Nhóm nghiên cứu của ông và cộng sự đã tiến hành điều tra trên 559 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, trong đó có 5,9% không trả lại bảng câu hỏi và 14,6% là thống kê không phù hợp để phâ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tồn tại và phát triển trong một nền kinh tế cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nỗ lực rất lớn Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nhận rõ thực lực của doanh nghiệp, khai thác các yếu tố tiềm tàng là một trong những quyết định quản trị quan trọng Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp tự đánh giá về thế mạnh, thế yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý Từ đó, tận dụng và phát huy mọi tiềm năng, khai thác tối đa những nguồn lực nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thành quả của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng để đạt được mục tiêu này Kết quả của phân tích là cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn, dài hạn, giúp dự báo
đề phòng và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh Một trong những mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thực tế hiệu quả ở các doanh nghiệp cổ phần hóa đã chứng minh cho chính sách này, thông qua các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, ROA, ROE, đều tăng sau cổ phần hóa Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả một cách đầy đủ, nhận diện rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả sau cổ phần hóa là một công việc quan trọng mà nhiều báo cáo chưa đề cập rõ
Phân tích hiệu quả là thiết thực đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn Tuy nhiên, tại Tổng công ty cổ phần y tế Danameco, công tác phân tích chưa được chú trọng mà chỉ phân tích khái quát một vài chỉ tiêu cơ bản rồi đưa ra những nhận định chung mang tính định hướng Hơn nữa, Công ty hiện đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán và một khi đã niêm yết, công tác phân tích hiệu quả càng thiết thực hơn vì sẽ cung cấp thông tin không những cho quản trị điều hành công ty mà còn cho nhà đầu tư, qua đó làm rõ
Trang 2hơn tính minh bạch của thông tin cung cấp trong báo cáo tài chính Xuất phát
từ những nhận định trên, tác giả chọn chủ đề “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau cổ phần hóa tại Tổng công ty cổ phần y tế Danameco” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp
2 Tổng quan tài liệu
Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đếu hiệu quả hoạt động sau cổ phần hoá trong các CTCP đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu với nhiều khía cạnh và phương pháp khác nhau Một số tổ chức, cá nhân chỉ nhận diện các nhân tố chưa có kiểm chứng bằng kinh nghiệm, một số tổ chức và cá nhân khác thì cung cấp bằng chứng thuyết phục hơn vì đã được kiểm chứng thực tế Điển hình là các công trình nghiên cứu sau:
- “Nghiên cứu của TS.Trần Tiến Cường Giám đốc Vụ nghiên cứu cải cách chính sách và phát triển doanh nghiệp,CIEM cùng với các cộng sự Bùi Văn Dũng, Phạm Đức Trung, Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Thị Lâm Hà, Nguyễn Thị Luyến và Trịnh Đức Chiêu là nghiên cứu sinh nghiên cứu tại Cục Nghiên cứu Chính sách Cải cách và Phát triển Doanh nghiệp, CIEM Nhóm nghiên cứu của ông và cộng sự đã tiến hành điều tra trên 559 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, trong đó có 5,9% không trả lại bảng câu hỏi và 14,6%
là thống kê không phù hợp để phân tích, điều tra được thực hiện ở Việt nam
và đã giải quyết được một số nội dung sau:
+ Thứ nhất, nghiên cứu đã chỉ rõ được hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá: Đầu tiên là ông và cộng sự chỉ rõ được hiệu suất bình của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá đều tăng
so với trước cổ phần hoá, cụ thể doanh thu tăng 13,4%, lợi nhuận sau thuế bình quân tăng 54,3%, tiền lương trung bình tăng 20,8%, đầu tư vào TSCĐ tăng 23,1% so với giai đoạn doanh nghiệp còn là doanh nghiệp nhà nước
Trang 3Nghiên cứu ông và các cộng sự cũng chỉ rõ 2 lý do về sự tăng trưởng đầu tư vào TSCĐ đó là do các doanh nghiệp nỗ lực đầu tư bổ sung ngay lập tức sau khi cổ phần hoá và tăng do định giá lại Tiếp theo là về tăng trưởng hàng năm của doanh nghiệp cổ phần hoá ông chỉ ra sự tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá luôn được duy trì ở mức khá ổn định và cho thấy được hiệu quả tích cực của cổ phần hoá, ông cũng chỉ rõ doanh thu của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, y tế tăng với tốc
độ cao hơn so với nông lâm nghiệp thuỷ sản và xây dựng Cuối cùng là về lợi nhuận tại thời điểm ông điều tra cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp cổ phần hoá không có lợi nhuận là tương đối thấp (3,7%) còn hầu hết là mức lãi nằm ở 13,4%
+ Thứ hai, sau khi chỉ rõ được hiệu quả đạt được của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá, nghiên cứu của ông và các cộng sự đã phân tích rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến những hiệu quả trên đó là: do thay đổi trong quản trị công ty, tái cấu trúc, thay đổi trong bảng chất hoạt động kinh doanh
Như vậy nghiên cứu của TS Trần Tiếng Cường và các cộng sự đã làm
rõ được 2 vấn đề chính đó là khẳng định được sau cổ phần hoá các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đó một cách thuyết phục nhất Bởi ông và các cộng sự không những dựa vào kinh nghiệm bản thân mà còn kiểm chứng bằng thực tế
- “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần ôtô Vĩnh Phúc”, tác giả Nguyễn Thị Lan Hương Luận văn đã giải quyết được một số nội dung:
+ Về mặt lý luận: Luận văn đã trình những lý luận chung về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp ở giai đoạn sau cổ phần hoá và làm rõ được ý nghĩa, mục tiêu tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ngoài ra dựa
Trang 4vào các nghiên cứu khác luận văn cũng làm rõ được những yếu tố quyết định cũng như ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là với các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá
+ Về mặt thực tiễn: Luận văn đã tập trung nghiên cứu thực tế về hiệu quả của công ty giai đoạn sau cổ phần hoá và bằng phương pháp phân tích định tính đưa ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả đó
Tuy nhiên ở luận văn cũng chỉ dừng lại ở phân tích định tính các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty, chưa sử dụng phân tích định lượng để kiểm chứng các nhân tố đó có thực sự đúng là mang lại hiệu quả không, việc phân tích định tính các nhân tố ảnh hưởng của tác giả Lan Hương cũng dựa vào sự nghiên cứu trước đó của nhiều tác giả tuy nhiên nghiên tại công ty ô tô Vĩnh Phúc nếu không kiểm chứng bằng các cuộc khảo sát hay là các cuộc phỏng vấn thì luận văn mang tính chủ quan của tác giả
- “Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Quách Mạnh Hào Tiến sĩ ngành tài chính Đại học Birmingham cũng là cựu giảng viên khoa tài chính – ngân hàng đại học kinh tế quốc dân Hà Nội” ông nghiên cứu với nội dung “Quản trị công ty trong các công ty cổ phần” Nghiên cứu của ông đã làm rõ được vấn
đề như sau:
Nghiên cứu của ông không đưa ra nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau cổ phần hoá tuy nhiên ông lại ra và nhấn mạnh nhân tố mang tầm quan trọng lớn nhất ảnh hưởng đến hiệu quả của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá là quản trị công ty Theo ông thực hành quản trị công ty cần được tăng cường cùng với quá trình cổ phần hóa, và nó thực sự là mối quan tâm ở giai đoạn hậu cổ phần hóa Ông cũng chỉ ra được bài học từ Trung Quốc phần nào có ý nghĩa với Việt Nam vì ở Trung Quốc thị trường chứng khoán không giúp đỡ được về tình hình đầu tư tài chính của các công ty ngụ ý
Trang 5là việc phát hành cổ phiếu và niêm yết không làm tăng hiệu quả của các công
ty Điều này đều do thiếu thực hành quản trị công ty
Tuy nhiên nghiên cứu của ông mới chỉ phân tích dựa vào tính logic theo kinh nghiệm của bản thân ông chứ chưa có kiểm chứng bằng bất kỳ một phương pháp nào như định lượng hoặc khảo sát
Qua quá trình tìm hiểu các nghiên cứu cũng như xuất phát từ tình hình thực tế tại Tổng công ty cổ phần y tế Danameco luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu vấn
đề này tại tổng công ty cổ phần với các vấn đề chính như: Phân tích hiệu quả tại công ty giai đoạn sau cổ phần hiệu quả hơn trước cổ phần và đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đó, và đặc biệt sau khi đưa ra các nhân tố ảnh hưởng tác giả sẽ kiểm định bằng thực tế các nhân tố này tại công ty có đúng hay không bằng cách thu thập ý kiến của những cán bộ công nhân viên có thời gian công tác từ trước cổ phần hoá đến nay bằng phiếu thu thập thông tin với mục đích khẳng định các nhân tố mà tác giải đưa ra trong bài là phù hợp tại tổng công ty cổ phần y tế Danameco Cuối cùng tác giả sẽ có một số ý kiến
về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả và đưa ra các giải pháp nhằm giúp
công ty phát huy hết hiệu quả của các nhân tố
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ hiệu quả hoạt động của công ty và nhận diện các nhân
tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của công ty Danameco sau khi cổ phần hóa Qua đó, giúp cho Quản trị điều hành của công ty tốt hơn nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty sau khi cổ phần hóa Luận văn chỉ xem xét hiệu quả thông qua các chỉ tiêu đo lường bằng thước đo giá trị Hay nói cách khác, hiệu quả được xem xét trong luận văn nhấn mạnh đến hiệu quả tài chính
Trang 6Phạm vi nghiên cứu : Đề tài được thực hiện tại Tổng công ty cổ phần y
tế Danameco
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, thu thập số liệu thực tế tại Công ty 5 năm trước và 5 năm sau cổ phần hóa Dựa vào sổ liệu để phân tích, giải thích, đánh giá nhằm làm rõ mục tiêu đạt ra Ngoài ra, luận văn
có thu thập ý kiến của các người có liên quan để làm rõ các nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của Công ty sau cổ phần hóa
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả hoạt động tại công ty
Luận văn đã xem xét, đánh giá thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động tại Tổng công ty cổ phần y tế danameco và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động từ sau cổ phần hóa đến nay, từ đó giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn sức mạnh và hạn chế, xác định được mục tiêu và chiến lược kinh doanh phù hợp, hiệu quả, tìm ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại công ty, là biện pháp quan trọng để phòng ngừa
và ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng
Chương 2: Phân tích hiệu quả hoạt động tại Tổng công ty sau cổ phần hóa và các nhân tố ảnh hưởng
Chương 3: Kết luận và kiến nghị
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
1.1 KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
1.1.1 Khái niệm về hoạt động SXKD
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khả năng kinh 0doanh
“Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường” [5,tr 5]
Hoạt động kinh doanh có đặc điểm :
+ Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
+ Kinh doanh phải gắn liền với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau đó là quan hệ với bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà nước
+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận
1.1.2 Khái niệm về hiệu quả hoạt động
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược Hiệu quả tài chính
Trang 8luôn gắn liền với hoạt động SXKD, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ Để hiểu được khái niệm hiệu quả tài chính cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng
“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhận lực, tài lực, vật lực, tiền vốn)
để đạt được mục tiêu xác định ”[4,tr 408], nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu thị trường
Dưới góc độ của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu hiệu quả được đo lường theo thước đo giá trị hay nói cách khác là hiệu quả tài chính Đây cũng
là mục tiêu chính mà ban lãnh đạo công ty đề ra từ sau cổ phần hóa
1.1.3 Bản chất của hiệu quả hoạt động
Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động là biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, lao động và đồng vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD có thể dựa vào việc phân biệt hai khái niệm kết quả và hiệu quả [4,tr 409] :
Trang 9+ Kết quả hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình SXKD nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh nghiệp Kết quả hoạt động SXKD có thể là những đại lượng cụ thể có thể định lượng cân đong đo đếm được cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh được mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như thương hiệu, uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng về chất lượng sản phẩm Chất lượng bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp
+ Trong khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó (cả trong lý thuyết và thực tế thì cả hai đại lượng này có thể được xác định bằng đơn vị giá trị hay hiện vật) nhưng nếu sử dụng đơn vị hiện vật thì khó khăn hơn vì trang thái hay đơn vị tính của đầu vào và đầu ra là khác nhau còn
sử dụng đơn vị giá trị sẽ luôn đưa được các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị Trong thực tế người ta sử dụng hiệu quả hoạt động SXKD là mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất cũng có những trường hợp sử dụng nó như
là một công cụ để đó lường khả năng đạt đến mục tiêu đã đặt ra
1.2 HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ CÔNG TY
CỔ PHẦN
1.2.1 Khái niệm về CTCP
1.2.1.1 Khái niệm: CTCP là doanh nghiệp, trong đó, vốn điều lệ được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông nắm cổ phần ưu đãi và cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu [3, tr 19]
Trang 10CTCP được hình thành chủ yếu do việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước hoặc từ việc thành lập CTCP mới theo luật định
1.2.1.2 Các đặc điểm cơ bản của CTCP
Ngoài các đặc điểm cơ bản như các loại hình doanh nghiệp khác thì CTCP còn có các đặc điểm sau:
CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
Cổ đông là người chủ sở hữu của công ty; có quyền và nghĩa vụ tương ứng với số cổ phần và loại cổ phần mà họ sở hữu
Cơ cấu tổ chức quản lý của CTCP gồm: Đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và Tổng giám đốc hoặc Giám đốc; đối với CTCP có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát
1.2.1.3 Những ưu và nhược điểm của CTCP
CTCP là một trong các loại hình doanh nhiệp được ưa chuộng nhất trên thế giới bởi các ưu điểm: Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm
vi số vốn đã góp vào công ty; dễ thu hút vốn trong công chúng bằng việc bán
CP ra thị trường; có khả năng huy động được kỹ năng, chuyên môn, tri thức nhiều người; tăng cường hiệu quả giám sát từ các cổ đông, các nhà đầu tư đối với hoạt động của công ty
Tuy nhiên, hình thức tổ chức CTCP còn có một số nhược điểm sau: Tốn nhiều chi phí và thời gian trong quá trình thành lập; khả năng bảo mật về tình hình kinh doanh và tài chính của công ty bị hạn chế do thông tin về công
ty phải công bố công khai; số lượng cổ đông lớn dễ dẫn đến sự phân hóa trong kiểm soát và tranh chấp quyền lợi giữa các nhóm cổ đông; tiềm ẩn nguy
cơ mất khả năng kiểm soát của những nhà sáng lập công ty vì có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý
Trang 11Từ những đặc điểm trên đây, đánh giá hiệu quả trong công ty cổ phần cần chú trọng đến hiệu quả dành cho cổ đông (như chỉ tiêu EPS), và đánh giá giúp cho quản trị, điều hành công ty đạt hiệu quả cao hơn Phân tích hiệu quả phải giúp Hội đồng quản trị kiểm soát chặt chẽ hơn hành động của ban giám đốc
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Luận văn đề cập đến 3 nhóm chỉ tiêu cơ bản đo lường hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp theo thước đo giá trị [10]:
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Đây là 3 chỉ tiêu đo lường hiệu quả theo thước đo giá trị (nhấn mạnh hiệu quả tài chính của doanh nghiệp)
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả
Ở nhóm chỉ tiêu này, luận văn sẽ dựa vào Báo cáo tài chính để phân tích nhằm làm rõ các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận, chi phí /doanh thu, lợi nhuận/doanh thu
Phân tích tăng trưởng doanh thu: Số liệu của chỉ tiêu này được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mục đích của phân tích chỉ tiêu này là nhằm chỉ rõ sự tăng trưởng doanh thu qua các năm, cũng như tốc độ tăng trưởng doanh thu qua từng năm ở giai đoạn trước cổ phần hoá và giai đoạn sau cổ phần tại công ty như thế nào qua đó khẳng định được hiệu quả hoạt động của công ty từ sau cổ phần hoá
Tổng doanh thu = Doanh thu thuần + Doanh thu tài chính + Doanh thu khác
Trong đó:
Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng – các khoản giảm trừ
Trang 12 Phân tích cơ cấu doanh thu : Đây là tỷ trọng doanh thu của hoạt động, bộ phận, thị trường so với tổng doanh thu Mục đích của phân tích này chủ yếu cung cấp cho quản trị nội bộ nhằm chỉ ra được hiệu quả của từng bộ phận, từng thị trường, từng nhóm sản phẩm, qua đó ban lãnh đạo công ty có hướng đầu tư đúng đắn vào từng nhóm sản phẩm, từng thị trường nhằm mang lại hiệu quả cao nhất
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất
+ Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Hiện nay, tài sản dài hạn trong doanh nghiệp gồm: các khoản phải thu dài hạn, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác
Khi phân tích hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn thường chủ yếu đánh giá hiệu suất sử dụng TSCĐ thông qua chỉ tiêu:
Hiệu suất sử dụng
Tài sản cố định =
Doanh thu thuần Nguyên giá TSCĐ bình quân
Trang 13Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá TSCĐ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần, giá trị này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao và ngược lại
+ Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Trong quá trình SXKD, TSNH luôn vận động không ngừng và lần lượt mang các hình thái khác nhau trong quá trình dự trữ, sản xuất, lưu thông phân phối TSNH là biểu hiện bằng tiền của số vốn lưu động tại doanh nghiệp Khi quản lý tốt việc sử dụng TSNH tức làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Xác định hiệu suất sử dụng TSNH chính là xem xét tốc độ luân chuyển TSNH Tốc độ luân chuyển TSNH cao không chỉ giải quyết nhu cầu về vốn
mà còn nâng cao khả năng sinh ra tiền, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Tốc độ luân chuyển TSNH được xem xét qua hai chỉ tiêu: Số vòng quay bình quân của TSNH và số ngày bình quân của một vòng quay TSNH
giai đoạn của quá trình tái sản xuất
Mặt khác, TSNH trong doanh nghiệp chủ yếu là hàng tồn kho và nợ phải thu, do đó cần có chỉ tiêu phản ánh cụ thể hơn về luân chuyển hàng tồn kho và khả năng thu hồi các khoản nợ phải thu Để đánh giá tốc độ luân chuyển hàng tồn kho qua chỉ tiêu số vòng quay của hàng tồn kho
Số vòng quay
của hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán Trị giá hàng tồn kho bình quân
Trang 14Hoặc có cách tính khác về số vòng quay của hàng tồn kho gồm việc lấy doanh thu thuần chia cho trị giá hàng tồn kho bình quân Tuy nhiên, cách tính trên thường được sử dụng nhiều hơn bởi giá vốn hàng bán phù hợp hơn so với doanh thu thuần vì giá vốn có quan hệ gắn liền với hàng tồn kho hơn
Số vòng quay hàng tồn kho là một thước đo chính xác để giám sát tình hình hàng tồn kho và tốc độ luân chuyển hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng càng giảm, chứng tỏ tốc độ luân chuyển hàng tồn kho càng nhanh
1.2.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) :
Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản chính là việc đánh giá khả năng sử dụng một cách tổng hợp các nguồn lực để tạo ra kết quả của hoạt động SXKD tại doanh nghiệp, hay nói cách khác đó chính là khả năng sinh lời của tài sản
Khả năng sinh lời của tài sản được biểu hiện qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Lợi nhuận
x 100 Tổng tài sản bình
quân
Lợi nhuận được sử dụng trong công thức này là lợi nhuận của hoạt động SXKD và hoạt động khác, được lấy từ chỉ tiêu “Tổng LNTT” trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Vì thế, chỉ tiêu tổng tài sản là toàn bộ tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng tài sản đầu tư thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Hệ số của ROA càng cao phản ánh sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả
Ngoài ra, để đánh giá khă năng sinh lời kinh tế (khả năng sinh lời phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế ngành và quản trị kinh doanh, không phụ thuộc
Trang 15vào quản trị tài chính), cần sử dụng chỉ tiêu ROA trước lãi vay (đôi khi được gọi là tỷ suất sinh lời kinh tế)
EBIT
x 100 Tổng tài sản bình
quân
Trong đó: EBIT là thu nhập trước lãi vay và thuế (earnings before interest and taxes) là một chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thu được lợi nhuận của công ty, bằng thu nhập trừ đi các chi phí, nhưng chưa trừ tiền (trả) lãi và thuế thu nhập EBIT được đề cập đến như "khoản kiếm được từ hoạt động", "lợi nhuận từ hoạt động" hay "thu nhập từ hoạt động"
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Hiệu quả sử dụng vốn được các nhà phân tích nhìn nhận ở khả năng sinh lời của doanh nghiệp Đây là một trong những nội dung phân tích được các nhà đầu tư, các nhà tín dụng và các cổ đông đặc biệt quan tâm vì nó gắn liền với lợi ích của họ cả về hiện tại và tương lai
Hiện nay, tiêu chuẩn phổ biến để các nhà quản lý và các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả sử dụng vốn CSH là tỷ suất sinh lời của vốn CSH (ROE)
Tỷ suất sinh lời của vốn CSH thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận với vốn CSH, được xác định theo công thức sau:
Tỷ suất lợi nhuận
trên vốn CSH (ROE)
=
Lợi nhuận sau thuế
x 100 Vốn CSH bình quân
Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời của vốn CSH Tác giả GS.TS Trương Bá Thanh cho rằng “Trong điều kiện doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn, nhất là thông qua thị trường tài chính, chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp càng có cơ hội tìm được nguồn vốn mới Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp dưới mức sinh lãi cần thiết của thị trường
Trang 16thì khả năng thu hút vốn CSH, khả năng đầu tư vào doanh nghiệp càng khó” [7, T124] Còn theo ThS Nguyễn Tấn Bình trong phần đánh giá hiện trạng tài chính của doanh nghiệp cho rằng “Không có gì là quá đáng khi nói rằng sự nghiệp của phần lớn các nhà quản trị cao cấp thăng trầm theo sự lên xuống của ROE ở công ty họ” ROE được gán cho tầm quan trọng như vậy là do tỷ
số này đã đo lường được tính hiệu quả của đồng vốn của các CSH công ty Nó xem xét lợi nhuận một đồng tiền của CSH mang đi đầu tư, đó là phần trăm lợi nhuận thu được của CSH trên vốn đầu tư của mình Nói tóm tại, nó đo lường tiền lời của mỗi đồng tiền vốn bỏ ra” [1, T58]
Như thế cho thấy, tỷ suất sinh lời vốn CSH là nhân tố cơ bản đóng vai trò quyết định đến tốc độ phát triển của vốn CSH bởi khả năng sinh lời vốn CSH càng cao thì chủ sở hữu càng để lại phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư và đây là điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư Tuy nhiên, giá trị của ROE quá cao cũng không phải là một điều hoàn toàn tốt bởi nó thường gắn liền với việc sử dụng vốn vay cao dẫn đến tính tự chủ tài chính thấp, điều này sẽ làm tăng rủi ro của doanh nghiệp Nên mục tiêu của các nhà quản trị là duy trì một giá trị ROE ổn định với mức rủi ro chấp nhận được
+ Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS)
Lãi cơ bản trên cổ phiếu là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi
cổ phiếu phổ thông đang được lưu hành trên thị trường Đây là một trong những chỉ tiêu cơ bản để lựa chọn cổ phiếu tốt và cùng là thông số tài chính phổ biến được các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thường sử dụng để quyết định đầu tư mua, bán cổ phiếu
EPS được tính như sau:
Lãi cơ bản trên
CP phổ thông
(EPS)
= LNST - Cổ tức của CP ưu đãi
Số lượng CP phổ thông
Trang 17EPS là chỉ số đánh giá khả năng sinh lời của CTCP trong việc tạo ra lợi nhuận trên một cổ phiếu mà cổ đông góp vốn, không phụ thuộc vào việc lên hay xuống giá cổ phiếu của công ty trên thị trường chứng khoán
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA DOANH NGHIỆP SAU CỔ PHẦN HÓA
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty cổ phần được nhận diên trong nhiều nghiên cứu cả về định tính và định lượng
Theo Tiến sĩ Trần Tiến Cường (Giam đốc phòng nghiên cứu chính sách cải cách doanh nghiệp và phát triển RDERDP, CIEM) và các nghiên cứu sinh nghiên cứu tại RDERDP, CIEM đã nghiên cứu vấn đề này và bài viết được đăng trên Tạp chí Viet Nam Economic management review số T.1(2007) [2] Ông và các đồng nghiệp đã đưa ra 3 nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau cổ phần hóa Các nhân tố này được trình bày tóm tắt dưới đây
1.3.1 Quản trị công ty
Việc ra quyết định trong các vấn đề quan trọng đã có một số thay đổi lớn Trước khi cổ phần hóa, các quyết định liên quan đến các vấn đề quan trọng trong các doanh nghiệp đến từ bên ngoài Sau cổ phần hoá, điều này đã được phân cấp cho các doanh nghiệp cổ phần hoá Vì vậy, những quyết định này quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của doanh nghiệp và cũng có thể quan tâm nhiều hơn đến các mục tiêu kinh tế, cụ thể là:
Cơ chế bổ nhiệm quản lý điều hành
Trong quá trình cổ phần hóa, ảnh hưởng của các cơ quan cấp trên, tổng công ty, và các công ty mẹ này rất rõ ràng Điều này là bởi vì các bên liên quan có ảnh hưởng lớn nhất trong việc lựa chọn Giám đốc, mặc dù 22% doanh nghiệp nghĩ rằng người lao động đã có ảnh hưởng nhiều trong việc bổ nhiệm một giám đốc Điều này là dễ hiểu bởi vì, khi bổ nhiệm một giám đốc
Trang 18trong thời gian cổ phần hóa, người lao động là cổ đông sáng lập và đã có một ảnh hưởng lớn đến quyết định và bổ nhiệm một giám đốc
Sau khi chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần hoá, ban giám đốc sẽ
có ảnh hưởng nhất trong việc lựa chọn một giám đốc của một công ty Tuy nhiên, ngoài vai trò quan trọng của hội đồng quản trị, công nhân vẫn có quyền nhất định trong việc lựa chọn một giám đốc
Kết quả của cuộc khảo sát cho thấy rằng ảnh hưởng của cơ quan quản
lý trong việc bổ nhiệm một giám đốc sau khi cổ phần hóa đã giảm đáng kể so với trong quá trình cổ phần hóa Điều này xảy ra không chỉ sau khi cổ phần hoá, mà còn trong quá trình cổ phần hóa Hiện đã có một sự tách biệt của việc sở hữu và quản lý trong một doanh nghiệp cổ phần hoá Tách biệt này, cùng với một cơ chế giám sát hiệu quả, đã tạo ra quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý doanh nghiệp một cách minh bạch
Vai trò của người ra quyết định trong các vấn đề quan trọng
Trước khi cổ phần hóa, quản trị trong doanh nghiệp nhà nước thường chồng chéo và thiếu minh bạch, đặc biệt là trong việc thi hành quyết định Vẫn còn có sự tham gia của nhiều bên liên quan như ban giám đốc, giám đốc,
và các cơ quan quản lý trong việc quyết định vào các vấn đề quan trọng của công ty
Cuộc khảo sát cho thấy có những thay đổi sau khi cổ phần hóa trong cơ quan của cá nhân và tổ chức đã đề cập ở trên Đồng thời, so với thời kỳ trước
cổ phần hoá, vai trò của công nhân, chính quyền địa phương, chính quyền trung ương và các tổ chức Đảng trực tiếp tham gia vào các quyết định hành chính đã thay đổi đáng kể Sự suy giảm vai trò của tổ chức, cá nhân trong quản trị doanh nghiệp bằng sự tập trung quyền hạn trong Ban Giám đốc và Giám đốc, đồng thời, tăng cường trách nhiệm sau này vì lợi ích của phát triển kinh doanh của công ty Tuy nhiên, vai trò của nhà nước giảm so với giai
Trang 19đoạn trước khi cổ phần hóa không có nghĩa là họ không có bất kỳ ảnh hưởng đến việc ra quyết định Kết luận này được xác minh sau khi cuộc phỏng vấn tại một số doanh nghiệp cổ phần hoá
Rà soát các mức độ của sự tham gia của các bên liên quan trong từng quyết định cụ thể ở doanh nghiệp cổ phần hoá cung cấp cho chúng tôi với các nội dung sau
Hội đồng quản trị giữ vai trò quan trọng nhất trong việc quyết định đầu
tư lớn của doanh nghiệp cổ phần hoá Đây là hợp lý bởi vì chức năng chính của ban giám đốc phải tập trung vào giải quyết các vấn đề chiến lược của công ty Ngược lại, mặc dù một giám đốc công ty có ảnh hưởng nhất định, tuy nhiên so với doanh nghiệp Nhà Nước mức ảnh hưởng này đã giảm đáng kể Một giám đốc là một trong những người có quyền lực và ảnh hưởng lớn nhất
về các vấn đề quyết định như số lượng, tiền lương và lợi ích của người lao động trong công ty Điều này là phù hợp với quy định hiện hành
Thay đổi trong quản lý cấp cao
Cổ phần hóa đã không mang lại sự rối loạn lớn trong nhân viên Cuộc khảo sát cho thấy 80-90% doanh nghiệp cho biết rằng đã có không có thay đổi trong vị trí của chủ tịch, ban giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, Kế toán trưởng Như vậy, một mặt, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước không nhất thiết cần phải thay đổi quá nhiều về nhân sự, trong khi mặt khác, quan trọng hơn, nó đảm bảo rằng các doanh nghiệp cổ phần hoá vẫn có thể đạt được hiệu quả kinh doanh và sản xuất với các nguồn nhân lực còn lại bởi các mô hình doanh nghiệp nhà nước Nói cách khác, những thay đổi đó đã giúp mang lại thành công cho các doanh nghiệp sau cổ phần hóa không phải là việc đổi mới nhân viên mà do cơ chế hoạt động và các mô hình quản trị doanh nghiệp
1.3.2.Tái cấu trúc
Trang 20Qua kết quả khảo sát của ông và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng phần lớn các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa, đến một mức độ nhất định, thay đổi trong cấu trúc sản phẩm và thị trường, công nghệ sản xuất, và chất lượng sản phẩm Cụ thể, đã có 25% doanh nghiệp cổ phần hoá thông qua những thay đổi trong thị trường và cơ cấu sản phẩm, khoảng 28% thực hiện đổi mới trong kỹ thuật, công nghệ và quy trình sản xuất Đối với chất lượng sản phẩm, trong giai đoạn hậu cổ phần hóa 40% của các doanh nghiệp đã thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm Nhờ vậy mà hiệu quả của các doanh nghiệp ngày một tiến bộ
1.3.3.Thay đổi trong bản chất hoạt động kinh doanh
Sau cổ phần hoá tính chủ động trong quản lý cũng như mức độ tự quyết của các nhà quản lý trong doanh nghiệp đã giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận và hiệu quả đã tăng lên đáng kể Quan hệ chặt chẽ giữa trách nhiệm của nhà quản lý và công nhân làm cho nó dễ dàng hơn để sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và nguồn lực doanh nghiệp Đây là lý do tại sao 85% các doanh nghiệp nhận thức được rằng họ phải sử dụng năng lực sản xuất doanh nghiệp hiệu quả hơn so với trước khi cổ phần hoá
Đối với công nhân, so với thời kỳ trước cổ phần hóa, các thiết lập của tiền lương, tiền thưởng đã được phụ thuộc nhiều hơn vào hoạt động sản xuất kinh doanh
1.4 Một số tác giả khác nhận diện theo cách định tính một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty sau cổ phần hóa Chẳng hạn
GS.TS Ngô đình Giao và GS.TS Trần Quang Minh [6, tr 174], đưa ra bốn
nhân tố sau có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau cổ phần hóa: CPH huy
động thêm vốn của xã hội đầu tư vào hoạt động SXKD, CPH tạo ra doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, CTCP tạo điều kiện để người lao động thực sự
Trang 21làm chủ doanh nghiệp, CTCP tạo ra cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng
động, linh hoạt
Luận văn sẽ trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa theo kết quả nghiên cứu của Trần Tiến Cường và các cộng sự bởi nghiên cứu của ông và các cộng sự đã
được kiểm chứng bằng khảo sát thực tế ở 559 doanh nghiệp tại nước ta Các nhân tố này sẽ được kiểm chứng tại Công ty nghiên cứu ở chương 2
Trang 22Chương 1 tác giả đã trình bày các chỉ tiêu để phân tích hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau cổ phần hóa
Trên cơ sở chương 1 để chương 2 tiến hành thu thập số liệu và đánh giá hiệu quả hoạt động tại công ty sau cổ phần hóa cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đó
Trang 23CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI TỔNG CÔNG TY SAU
CỔ PHẦN HÓA 2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH, TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN Y TẾ DANAMECO
2.1.1 Giới thiệu về Công ty
Công ty đã trải qua 32 năm hoạt động và phát triển với các tên gọi khác nhau Dưới góc độ của đề tài, quá trình phát triển của công ty được chia ra hai giai đoạn phát triển có sự thay đổi lớn: Trước và sau cổ phần hóa
Tổng CTCP y tế Danameco là một doanh nghiệp nhà nước, là đơn vị thành viên của Tổng Công ty Thiết bị Y tế Việt Nam lấy tên là Công ty Thiết
bị Y tế TW3 Đà Nẵng theo Quyết định số 34/BYT-QĐ của Bộ trưởng Bộ y tế ngày 13/01/1997
Trụ sơ đặt tại : 105 Hùng Vương, Phường Hải Châu I, Quận Hải Châu, Thành Phố Đà Nẵng
Tại thời điểm này công ty có 2 văn phòng đại diện tại TPHCM và Thủ
đô Hà nội, một xưởng sản xuất bông băng gạc vật tư y tế và một trung tâm sửa chữa bảo trì thiết bị y tế miền trung tại TP đà nẵng
Thực hiện chủ trương Cổ phần hoá các Doanh nghiệp của Nhà nước, Công ty được đổi tên thành Công ty cổ phần y tế DANAMECO theo Quyết định số 3596/ QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ y tế ngày 12/10/2004 và chính thức
đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ tháng 7/2005 Trụ sở đặt tại : 105 Hùng Vương, Phường Hải Châu I, Quận Hải Châu, Thành Phố Đà Nẵng
Tên giao dịch chứng khoán: DNM
Trang 24Tại thời điểm này công ty gồm có 1 công ty con với tên gọi Công ty TNHH 1 thành viên Danameco – Quảng Nam được đặt tại : Cụm Công Nghiệp Trảng Nhật 2 - Xã Điện Hoà- Huyện Điện Bàn- Tỉnh Quảng Nam
Ngoài ra Công ty còn có các đơn vị trực thuộc hoạt động phụ thuộc:
TẾ DANAMECO tại Hà Nội
Số 1, ngõ 135 Núi Trúc - Ba Đình - Hà
5 Xí nghiệp sản xuất Bông Băng Gạc và Vật
Tư y tế Hoà Cường
464/14 Núi Thành -
TP Đà Nẵng
6 Trung tâm giặt tẩy và dịch vụ y tế tổng hợp Số 1 phan kế bính -TP
Đà Nẵng
2.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh
2.1.2.1 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh
- Sản xuất và kinh doanh thiết bị và vật tư y tế;
- Sản xuất bông băng gạc y tế, các sản phẩm dùng một lần trong phẩu thuật, gói đỡ đẻ sạch và sản xuất các sản phẩm phục vụ cấp cứu chấn thương, thiên tai dịch họa;
- Xuất nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, dụng cụ, thiết bị y tế
Trang 25- Kinh doanh hóa chất xét nghiệm, hóa chất chống dịch, dụng cụ, thiết
bị khoa học kỹ thuật, xe cứu thương và các thiết bị, dụng cụ phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
- Dịch vụ tư vấn sửa chữa, bảo trì, thiết kế xây dựng labo xét nghiệm, phòng mổ, phòng X-Quang và các công ty chuyên ngành y tế
- Đảm nhận công tác hậu cần cho các chương trình tiếp nhận và phân phối hàng viện trợ khu vực miền trung và tây nguyên
2.1.2.2 Mặt hàng, sản phẩm của doanh nghiệp
- Sản phẩm dùng trong phẫu thuật: Khẩu trang, gạc phẫu thuật ổ bụng, gạc phẫu thuật, gạc cầu, gạc mèche phẫu thuật, tấm trãi, khăn…
- Sản phẩm dùng trong cấp cứu chấn thương: Băng thun, băng cuộn lưới, băng cuộn gạc, băng tam giác, cán cứu thương, áo phao…
- Gói đỡ đẻ sạch, bộ sanh, băng rốn trẻ sơ sinh
- Thùng carton các loại
- Trang phục phẫu thuật, trang phục chống dịch
2.1.2.3 Nguồn nguyên vật liệu
Nguồn NVL phục vụ sản xuất và hàng hóa kinh doanh của Công ty phần lớn là nhập khẩu từ các nhà sản xuất lớn, đạt tiêu chuẩn như công ty Charles wembley, công ty Shaoxing Gangfeng Hospital products, công ty Kichietsu busan, công ty Healthy Medacal development, công ty Johnson & Johnson Medical Singapore,… và các nhà cung cấp nổi tiếng khác ở các nước
Mỹ, Nhật, Châu âu
Việc lựa chọn nhà cung ứng là một trong những tiêu chí góp phần tạo nên sự ổn định về chất lượng cho sản phẩm Công ty danameco luôn chọn mua và cung cấp đầy đủ kịp thời nguyên liệu với tiêu chuẩn chất lượng và giá
cả hợp lý cho sản xuất kinh doanh
Trang 262.1.2.4 Trình độ công nghệ
Hiện nay ở công ty đang áp dụng 2 phương pháp sản xuất sau:
+ Phương pháp thủ công truyền thống: Theo phương pháp này sản phẩm chủ yếu được làm từ bàn tay của con người, tất cả các bước để tạo ra sản phẩm, qua các giai đoạn trung gian đều được làm từ bàn tay của người lao động
+ Phương pháp tạo ra sản phẩm từ máy móc thiết bị: Theo phương pháp này sản phẩm được tạo ra thông qua một quy trình công nghệ sản xuất Con người chỉ việc vận hành máy và sản phẩm tạo ra sẽ không phải làm theo thủ công mà làm từ máy móc thiết bị đó là “ máy gấp gạc tự động”
Hoạt động sản xuất của công ty đang ở mức bán tự động Chỉ một số khâu như dập, cắt là tự động hoàn toàn Tổng công ty đang nổ lực hiện đại hóa và đồng bộ hóa hệ thống sản xuất dây chuyền tối thiểu chi phí nhân công, nâng cao chất lượng sản phẩm
2.1.3 Đặc điểm tổ chức SXKD và tổ chức quản lý tại Tổng công ty
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức Công ty
Tổng công ty cổ phần Y tế Danameco được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
số 60/2005/QH 11 ngày 29/11 năm 2005 Các hoạt động của Công ty tuân thủ Luật doanh nghiệp, các luật khác có liên quan và Điều lệ Công ty được Đại hội đồng cổ đông nhất trí thông qua
Trang 27Sơ đồ 2.1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN Y TẾ DANAMECO
CTY TNHH MTV DANAMECO QUẢNG NAM
CTY TNHH MTV DANAMECO QUẢNG NAM
CTY TNHH MTV DANAMECO QUẢNG NAM
CTY TNHH MTV DANAMECO QUẢNG NAM
CTY TNHH MTV DANAMECO QUẢNG NAM
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
KINH DOANH THỊ TRƯỜNG
HÀNH CHÍNH NHÂN SỰ
TT DỊCH
VỤ KỸ THUẬT HẬU CẦN
XN BÔNG BĂNG GẠC VTYT HÒA CƯỜNG
KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
CTY TNHH MTV DANAMECO QUẢNG NAM
CTY TNHH MTV DANAMECO QUẢNG NAM
Trang 28a Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
Thành viên hội đồng quản trị gồm:
Cty CP đầu tư tài chính Thăng Long
b Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là những người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động quản trị và điều hành kinh doanh của Công ty Là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra
Thành viên Ban kiểm soát gồm:
Cty CP chứng khoán Thăng Long
Trang 29- Tổng giám đốc: Điều hành mọi hoạt động của Tổng Công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị và pháp luật về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
- Các phó tổng giám đốc: Giup việc cho Tổng giám đốc quản lý, chỉ đạo, điều hành các mãng công việc tại khối kinh doanh – thị trường, khối sản xuất – công nghệ - kỹ thuật, khối kế hoạch- tài chính và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc, pháp luật về các phần công việc được giao phụ trách;
- Kế toán trưởng: Tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc trong việc quản lý, thực hiện nghiệp vụ công tác kế toán – tài chính phù hợp với mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trong từng giai đoạn
kế hoạch và Luật định
c Các phòng ban và khối tham mưu
Gồm các phòng, ban có chức năng tham mưu và giúp việc cho Ban giám đốc, trực tiếp điều hành chức năng chuyên môn và chỉ đạo của Ban giám đốc:
- Phòng hành chính – nhân sự:
- Phòng Kiểm soát – nội bộ:
- Phòng kế hoạch – Tài chính:
- Phòng kinh doanh thị trường:
- Phòng xuất nhập khẩu – Đối ngoại:
- Xí nghiệp sản xuất bông băng gạc và vật tư y tế - hòa cường:
- Trung tâm dich vụ kỹ thuật – hậu cần y tế:
- Trung tâm dịch vụ y tế - Tổng hợp:
- Chi nhánh Tp Hồ chí minh, Hà Nội, Đà nẵng và Quảng Nam:
- Các cửa hàng trực thuộc Tổng công ty
Trang 30PHẦN HÓA CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
2.2.1 Giai đoạn trước cổ phần hoá
Quản trị công ty
Đây là giai đoạn mà mọi hoạt động của công ty đều dưới sự quản lý kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, từ quyết định về nhân sự như bổ nhiệm hay miễn nhiệm đến quyết định về đầu tư phải qua nhiều thủ tục hành chính mất rất nhiều thời gian, cụ thể về nhân sự với chức danh nào đã được bổ nhiệm thì rất khó bị miễn nhiệm vị trí đó cho dù cán bộ ở chức danh đó không có năng lực đi chăng nữa, về đầu tư mọi quyết định đầu tư từ dự án nhỏ đến dự án lớn phải xin cơ quan cấp trên, doanh nghiệp không được tự quyết định vấn đề đầu tư, chính vì vậy đã nhiều lần công ty bị mất nhiều cơ hội do thủ tục hành chính quá mất thời gian
Ở giai đoạn này tất cả các công việc không được xây dựng dựa trên một quy chuẩn nào cả, mặc dầu vẫn có sơ đồ tổ chức vẫn quy định chức năng nhiệm vụ của các phòng ban nhưng rất mờ nhạt, mang tính chung chung của tất cả các cơ quan nhà nước, không rạch ròi cho từng bộ phận, công việc chồng chéo lẫn nhau dẫn đến khi phát hiện một hành vi sai phạm thường không có căn cứ để quy trách nhiệm cụ thể cho bất kỳ ai, không có phân công phân nhiệm rõ ràng
Công việc thì mang tính cá nhân, dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu, công việc không có tính chia sẻ, phần ai nấy biết điều này ảnh hưởng rất lớn hiệu quả công việc, chẳng hạn như tại công ty có một cán bộ làm giá thành
đã lâu nên Ban lãnh đạo có ý định thay thế, để nâng cao năng lực của mình ông cho rằng đây là công việc hết sức quan trọng, nên đòi hỏi người làm phải giỏi và cẩn thận, công ty đã tuyển dụng đến người thứ 3 vào học việc tại vị trí của ông nhưng không ai thành công vì tất cả ông cho là không có
Trang 31nghiệp nhưng ông vẫn phải kiêm nhiệm công việc tính giá thành vì không ai làm được công việc này
Về tổ chức sản xuất
Bộ máy tại xí nghiệp sản xuất vào thời điểm này chỉ bao gồm: Giám đốc xí nghiệp, Bộ phận điều độ, Bộ phận KCS, và các tổ sản xuất Bộ phận điều độ trực tiếp chỉ đạo cho các tổ trưởng tổ sản xuất (khoản 10 tổ) về kế hoạch sản xuất nên công việc thường bị chồng chéo, nhầm lẫn, dẫn đến hàng hóa lộn xộn Về quy trình cho bộ phận này cũng không có dẫn đến việc cung cấp hàng cho ai, bộ phận nào không theo quy trình mà phụ thuộc hoàn toàn vào người làm điều độ, tạo nên những tiêu cực không đáng có tại bộ phận này Ngoài ra vào thời điểm này Công ty chỉ có 2 văn phòng đại diện tại Hồ Chí Minh và Hà Nội, hai văn phòng đại diện này hoạt động phụ thuộc nên không phát huy được khả năng khám phá thị trường của họ
Các sản phẩm của công ty lúc này chủ yếu làm bằng thủ công, dẫn đến năng suất lao động thấp, công nhân thường xuyên tăng ca nhưng vẫn không đủ hàng hóa đáp ứng được nhu cầu thị trường Công ty hoạt động trong lĩnh vực y tế nên sản phẩm phải đạt độ vô trùng nhất định vì nó ảnh hưởng đến tính mạng con người, tuy nhiên tại công ty chỉ có một máy tiệt trùng với công suất tiệt trùng được 12 thùng quy cách 56x42x42 trong 1 ngày, điều này dẫn đến lượng hàng làm ra phải gửi đi tiệt trùng bên ngoài nên chi phí càng tăng cao, hàng hóa bị động
Mẫu mã tuy là hình thức nhưng nó cũng không kém phần quan trọng trong cơ cấu sản phẩm với bao bì bằng nylon chất liệu bình thường nên khi tiệt trùng sản phẩm tốn chi phí cao (trước khi tiệt trùng sản phẩm phải gọi công nhân thay đồ từ áo quần mũ khẩu trang rồi mới vào phòng vô trùng và ngồi tại phòng này để kít các sản phẩm, sau đó KCS vào kiểm tra xác xuất
Trang 32trùng phải được xử lý thuốc rất kỹ trước khi lô khác tiệt trùng) nhưng kết quả thu được tỷ lệ sản phẩm hỏng cao, độ vô trùng đảm bảo nhưng thấp, quy trình kiểm hàng khó phát hiện hàng kém chất lượng
Không có bộ phận hàng mẫu, bộ phận xử lý thông tin khách hàng dẫn đến việc tìm kiếm thị trường cho sản phẩm mới rất khó, việc cung cấp hàng mẫu cho các bệnh viện dự thầu thường xuyên trễ, nhầm lẫn mẫu giữa các bệnh viện với nhau, các bác sĩ trong bệnh viện phản hồi về sản phẩm chẳng hạn như yêu cầu thay đổi cách gấp chẳng hạn thường không được đáp ứng ngay mặc dầu đó là công việc hết sức đơn giản
Cơ sở vật chất phục vụ cho công việc rất hạn chế, chẳng hạn như phân xưởng sản xuất tập trung tại một khu, dẫn đến hàng hóa dễ nhầm lẫn, kho thành phẩm và kho nguyên vật liệu đặt chung tại một nhà kho, tạo điều kiện hàng hóa dễ thất thoát, nhầm lẫn với nhau Bên cạnh đó cơ sở vật chất phục
vụ cho người lao động như nhà ăn, nhà nghỉ trưa hầu như không có, đến cả nhà xe cũng chỉ có tạm mà thôi
Về bản chất hoạt động kinh doanh
Với tư cách là doanh nghiệp nhà nước bản chất hoạt động kinh doanh lúc này của công ty là hoạt động với nhiều sứ mệnh, mục tiêu chưa rõ ràng, đôi lúc phục vụ vì lợi ích cộng đồng như nhiều dự án chăm sóc sức khỏe sính sản, công ty chủ yếu sản xuất để phát miễn phí cho các tỉnh thành trong
cả nước đôi lúc lại vì mục tiêu lợi nhuận Chính vì vậy các mục tiêu lẫn lộn nên khó quản lý, không kiểm soát hết được chi phí, lợi nhuận
Người lao động làm việc với thái độ thụ động không cố gắng hết mình vì thu nhập của họ đa số được trả theo ngày công đối với cán bộ gián tiếp, đơn giá công nhật đối với cán bộ trực tiếp Họ quan niệm rằng dù họ có cố gắng bao
Trang 33có chính sách trả lương hợp lý để kích thích thái độ làm việc của họ
ối với tài sản của công ty, người lao động không cần phải gìn giữ, bảo
vệ, nguyên vật liệu trong sản xuất không cần phải tiết kiệm bởi vì họ cho rằng đây là tài sản của nhà nước, tiền của nhà nước bỏ ra bản thân họ chỉ là người làm công ăn lương, dù họ bảo vệ hay không cũng không ảnh hưởng gì đến họ, hay nói cách khác lương họ vẫn không thay đổi Chính vì vậy họ không có ý thức để bảo vệ tài sản cho công ty, họ không có động lực để làm điều đó
Tỷ lệ hao hụt nguyên vật liệu không được kiểm soát, không có ai quản
lý tỷ lệ này mặc dù ban lãnh đạo vẫn chỉ đạo phải hạn chế hao hụt nguyên vật liệu trong dây chuyền sản xuất tuy nhiên vấn đề này không có quy định
rõ ràng, hơn nữa chỉ đạo là như vậy nhưng không có người tiến hành kiểm tra mệnh lệnh đó dẫn đến chi phí hao hụt cao, giá thành cao
2.2.2 Giai đoạn sau cổ phần hoá
Quản trị công ty
Doanh nghiệp được chủ động trong mọi lĩnh vực từ quyết định nhân
sự, đến quyết định về đầu tư tất cả đều được HĐQT bàn và quyết định trên
cơ sở tính toán xem doanh nghiệp cần mua gì, đổi mới gì có phù hợp với điều kiện SXKD và tình hình tài chính của công ty không Qúa trình tính toán và quyết định diễn ra khẩn trương, dứt khoát đáp ưng yêu cầu về thời gian, tiến độ mà không cần phải chờ vào sự phê duyệt của bất kỳ ai Đây là một thuận lợi rất cơ bản để tự chủ nắm bắt cơ hội mở rộng SXKD không phải lệ thuộc chờ đợi vào bất kỳ ai Về nhân sự cũng vậy, thủ tục rất nhanh chóng, từ vị trí bổ nhiệm cũng như miễn nhiệm, từ ngày họp để thống nhất
vị trí nào thì chỉ sau một đến 2 ngày phòng nhân sự hành chính sẽ ký quyết định và có hiệu lực ngay
Trang 34trị bao gồm : tổ chức bộ máy, chính sách, quy chế, quy trình nghiệp vụ, kiểm tra kiểm soát, quy định đầy đủ các chức năng , nhiệm vụ của các bộ phận, có
sự phân công, phân nhiệm, ủy quyền rõ ràng, xác định được trách nhiệm cá nhân gắn với chất lượng công việc và quyền lợi của người thực hiện , tất cả các quy trình nghiệp vụ và hướng dẫn thực hiện để rõ ràng và đặc biệt sau
cổ phần hóa đã thiết lập một phòng ban mới đó là phòng kiểm soát nội bộ, phòng này có chức năng hàng tháng kiểm tra tất cả chứng từ của các bộ phận xem có thực hiện đầy đủ như quy trình xây dựng hay không, và có một bảng báo cáo có đầy đủ chữ ký xác nhận của bộ phận kiểm tra và được kiểm tra ký vào trình Tổng giám đốc Chính điều này bước đầu đã gây ra một số phản ứng nhưng tất cả đều vì lợi ích của bản thân họ và đặc biệt là lợi ích chung của toàn công ty nên hiện nay công việc đã dần đi vào ổn định và hoàn thiện hơn
Việc sử dụng phần mềm kế toán đã giúp thông tin tại doanh nghiệp có tính chia sẻ hơn, chẳng hạn như ví dụ ở giai đoạn trước cổ phần về việc giám đốc xí nghiệp kiêm kế toán giá thành vì không có ai đủ năng lực để thay thế, đến giai đoạn này người thứ tư được tuyển dụng để thay thế vị trí kế toán giá thành, đúng vào lúc phần mềm kế toán được triển khai, mọi thông tin bắt buộc ông phải khai báo để người viết chương trình viết được phân hệ giá thành, căn cứ vào những gì ông dấu bấy lâu nay, người mới tiếp cận công việc rất nhanh chóng kèm theo năng lực vốn có của tuổi trẻ, người thứ 4 này
đã làm tốt hơn ông rất nhiều và đặc biệt đã phát hiện ra nhiều cái sai nghiêm trọng trong việc tính giá thành bằng exel của ông, vậy là từ một cán bộ giỏi như ông đã không thể giải thích được những cái sai mà cán bộ trẻ này đưa
ra Đặc biệt hiện nay với phần mềm ERP mà công ty đang sử dụng càng giúp
Trang 35việc quản lý tại công ty hiệu quả hơn rất nhiều
Ví dụ : Qui định về lập giá bán sản phẩm chi tiết phần phụ lục(phụ lục
Với quyền tự quyết trong mọi lĩnh vực, sau cổ phần hoá công ty đã đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, đặc biệt những sản phẩm có sản lượng tiêu thụ lớn công ty đã đầu tư máy gấp tự động, cho năng suất cao, về máy tiệt trùng công ty đã đầu tư thêm một máy tiệt trùng với công suất gấp 4 lần máy hiện tại và nhờ vậy không còn tình trạng gửi đi tiệt trùng bên ngoài, điều này
đã giúp công ty chủ động trong việc cung cấp hàng hóa, tạo uy tín cho khách hàng hơn
Về mẫu mã sản phẩm đã có sáng kiến đáng kinh ngạc, với sự tìm tòi
và nghiên cứu của các kỹ sư giỏi, việc nhập khẩu bao nylon từ nước ngoài
đã giúp cho các công đoạn tiệt trùng đơn giản hơn rất nhiều, và có lẽ hiện
Trang 36lượng cao, với bao bì mới này người lao động chỉ cần bỏ sản phẩm làm được vào bao, sau đó dán miệng bao lại và chuyển hàng xuống bỏ vào máy tiệt trùng là xong, với cách tiệt trùng này bộ phận KCS kiểm hàng rất dễ dàng và
độ vô trùng đạt được rất cao, đảm bảo an toàn cho người bệnh Theo tính toán tuy bao bì này đắt hơn bao bì cũ nhưng bù lại tiết kiệm về chi phí tiệt trùng rất nhiều, theo tính toán hàng năm với sáng kiến này mang lại lợi ích hàng tỷ đồng cho công ty hàng năm
Bộ phận hàng mẫu và xử lý thông tin được thiết lập, ở bộ phận này Giám đốc xí nghiệp đã lựa chọn những công nhân có tay nghề giỏi, cẩn thận
và có khả năng sáng kiến, nhờ vậy những mẫu mà khách hàng yêu cầu bộ phận này đã đáp ứng được ngay nhờ vậy mà nhiều mặt hàng trước đây các bệnh viện nhập khẩu đã chuyển sang mua tại công ty , việc cung cấp hàng mẫu cho các bệnh viện chào thầu đã kịp thời, và đặc biệt việc xử lý thông tin khiếu nại khách hàng rất nhanh chóng Điều này giúp công ty tạo được uy tín hơn cho khách hàng
Cơ sở vật chất phục vụ cho công việc đã được đầu tư rất hợp lý, hiện nay tại xí nghiệp sản xuất đã có 3 phân xưởng rõ rệt, mỗi phân xưởng chịu một nhóm hàng hóa, nâng cao tính chuyên môn hóa của sản phẩm, mỗi xưởng có một quản đốc, một KCS, một kỹ thuật nhằm đảm bảo chất lượng cũng như sữa chữa máy móc kịp thời cho công nhân sản xuất, về kho vận kho NVL nằm tách biệt với kho thành phẩm với thiết kế phù hợp với việc nhập hàng vào và xuất hàng ra Bên cạnh đó cơ sở vật chất phục vụ cho người lao động như nhà ăn, nhà nghỉ trưa, nhà để xe đã được xây dựng mới hoàn toàn
Trang 37Là công ty cổ phần, với vốn góp của rất nhiều cổ đông bản chất hoạt động kinh doanh lúc này của công ty rất rõ ràng , mục tiêu chính của công ty
là tối đa hóa lợi nhuận Với mục tiêu rõ ràng này mọi hoạt động của công ty đều nhằm đến mục tiêu chính này
Sau cổ phần hóa, hầu hết người lao động đã trở thành cổ đông, quyền lợi và trách nhiệm của người lao động gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, trở thành người chủ của doanh nghiệp thì người lao động
sẽ có trách nhiệm với công ty hơn Có như vậy thì kết quả SXKD của công
ty mới thực sự có hiệu quả, họ mới được hưởng lợi nhuận cao xứng đáng với sức lao động và đồng vốn mà mình bỏ ra
Ngoài ra với việc thay đổi cách tính lương, đối với cán bộ gián tiếp hưởng lương theo doanh số, đối với cán bộ trực tiếp hưởng lương theo sản phẩm nhập kho, tất cả các sản phẩm đều có định mức được ký duyệt rõ ràng, giúp người lao động làm việc hăng say hơn, họ làm nhiều họ sẽ được hưởng nhiều, khác hẳn với trước đây nên tình thần làm việc của họ cao hơn giúp tạo
ra năng suất lao động nhiều hơn
Đối với tài sản của công ty, người lao động đã ý thức phải gìn giữ, bảo
vệ, nguyên vật liệu trong sản xuất cần phải giảm hao hụt bởi vì đồng vốn của
họ có trong những tài sản đó, nếu họ không gìn giữ nó tài sản của họ sẽ bị mất bởi chính họ, sau cổ phần hóa ý thức của người lao động đã giúp công ty bảo vệ và phát huy được những tài sản mà công ty đầu tư
Tỷ lệ hao hụt nguyên vật liệu được kiểm soát chặt chẽ, một phần do ý thức của người lao động, một phần nữa là do quy định rõ ràng của công ty, quản đốc các phân xưởng sẽ chịu trách nhiệm về hao hụt của xưởng mình, xưởng nào có tỷ lệ hao hụt lớn hơn mức quy định phải giải trình cụ thể sau mỗi quý, nếu không giải trình được lý do sẽ bị phạt hành chính
Trang 382.3.1 Giả thuyết
Chương trình sắp xếp đổi mới DNNN mà trọng tâm là CPH DNNN được thí điểm từ năm 1992, kết quả của quá trình này là tạo ra CTCP hoạt động tự chủ năng động hơn và tất yếu là hiệu quả hơn so với DNNN Báo cáo nghiên cứu về hậu CPH DNNN của Viện Nghiên Cứu Quản Lý kinh tế
TW [9], sau CPH hoạt động SXKD của các doanh nghiệp đều được triển khai tích cực Qua khảo sát 559 doanh nghiệp CPH hơn 1 năm trở lên thì có 87,53% khẳng định kết quả hoạt động SXKD là tốt hơn, tuy rằng còn rất nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết
Tại tổng công ty cổ phần y tế Danameco, Sau cổ phần hóa cán bộ lãnh đạo thực sự quan tâm đến công ty vì đó chính là quan tâm đến quyền lợi của bản thân mình, lãi thì được hưởng lỗ thì phải chịu trách nhiệm Sự nhiệt tình trong công việc toàn tâm lo cho sự phát triển của toàn công ty của đội ngũ lãnh đạo và lao động trong công ty là một động lực đáng kể nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD cho công ty Với định hướng rõ ràng : Bám sát tầm nhìn – sứ mạng – các giá trị cốt lõi , thực hiện đúng tay nghề, tập trung vào năng lực lõi của mình, không đầu tư tràn lan DNM khai thác sâu hiệu quả ở các khía cạnh: hệ thống, thông tin, tài sản, con người và sản phẩm sao cho tất cả đều trở nên có ích
Tạo hiệu ứng “Kiềng 3 chân” từ cổ đông, khách hàng và người lao động là một trong những chiến lược thành công của Danameco trong những năm sau cổ phần hoá, ngoài ra DNM còn hướng đến cả cộng đồng xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động và cống hiến
Sau cổ phần hóa với những thay đổi ở nhiều khía cạnh từ quản trị công ty, tái cấu trúc đến bản chất hoạt động kinh doanh (xem ở trên) Với định hướng đúng đắn, công ty đã mạnh dạn đầu tư nhà máy SX BBG và
Trang 39tiếp sau đó để phục vụ kịp thời cho sản xuất, lần lượt dây chuyền bao bì, dây chuyền sản xuất thùng carton được đầu tư nhằm phục vụ cho sản xuất khép kín Vì hoạt động trong lĩnh vực y tế qua phân tích thị trường Ban lãnh đạo công ty nhận thấy được nhu cầu sử dụng găng tay trong các bệnh viện, trung tâm y tế, ngày càng gia tăng nhưng ở nước ta chỉ có 2-3 đơn vị sản xuất chính vì vậy HĐQT đã không ngần ngại quyết định đầu tư ngay chuyền sản xuất găng tay phẫu thuật với số vốn lên đến 30 tỷ đồng
Cùng với những ưu đãi của nhà nước cho doanh nghiệp cổ phần kết hợp với những thay đổi đúng đắn sau cổ phần hoá tại tổng công ty Điều này thực sự đã mang lại hiệu quả hơn rất nhiều so với giai đoạn công ty còn là một doanh nghiệp nhà nước
Giả thuyết ở đây được đặt ra là gọi :
H1 So với trước cổ phần hóa, hiệu quả hoạt động của công ty cao hơn H2: Thay đổi về quản trị công ty, tái cấu trúc và thay đổi về bản chất hoạt động kinh doanh là những nhân tố cơ bản có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty sau cổ phần hoá
2.3.2 Đánh giá hiệu quả của công ty giai đoạn sau cổ phần hóa so với trước cổ phần hóa
Như đã trình bày ở chương 1, đánh giá hiệu quả theo thước đo giá trị
được thực hiện thông qua các nhóm chỉ tiêu cơ bản Đồng thời để giai đoạn
so sánh được đồng nhất về thời gian, luận văn sẽ xây dựng bảng tính các chỉ tiêu ở giai đoạn sau cổ phần (số liệu được tính bình quân 5,5 năm sau cổ phần) so sánh với giai đoạn trước cổ phần (số liệu được tính bình quân cho 5,5 năm trước cổ phần) Sau đó nhận xét hiệu quả của từng chỉ tiêu và kết luận giả thuyết H1
Trang 40hiệu quả hoạt động sau cổ phần hoá được thuyết phục hơn cũng cần quan tâm đến tỷ lệ lạm phát qua các năm với mục đích đựa doanh thu về giá trị hiện tại của nó
Công thức tính nhằm loại trừ mức lạm phát như sau:
Gía trị
doanh
thunăm i-1
= Gía trị doanh thunăm i x (1-mức lạm phátnăm i))