chú trọng phát huy bản thể tức
là khả năng tự tiến hóa và tác động vào cuộc tiến hóa của mọi người Nói cách khác, "cái ngã độc tôn" là đầu mối duy nhất để phăng ra chân lý tự do tự chủ của con người trong trời đất Chỉ với một câu nói đó cũng đủ xác định giá trị nhân văn của Phật đạo
c Đạo Khổng
Tính nhân văn rõ nét hơn cả đạo Lão và đạo Phật, đạo Khổng khiến chúng ta có cảm nhận rất gần gũi với con người trong đời sống thực tiễn Rốt ráo nhất là lý luận
về đức Nhân trong sách Luận Ngữ
Luận Ngữ IV:02: " Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân" ( Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân)
Luận Ngữ X:08 "Chí sĩ nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân." (Người sĩ có chí và người có đức nhân không cầu sống mà làm hại điều nhân, mà có khi hi sinh tính mạng để làm điều nhân)
II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VN
1 Những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Trang 4- Quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng triết học VN là quá trình phát triển song trùng hợp nhất giữa 2 xu hướng là xu hướng tự thân và xu hướng tiếp biến của các tư tưởng triết học được du nhập từ bên ngoài
- Trong cấu trúc ý thức hệ VN, chủ nghĩa yêu nước với nội dung cơ bản là tư tưởng cố kết cộng đồng và độc lập chủ quyền quốc gia đã thường được xác định ở vào vị trí trung tâm của lịch sử tư tưởng và văn hóa
- Các tư tưởng triết học ở tầm hệ thống các quan điểm thường được trình bày dưới hình thức trước tác của các triết gia và theo phương thức lý luận
- Các tư tưởng triết học Việt Nam :
* Tư tưởng triết học chính trị, đạo đức và nhân văn trong lịch sử tư tưởng triết học VN
+ Tư tưởng yêu nước trong lịch sử tư tưởng triết học VN
+ Quan niệm về đạo làm người trong lịch sử tư tưởng triết học VN
* Tư tưởng triết học phật giáo trong lịch sử tư tưởng triết học VN
* Tư tưởng triết học nho giáo trong lịch sử tư tưởng triết học VN
* Sự đối lập giữa thế giới quan duy vật và duy tâm, triết học và tôn giáo trong lịch sử tư tưởng triết học VN
2 Một số ý niệm về chữ Hiếu trong các tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là đất nước có sự hòa trộn, gặp gỡ và hội tụ của nhiều tôn giáo như Nho, Phật, Lão (tam giáo đồng quy) và về sau với sự góp mặt của Thiên Chúa Giáo cùng với một số tôn giáo có tính cách địa phương như Cao đài, Hòa hảo nên có thể nói được rằng ảnh hưởng của các tôn giáo đã đặt những dấu ấn rõ rệt trong nền văn hóa của dân tộc mà điển hình là một số ý niệm của các tôn giáo về vấn đề chữ hiếu nói chung Có thể nói hầu hết mọi tôn giáo và triết thuyết Á đông đều khuyến khích con cái sống hiếu thảo đối với cha mẹ, các bậc trưởng thượng và tinh thần hiếu đễ
có khi được coi là một tập tục sâu sắc, một tín ngưỡng (hiếu đạo)
a Phật giáo và chữ hiếu:
Trang 5Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn tại Việt Nam mà ảnh hưởng đã thấy rõ trong các lãnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng, xã hội trong suốt quá trình lịch sử của đất nước Có nhiều ý kiến khác nhau nói về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam
Theo giáo sư Nguyễn Ðăng Thục: Bước đầu lịch sử Phật học ở An nam chỉ bắt đầu từ thế kỷ III sau Công nguyên nhất là nếu chúng ta không kể sách Mâu Tử như là một tác phẩm chân thật của thời kỳ 190-200
Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Thiền Sư Nhất Hạnh cho rằng đạo Phật
đầu tiên do các thương gia Ấn Ðộ đem đến Những người này không phải là những nhà truyền giáo, họ chỉ sống đời sống tín ngưỡng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu, và chính vì vậy mà người Giao Châu biết đến đạo Phật Qua những ghi nhận
tổng quát này, Thích Nhất Hạnh, tiếc thay, không cho biết rõ ràng hơn về thời điểm
có mặt của Phật Giáo trên đất nước ta
Nhưng, có lẽ công trình nghiên cứu thấu đáo về Phật Giáo hơn cả phải kể đến bộ sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát trong đó tác giả này cho biết Phật Giáo có thể đã xuất hiện khoảng thế kỷ thứ II-III trước dương lịch Luận cứ của Lê Mạnh Thát cũng không có gì vững chắc nếu tác giả này nhớ rằng nền văn minh của Ấn Ðộ hay nền văn minh Angkor của Campuchia là nền văn minh của đá nghĩa là tất cả các hình thái nghệ thuật của họ đều thể hiện bằng chất liệu đá thì cần gì phải đợi đến mấy trăm năm về sau nghệ nhân xứ đó mới sử dụng
đá để làm tấm bia Võ Cảnh? Họ có thể sử dụng đá ngay khi mới đến định cư tại vùng đất phía nam cổ Việt khoảng thiên niên kỷ thứ hai trước Tây Lịch nếu kiến giải của Stephen Oppenheimer trong Eden in the East là đúng
Trải qua quá trình lịch sử, Phật Giáo đã có những giai đoạn thăng trầm nhưng tinh thần từ bi hỉ xã của Phật Giáo vẫn là những nét trỗi bật trong nỗ lực hòa đồng với các tôn giáo khác và nhất là thể hiện truyền thống đạo hiếu trong các lễ nghi và bản sắc văn hóa của mình Mùa Vu lan của Phật giáo là mùa báo hiếu và trong thời kỳ quân chủ trước đây có khi công cuộc tổ chức các lễ lạc được tiến hành từ trong chốn triều đình ra ngoài dân gian Mùa hạ năm 1434 vua Lê Thái
Tông sai các quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về kinh đô để làm lễ cầu mưa Lại
Trang 6cho phóng thích một số tù nhân, và dựng trai đàn chẩn tế ngay ở điện Cần Chánh
để tu tạo công đức, cầu cho có mưa Rằm tháng bảy năm ấy, vua lại cho tổ chức đại hội Vu Lan, mời chư tăng đến cầu nguyện, rồi cúng dường chư tăng và phóng thích thêm năm mươi tù nhân nữa.
Với Phật giáo, Vu-Lan-Bồn là một phương pháp báo hiếu có hiệu quả nhất Theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Vu-Lan-Bồn là phiên âm theo tiếng Phạn
Người Trung Hoa dịch là: giải đảo huyền, nghĩa đen là cổi trói người bị treo ngược; nghĩa bóng là cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề như đang bị treo ngược
Cũng theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa việc báo hiếu có nhiều cách nhưng không ngoài hai phương diện: vật chất và tinh thần tức là lo cho cha mẹ miếng ăn thức uống, áo quần, chỗ ở và làm cho tinh thần cha mẹ được nhẹ nhàng cao thượng
và đi dần đến chỗ giải thoát
Câu chuyện Quan Âm Thị Kính nói việc Thị Kính bị mang tiếng oan có âm mưu giết chồng (Thiện Sĩ), chịu sỉ nhục tàn tệ phải cải dạng nam nhi mà đi tu, lại bị Thị Mầu quyến rũ không được, phải nhận nuôi con rơi của Thị Mầu, rồi sau đó chết
vì sức khỏe mõi mòn, cuối cùng nàng được Phật tổ truyền cho thành Phật Quan Âm
và được sư cụ chùa Vân (nơi nàng đi tu) bày tỏ công đức:
Ý của sư cụ là khi Thị Kính chứng quả, nàng có thể độ luôn được cả mẹ cha, Thiện Sĩ, đứa con thơ và vô biên hằng hà sa số người khác Như vậy nghĩa là
tu theo đạo Phật cũng có thể đền đáp công ơn cha mẹ và giúp đời cứu người, chữ hiếu, chữ nhân trọn vẹn, và đạo Phật không trái chống với nguyên tắc của Nho giáo
Theo Thiền Sư Nhất Hạnh, sự tích Quan Âm Nam Hải đã được Việt hóa một cách hoàn toàn Ðức Quan Âm này, tuy là công chúa thứ ba con vua Diệu Trang ở nước Hưng Lâm, nhưng đã đi tu tại núi Hương Tích ở Việt Nam và thành Phật tại đây Truyện do một vị tăng đời Nguyên sáng tác Công chúa thứ ba tên Diệu Thiện không muốn lấy chồng mà quyết chí đi tu Nàng bị vua cha tìm mọi cách cản trở, hành hạ, ra lịnh xử chém, nhưng được một mãnh hổ cứu thoát Nàng
có dịp xuống địa ngục chứng kiến mọi cảnh khổ, vâng lời Phật dạy về tu tại núi Hương Tích, dùng một tay và một mắt của mình trị bệnh nan y cho vua cha, thuyết
Trang 7phục được cha mẹ bỏ ác làm lành rồi cả nhà cùng tu hành tại chùa Hương Tích Hai nàng công chúa (chị của nàng) Diệu Thanh và Diệu Âm trở thành Văn Thù Bồ Tát
và Phổ Hiền Bồ Tát
Cũng như truyện Quan Âm Thị Kính, truyện Nam Hải Quan Âm chủ trương rằng tu theo đạo Phật vẫn có thể làm tròn chữ hiếu và thực hiện chữ nhân 19
Ngoài ra, một tôn giáo khác ở Việt Nam, Phật Giáo Tứ Ân cũng gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương hay đạo Lành do Ðoàn Minh Huyên (1807-1856) cũng gọi là Phật thầy Tây-An, thành lập tại xã Long Kiến, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang, chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, đơn giản hóa các lễ nghi Phật Giáo cho phù hợp với dân tình và khung cảnh đất đai Nam Bộ, nhất là chủ trương đáp đền bốn ơn lớn gọi
là tứ đại trọng ân đó là ơn tổ tiên cha mẹ (hiếu), ơn đất nước (trung), ơn tam bảo (phật, pháp, tăng), ơn đồng bào và nhân loại (con người) Phật Giáo Tứ Ân do Ðức Phật Thầy Tây An thành lập truyền được ảnh hưởng lớn với các chi phái về sau như Phật Trùm, Ðức Bổn Sư Ngô Văn Lợi, Sư Vải Bán Khoai, Nguyễn Ða v.v về sau có được 12 vị đại đệ tử như các ông Trần Văn Thành, Nguyễn Văn Thới, và sau này là Phật Giáo Hòa Hảo của Ðức Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) Chữ hiếu cũng luôn được chú trọng đề cao trong các tôn giáo trên đây
b Nho gia bàn về chữ hiếu.
Kinh Thi của Trung hoa cũng coi như ca dao, tục ngữ của Việt Nam là một
bộ môn văn chương bình dân tối cổ, cũng có những câu nói về công ơn cha mẹ rất Nghĩa là: cha sinh ta, mẹ nuôi ta Hỡi ôi, cha mẹ sinh ta cực nhọc Muốn đền đáp
âm đức của cha mẹ, như vói lên trời cao chẳng cùng
Khổng tử quan niệm chữ hiếu ở một mức độ rất cao Trong sách Trung dung, Khổng tử có nói rằng: Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như
sự tồn, hiếu chi chí giã (nghĩa là: kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc hãy còn, ấy là hiếu đến rất mực vậy)
Trong lần khác, Khổng tử nói quan hệ của con cái đối với cha mẹ cũng thể hiện trong cuộc sống, cách sống Khi cha mẹ còn, không bao giờ làm điều gì đề cho
Trang 8cha mẹ lo buồn, bởi vậy không nên đi đâu xa, có đi xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi để cha mẹ khỏi lo, và nhỡ có việc gì, có thể tìm gọi được: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương” (Luận ngữ: Lý nhân, IV)
Nhưng đối với Ðức Khổng, tinh thần trung dung luôn luôn được sử dụng như là một thái độ cần thiết trong cuộc sống con người Một hôm Diệp-công bảo Khổng tử rằng: “Ngô đảng hữu trực cung giả, kỳ phụ nhương dương, nhi tử chứng chi” (xóm chúng tôi có người cứ lấy cái thẳng mà khiến mình: cha đi ăn trộm dê,
mà con đi làm chứng) Ngài nói rằng: “Ngô đảng chi trực giả dị ư thị, phụ vi tử ẩn,
tử vi phụ ẩn, trực tại kỳ trung hỹ” (người thẳng xóm chúng tôi thì khác thế: cha che chở cho con, con che chở cho cha, cái trực ở trong đó vậy.- Luận ngữ, Tử Lộ, XIII)
Ðức Khổng rất đề cao chữ hiếu vì đó là căn bản ứng xử của con người, từ
đó mà việc thảo kính của con cái đối với cha mẹ đã được xem như là một đạo hiếu (hiếu đạo) và những tư duy về nguyên tắc căn bản trong sự đối đãi giữa con cái đối với cha mẹ có thể tìm thấy trong Hiếu kinh của họ Khổng Mạnh tử cũng có
nói : “Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại.” nghĩa là trong ba điều bất hiếu thì việc không có con nối dõi là điều bất hiếu to nhất
Nói chung học thuyết Khổng Mạnh chú trọng đến chữ hiếu, đề cao chữ hiếu cho nên những lời Khổng tử nói với Tăng tử về chữ hiếu gồm thành một quyển sách gọi là Hiếu kinh, các nguyên tắc ứng dụng cho tròn chữ hiếu, các nghi thức thực hành hiếu đễ gọi là hiếu đạo đã ảnh hưởng rất sâu xa trong một số xã hội Á đông trong đó có Việt Nam từ xưa cho đến nay
III CHỮ HIẾU TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM.
Trong gia đình cũng như ngoài xã hội Việt Nam, qua giao tiếp giữa người này với kẻ khác, vấn đề trung, tín, hiếu, đễ luôn luôn là chuẩn mực để đánh giá tư cách con người, bởi thế mà tục ngữ Việt Nam có câu: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng” Dĩ nhiên tiếng ở đây gồm hai lãnh vực tốt và xấu trong đó vấn đề chữ hiếu
1 Các chứng liệu chữ H iếu trong văn học , thơ ca dân gian
Trang 9Dân tộc Việt Nam vốn là dân tộc hiếu đễ, tôn trọng luân thường đạo lý, kính trọng tổ tiên, ông bà, cha mẹ nên trong các hình thức văn chương bình dân như ca dao, tục ngữ những vấn đề đạo đức, luân lý cũng được nói đến với tất cả sự đề cao, trân trọng:
“Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
hoặc: “Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ”
hay là so sánh: “Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,
Con nuôi mẹ con kể từng ngày”.
Công ơn cha mẹ thể hiện từ khi sinh ra, thời gian đi học cho đến tuổi trưởng thành: Con học, thóc vay.- Gia cảnh dù túng thiếu, cha mẹ vẫn chạy vạy chỗ này
chỗ nọ để có phương tiện nuôi cho con đi học Con đóng khố, bố cởi truồng.- Sự hy sinh về vật chất để cho con cái đầy đủ Con lên ba cả nhà học nói.- Niềm vui và sự cộng tác của mọi người để dạy con Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.- Kinh nghiệm khôn ngoan học hỏi ở cha mẹ để tránh được thất bại mà đạt đến thành công Cơm cha áo mẹ ăn chơi, Cất lấy cơm người đổ bát mồ hôi.- Thừa hưởng công sức của cha mẹ một cách vô tình trong khi gặp cảnh khó khăn, cô đơn lẻ loi thì phải làm cật lực mới có cái ăn Còn cha ăn cơm với cá, còn
mẹ liếm lá ngoài cửa.- Nói về khả năng nuôi con cái của cha hay mẹ Con có cha như nhà có nóc.- Nói về sự vững vàng khi con còn có cha Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.- Sự hy sinh chẳng quản đến thân mình của người mẹ.
Ca dao khuyên răn:
“Ðói lòng ăn đọt chà là
Ðể cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.
Trang 10Kho tàng tục ngữ ca dao của dân tộc còn có rất nhiều câu nói phản ảnh tinh thần hiếu đạo và mối liên hệ giáo huấn của cha mẹ đối với con cái Những câu nồng nàn lòng yêu thương và niềm cảm mến nuối tiếc của con cái đối với bậc cha
mẹ khi những người thân này đã khuất bóng:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”
Ðối với các bậc trí thức khoa bảng Việt Nam trước đây, việc trứ thuật các tác phẩm nhắm mục đích giáo dục tinh thần hiếu đễ cho con em được xem như là một trong những chủ đích của mình Các tác phẩm văn học nổi tiếng như Ðoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Ðình Chiểu cũng được xây dựng trên chủ đề chữ hiếu Sau đây là điển hình một số tác giả có tác phẩm viết về vấn đề chữ hiếu, đạo hiếu
Nguyễn Trãi là một bậc khai quốc công thần của nhà Hậu Lê Ông sinh năm
1380, con trai Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh Khi Lê Lợi lên ngôi, ông được phong tước Quan Phục hầu, làm Nhập Nội Hành Khiển dưới thời Lê Thái Tông Sau ông bị gặp phải vụ án Nguyễn Thị Lộ mà bị tru di tam tộc năm 1442 Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm viết bằng chữ Hán như Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, Ức trai thi tập, trong số đó có tập “Gia huấn ca (bài hát dạy người
nhà) Tập này có sáu bài ca: 1 Dạy vợ con; 2 Dạy con ở cho có đức; 3 Dạy con gái; Vợ khuyên chồng; 5 Dạy học trò ở cho có đạo; 6 Khuyên học trò phải chăm
họ Chủ ý tác giả là đem các điều cốt yếu, trong luân thường diễn ra lời nôm cho đàn bà trẻ con đọc Ðặt ra ngoài tính cách nghi ngờ về tác giả sách Gia huấn ca, chúng ta cũng nhận chân được ý thức về giá trị của tinh thần hiếu đạo mà người xưa thường quan niệm.
“Hiếu tự ca nói về chữ hiếu của người Việt Nam, đối với cha mẹ và tổ tiên Tất cả là người đã sinh ra đều mang nợ với tổ tiên và cần báo đền
Mấy lời hiếu tự nói qua,
“ Ðể cho ai nấy trẻ già nhớ ơn.
Làm người sống ở thế gian,