1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phân tích cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

116 180 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.10 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo tốc độ tăng trưởng 57 3.11 Đặc trưng khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam 58 3.12 Đặc điểm cấu trúc tài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ ÁI HIỀN

PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNGCHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số : 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Bá Thanh

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ái Hiền

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

6 Bố cục đề tài 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 10

1.1.TỔNGQUANVỀCẤUTRÚCTÀICHÍNHDOANHNGHIỆP 10

1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp 10

1.1.2 Cấu trúc tài chính doanh nghiệp 11

1.1.3 Lý thuyết về cấu trúc tài chính doanh nghiệp 17

1.2.NỘIDUNGPHÂNTÍCHCẤUTRÚCTÀICHÍNHDOANHNGHIỆP 27 1.2.1 Phân tích tỷ suất nợ 27

1.2.2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc tài chính doanh nghiệp 27

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÀNH THỰC PHẨM VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31

2.1.ĐẶCĐIỂMCỦANGÀNHTHỰCPHẨMNƯỚCTA 31

2.1.1 Giới thiệu về ngành thực phẩm Việt Nam 31

Trang 4

2.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc

nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt

Nam 32

2.2THỰCTRẠNGCẤUTRÚCTÀICHÍNHCỦACÁCDOANHNGHIỆP THUỘCNGÀNHTHỰCPHẨMNIÊMYẾTTRÊNTHỊTRƯỜNGCHỨNG KHOÁNVIỆTNAM 36

2.2.1 Tỷ suất nợ 36

2.2.2 Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu bình quân 38

2.2.3 Đặc điểm cơ cấu nợ phải trả 40

2.3.THIẾTKẾNGHIÊNCỨU 43

2.3.1 Giả thuyết nghiên cứu 43

2.3.2 Mô hình nghiên cứu 46

2.3.3 Mô tả và đo lường các biến 47

2.3.4 Quy trình nghiên cứu 49

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 50

3.1.ĐẶCĐIỂMCẤUTRÚCTÀICHÍNHCỦACÁCDOANHNGHIẸP THUỘCNHÓMNGÀNHTHỰCPHẨMNIÊMYẾTTRÊNTHỊTRƯỜNG CHỨNGKHOÁNVIỆTNAM 50

3.1.1 Đặc điểm của tỷ suất nợ của các doanh nghiệp nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 50

3.1.2 Đặc trưng của các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 52

3.2.KẾTQUẢPHÂNTÍCH 61

3.2.1 Kiểm tra số liệu 61

Trang 5

3.2.2 Phân tích hệ số tương quan từng phần r 62

3.2.3 Phân tích hồi quy tuyến tính bội giữa biến phụ thuộc và biến độc lập là các nhân tố ảnh hưởng 64

3.2.4 Kết quả mô hình nghiên cứu 74

CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 75

4.1.KẾTLUẬNVỀCẤUTRÚCTÀICHÍNH 75

4.1.1 Kết luận từ kết quả nghiên cứu 75

4.1.2 Đánh giá kết quả nghiên cứu cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 78

4.2.HÀMÝCHÍNHSÁCH 80

4.3.KIẾNNGHỊ 81

4.3.1 Kiến nghị với doanh nghiệp 81

4.3.2 Kiến nghị với nhà nước 87

KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 6

LNTT Lợi nhuận trước thuế MHHQ Mô hình hồi quy M&M Modigliani và Miller

Trang 7

2.4 Tỷ suất nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu bình quân 39

2.6 Bảng tóm tắt sự tương quan giữa cấu trúc tài chính và

các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính 46

3.1 Đặc trưng tỷ suất nợ của các doanh nghiệp thực phẩm

niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 50 3.2 Nhóm các tỷ suất nợ của các doanh nghiệp 51

3.3 Đặc trưng quy mô của các doanh nghiệp thực phẩm niêm

3.4 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo quy mô doanh nghiệp 53

3.5 Đặc trưng cơ cấu tài sản của các doanh nghiệp thực

3.6 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo cơ cấu tài sản 55

3.7 Đặc trưng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh

nghiệp thực phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam 55

3.8 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo hiệu quả hoạt động kinh

3.9 Đặc trưng tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp thực

Trang 8

3.10 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo tốc độ tăng trưởng 57

3.11 Đặc trưng khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp

thực phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam 58 3.12 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo khả năng thanh toán 59

3.13 Đặc trưng rủi ro kinh doanh của các doanh nghiệp thực

3.14 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo rủi ro kinh doanh 60

3.15 Đặc điểm cấu trúc tài chính theo hình thức sở hữu doanh

3.21 Các thông số thống kê trong mô hình 70

4.1

Giả thuyết và kết quả phân tích thực nghiệm sự

ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hinh đến cấu trúc

tài chính

79

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Số

1.1 Cơ cấu vốn tối ưu khi có thuế và chi phí khốn khó tài chính 23

2.1 Tốc độ tăng doanh thu của doanh nghiệp thực phẩm niêm

2.2 Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu qua 3 năm 36 3.1 Đồ thị phân tán giữa các phần dư và giá trị dự đoán 72

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một cấu trúc tài chính hay một cơ cấu tài trợ phù hợp là quyết định quan trọng đối với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi tối đa hóa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh

Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm nên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là những doanh nghiệp đang phát triển

và tăng trưởng cao Nhưng nền công nghiệp thực phẩm ở Việt Nam vẫn phát triển ở mức trung bình, đa số phải nhập khẩu nguyên liệu, phụ thuộc vào tỉ giá, do đó tác động khá mạnh đến kết quả kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp niêm yết trong ngành Do vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như khẳng định và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần thực hiện nhiều biện pháp, trong đó việc lực chọn một cấu trúc tài chính hợp lý là một trong những biện pháp hết sức quan trọng và cần thiết.Với lý do trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài: Phân tích cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêmyết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về cấu trúc tài chính và các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

Vận dụng các lý thuyết tài chính và các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc tài chính vào trong một ngành cụ thể ở Việt Nam để phân tích thực trạng cấu trúc tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để từ đó phân tích và đánh giá thực trạng cấu trúc các công

Trang 11

ty cổ phần ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Từ đó

Kiểm định sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc tài chính và từ đó đưa ra các kiến nghị dựa kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc xác định cấu trúc tài chính góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho công ty đồng thói giúp cho các tổ chức cá nhân liên quan có thể đánh giá, nhìn nhận đúng đắn về tình hình tài chính của các công ty nhằm phục vụ cho mục tiêu của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiện cứu:

Nghiên cứu này được thực hiện đối với cấu trúc tài chính của các công

ty thuộc nhóm ngành thực phẩm để phân tích và đánh giá thực trạng cấu trúc các công ty cổ phần ngành thực phẩm được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu được lấy từ Báo cáo tài chính của các công ty cổ phần ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong ba năm 2011, 2012, 2013

+ Phạm vi về nội dung: Luận văn này tập trung nghiên cứu về thực trạng cấu trúc tài chính và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các công ty cổ phần ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

+ Phạm vi về không gian: Luận văn chỉ giới hạn những công ty niêm yết có đầy đủ thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu Vào ngày 02/05/2013 công ty cổ phần Thực phẩm Quốc tế bị hủy niêm yết Và ngày 04/07/2013 công ty cổ phần tập đoàn Thái Hòa Việt Nam bị huỷ niêm yết Nên tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, có 28 doanh nghiệp thuộc nhóm

Trang 12

ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam công bố báo cáo tài chính năm 2013.Vì vậy, luận văn thực hiện nghiên cứu với 28 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã công bố báo cáo tài chính năm 2013.

4 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài: trong các tài liệu, giáo trình về lý thuyết cấu trúc tài chính…

- Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác: Trong các tạp chí, báo cáo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học… có liên quan đến cấu trúc tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính

- Chủ trương, chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu: Chủ yếu

là các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước điều chỉnh các nội dung liên quan đến tài chính doanh nghiệp

- Số liệu phục vụ cho nghiên cứu của đề tài: chủ yếu là các báo cáo tài chính của các công ty cổ phần thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2011 -> 2013, các số liệu thống kê ngành

Sử dụng công cụ thống kê kế toán với sự hỗ trợ của các phần mềm tính toán các chỉ số trên excel, sử dụng chương trình SPSS 16.0 tiến hành chạy và kiểm định mô hình hồi quy, xác điịnh các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính, từ đó rút ra kết luận làm cơ sở để hoạch định chính sách tài chính của các doanh nghiệp và đưa ra một số kiến nghị phù hợp với hiện trạng của ngành thực phẩm

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước về cấu trúc tài chính doanh nghiệp để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài này

Trang 13

- Nhận dạng và phát hiện xu hướng cấu trúc tài chính của các công ty

cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Phân tích được thực trạng cấu trúc tài chính và xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các công ty cổ phần ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

-Đưa ra các giải pháp dựa vào đặc thù của ngành thực phẩm nhằm hoàn thiện cấu trúc tài chính của các công ty cổ phần thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Chương 2:Đặc điểm ngành thực phẩm và thiết kế nghiên cứu cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 3:Kết quả phân tích cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nói đến cấu trúc tài chính là đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính thông qua các phương án kết hợp giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu Cấu trúc tài chính tối ưu là phương án mà tại đó doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao nhất với chi phí vốn nhỏ nhất Cấu trúc tài chính tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp

Lý thuyết của Modigliani và Miller (1958, 1963) đã có những đóng góp về việc giải thích các quyết định tài trợ của các nhà quản lý Lý thuyết

Trang 14

này cho rằng trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo, khi có thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp đầu tư bằng 100% vốn vay là tối ưu Tuy nhiên M&M đã không quan tâm đến gánh nặng nợ đối với doanh nghiệp Và điều này đã mở đầu cho những nghiên cứu sau này để xác định chi phí đầu tư vay nợ sao cho tạo ra được lợi thế về thuế thu nhập doanh nghiệp Sau đó lý thuyết cân đối của Jensen và Meckling (1976) đã được hình thành và thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf được công bố năm 1984 để giải thích

sự lựa chọn cấu trúc tài chính sau khi loại bỏ giả thiết không phù hợp của M&M

Bên cạnh các lý thuyết phát triển nhanh chóng thì các nghiên cứu thực nghiệm cũng từ từ theo sau Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về cơ cấu tài chính, đặc biệt ở các nước phát triển, nơi mà có hệ thống thông tin minh bạch, đầy đủ và đáng tin cậy Đối với các nước phát triển như

Mỹ, Nhật, Pháp,… vấn đề cấu trúc tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp luôn là một vấn đề rất được quan tâm, và đã

có nhiều nghiên cứu, nổi bật là nghiên cứu của Graham và Harvey (2001) đã phân tích cơ cấu tài chính cho 392 công ty Mỹ và tìm thấy một số bằng chứng

về các nhân tố khác như chi phí đại diện, tài sản thay thế, dòng tiền mặt ảnh hưởng đến sự lựa chọn cơ cấu tài trợ Bên cạnh đó còn có nhiều nghiên cứu khác như Marsh (1982), Bradley etal (1984), Kim và Sorence (1986), Titman

và Vessels (1988), Booth etal (2001)… nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp

Đối với luận văn, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành như xây dựng, xây lắp, du lịch,… Hầu hết trong các nghiên cứu đều tập trung vào

3 nội dung bao gồm: cơ sở lý luận về cấu trúc tài chính, thực trạng cấu trúc tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của nhóm ngành Tuy

Trang 15

nhiên, mỗi luận văn đều có những điểm khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính trong mỗi nhóm ngành

Đầu tiên có thể kể đến đó là luận văn của tác giả Nguyễn Hải Sơn

(2001) với đề tài “Cấu trúc tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc

tài chính của các doanh nghiệp du lịch Thừa Thiên Huế” Luận văn cung cấp

lý luận về cấu trúc tài chính là cấu trúc tài sản và cấu trúc vốn Đối với ngiên cứu này tác giả đã phân tích về cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc ngành du lịch bao gồm cấu trúc tài sản, cấu trúc nuồn vốn, thực trạng cấu trúc tài chính và chỉ ra có 5 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính đó là: tỷ suất sinh lời kinh tế, tỷ suất sinh lời tài sản, lãi suất vay ngân hàng, tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu và quy mô hoạt động doanh nghiệp

Luận văn nghiên cứu của tác giả Lê Thị Mỹ Phương (2012) với đề tài

“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công ty cổ phần

ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội” Luận văn nêu

lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính Tác giả chỉ ra thực trạng của ngành xây dựng năm 2011 và đã sử dụng mô hình hồi quy của kinh

tế lượng để khảo sát ảnh hưởng của các nhân tố: quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán và tỷ lệ vốn nhà nước đến đòn bẩy tài chính trong các doanh nghiệp

Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Trinh (2008) “Phân tích các

nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính nhằm lựa chọn các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tài trợ của các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh” Sau khi xác định các nhân tố ảnh hưởng thì tác giả

xây dựng ma trận dựa trên hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh chia công

ty ra làm 3 loại và đưa ra giải pháp hoàn thiện cơ cấu tài trợ: 1 Công ty thực hiện chủ trương xây dựng cấu trúc tài chính theo hướng tự chủ cao dựa trên việc sử dụng vốn chủ sở hữu từ vốn góp ban đầu và sau đó phát hành cổ phiếu

Trang 16

để tăng vốn nên tỷ lệ nợ vay thấp, 2 Công ty sử dụng chính sách vay nợ cao, phản ánh cấu trúc tài chính của công ty phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay

nợ từ bên ngoài, 3 Công ty thực hiện chính sách tài trợ ổn định duy trì một tỷ suất nợ vừa phải, dao động từ 30% - 50%

Bài viết của tác giả Bùi Phan Nhã Khanh (2012) dưới sự hướng dẫn của

TS Võ Thị Thuý Anh được đăng trên tuyển tập báo cáo hội nghị sinh viên

nghiên cứu khoa học lần thứ 8 đại học Đà Nẵng với đề tài “Nghiên cứu các

nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp ngành công nghiệp chế tạo niêm yết trên HOSE” Ngoài các nội dung cơ bản về các nhân tố ảnh

hưởng đến cấu trúc tài chính, tác giả còn đề cập đến việc sử dụng dữ liệu bảng kết hợp với hai mô hình ước lượng: mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên và mô hình ảnh hưởng cố định giúp người đọc làm quen với một phương pháp khác

có tính ưu việt hơn so với phương pháp hồi quy bội Hơn thế nữa, bài viết còn đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanhn nghiệp thuộc nhóm ngành công nghiệp chế tạo niêm yết trên HOSE và từ đó xác định quy mô doanh nghiệp, hiêu quả kinh doanh, cơ cấu tài sản, khả năng thanh khoản và tốc độ tăng trưởng ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp thuộc nhóm ngành công nghiệp chế tạo giúp cho doanh nghiệp xây dựng chính sách tài trợ hợp lý

Ngoài các luận văn được đề cập trên, có nhiều tạp chí đã trình bày về vấn đề cấu trúc tài chính Trong đó có bài viết được đăng trên tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng – số 5(40).2010 của tác giả Đoàn Ngọc

Phi Anh với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu

quả tài chính: tiếp cận theo phương pháp đường dẫn” Nội dung của bài viết

đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính dựa trên phương pháp đường dẫn và đã chỉ ra được có bốn nhân tố ảnh hưởng là hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh, cấu trúc tài sản và quy mô doanh nghiệp Từ đó có

Trang 17

thể cung cấp kiến thức hữu ích để xác định cho doanh nghiệp một cấu trúc tài chính hợp lý và nâng cao hiệu quả tài chính

Nhìn chung, đa số các nghiên cứu kể trên đều chỉ ra những điểm chung cho tất cả doanh nghiệp Tuy nhiên, mỗi ngành đều có những đặc thù riêng, cấu trúc tài chính đặc trưng riêng.Trong đề tài này tác giả đã thừa kế một số kết quả nghiên cứu của một số tác giả trước đó để nghiên cứu về cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thực phẩm

Qua nhận xét trên tác giả nhận thấy các bài viết đã được nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính trong nhiều lĩnh vực Để tìm cụ thể hơn không chỉ về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính mà còn tìm hiểu về thực trạng cấu trúc tài chính, tác giả đã chọn đề tài “Phân tích cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.” nhằm giúp các doanh nghiệp còn những quyết định chính xác hơn về cơ cấu tài trợ

Đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp, bao gồm: hiệu quả kinh doanh, tăng trưởng của doanh nghiệp, rủi ro kinh doanh, quy mô doanh nghiệp…Tuy nhiên, chiều hướng tác động của các nhân tố này đến cấu trúc tài chính là không giống nhau hoàn toàn trong các nghiên cứu trước đây Trong phần nghiên cứu của mình, tác giả sẽ kiểm định các giả thiết về xu hướng tác động của các nhân tố này dựa vào các điều kiện thực tế của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tài liệu dùng để phân tích cấu trúc tài chính là các báo cáo tài chính của Doanh nghiệp bao gồm : Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính… và các báo cáo khác có liên quan.Trong bài nguồn số liệu liên quan đến cấu trúc tài chính gồm các báo cáo tài chính tác giả chủ yếu lấy từ hai bảng: bảng cân

Trang 18

đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của 28 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 3 năm 2010, 2011và 2012 được thu thập tại website: www.cafef.vn, www.cophieu68.vn,www.vcbs.com.vn…Và một số thông tin kinh tế từ sách báo, tạp chí chuyên ngành

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp

Tài chính là một phạm trù kinh tế đồng thời là một phạm trù lịch sử vì

nó phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước và của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ Tài chính xét về phạm vi có tài chính nhà nước, tài chính của các tổ chức kinh tế xã hội trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp gồm các quan hệ tài chính gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó là một khâu của hệ thống tài chính Các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá trình huy động và sử dụng vốn

- Hoạt động huy động vốn là quá trình tạo ra các quỹ tiền tệ từ các nguồn lực bên ngoài và các nguồn lực bên trong Nguồn lực bên trong có thể

là nguồn vốn đóng góp từ người chủ sở hữu, lợi nhuận để lại… Nguồn lực bên ngoài có thể là nhà nước, các tổ chức tín dụng, các cổ đông đóng góp

- Hoạt động sử dụng vốn hay còn gọi là đầu tư, là quá trình phân bổ vốn ở đâu, khi nào và bao nhiêu là hiệu quả

Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp vào cuối kỳ, qua việc phân tích các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính có thể đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn

Trang 20

1.1.2 Cấu trúc tài chính doanh nghiệp

a Khái niệm cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Thuật ngữ cấu trúc tài chính được nhiều nhà kinh tế sử dụng Thuật ngữ này được sử dụng để phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu Chúng ta sẽ xem xét một số khái niệm về cấu trúc tài chính:

- Theo M.Dubois, một giáo sư chuyên nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp của đại học Pierre Mendes France, thì cấu trúc tài chính là quan

hệ giữa các nguồn vốn được sử dụng bởi doanh nghiệp, đó là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ

- Theo M.Albouy, một trong những giáo sư hàng đầu của Pháp, thì cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ

nợ kể cả các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán

- Theo S.C.Myers thì cấu trúc tài chính là một khái niệm được dùng để phản ánh mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình Như vậy, cấu trúc tài chính theo quan điểm của các nhà kinh tế là tương đối đồng nhất, và được hiểu một cách chung nhất là cấu trúc tài chính phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và toàn bộ nợ phải trả được tính toán từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

b Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc tài chính doanh nghiệp

Từ khái niệm ta thấy cấu trúc tài chính thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp nên khi phân tích cấu trúc tài chính cần xem xét mức độ sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu hay nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài Mức độ sử

dụng đó thể hiện qua chỉ tiêu sau:

Hệ số nợ(tỷ suất nợ): chỉ tiêu này cho biết tại thời điểm nghiên cứu doanh nghiệp có 1 đồng tài sản thì có bao nhiêu đồng được đầu tư từ nợ phải

Trang 21

trả Khi hệ số nợ cao thì mức độ phụ thuộc vào chủ nợ càng lớn, khả năng tiếp cận các khoản vay nợ càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ hay hiệu quả hoạt động kém Đối với chủ nợ khi họ thấy doanh nghiệp này có tỷ lệ nợ cao thì khả năng thu hồi vốn cho các khoản nợ của họ càng thấp Chỉ tiêu này càng thấp thì mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng cao Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với các tổ chức tín dụng khi đưa ra quyết định cho vay Cách xác định chỉ tiêu này như sau:

Hệ số nợ = Nợ phải trả * 100%

Tổng tài sản Chỉ tiêu nợ trên VCSH hay còn gọi là đòn cân nợ thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi VCSH, phản ánh tính tự chủ tài chính, năng lực tài chính, khả năng chủ động của doanh nghiệp về nguồn vốn kinh doanh Khi chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 nghĩa là các khoản nợ phải trả nhỏ hơn VCSH lúc đó doanh nghiệp còn chủ động về vốn kinh doanh Ngược lại khi chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì khả năng thanh toán các khoản nợ giảm, doanh nghiệp khó tự chủ về tài chính, tình trạng phá sản dễ xảy ra, hiệu ứng đòn cân nợ giảm

Ngoài hai chỉ tiêu trên ta còn xem xét thêm cơ cấu nợ thông qua tỷ suất

nợ ngắn hạn và tỷ suất nợ dài hạn Hai chỉ tiêu này phản ánh những khoản nợ

mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán tuy nhiên mỗi chỉ tiêu sẽ phản ánh chi phí sử dụng và áp lực trả nợ khác nhau

Tỷ suất nợ trên VCSH = Nợ phải trả * 100%

Trang 22

Hệ số tài trợ: chỉ tiêu này cho biết tại thời điểm phân tích doanh nghiệp

có 1 đồng nguồn vốn thì bao nhiêu đồng thuộc về vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng tốt, đó

là nhân tố hấp dẫn ngân hàng cho vay Chỉ tiêu này được xác định như sau :

Hệ số tài trợ = Vốn chủ sở hữu

Tổng nguồn vốn

c Các chỉ tiêu đánh giá cấu trúc tài chính

- Hệ số đầu tư: là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản dài hạn trong tổng số tài sản, nó phản ánh cấu trúc tài sản của doanh nghiệp Trị số này phụ thuộc rất lớn vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp

Hệ số đầu tư = Tài sản dài hạn – Phải thu dài hạn

Tổng số tài sản

- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho biết với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảm trang trải được các khoản nợ phải trả hay không Nếu trị số chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp luôn ≥ 1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và ngược lại; trị số này < 1, doanh nghiệp không bảo đảm được khả năng trang trải các khoản nợ Trị số của "Hệ số khả năng thanh toán tổng quát" càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng số nợ phải trảTổng số tài sản

- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh Nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1, doanh

Trang 23

nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan Ngược lại, nếu hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn < 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

- Hệ số thanh toán nhanh: là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán tức thời (thanh toán ngay) các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) và các khoản tương đương tiền Chỉ tiêu này được tính như sau:

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tiền và các khoản tương đương tiền

Nợ ngắn hạn

- Hệ số khả năng chi trả: Do các chỉ tiêu như hệ số khả năng thanh toán

nợ ngắn hạn và hệ số khả năng thanh toán nhanh mang tính thời điểm (đầu kỳ, cuối kỳ) vì cơ sở tính toán dực trên số liệu của Bảng cân đối kế toán nên trong nhiều trường hợp, các chỉ tiêu này phản ánh không đúng tình hình thực tế Điều này rất dễ xảy ra vì 2 nguyên nhân chủ yếu:

Thứ nhất, do các nhà quản lý muốn ngụy tạo tình hình, tạo ra một bức tranh tài chính khả quan cho doanh nghiệp tại ngày báo cáo Chẳng hạn, muốn nâng cao trị số của các chỉ tiêu trên, các nhà quản lý tìm cách ngụy tạo sao cho các khoản tiền và tương đương tiền tăng lên, trị giá hàng tồn kho giảm xuống Công việc này thực sự không hề khó khăn với các nhà quản lý và kế toán, chẳng hạn những ngày cuối kỳ (cuối quí, cuối năm) mặc dầu hàng đã

về, đã nhập kho nhưng kế toán tạm để ngoài sổ sách hoặc các khoản nợ chưa thu nhưng kế toán lại ghi nhận như đã thu, nếu bị phát hiện thì coi như ghi nhầm Tương tự, kế toán có thể ghi các bút toán bù trừ giữa nợ phải thu dài hạn với nợ phải trả dài hạn

Trang 24

Thứ hai, do tính thời vụ của hoạt động kinh doanh mà tại thời điểm báo cáo, lượng hàng tồn kho rất lớn, lượng tiền và tương đương tiền rất nhỏ Tình hình này thường xảy ra với các doanh nghiệp kinh doanh mang tính thời vụ Tại những doanh nghiệp này, có những thời điểm mà buộc phải dự trữ hàng tồn kho lớn (dự trữ hàng hóa phục vụ cho các dịp lễ, tết, khai trường; thu mua nông sản, lâm sản, hải sản, thổ sản theo mùa )

Để khắc phục tình hình trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính, cần kết hợp chỉ tiêu hệ số khả năng chi trả Hệ số này sẽ khắc phục được nhược điểm của 2 chỉ tiêu trên vì nó được xác định cho cả kỳ kinh doanh và không phụ thuộc vào yếu tố thời vụ

Hệ số khả năng chi trả = Số tiền thuần lưu trong kỳ

Nợ ngắn hạn

- Khả năng sinh lời của tài sản (ROA): khả sinh lời của tài sản phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ở doanh nghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn và ngược lại

Khả năng sinh lời của tài sản = Lợi nhuận trước thuế

Tổng tài sản bình quân

- Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (Return on assets – ROE): là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi xem xét ROE, các nhà quản lý biết được một đơn vị Vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số của ROE càng cao, hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại

Khả năng sinh lời của

Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân

Trang 25

- Hệ số tài trợ: là chỉ tiêu phản ánh năng lực tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp, mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm Hệ số tài trợ được xác định theo công thức:

Hệ số tài trợ = vốn chủ sở hữu

Tổng nguồn vốn

- Hệ số tự tài tợ tài sản dài hạn: Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn hay hệ

số vốn chủ sở hữu trên tài sản dài hạn là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sản dài hạn bằng vốn chủ sở hữu Nếu trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn

1, số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng có thừa khả năng để trang trải tài sản dài hạn và do vậy, doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ dài hạn đến hạn Do đặc điểm của tài sản dài hạn là thời gian luân chuyển dài (thường là ngoài một năm hay ngoài một chu kỳ kinh doanh) nên nếu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không đủ tài trợ tài sản dài hạn của mình mà phải sử dụng các nguồn vốn khác (kể cả vốn chiếm dụng dài hạn thì khi các khoản nợ đáo hạn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán và ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ và đảm bảo thừa khả năng tài trợ tài sản dài hạn của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn khi thanh toán nợ đáo hạn Điều này tuy giúp doanh nghiệp tự bảo đảm

về mặt tài chính nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi

Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn =vốn chủ sở hữuTài sản dài hạn

Trang 26

Khác với các bộ phận tài sản dài hạn, doanh nghiệp không thể dễ dàng

và không thể đem bán, thanh lý bộ phận tài sản cố dịnhđược vì đây chính là điều kiện cần thiết và là phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hệ số tự tài trợ tài sản cố định được tính theo công thức sau:

Hệ số tự tài trợ tài sản cố định =Tài sản cốđịnh đã và đang đầu tưvốn chủ sở hữu

1.1.3 Lý thuyết về cấu trúc tài chính doanh nghiệp

a Lý thuyết của Modigliani và Miller (Lý thuyết M&M)

Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài viết của Modigliani và Miller vào năm 1958 (gọi tắt là học thuyết M&M) Theo học thuyết M&M, sự lựa chọn giữa vốn chủ sở hữu và nợ không liên quan đến giá trị của công ty trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo

Năm 1963, Modilligani và Miller (M&M) lập luận rằng khi có thuế thu nhập doanh nghiệp thì các khoản lãi phải trả được khấu trừ thuế, đầu tư bằng vay nợ 100% là tối ưu Vì chi phí lãi vay là chi phí được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp

có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư

Về nội dung, lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề là giá trị doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn với hai trường hợp là môi trường không có thuế và môi trường có thuế

- Trường hợp không có thuế

Các giả định:

(1) Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân (2) Không có chi phí giao dịch

(3) Không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính

(4) Lãi suất vay giống nhau đối với cá nhân và công ty

Trang 27

(5) Thị trường vốn là hoàn hảo

* Mệnh đề 1: Trong điều kiện không có thuế thì giá trị công ty có vay

nợ (VL) bằng với giá trị công ty không vay nợ (VU), VL = VU Vì vậy không

có cơ cấu vốn nào là tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng các thay đổi cơ cấu vốn

Giả sử có hai doanh nghiệp U và L giống hệt nhau, ngoại trừ U không

có vay nợ và L có vay nợ U và L có cùng ngân lưu tự do hàng năm FCF và cùng lợi nhuận trước thuế và lãi vay EBIT

Doanh nghiệp U: Tổng giá trị doanh nghiệp là VU

Doanh nghiệp L: Tổng giá trị doanh nghiệp là VL

VL = D + E

Trong đó: D: nợ vay (với lãi suất là rD)

E: Vốn chủ sở hữu

- Chiến lược đầu tư A: mua toàn bộ doanh nghiệp L

+ Tổng số tiền đầu tư bỏ ra: E = VL – D + Tổng lợi nhuận hưởng hàng năm = lợi nhuận của L:

EBIT – lãi vay = EBIT – rD*D

- Chiến lược đầu tư B: vay nợ với lãi suất rD cộng thêm vơi vốn tự có

để mua toàn bộ doanh nghiệp U

+ Tổng số tiền đầu tư bỏ ra: VU – D + Tổng lợi nhuận hưởng hàng năm = Lợi nhuận của U – Lãi vay phải trả cho khoản vay nợ = EBIT – rD*D

- So sánh chiến lược đầu tư A và B

Chiến lược A Số tiền đầu tư bỏ ra Lợi nhuận hàng năm Mua doanh nghiệp L

bằng vốn tự có

E = VL – D EBIT – rD*D

Trang 28

Chiến lược B Số tiền đầu tư bỏ ra Lợi nhuận hàng năm Muadoanh nghiệp U

* Mệnh đề 2: Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng

chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ lệ nợ

Như vậy, trong trường hợp không có thuế thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp

- Trường hợp có thuế

Các giả định của lý thuyết M&M gần như không thay đổi Lý thuyết M&M sẽ được xem xét trong trường hợp giả định môi trường có thuế

Doanh nghiệp U không có vay nợ:

Ø Lợi nhuận trước thuế và lãi vay hàng năm: EBIT

Trang 29

Ø Lãi vay phải trả: 0

Ø Lợi nhuận chịu thuế: EBIT

Ø Thuế: EBIT*T

Ø Lợi nhuận sau thuế: EBIT*(1-T)

Doanh nghiệp L có vay nợ D với lãi suất rD:

Ø Lợi nhuận trước thuế và lãi vay hàng năm: EBIT

Ø Lãi vay phải trả: rD*D

Ø Lợi nhuận chịu thuế: EBIT - rD*D

Ø Thuế: (EBIT - rD*D) * T

Ø Lợi nhuận sau thuế: EBIT * (1-T) + rD*D*T

Lợi nhuận sau thuế hàng năm của doanh nghiệp L lớn hơn U một khoản bằng rD*D*T

è Hàng năm, L tạo thêm một khoản ngân lưu so với U là rD*D*T

è rD*D*T được gọi là lá chắn thuế của nợ vay

* Mệnh đề 1: Giá trị doanh nghiệp có vay nợ (VL) bằng giá trị công ty không vay nợ (VU) cộng với hiện giá của lá chắn thuế, VL = VU + T*D

Trong đó:

T: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D: tổng số nợ sử dụng

Trong trường hợp có thuế, khi công ty vay nợ thì tiết kiệm được thuế

do lợi ích tấm chắn thuế từ lãi vay Do đó, giá trị công ty vay nợ sẽ lớn hơn công ty không vay nợ nhờ lợi ích từ thuế mà doanh nghiệp tiết kiệm được

Như vậy, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp Sử dụng nợ càng nhiều thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% từ nợ

* Mệnh đề 2:

Giá trị doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị thị trường của nợ vay cộng

Trang 30

giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu: VL = D + E

Ngân lưu tự do của doanh nghiệp có vay nợ bằng ngân lưu tự do mà chủ nợ được hưởng cộng với ngân lưu tự do mà chủ sở hữu được hưởng

Ngân lưu tự do mà chủ nợ được hưởng: rD*D

Ngân lưu tự do mà chủ sở hữu được hưởng: rE*E

Ngân lưu tự do của doanh nghiệp có vay nợ bằng ngân lưu tự do của doanh nghiệp không vay nợ cộng với ngân lưu lá chắn thuế:

Chi phí vốn chủ sở hữu: rE = rU + (1 – T)*(rU – rD) * D/E

Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ

sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ, mối quan hệ đó được diễn tả:

Kết quả nghiên cứu năm 1963 của M&M đã bác bỏ lý thuyết M&M năm 1958 và cho rằng cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp

Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giải được quan hệ giữa giá trị công ty, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp Tuy nhiên, lý thuyết M&M chưa xem xét tác động của một

số chi phí khác khiến cho lợi ích lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty gia tăng tỷ số nợ

Trang 31

b Lý thuyết cân đối (The trade-off Theory)

Việc ra đời sau đã giúp lý thuyết cân đối có cách nhìn nhận vấn đề đầy

đủ hơn so với lý thuyết MM Theo Jensen và Meckling (1978) , các doanh nghiệp phải cân đối chi phí khốn khó tài chính( chi phí kiệt quệ tài chính – financial distress costs), chi phí đối tác (chi phí đại diện – agency costs) và khoản lợi từ thuế để xác định một cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu được xác định tại điểm mà khoản lợi từ thuế có được do tài trợ nợ cân bằng với chi phí do tài trợ bằng nợ Theo MM, khoản lợi này chính là phần khấu trừ thuế của lãi vay, góp phần khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động kinh doanh

Chi phí khốn khó tài chính là những chi phí gián tiếp và trực tiếp liên quan đến việc phá sản hay tránh việc phá sản – là khi tài sản của CSH được chuyển giao hợp pháp từ cổ đông sang trái chủ Về nguyên tắc, một doanh nghiệp phá sản khi giá trị của tài sản bằng giá trị của nợ Khi xảy ra điều này, giá trị VCSH bằng zero và cổ đông chuyển quyền kiểm soát cho trái đông, nghĩa là trái đông nắm giữ những tài sản có giá trị chính xác bằng giá trị nợ

họ sở hữu nên không có các chi phí phát sinh liên quan đến phá sản Nhưng trên thực tế có những chi phí phát sinh, thậm chí có thể bù trừ thuận lợi của

nợ là:

+ Chi phí khốn khó tài chính trực tiếp: các chi phí trực tiếp có thể xác định và quan sát được như chi phí trả cho luật sư giải quyết phá sản, chi phí trả cho nhân viên quản trị doanh nghiệp trong quá trình chờ phá sản…

+ Chi phí khốn khó tài chính gián tiếp: như chi phí do mất khách hàng

và cung cấp, mất nhân viên giỏi, chi phí mất đi do ban quản trị bận tâm vào những khó khăn tài chính của doanh nghiệp, hay khoản mất đi do bị giảm giá trị của tài sản trong doanh nghiệp khi bán…thì rất khó quan sát và xác định được cụ thể

Trang 32

Hình 1.1: Cơ cấu vốn tối ưu khi có thuế và chi phí khốn khó tài chính

Theo hình trên, cho thấy khi gia tăng lượng nợ sử dụng, doanh nghiệp

có được lợi ích bằng hiện giá của lá chắn thuế Chính lợi ích này làm cho giá trị doanh nghiệp có vay nợ tăng lên Mặt khác, cùng với sự gia tăng của lượng

nợ sử dụng, chi phí khốn khó tài chính cũng tăng theo Chính chi phí này làm giảm lợi ích của lá chắn thuế Khi lượng nợ tăng lên điểm D*, hiện giá chi phí khốn khó tài chính bằng đúng hiện giá của lá chắn thuế Điểm D* được gọi là điểm tối ưu, ở đó giá trị doanh nghiệp đạt mức tối đa và chi phí sử dụng vốn trung bình đạt mức tối thiểu Nếu doanh nghiệp tiếp tục gia tăng sử dụng nợ thì hiện giá của chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua hiện giá của lá chắn thuế, khi đó giá trị doanh nghiệp sẽ bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn tăng lên

Giá trị doanh nghiệp có vay nợ lúc này:

VL= VU + TCD – Chi phí khốn khó tài chính

Cấu trúc vốn tối ưu trong trường hợp này là cấu trúc vốn gồm một phần

nợ một phần vốn chủ, khi lợi ích từ một đồng nợ tăng thêm vừa đủ dể bù trừ

sự gia tăng của chi phí khốn khó tài chính dự tính Tuy nhiên, trong thực tiễn

PV(chi phí khốn khó TC) Giá trị DN

Tỷ lệ nợ/VCSH

Cơ cấu vốn tối ưu

PV(lá chắn thuế)

V L khi có thuế, nhưng không có CP khốn khó TC

V L khi có thuế và CP khốn khó TC

V U

Trang 33

rất khó xác địnhtất cả các loại khốn khó tài chính, chỉ có các loại chi phí trực tiếp mới có thể xác định được còn các chi phí gián tiếp rất khó quan sát và xác định cụ thể Chẳng hạn, một số nghiên cứu của các nhà kinh tế học cho kết quả về chi phí phá sản như sau: Altman (1984) tính toán chi phí phá sản trong mẫu nghiên cứu gồm 19 công ty bị phá sản từ năm 1974 đến năm 1978 chiếm khoảng 7.5 % giá trị công ty, hay Lubben (2000) tính toán chi phí luật sư cố vấn chiếm khoảng 1.8% tổng tài sản của công ty đang ở tình trạng khốn khó tài chính( mẫu nghiên cứu là 22 công ty từ năm 1994)

Nếu tính thêm chi phí đại diện và các loại chi phí khác thì giá trị doanh nghiệp tính theo công thức tổng quát sau:

VL= VU + TCD – Các chi phí trung gian

Doanh nghiệp có thể lựa chọn bất cứ một hỗn hợp và vốn chủ sở hữu

mà họ mong muốn để tài trợ cho tài sản Nhưng thực tế tồn tại nhiều hỗn hợp vốn và nợ khác nhau nhưu công ty Chrysler có nợ chiếm 70% còn công ty Microsoft có nợ khoảng 10%

Như vậy, chính sách cấu trúc vốn liên quan đến việc cân bằng giữa rủi

ro và lợi ích Khi sử dụng nhiều nợ làm tăng áp lực thanh toán và tăng rủi ro phá sản mà rủi ro cao kết hợp nợ cao làm giá cổ phiếu có khuynh hướng thấp xuống, nhưng bù lại lợi nhuận sẽ tăng lên kéo theo tỷ suất sinh lời cao hơn hấp dẫn các nhà đầu tư, cuối cùng tăng giá cổ phiếu Vì vậy, cơ cấu vốn tối ưu

là cơ cấu vốn cân đối được giữa rủi ro và lợi nhuận, từ đó tối đa hóa giá cổ phiếu của công ty

Từ đó rút ra kết luận là có một cơ cấu vốn tối ưu mà ở đó :

-EPS đạt mức tối đa

-WACC ở mức thấp nhât

-Giá trị công ty và giá trị cổ phiếu đạt ở mức tối đa

Trang 34

c Lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking – order Theory)

Lý thuyết trật tự phân hạng được đưa ra đầu tiên bởi Myers & Majluf (1984) dự trên vấn đề về thông tin bất cân xứng giữa các giới hữu quan của doanh nghiệp Ông cho rằng, các doanh nghiệp tài trợ cho các nhu cầu của họ theo một thứ bật, trước tiên là sử dụng nguồn vốn nội bộ, sau đó đến các khoản

nợ và cuối cùng là vốn chủ từ bên ngoài Lý thuyết giả sử có sự tương đồng về lợi ích giữa các cổ đông hiện tại và nhà quản lý (bên có lợi ích bên trong), nhưng

do thông tin bất cân xứng nên có sự kỳ vọng không đồng nhất giữa giới hữu quan bên trong và những nhà đầu tư tìm năng (giới hữu quan bên ngoài) Tính bất cân xứng về thông tin dẫn đến giới hữu quan bên ngoài không có nhiều thông tin về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp so với giới hữu quan bên trong Với

sự tương đồng về lợi ích nên nhà quản lý sẽ cố gắng tối đa hóa giá trị của cổ đông hiện tại chứ không phải cho các cổ đông mới Vì vậy, nếu doanh nghiệp có viễn cảnh đầu tư tốt thì nhà quản lý sẽ không muốn phát hành cổ phiếu mới vì không ai muốn chia sẽ phần lợi nhuận của dự án cho các cổ đông mới Và nguồn quỹ nội bộ là nguồn tài trợ ưu tiên số một Ngược lại, nếu viễn cảnh đầu tư của doanh nghiệp là khó khăn thì nhà quản lý sẽ muốn phát hành cổ phiếu để chia sẽ rủi ro cho các cổ đông hiện tại nên thông tin về phát hành cổ phiếu mới của các doanh nghiệp được các nhà đầu tư đón nhận như là một thông tin xấu về doanh nghiệp, ngoại trừ các doanh nghiệp lần đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp có viễn cảnh đầu tư tốt muốn mở rộng quy mô và các doanh nghiệp đang tăng trưởng với tốc độ cao Điều này làm cho chi phí phát hành cổ phiếu tăng lên và các nhà đầu tư yêu cầu một mức giá thấp hơn giá kì vọng của doanh nghiệp Kết quả là các doanh nghiệp thích tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ hơn Tránh tình trạng phát hành dưới mệnh giá, giảm chi phí và hạn chế sự giám sát tăng

Vậy, lý thuyết trật tự phân hạng không chỉ giải thích được những thay

Trang 35

đổi cụ thể trong cấu trúc vốn mà còn xem xét đến cả động cơ ra quyết định của nhà quản trị tài chính Bởi xem phần lợi nhuận để lại là một nguồn đầu tư được ưu tiên sử dụng nên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là một nhân tố ảnh hưởng khá rõ đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Đồng thời, tâm lý không muốn chuyển đổi từ người chủ thành người mang nợ, không thích chia

sẽ lợi nhuận khi doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, nên tốc độ tăng trưởng cũng là một nhân tố ảnh hưởng nữa được xác định từ lý thuyết này

d Lý thuyết thông tin bất đối xứng (The Asymmetric Information Theory)

Một trong các giả thuyết của mô hình M&M là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong một thị trường vốn hoàn hảo, các nhà quản trị và nhà đầu tư có cùng thông tin về triển vọng tương lai của doanh nghiệp Tuy nhiên trong thực tế, so với nhà đầu tư bên ngoài thì các nhà quản lý thường có thông tin đầy đủ hơn về doanh nghiệp và được gọi là hiện tượng thông tin bất đối xứng Lý thuyết về thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) đã được xây dựng từ những năm 1970, tuy nhiên đến năm 2001 thì nó mới được đánh giá cao bằng sự kiện Arkelof được trao giải Nobel kinh tế với luận văn “The market for lemons” và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại Theo lý thuyết này, doanh nghiệp thì có những doanh nghiệp kinh doanh rất tốt nhưng cũng có doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả Việc đánh giá doanh nghiệp có kinh doanh tốt hay không là hoàn toàn không giống nhau giữa nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài Nhà quản lý thì biết rõ doanh nghiệp của mình kinh doanh như thế nào có hiệu quả hay không còn nhà đầu tư không thể đánh giá chính xác được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào nếu chỉ nhìn vào những thông tin được cung cấp trên thị trường Điều này dẫn đến tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài

Trang 36

Lý thuyết về thị trường có thông tin bất cân xứng đã trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém

1.2 NỘI DUNG PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.2.1 Phân tích tỷ suất nợ

Để đánh giá khả năng tài chính của một doanh nghiệp hay nhiều doanh nghiệp người ta thường dùng rất nhiều các chỉ số tài chính Trong đó, chỉ số phản ánh tình trạng nợ của một công ty rất quan trọng và được nhà đầu tư, các chuyên gia phân tích tài chính quan tâm

Tỷ số này đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp so với tài sản, được tính bằng công thức:

Tỷ suất nợ = nợ phải trả

tổng tài sản

Sau khi tính toán các tỷ suất nợ của các doanh nghiệp nghiên cứu ta sử dụng thống kê mô tả để thống hóa số liệu, tính các số đặc trưng thực nghiệm

và tìm qui luật phân phối thực nghiệm của hiện tượng cần nghiên cứu.Từ đó

ta kết luận hay nói cách khác ta có thể mô tả được những đặc tính cơ bản của dữ liệuthu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Chúng ta có thể cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước

đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về tỷ suất nợ

1.2.2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc tài chính doanh nghiệp

a Quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp được xem là dấu hiệu đầu tiên để các nhà đầu tư

Trang 37

bên ngoài biết đến doanh nghiệp.Một doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có lợi thế trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay.Do đó hầu hết các doanh nghiệp đều hướng tới việc mở rộng quy mô để tận dụng lợi thế quy mô lớn., một quy mô lớn tương ứng với một tiềm lực kinh tế mạnh, doanh nghiệp càng có điều kiện tiếp cận thị trường tài chính và các tổ chức tín dụng hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn Lúc này các doanh nghiệp lớn dễ dàng hơn trong viêc tìm kiếm các nguồn tài trợ, sử dụng nhiều nợ vay hơn để có lợi nhiều hơn từ tấm chắn thuế Nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô của doanh nghiệp có quan hệ

tỷ lệ thuận với nợ vay Theo Marsh (1982) thấy rằng các doanh nghiệp có quy

mô lớn thường chọn vay nợ dài hạn trong khi đó các doanh nghiệp nhỏ lại chọn nợ ngắn hạn Nghiên cứu của Wiwattnakantang (1999), Huang và song (2002), Chen (2004) ở các nước đang phát triển; của Titman và Wessels (1988), Rajan và Zingales (1995) ở các nước phát triển cho thấy quy mô của

doanh nghiệp và tỷ lệ nợ có mối quan hệ tỷ lệ thuận

b Cơ cấu tài sản

Cơ cấu tài sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản Về mặt lý thuyết, khi tỷ lệ tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn thì doanh nghiệp có nhiều cơ hội thế chấp tài sản để tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài Một doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định cao tức là có giá trị tài sản thế chấp cao thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng Nghiên cứu của Titman và Wessels (1988), Rajan và Singales (1995), Wiwattanakantang (1999), Chen (2004) cho thấy mối quan

hệ tỷ lệ thuận giữa đòn bẩy tài chính và tài sản cố định hữu hình

c Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Mục đích cuối cùng của các nhà đầu tư, các nhà quản lý là làm gia tăng giá trị tài sản của mình thông qua việc đầu tư tài sản vào các hoạt động kinh

tế một cách có hiệu quả Cụ thể như trong hoạt động kinh doanh , mà hiệu quả

Trang 38

của hoạt động này đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (ROA), khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) Theo lý thuyết M&M các doanh nghiệp

có khả năng sinh lời lớn thường sử dụng nợ như là một rào chắn thuế thu nhập doanh nghiệp Theo lý thuyết trật tự phân hạng thì các nhà quản lý thường thích tài trợ cho dự án bằng nguồn bên trong hơn sau đó mới dùng đến nguồn vốn từ bên ngoài Nghiên cứu của Kim và Sorence (1986), Rajan và Zingales (1995), Chen (2004) cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa khả năng sinh lời và tỷ suất nợ

d Tốc độ tăng trưởng

Tốc độ tăng trưởng cho thấy khả năng phát triển của doanh nghiệp.Hầu hết các lý thuyết tài chính cho rằng tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ Họ cho rằng khi tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp cao cho thấy một kết quả kinh doanh khả quan, chính vì thế các cổ đông không muốn chia ưu thế này với các chủ nợ Trong khi đó một số lý thuyết cho thấy tốc độ tăng trưởng của một doanh nghiệp có mối tương quan thuận đến tỷ lệ

nợ, cụ thể lý thuyết trật tự phân hạng đã đưa ra một cái nhìn ngược chiều.Theo thuyết này, bởi vì các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao thường có nhu cầu vốn nhiều hơn, nguồn lợi nhuận giữ lại không đủ, vốn vay

sẽ được sử dụng đến Theo Myers (1977) kết luận chính những mâu thuẩn giữa các cổ đông, nhà quản lý, trái chủ trong một doanh nghiệp có sử dụng nợ vay có thể làm giảm cơ hội đầu tư vào các dự án có NPV >0 vì lo sợ lợi ích từ các dự án sẽ thuộc về trái chủ chính điều này sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp Theo Myers và Majluf (1984), doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao thường có nhu cầu vốn nhiều trong khi nguồn lợi nhuận giữ lại không đủ thì vốn vay sẽ được sử dụng đến

Trang 39

e Khả năng thanh toán hiện hành

Ðược đo lường bằng tài sản lưu động trên nợ ngắn hạn Các doanh nghiệp có khả năng thanh toán hiện hành cao có thể sử dụng nhiều nợ vay do doanh nghiệp có thể trả các khoản nợ vay ngắn hạn khi đến hạn Mặt khác, các doanh nghiệp có nhiều tài sản có tính thanh khoản cao có thể sử dụng các tài sản này để tài trợ cho khoản đầu tư của mình

f Rủi ro kinh doanh

Rủi ro kinh doanh thường được đo lường thông qua độ lệch chuẩn của lợi nhuận, lợi nhuận trước thuế và lãi vay Khi rủi ro kinh doanh càng lớn thì các nhà đầu tư bên ngoài sẽ không có niềm tin vào doanh nghiệp, vì vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài thấp

g Hình thức sở hữu của doanh nghiệp

Sự khác biệt về hình thức sở hữu trong các loại hình doanh nghiệp sẽ bị ràng buộc bởi những quy định có tính pháp lý về tư cách pháp nhân, điều kiện hoạt động , cơ chế vận hành và mục tiêu hoạt động Do vậy, mục đích, điều kiện và khả năng tiếp cận nguồn tài chính của mỗi doanh nghiệp có hình thức sở hữu khác nhau là khác nhau Điều này ảnh hưởng tới chính sách tài trợ hay cấu trúc tài chính của mỗi doanh nghiệp Vì thế mỗi loại hình doanh nghiệp có mỗi cấu trúc tài chính khác nhau Doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nhà nước càng cao thì sẽ sử dụng nợ nhiều hơn vì khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng dễ dàng hơn

h Một số nhân tố vĩ mô ảnh hưởng tới cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

Trong tình hình kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, điều kiện biến động của nền kinh tế càng trở nên phức tạp vì vậy các chính sách kinh tế vĩ mô là một trong những nhân tố quyết định về sự lựa chọn cấu trúc tài chính

Trang 40

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM NGÀNH THỰC PHẨMVÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH THỰC PHẨM NƯỚC TA

2.1.1 Giới thiệu về ngành thực phẩm Việt Nam

Lình vực chế biến thực phầm chiếm một tỷ lệ khá lớn trong sản lưởng công nghiệp và GDP.Trong những năm gần đây ngành công ngiệp thực phẩm thu hút được một lượng lớn đầu tư nước ngoài ví như Nestle , San Miguel

Nguồn nguyên liệu trong nước ổn định, sản phẩm đa dạng Ngành thực phẩm là một trong số ít ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong thời gian qua Chính vì thế những cơ hội giao thương, triển lãm về ngành thu hút sự tham gia đông đảo các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài

Ngành chế biến thực phẩm chiếm một tỷ lệ đáng kể sản lượng đầu ra của ngành công nghiệp nói chung và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nói riêng Ước tính, lượng tiêu thụ thực phẩm hàng năm luôn chiếm khoảng 15% GDP cho thấy đây là một ngành công nghiệp tiềm năng Ngành chế biến thực phẩm có số lượng doanh nghiệp (DN) tham gia khá đông so với các ngành kinh tế khác, có hàng nghìn DN lớn nhỏ tham gia vào lĩnh vực này, bao gồm các DN thuộc mọi thành phần kinh tế từ DN nhà nước, DN tư nhân đến DN

có vốn đầu tư nước ngoài.Tuy nhiên ý thức tuân thủ pháp luật của một số DN trong ngành còn chưa cao đặc biệt là pháp luật cạnh tranh

Theo tổ chức giám sát quốc tế BMI ngành thực phẩm của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt 9,43% Song song với sự tăng trưởng của

Ngày đăng: 25/11/2017, 04:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w