Nguyên lý phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự vận động và phát triển, sự vận
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN TOÀN
NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Ở GIA LAI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN TOÀN
NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Ở GIA LAI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VIẾT QUÂN
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Toàn
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN LÝ PHÁT TRIỂN 9 1.1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 9
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 21
1.2.1 Khái niệm phát triển 21
1.2.2 Nguồn gốc của sự phát triển 26
1.2.3 Tính chất của sự phát triển 30
CHƯƠNG 2 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở GIA LAI HIỆN NAY 38
2.1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRÊN CƠ SỞ QUÁN TRIỆT QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN 38
2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 38
2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở quán triệt quan điểm phát triển43 2.2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở GIA LAI HIỆN NAY 51
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ở Gia Lai 51
2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực và công tác phát triển nguồn nhân lực ở Gia Lai hiện nay 56
Trang 5NHÂN LỰC Ở GIA LAI HIỆN NAY 67
3.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP 67
3.1.1 Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020 67
3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Gia Lai đến năm 2020 72
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở GIA LAI HIỆN NAY 77
3.2.1 Một số giải pháp 77
3.2.2 Một số kiến nghị 94
KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 6PTNNL : Phát triển nguồn nhân lực
UBND : Ủy ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguyên lý phát triển là một trong hai nguyên lý chung nhất, phổ biến nhất của phép biện chứng duy vật Nguyên lý phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự vận động và phát triển, sự vận động phát triển ấy là không ngừng, có khi nhanh, khi chậm, khi tuần tự, có khi nhảy vọt,
có lúc có những bước thụt lùi, nhưng nếu nhìn ở cả một quá trình thì tất cả đều là phát triển Nguyên lý về sự phát triển cung cấp cho con người phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thế giới, nó trở thành nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của con người Quán triệt quan điểm phát triển vào hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người là yêu cầu cần thiết và đúng đắn, đặc biệt là trong công tác phát triển nguồn nhân lực
Nguồn lực con người là nội dung cốt lõi của sự phát triển xã hội Đảng ta
đã rất quan tâm xây dựng chiến lược con người, tùy từng thời điểm lịch sử khác nhau Đảng ta đưa ra những chính sách cụ thể khác nhau, nhưng nhất quán ở mục đích hạnh phúc của nhân dân là cao nhất; coi việc nâng cao dân trí bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng nhân dân Không có bức thành nào vững bằng bức thành nhân dân.Không có sức mạnh nào bằng sức mạnh nhân dân Dân là gốc của nước Người còn chỉ rõ: Dân là mọi người dân Việt Nam, đều là con Rồng
cháu Tiên, không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu nghèo trong đó công - nông chiếm tuyệt đại đa số Đó là nguồn lực làm nên lịch sử của chính mình Và vô luận việc gì đều do con người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần
đến xa đều như thế cả Trên cơ sở quan điểm phát triển, Đảng ta cũng đã
Trang 8khẳng định: “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [15, tr 76] Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng Đất nước ổn định, kinh tế tăng trưởng, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, uy tín của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế Trong đó trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật được tăng lên, nguồn nhân lực được xây dựng và phát huy tốt nhất Tuy nhiên trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay thì thực trạng nguồn nhân lực của chúng ta chưa được xây dựng và phát triển tối đa, vẫn còn nhiều hạn chế so với khu vực và trên thế giới Vì vậy, việc khắc phục hạn chế, yếu kém về mặt nguồn nhân lực sẽ tạo điều kiện đưa đất nước vượt qua khó khăn tạo đà phát triển, tiến tới xây dựng cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn cho nhân dân
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa của cả nước hiện nay, tỉnh Gia Lai cũng đã đề ra những định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ nhằm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước Gia Lai là một tỉnh nằm trên địa bàn chiến lược ở khu vực bắc Tây Nguyên Việt Nam, là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đa dạng về thành phần dân cư và nền văn hóa mang bản sắc độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu
số Gia Lai nói riêng và Tây nguyên nói chung là vùng đất có vị trí chiến lược
an ninh - quốc phòng, giàu tiềm năng về kinh tế Khai thác tiềm năng, cũng như thế mạnh của Gia Lai để đưa đồng bào các dân tộc trong tỉnh thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu đồng thời phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, từng bước xây dựng cuộc sống văn minh, đảm bảo an ninh quốc phòng và góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước, là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta, trong đó trực tiếp là Đảng bộ và nhân dân các dân tộc của tỉnh Gia Lai
Trang 9Vì thế, để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo an ninh xã hội, ổn định chính trị ở Gia Lai, sớm đưa Gia Lai vượt qua thách thức và khó khăn, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, cần phát triển con người, đặc biệt là xây dựng nguồn nhân lực của tỉnh có chất lượng, năng động, sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, năng lực, phương pháp, phong cách công tác tốt
Xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Đồng thời dựa trên yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Gia Lai hiện nay, học
viên xác định vấn đề: “Nguyên lý về sự phát triển với việc phát triển nguồn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ nội dung nguyên lý về sự phát triển trong triết học Mác – Lênin, trên
cơ sở phân tích thực trạng nguồn nhân lực ở Gia Lai, đề tài xây dựng một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế -
xã hội ở Gia Lai hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
triết học Mác – Lênin, nguồn nhân lực ở Gia Lai hiện nay làm đối tượng nghiên cứu
Lênin, công tác phát triển nguồn nhân lực ở Gia Lai đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lôgíc – lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, tổng kết thực tiễn, v.v Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu
Trang 105 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
có 3 chương và 6 tiết
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Xung quanh vấn đề nguyên lý về sự phát triển với việc phát triển nguồn nhân lực đã có khá nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến ở những góc
độ, những hướng tiếp cận khác nhau, trong đó nổi bật có các công trình sau:
- PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa, Những chuyên đề Triết học (dùng cho cao
học và nghiên cứu sinh), Nxb Khoa học xã hội, 2007 Cuốn sách là kết quả tổng hợp của những công trình nghiên cứu và giảng dạy trong nhiều năm của tác giả, trong đó có nhiều chuyên đề đặc biệt là chuyên đề: Học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển; Những quy luật cơ bản của sự phát triển; Học thuyết về con người và phát triển nguồn nhân lực Cuốn sách là tài liệu quan trọng cho học viên xác định vấn đề về sự phát triển, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
- GS TS, Nguyễn Cúc, “Phát triển nguồn nhân lực: Cần sự gắn kết trong
chiến lược quy hoạch và chính sách”, tạp chí Triết học, số 9, 2012 Tác giả đã
nêu lên vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những bất cập trong chính sách đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta và
đề ra một số định hướng để điều chỉnh cơ cấu đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước
- Lương Đình Hải: “Tư duy phát triển và sự phát triển của đất nước” tạp
thời đại khác nhau cần có một tư duy phù hợp ứng với thời đại đó Đồng thời bài viết cũng cho rằng chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố
cơ bản quyết định sự phát triển của quốc gia
Trang 11Ngoài ra còn kể đến những bài viết, những nghiên cứu của những tác giả khác, họ cũng đã đề cập đến vai trò của nguồn lực con người và việc phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta; đề cập đến vấn
đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; hoặc những luận văn viết về nguyên
lý phát triển và vận dụng vào việc phát triển nguồn nhân lực ở những địa phương cụ thể, ở những đối tượng cụ thể Tiêu biểu như các bài viết, công trình nghiên cứu sau đây:
- PGS.TS Võ Xuân Tiến, “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 5, (2010)
- Nguyễn Thành Trung, “Vai trò của con người và vấn đề phát huy
nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay”, Tạp chí
Triết học, số 7, (2008)
- Nguyễn Thế Kiệt, “Xây dựng và phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay”,
- Nguyễn Nam Tiến, Nguyên lý phát triển của phép biện chứng duy vật
và vận dụng vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực trẻ ở Thừa Thiên Huế
- Nguyễn Thị Mỹ Lang, Nguyên lý về sự phát triển với việc nâng cao
nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ giảng dạy các trường đại học, cao
đẳng tỉnh Quảng Nam - Luận văn thạc sỹ, (2005)
- Nguyễn Thị Hoài Thu, Phát huy nguồn lực con người ở tỉnh KonTum
Bên cạnh những tác phẩm nghiên cứu và đề cập đến nguyên lý phát triển
và phát triển nguồn nhân lực, thì còn có nhiều tài liệu về Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng, chẳng hạn như một số tài liệu sau đây:
Trang 12- Lâm Tâm - Linh Nga Niêk Đam, Một số nét đặc trưng của Phong tục
khắc họa những nét đặc trưng của Tây Nguyên về: tổ chức xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, hôn nhân và về lễ hội Đây là những tài liệu quý giúp chúng tôi hiểu được những nét đặc trưng về phong tục các dân tộc Tây Nguyên nó chung và Gia Lai nói riêng, để có căn cứ khi nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển có hiệu quả nguồn nhân lực ở Gia Lai hiện nay
- GS Đặng Nghiêm Vạn, “Thử bàn về xã hội và gia đình các tộc người ở
Tây Nguyên”, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 5/2004 Trên cơ sở
phương pháp luận rút ra từ cuốn “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước” của Ph.Ăngghen đó là phương pháp so sánh lịch sử và phương pháp tàn dư; và với những tư liệu thu thập được về cư dân ở Tây Nguyên Tác giả cho rằng: xã hội các tộc người ở Tây Nguyên (trong đó có Gia Lai) trước đây là xã hội ở thời kỳ dân chủ quân sự, thuộc mạt kỳ nguyên thuỷ, chưa chuyển hoá thành xã hội có giai cấp Về chế độ sở hữu ở những vùng hẻo lánh, các cư dân Tây Nguyên còn duy trì khá chặt chẽ chế độ công hữu Về gia đình, một số tộc người vẫn còn chế độ mẫu hệ, có một số lại đang chuyển dần sang chế độ phụ hệ
- GS Nguyễn Tấn Đắc, Văn hoá xã hội và con người Tây Nguyên, Nxb
Khoa học xã hội, 2005 Từ việc mô tả một cách gần như đầy đủ các mặt, phân tích sâu sắc xã hội truyền thống Tây Nguyên (trong đó có Gia Lai) từ: thể chất con người Tây Nguyên, đời sống vật chất, phương thức sản xuất, tổ chức xã hội, đời sống văn hoá, phong tục tập quán, những hệ thống công cụ sản xuất
và tư duy Tác giả đưa ra 6 hằng số giá trị của văn hoá Tây Nguyên, 4 vấn đề đặt ra đối với Tây Nguyên, và 8 vấn đề cần làm trước tiên đối với Tây Nguyên
để đưa Tây Nguyên hòa nhập và phát triển Những số liệu, cứ liệu đưa ra của tác giả là phong phú và có sức thuyết phục
Trang 13- GS, TS Lưu Văn Sùng, “Nhìn lại sự kiện Tây Nguyên năm 2001 và
bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004 là do một số nguyên nhân
sau: Trước hết là do lực lượng phản động được chính quyền Mỹ nuôi dưỡng,
sử dụng nhằm chống phá cách mạng nước ta; thứ hai, nguyên nhân từ việc
khai thác, phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên không thật sự phù hợp với phương thức, điều kiện sinh sống và canh tác của đồng bào dân tộc bản địa;
nguy hại nhất là buông lỏng “trận địa lòng dân” Tác giả rút ra 5 bài học kinh nghiệm từ việc xử lý các điểm nóng ở Tây Nguyên
- Trương Minh Dục, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và
sách chủ yếu đề cập đến vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên
- Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai, “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai
phần 12 chương và kết luận Cuốn sách đã phân tích và đánh giá các sự kiện lịch sử bảo đảm tính khách quan toàn diện, nội dung của nó đạt được tính đảng và tính khoa học Đặc biệt là trong phần thứ nhất (trang 21 đến trang 70) của cuốn sách đã xác định vị trí địa lí, những biến đổi địa giới và địa danh hành chính qua các thời kỳ lịch sử; đã phân tích điều kiện tự nhiên, tiềm năng tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái; điều kiện xã hội, dân tộc và cơ cấu giai cấp; nêu lên truyền thống lịch sử lâu đời và văn hóa phong phú đặc sắc của tỉnh Gia Lai Cuốn sách là cơ sở để học viên khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến công tác phát triển nguồn nhân lực ở Gia Lai trong thời gian qua
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai, Địa chí Gia Lai, Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà Nội, (1999); Tỉnh ủy Gia Lai, Báo cáo Kiểm điểm nữa nhiệm kỳ thực hiện
Trang 14Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (2010-2015), (2013); Uỷ ban
nhân dân tỉnh Gia Lai, Quyết định số 755/QĐ-UBND, “Phê duyệt Đề án đào tạo
nhân dân tỉnh Gia Lai, Quyết định 877/QĐ-UBND Phê duyệt quy hoạch phát
Gia Lai, Kế hoạch Đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh Gia Lai từ năm 2013 đến
Tất cả những tài liệu về Gia Lai ở trên là cơ sở để học viên khái quát thực trạng, quan điểm và các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở Gia Lai hiện nay
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN LÝ PHÁT TRIỂN
1.1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Trong lịch sử văn minh nhân loại, loài người đã xây dựng nên nhiều quan điểm, nhiều lý thuyết về phát triển Tính đúng đắn, mức độ hoàn chỉnh của các quan điểm và các lý thuyết đó phụ thuộc vào trình độ nhận thức và lý tưởng xã hội của con người, nhất là phụ thuộc vào thực tiễn phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên cho đến trước khi triết học Mác ra đời, các nhà triết học, các trường phái triết học khác nhau đã nhìn nhận và nghiên cứu về sự phát triển còn chưa đầy đủ, hoặc diễn đạt nó theo quan điểm duy tâm
Triết học phương Đông cổ đại có tính đa dạng, phong phú và sâu sắc mà tiêu biểu là triết học Trung Quốc cổ đại và Ấn Độ cổ đại Thời cổ đại cả triết học Trung Quốc và Ấn độ đều đề cập đến sự vận động và phát triển
Triết học Ấn Độ Cổ đại với nhiều trường phái khác nhau đã đề cập đến
sự vận động của các sự vật hiện tượng, sự thay đổi của vạn vật qua thời gian
và không gian Nhưng do hạn chế về mặt nhận thức của thời đại cho nên họ chỉ có thể, lí giải sự phát triển mang tính duy tâm thần bí Họ cho rằng, thế giới vật chất là bao la, vô cùng, vô tận, không ngừng biến đổi, vận động từ dạng này sang dạng khác, nó tồn tại vĩnh hằng, không mất đi Ở Ấn Độ Cổ đại
có nhiều hệ thống tôn giáo tồn tại và các hệ thống triết học thường gắn liền với tôn giáo chẳng hạn như:
Độ cổ đại Theo họ, thế giới này là bất biến, nhưng luôn luôn vận động biến đổi, chứ không phải bất biến đứng yên Phái Sàmkhya cho rằng có sự tồn tại của vật chất đầu tiên và “Vật chất là vĩnh hằng nhưng không đứng yên, biến
Trang 16đi không ngừng từ dạng này sang dạng khác” [65, tr 126], theo quan niệm của trường phái này thì thế giới được cấu tạo bởi sự biến đổi của các yếu tố: Sattva (là trí tuệ, trí năng với thuộc tính nhẹ, sáng, tươi vui), Rajas (là năng lượng với những thuộc tính động, kích thích), Tamas (là khối lượng, quán tính với những thuộc tính nặng, khó khăn) Chính sự tác động giữa các yếu tố nói trên đã phá vỡ sự cân bằng vốn có của thế giới vật chất và tạo nên sự biến đổi, phát triển
thế giới từ dạng này sang dạng khác chứ không đứng yên “Họ cho rằng tồn tại bao giờ cũng “có thể” ở dạng nào đó” [65, tr 133] Để giải thích cho mọi
sự tồn tại trên thế giới phái Jaina đưa ra khái niệm “tồn tại đầu tiên” Chính
cái “tồn tại đầu tiên” đã sản sinh ra muôn vật và để duy trì thế giới đa dạng nó cần tồn tại một cách bất biến, vô thủy, vô chung
Phái Lokàyata, “Lokàyata là triết học duy vật triệt để nhất trong các trường phái triết học Ấn Độ cổ” [65, tr 141] Phái này khẳng định thế giới sự vật hiện tượng có nguồn gốc từ vật chất và luôn luôn vận động biến đổi, thế giới này có nguồn gốc từ bốn yếu tố vật chất là đất, nước, lửa, không khí, mỗi yếu tố đều tồn tại trong sự vận động và tác động lẫn nhau chính từ đó cấu thành nên vạn vật, là cơ sở tạo nên sự biến đổi đa dạng phong phú của thế giới vật chất
Sâu sắc hơn hết, Triết học Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng
như nhân sinh bằng quy luật “Nhân - quả” Theo quy luật này “nhân” và
“quả” không bao giờ bị gián đoạn, hỗn loạn, nhân nào thì quả ấy Họ quan niệm bản chất của sự tồn tại là một dòng chuyển biến liên tục (vô thường) Sự vật, hiện tượng luôn luôn biến đổi theo một chu trình của luật nhân - quả, kết quả của quá trình trước có thể là nguyên nhân của quá trình sau và cứ tiếp diễn như vậy Tất cả các sự vật hiện tượng trong vũ trụ (vạn pháp) luôn biến
Trang 17đổi không ngừng theo quy trình: sinh - trụ - dị - diệt, thành - trụ - hoại - không
và đều tuân theo luật nhân - quả, theo triết lý “nhân duyên khởi” Triết lý Phật giáo cho rằng, “Bản chất của sự tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục” [65, tr 135] Dòng biến chuyển ấy là vô thủy, vô chung, vô cùng, vô
tận, không có khởi đầu không có kết thúc Với triết lý “nhân duyên khởi”,
Phật giáo coi vạn vật trong vũ trụ đều có nguyên nhân tự thân, không do một đấng thần linh nào tạo ra cả Sự đa dạng của tồn tại là do “nhân duyên” tạo
ra Quan niệm về sự phát triển trong triết học Phật giáo đã có nhiều điểm tiến
bộ song họ bị hạn chế khi thừa nhận sự phát triển đạt tới một giới hạn là cõi
họ mới chỉ ra sự vận động đơn thuần
Ở Trung Quốc Cổ đại, có học thuyết Âm - Dương, họ thừa nhận có sự vận động và biến đổi và họ cho rằng sự vận động là không ngừng, sự vật luôn luôn biến đổi Học thuyết Âm - Dương cho rằng, sự vận động và biến đổi bắt nguồn từ hai thế lực đối lập Âm và Dương, chúng đối lập và thống nhất trong
sự chuyển hóa lẫn nhau, vừa khẳng định vừa phủ định nhau trong suốt quá trình tồn tại của mình, họ lý giải sự hình thành vạn vật bắt đầu từ yếu tố Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương), Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm), Tứ tượng sinh Bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài), Bát quái sinh ra vạn vật vô cùng vô tận, đó
là một quy trình tất yếu
Trang 18Ngoài ra còn có Thuyết Ngũ Hành, thuyết này dựa vào năm yếu tố khởi
thủy: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, năm yếu tố này là tượng trưng cho tính chất, màu sắc và phương hướng, chúng không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trái lại chi phối lẫn nhau theo nguyên tắc tương sinh, tương khắc “Họ cho rằng quá trình tương sinh (bồi đắp, nuôi dưỡng) và tương khắc (ước chế) là quá trình sinh diệt, và thực chất của quá trình tồn tại của vật chất là quá trình sinh
- diệt không thôi đó” [65, tr 53]
thành từ “Đạo” mà ra Lão Tử khẳng định chính sự liên hệ tác động giữa các mặt các khuynh hướng đối lập nhau trong sự vật hiện tượng đã tạo ra sự vận động biến đổi không ngừng của vũ trụ Tư tưởng biện chứng của Lão Tử tuy mang những yếu tố hợp lý nhưng nhìn chung về cơ bản nó vẫn mang tính chất
tự phát ngây thơ dựa trên những kinh nghiệm có tính trực quan cảm tính, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc mô tả biến chuyển của sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội, nó chưa có cơ sở để vạch ra bản chất bên trong của sự biến đổi
Ở phương Tây, ngay từ thời Hy lạp Cổ đại đã xuất hiện mầm mống đầu tiên mang tính biện chứng về sự phát triển, thời kỳ này đã có nhiều nhà triết học đề cập và lý giải về sự phát triển Song phải đến nhà triết học Hêraclit thì những quan niệm về vận động, phát triển mới tồn tại với tư cách là một học thuyết, câu nói của Hêraclit: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” đã khẳng định sự vận động là vĩnh viễn, hoặc như: “Mọi vật đều tồn tại cũng như không tồn tại, vì mọi vật đang trôi qua, mọi vật đều không ngừng biến hóa, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”[38,tr.34-35] Theo Hêraclit thì vận động của sự vật gắn liền với thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Chính mâu thuẫn tồn tại một cách phổ biến trong sự vật
đã trở thành nguồn gốc phát triển của vạn vật “Vũ trụ là một thể thống nhất,
Trang 19nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau” [65, tr 158] Như vậy theo Hêraclit thì, đấu tranh chính
là quy luật phát triển của vũ trụ V.I.Lênin đã đánh giá cao vai trò những quan niệm của Hêraclit và cho rằng những quan niệm đó đã thực hiện một trong những điểm cơ bản của phép biện chứng, mọi cái chỉ xảy ra một lần, không lặp lại mặc dù giữa các sự vật có thể có những kế thừa nhất định
Một trong những nhà triết học duy vật tiêu biểu của triết học Hy Lạp cổ đại đó là Đêmôcrit, ông cho rằng khởi nguyên của các thế giới là nguyên tử Vận động được xem là bản chất của nguyên tử, “Mọi biến đổi của sự vật thực chất là sự thay đổi trình tự sắp sếp của các nguyên tử tạo nên chúng” [65, tr 173] Đêmôcrit tán đồng với quan điểm của Hêraclit khi cho rằng từ sự vật bé nhất cho đến thế giới không có gì là trường tồn cả, tất cả đều là một quá trình biến đổi không ngừng, Theo ông, “Các thế giới cũng nằm trong quá trình biến đổi vận động không ngừng” [65, tr 174] Dựa vào nguyên tử luận, Đêmôcrit đã giải thích sự vận động và phát triển của muôn vật có nguồn gốc từ bên trong
sự vật, sự vận động, phát triển không phụ thuộc vào những thế lực thần bí bên ngoài, không có gì sinh ra hay mất đi một cách ngẫu nhiên mà đều có nguyên nhân của nó Đêmôcit đã tiến đến khẳng định tính quy luật trong sự phát triển của các sự vật Tuy nhiên ông vẫn không thoát khỏi các hạn chế khi đã lẫn lộn vật chất với ý thức, coi ý thức và linh hồn không phải là hiện tượng tinh thần
mà là hiện tượng vật chất, đồng nhất linh hồn con người như là tổng thể của nguyên tử Ông cho rằng linh hồn chết cùng thể xác
Trong triết học Hy Lạp cổ đại ngoài những tư tưởng mang khuynh hướng duy vật, thì bên cạnh đó những tư tưởng duy tâm về sự vận động và phát triển cũng hết sức phong phú Nổi bật phải kể đến quan niệm về thế giới
ý niệm của Platon và thuyết hình dạng của Aristot
Trang 20Theo Platon, thì sự vật chỉ là hiện thân của “ý niệm”, thế giới ý niệm là thế giới bản nguyên tồn tại độc lập với thế giới hiện thực và nó chi phối hiện thực Học thuyết ý niệm là vấn đề trung tâm của hệ thống triết học Platon Theo Platon “thế giới ý niệm” là cái khởi đầu, cái có trước tất cả, sinh
ra tất cả và chi phối tất cả, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới mà chúng ta đang sống chẳng qua chỉ là sự mô phỏng lại từ thế giới ý niệm, là bản sao của thế giới ý niệm, thế giới hiện thực chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm, cũng chính vì vậy mà tự nhiên và con người phụ thuộc vào quyền lực thần bí… Quan niệm duy tâm về thế giới đã chi phối quan niệm về xã hội và con người Quan niệm này của Platon đã phủ nhận sạch trơn sự vận động, phát triển của
sự vật, cho rằng bất cứ sự vật nào cũng chỉ là sự thể hiện đặc thù các ý niệm tương ứng dưới dạng vật chất
Aristot, người được C.Mác đánh giá là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại”, Ph.Ăngghen lại nói đó là “khối óc toàn diện nhất” trong số triết gia cổ đại Hi Lạp Theo Aristot khởi nguyên của vạn vật, của thế giới đã có vật chất,
đó là vật chất thuần túy chưa bị giới hạn trong bất kỳ một hình thức nào cả Tồn tại trong một trạng thái không tồn tại, nghĩa là nó chưa là một cái gì cả, nhưng lại tồn tại với tư cách là khả năng trở thành một cái gì đó Dạng vật chất này không do ai sinh ra, nó tồn tại mãi mãi, nhưng là tồn tại thụ động Chúng trơ ỳ và mãi mãi trơ ỳ nếu như không được kết hợp với một hình thức
để trở thành một sự vật cụ thể Hêghen đã nhận xét quan điểm đó của Aritstot:
“vật chất chỉ là cái nền tảng khô cứng mà trên đó diễn ra các biến đổi, và trong những biến đổi ấy vật chất chỉ là cái chịu đựng” [65, tr 119] Aristot quan niệm
sự tồn tại xuất phát từ bốn nguyên nhân cơ bản là: Hình dạng; vật chất; vận động; mục đích Sự vật nào có đầy đủ những nguyên nhân trên mới tồn tại được Đồng thời ông chia vận động ra thành bốn loại: biến hóa về bản chất, biến hóa về số lượng, biến hóa về tính chất, biến hóa về vị trí Theo Aristot,
Trang 21vận động cũng chỉ là một khía cạnh, nguyên nhân của hình dạng, ông không thừa nhận sự vận động tự thân của vật chất mà mong muốn đi tìm nguyên nhân thực sự của vận động bên ngoài sự vật Đối với ông sự phát triển được hiểu như
là sự chuyển dịch giản đơn trong không gian, ông đã không trình bày được sự phức tạp, biến hóa của sự phát triển Đó chính là điểm hạn chế của ông, nó thể hiện sự dao động trong lập trường duy vật và duy tâm của Aristot
Sang thời Tây âu Trung cổ, triết học bị trói chặt bởi thần học, giáo hội và
nhà thờ họ xem xét thế giới dưới những quan niệm cứng nhắc, không có sự vận động, thế giới hoàn toàn bị chi phối bởi những lực lượng siêu nhiên bên ngoài
gợi mở trong kinh thánh, đã thoát khỏi những quan niệm giáo điều của thời Tây âu Trung cổ, thay vào đó là sự hướng đến với giới tự nhiên Các triết gia thời Cận đại quan niệm: “Tất cả những cái gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì đặc biệt mà người ta cho là vĩnh cửu thì trở thành nhất thời, và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và tuần hoàn vĩnh cửu” [38, tr 477] Tuy nhiên với sự phát triển như vũ bão của khoa học cơ giới lúc bấy giờ và nó đã tạo ra một lượng máy móc khổng lồ, cho nên phương pháp siêu hình được xem như “chiếc đũa thần” và nó tồn tại mạnh mẽ trong tư tưởng các nhà triết học thời kỳ này Các nhà triết học thời kỳ Cận đại xem xét sự vật một cách hoàn toàn cô lập, tách rời các sự vật khác, nằm cạnh nhau mà không nhìn thấy nhau, sự tồn tại hay tiêu vong cũng không liên quan
gì đến nhau, họ xem xét sự vật trong trạng thái nằm yên bất động, không vận động biến đổi Những nhà siêu hình cho rằng sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về mặt lượng, một sự trưởng thành đơn giản, không thấy được sự thay đổi về mặt chất và nếu có sự thay đổi về chất thì quá trình đó cũng diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không phải là sự chuyển hóa từ sự vật hiện
Trang 22tượng này thành sự vật hiện tượng khác theo xu hướng xuất hiện cái mới cái tiến
bộ Quan niệm về sự phát triển của Giới tự nhiên của các nhà triết học ở thế kỷ XVIII được Ph.Ăngghen nhận xét như sau: “Họ cho rằng Giới tự nhiên sinh ra như thế nào thì cứ vĩnh viễn như thế không thay đổi” [38, tr 469]
Với phương pháp tư duy siêu hình, các nhà duy vật ở vào thế kỷ XVII – XVIII đã nhìn thấy sự tự vận động của thế giới, nhưng sự giải thích về sự vận động của các nhà triết học siêu hình này quá giản đơn, họ chỉ thấy được sự vận động bên ngoài của sự vật, sự vận động cơ học, họ cũng chưa thấy được mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, họ không thấy được những mối liên hệ nội tại của sự vật Sự vận động theo họ chỉ là sự biến đổi cơ học, là sự dịch chuyển trong không gian, ở bề ngoài chứ không thấy nhũng xung đột bên trong của sự vật, đối với họ vận động không trở thành nền tảng của những biến đổi, phát triển của giới tự nhiên, không trở thành phổ biến và tất yếu V.I.Lênin đánh giá: “Ở thế kỷ XX (và ngay hồi thế kỷ XIX) mọi người đều đồng ý với “nguyên tắc phát triển”, nhưng sự đồng ý nông cạn, thiếu suy nghĩ, ngẫu nhiên, phixilanh ấy là một loại đồng ý mà người ta dùng để bóp nghẹt và tầm thường hóa chân lý” [37, tr 270]
triển mang tính biện chứng ở Hy lạp Cổ đại Quan niệm về sự phát triển cũng như nguồn gốc của nó được thể hiện đầy đủ hơn trong triết học Cổ điển Đức Thời kỳ này triết học thế giới ghi nhận những nhà tư tưởng có tầm vóc thời đại, tuy nhiên đáng kể nhất là những nhà triết học như: Cantơ, Hêghen, Phoiơbăc Những tư tưởng triết học của các ông đã khắc phục những quan niệm triết học trước đó bằng những quan niệm rõ ràng hơn về quá trình vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong tự nhiên
Trang 23Cantơ, một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước Mác Theo như đánh giá của Hêghen thì Cantơ chính là điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại
Ở thời kỳ tiền phê phán, Cantơ đã đưa những quan niệm hết sức tiến bộ
về nguyên lý phát triển Ông tuyên bố: “hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó, nghĩa là hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy thế giới đã ra đời từ vật chất như thế nào” [65, tr 379] Theo Cantơ, thế giới này được cấu tạo từ vật chất và luôn luôn vận động, biến đổi, tất cả các sự vật đều nằm trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy Thế giới là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của tự nhiên theo hướng ngày càng hoàn thiện Ông cho rằng không chỉ mọi sự vật trong thế giới chúng ta
mà cả toàn bộ vũ trụ nói chung đều nằm trong quá trình phát sinh phát triển
và diệt vong như một quy luật Theo học thuyết của Cantơ, không chỉ có trái đất mà cả vũ trụ là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của chính nó, “…mà trái đất
và tất cả hệ thống mặt trời thể hiện ra như là một cái gì đã hình thành trong thời gian” [12, tr 422] Ngoài giả thuyết về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ
từ những đám tinh vân, Cantơ còn có giả thuyết khoa học về sự lên xuống của thủy triều do sức hút của mặt trăng và trái đất Ông cho rằng mỗi thiên thể trong vũ trụ ra đời hay kết thúc chỉ là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác
Học thuyết về nguồn gốc và hình thành vũ trụ của Cantơ đã đi vào lịch
sử với ý nghĩa cách mạng, vì nó tiến bộ hơn hẳn so với các giả thuyết trước đây về vũ trụ, chứa đựng nhiều tư tưởng duy vật, đem lại quan niệm mới trong việc xem xét sự phát triển của thế giới Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” Ph.Ăngghen đã đánh giá cao hai giả thuyết khoa học này của Cantơ bởi hai giả thuyết khoa học này đã đem lại một quan điểm biện chứng về sự phát triển về mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong vũ trụ, đặc biệt phát
Trang 24minh thứ nhất đã đem lại quan điểm lịch sử vào địa hạt vạn vật học lý thuyết Đến thời kỳ phê phán, do chịu ảnh hưởng của chủ nghiã duy tâm nên Cantơ phủ nhận chính những dự đoán thiên tài của mình về nguồn gốc sự vận động
và phát triển Cantơ đã có sự dao động giữa thế giới quan duy vật với thế giới quan duy tâm, giữa nhất nguyên và nhị nguyên, giữa khả tri và bất khả tri
Trước Mác, Hêghen là người trình bày sự vận động và phát triển một
cách khúc chiết chặt chẽ nhất Quan điểm phát triển của Hêghen chính là cái nhìn mới trong triết học Ph.Ăngghen đã nhận xét như sau về Hêghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”:
“Nền triết học cổ điển Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống của Hêghen, trong đó lần đầu tiên - Và đây là công lao lớn nhất của ông – toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày như là một quá trình - nghĩa là được nhận thức trong vận động, biến đổi, biến hóa và phát triển không ngừng và đã cố chứng minh mối liên hệ nội tại của sự vận động
và phát triển ấy Theo quan điểm ấy lịch sử loài người không còn thể hiện ra là một mớ hỗn độn kinh khủng bao gồm những hành
vi bạo lực vô nghĩa và đáng phải kết tội như nhau trước tòa án của lý tính triết học ngày nay đã trưởng thành, và tốt hơn là người ta nên quên chúng đi thật nhanh - mà là một quá trình phát triển của bản thân loài người Và nhiệm vụ của tư duy hiện nay
là phải theo dõi bước tiến tuần tự của quá trình ấy qua tất cả những bước lầm lạc của nó và chứng minh tính quy luật bên trong của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài Việc Hêghen không giải quyết nhiệm vụ ấy ở đây không quan trọng Công lao lịch sử của Hêghen là đề ra nhiệm vụ ấy” [32, tr 39-40]
Trang 25Trong hành trình đi tìm bản nguyên của thế giới, Hêghen đã được sự cổ
vũ đầy ấn tượng của học thuyết ý niệm của Platon một triết gia thời Hy Lạp
cổ đại Trong triết học của Hêghen “ý niệm tuyệt đối” là phạm trù xuất phát
và là trung tâm
Xuất phát từ thuyết “ý niệm tuyệt đối” Hêghen coi sự vận động, phát triển không đơn thuần là tăng hay giảm về lượng hay sự dịch chuyển vị trí của vật về không gian, mà phát triển là một quá trình phủ định biện chứng, là quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ trên cơ sở kế thừa những yếu tố của cái cũ
mà chúng có khả năng thúc đẩy sự phát triển Theo Hêghen mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều phát triển theo quy luật biện chứng, phát triển là một quy luật tất yếu bên trong của sự vật Trước đây nhiều người hiểu phát triển như là một sự chuyển động cơ học hay sự chuyển dần về mặt lượng, thì Hêghen lại cho rằng phát triển là sự thay đổi dần dần về lượng dẫn tới sự biến đổi nhảy vọt về chất, là sự nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong lòng mỗi sự vật, là sự phủ định quan không gì có thể cưỡng nổi Hệ thống triết học của Hêghen được thiết định theo hình thức tam đoạn luận: Chính đề - phản đề - hợp đề Tương ứng với ba giai đoạn phát triển ý niệm tuyệt đối: Tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối Ba giai đoạn này là biểu hiện của quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn các mặt đối lập vật chất và tinh thần, khách thể và chủ thể trong bản thân ý niệm tuyệt đối Đó cũng là biểu hiện của mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên Con người không chỉ là chủ thể mà còn là kết quả của quá trình hoạt động Hêghen tuy đưa ra những quan điểm biện chứng về sự phát triển nhưng lại đứng trên lập trường duy tâm khách quan nên đã thiếu khoa học trong suy luận Những quan điểm trên của Hêghen mới chỉ dừng ở góc độ biện chứng của khái niệm chứ chưa nói chính xác biện chứng khách quan của duy vật Bởi Hêghen chỉ coi sự vật hiện tượng chỉ là một dạng tồn tại khác của “ý
Trang 26niệm tuyệt đối” Sự vật hiện tượng dù có sự chuyển hóa về chất nhưng không phải là sự vận động đi lên, hướng về tương lai, mà là vận động đi xuống hướng về quá khứ, ngay cả với những tri thức, ý thức của con người cũng chỉ
là những gì đã có trước đây trong quá khứ Sự vận động chỉ có trong thế giới các khái niệm, trong thế giới hiện thực thì đều chết cứng, tất cả đều không phát triển, mà chỉ là sự phản ánh của một thế giới khác, thế giới ý niệm C.Mác đã nhận xét như sau về Hêghen: “tính chất thần bí mà phép biện chứng
đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy Ở Hêghen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí” [32, tr 209]
lại luận điểm duy tâm của Hêghen coi thế giới tự nhiên là “tồn tại khác” của tinh thần thì Phoiơbắc đã khẳng định thế giới là vật chất, giới tự nhiên không
do ai sáng tạo ra, không phụ thuộc vào bất cứ hệ thống triết học nào, tự nhiên
là cội nguồn của tư duy Phạm trù con người rất được nhà triết học này quan tâm, ông nói: “Chân lý không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm…, chân lý là nhân bản học” [12, tr 497] Trong quan niệm của ông thì con người không ai sáng tạo ra mà theo quy luật tự nhiên, đặc biệt hơn khi ông cho rằng chính con người sáng tạo ra Thượng đế Quan điểm này mặc dù hết sức “ngây thơ” nhưng đã có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm thần bí Với Phoiơbắc thì con người là trừu tượng, phi xã hội mang những thuộc tính sinh học bẩm sinh Ông đã rất tiến bộ khi phê phán chủ nghĩa duy tâm nhưng lại hạn chế khi cho rằng cần một tôn giáo “Tình yêu” làm động lực thúc đẩy cho sự phát triển của xã hội Xuất phát từ trừu tượng phi hiện thực nên Phoiơbắc không hiểu thực chất của sự vận động và phát triển nói chung,
Trang 27sự phát triển của xã hội và con người nói riêng, không thấy con người tồn tại trong sự phụ thuộc vào các quan hệ xã hội, và cũng không nhận thấy con người có thể thông qua các công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên gây biến đổi bộ mặt của tự nhiên, làm cho tự nhiên thích ứng với nhu cầu của con người, ông quên đi hoặc không nhận thấy hoạt động thực tiễn của con người diễn ra trong đời sống xã hội
Phoiơbắc có đề cập tới sự phát triển của giới tự nhiên, nhưng quan niệm của ông vẫn mang tính siêu hình vì ông không chú ý đến tính biện chứng của giới tự nhiên như mâu thuẫn, lượng - chất, phủ định…là những cái khách quan vốn có của tự nhiên V.I.Lênin đã đánh giá các quan điểm của Phoiơbắc
về thế giới là rõ ràng, nhưng còn nông cạn và chưa sâu
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC–LÊNIN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 1.2.1 Khái niệm phát triển
Với sự tổng kết kinh nghiệm và tri thức khoa học của loài người, với thiên tài sáng tạo của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng nên một hệ thống tư tưởng khoa học về sự phát triển thế giới nói chung và của xã hội nói riêng, mở ra hướng lựa chọn mới cho sự phát triển của nhân loại Chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng ra đời đã kế thừa, bổ sung và phát triển các quan niệm về sự phát triển trong lịch sử triết học trước đó thành một triết lý phát triển thể hiện rõ bản chất duy vật biện chứng
Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác nói riêng là một học thuyết về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Trong học thuyết của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vạch rõ nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng của sự phát triển Trong triết học duy vật biện chứng, nguyên lý về sự phát triển và nguyên lý về mối liên hệ phổ biến luôn gắn liền với nhau Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Ph.Ăngghen khẳng định: “giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ
Trang 28thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau… việc các vật thể ấy đều
có liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác động lẫn nhau và
sự tác động qua lại với nhau ấy chính là sự vận động” [33, tr 520] Vì vậy theo Ph.Ăngghen, nhiệm vụ của phép biện chứng là nghiên cứu toàn bộ sự vận động, sự phát triển của các hiện tượng vật chất và tinh thần qua đấy vạch ra bản chất, các quy luật phổ biến của quá trình vận động, phát triển của chúng
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen mọi sự vật hiện tượng luôn ở trong quá trình vận động biến đổi, sự vận động biến đổi ấy là vô cùng và diễn ra theo nhiều khuynh hướng, Ph.Ăngghen khẳng định: “Vận động đem ứng dụng vào vật chất thì có nghĩa là sự biến hóa nói chung” [33, tr 742] Đối với Ph.Ăngghen vận động không phải đơn thuần là sự đổi chỗ hay di động mà còn là sự chuyển hóa, nhảy vọt về chất, là sự nảy sinh và phát triển không ngừng của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Khi khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều ở trong quá trình vận động không ngừng, triết học Mác còn cho rằng quá trình đó còn bao hàm cả sự đứng
im tương đối, Ph.Ăngghen viết: “Trong vận động của các thiên thể có vận động trong cân bằng và có cân bằng trong vận động (một cách tương đối)… khả năng đứng yên tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hóa của vật chất, và do đó của sự sống” [33, tr 740]
Là người kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác một cách xuất sắc, V.I.Lênin đã đề cập và phân tích về sự phát triển một cách rõ rệt hơn hết Theo Lênin học thuyết về phép biện chứng là học thuyết toàn diện, phong phú
và sâu sắc nhất về sự phát triển V.I.Lênin đã phân tích rõ các khái niệm “vận động” và “phát triển”, ông đưa ra nhiều khái niệm về sự phát triển, trong tác phẩm “Bút ký triết học” V.I.Lênin viết:
Hai quan niệm cơ bản về sự phát triển (sự tiến hóa): Sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại, và sự phát triển
Trang 29coi như là sự thống nhất giữa các mặt đối lập (sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)
Với quan niệm thứ nhất về sự vận động, sự tự vận động, động lực của nó, động cơ của nó nằm trong bóng tối… Với quan niệm thứ hai, sự lưu ý chủ yếu hướng chính vào sự nhận thức nguồn gốc của “tự” vận động
Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có
nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt” của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự chuyển hóa thành mặt đối lập, của
sự tiêu diệt cái cũ và nảy sinh ra cái mới Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển sự vận động là tuyệt đối [30, tr 379-380]
Sự phát triển theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng và quá trình Phép biện chứng khẳng định, tất cả mọi sự vật hiện tượng đều có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong, “… toàn bộ giới tự nhiên, từ cái nhỏ nhất cho đến cái lớn nhất, từ hạt cát cho đến mặt trời, từ những sinh vật nguyên thủy cho đến con người, đều nằm trong tình trạng không ngừng sinh ra và diệt vong, lưu động không ngừng, vận động và biến hóa bất tận” [33, tr 471]
Trong hiện thực khách quan, tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất, sự phát triển sẽ được thực hiện hết sức khác nhau Trong giới hữu cơ sự phát triển biểu hiện ở việc tăng cường khả năng thích nghi của
cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình
Trang 30với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn, ở khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi vật chất giữa cơ thể với môi trường Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện
ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội để tiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn, đúng đắn hơn đối với hiện thực tự nhiên và xã hội
Trong học thuyết của C Mác và Ph Ăngghen khái niệm “phát triển” gắn liền với khái niệm “vận động”, giữa chúng có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau, không phải mọi sự vận động đều là sự phát triển Khái niệm “vận động” biểu hiện sự vận động biến đổi nói chung theo các khuynh hướng khác nhau, trong đó bao hàm cả “sự biến đổi tiến bộ và biến đổi thụt lùi” của các sự vật hiện tượng Khái niệm “phát triển” hẹp hơn
so với khái niệm “vận động”, phát triển là sự vận động, nhưng lại là sự vận động theo khuynh hướng đi lên, vận động theo hướng tích cực Sự phát triển một mặt là sự vận động đi lên; mặt khác, bao hàm trong đó tính kế thừa, lặp lại cái cũ nhưng ở mức độ cao hơn và có sự xuất hiện của cái mới
Tuy nhiên vấn đề về mối quan hệ giữa vận động và phát triển còn có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó tựu chung lại có hai quan điểm chủ yếu sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của vận động biến đổi nói chung, vì thế không được đồng nhất giữa vận động
và phát triển Quan điểm thứ hai cho rằng, vận động là sự biến đổi nói chung; phát triển bao hàm trong đó dấu hiệu vận động và còn có dấu hiệu đặc thù bổ sung, đó là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Trên cơ sở các quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa vận động và
phát triển, một số nhà triết học cho rằng: “Thứ nhất, phát triển là một sự biến
đổi không thuận nghịch Thứ hai, quá trình phát triển nói chung được đặc trưng bằng khuynh hướng tiến bộ, nói cách khác, tiến bộ là tiêu chuẩn của
Trang 31phát triển Thứ ba, sự phát triển có đặc tính là sự chuyển biến từ thấp đến
cao” Ngoài ra còn bổ sung thêm tiêu chuẩn là: Sự phát triển là sự biến đổi từ
đa dạng đến phức tạp, “từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [17, tr 32-33] Trên cơ sở khái quát những biến đổi các sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, và từ những quan niệm về sự phát triển trong lịch sử, chủ nghĩa duy
vật biện chứng khẳng định: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ
quá trình vận động đi lên theo khuynh hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
Quan điểm biện chứng về sự phát triển thừa nhận tính phức tạp tính không trực tuyến của bản thân quá trình đó Sự phát triển trong hiện thực và trong tư duy diễn ra bằng con đường quanh co, phức tạp, trong đó có thể có bước thụt lùi tương đối Trong quan điểm triết học duy vật biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất; sự phát triển diễn ra theo đường xoáy trôn ốc, nghĩa là trong quá trình phát triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên cơ sở mới cao hơn Trên cơ sở đó, triết học Mác – Lênin khái quát sự vận động phát triển từ những phương diện cơ bản và phổ biến nhất, thông qua các quy luật
cơ bản tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại cho biết phương thức của sự vận động và sự phát triển; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập làm sáng tỏ nguồn gốc của sự vận động và phát triển; quy luật phủ định của phủ định cho biết khuynh hướng của quá trình phát triển qua việc làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những nấc thang khác nhau của quá trình đó
Trên quan điểm duy vật biện chứng, các nhà sáng lập của chủ nghĩa Mác – Lênin đã nhận định về phép biện chứng như là một học thuyết phát triển một cách sâu sắc, Ph.Ăngghen coi phép biện chứng “… là phương
Trang 32pháp… xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và tiêu vong của chúng”[33, tr 38] “…là khoa học về sự liên hệ phổ biến”[33, tr 455] Và “…là môn khoa học về những quy luật phổ biến nhất của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”,[33, tr 455] “là khoa học về những quy luật phổ biến nhất của mọi sự vận động”[33, tr 455] Đối với V.I.Lênin, phép biện chứng
“…là học thuyết của sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất
và không phiến diện” [29, tr 53]
1.2.2 Nguồn gốc của sự phát triển
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, nguồn gốc tạo nên sự vận động, phát triển, là sự khác biệt, là những mâu thuẫn bên trong của các sự vật, hiện tượng Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã cho rằng chúng ta phải tìm xung lực vận động và phát triển của sự vật trong chính sự vật đó, trong những mâu thuẫn của bản thân sự vật Nguồn gốc của phát triển không nằm ở đâu khác mà nằm chính ngay trong bản thân của sự vật, hiện tượng Trong bản thân sự vật, tự nó gây ra “những kích thích nội tại theo hướng phát triển, những kích thích gây ra bởi sự mâu thuẫn, bởi sự xung đột giữa những lực lượng và những xu thế khác nhau đang tác động vào một vật thể nhất định, trong phạm
vi hiện tượng nhất định, hoặc trong nội bộ một xã hội nhất định” [31, tr 112] Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những “mâu thuẫn biện chứng” trong bản thân mình Khi nói tới những yếu tố cấu thành “mâu thuẫn biện chứng”, là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy, chính những mặt như vậy nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Khi nghiên cứu bất kỳ
Trang 33sự vật hiện tượng nào, chúng ta cũng thấy các sự vật hiện tượng đó được tạo thành từ nhiều bộ phận, mang nhiều thuộc tính khác nhau Chẳng hạn một phân tử nước do hai nguyên tử H và một nguyên tử O tạo nên, và “nước” có nhiều thuộc tính khác nhau, nó có thể biến thành chất rắn, có thể thành chất lỏng hoặc chất khí khi nhiệt độ thay đổi Thép do Fe và C liên kết lại theo một
tỷ lệ nhất định giữa các nguyên tử đó tạo ra Chúng ta cũng thấy trong các yếu
tố cấu thành sự vật hay trong số các thuộc tính của sự vật đó không chỉ có sự khác nhau, mà còn có cả những cái đối lập nhau Chẳng hạn trong nguyên tử với tính cách là yếu tố cấu thành phân tử có yếu tố mang điện tích dương có yếu tố mang điện tích âm; trong cơ thể sinh vật có yếu tố di truyền có yếu tố gây biến dị, có quá trình đồng hóa, có quá trình dị hóa…
Các mặt đối lập của sự vật tồn tại trong sự thống nhất của chúng Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này lấy sự tồn tại của các mặt kia làm tiền
đề tồn tại của mình Các mặt đối lập tuy có thuộc tính bài trừ, phủ định nhau, nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, chúng tồn tại đồng thời với nhau Như vậy, cũng có thể xem xét sự thống nhất của các mặt đối lập là tính không thể tách rời của các mặt đó Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân
tố giống nhau, “đồng nhất” với nhau Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả “sự đồng nhất” của các mặt đó Do có sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một lúc nào đó, mặt đối lập này có thể chuyển hóa sang mặt đối lập kia khi xét ở một khía cạnh nào đó
Tồn tại trong một thể thống nhất, các mặt đối lập luôn luôn tác động qua lại với nhau, “đấu tranh” với nhau Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó C Mác viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự
Trang 34cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp giữa hai mặt ấy thành một phạm trù mới” [35, tr 191] Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn định
và tính thay đổi của sự vật Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái
cũ và sự ra đời của cái mới Qúa trình giải quyết mâu thuẫn là một quá trình
mà trong đó những yếu tố không còn phù hợp, đã trở nên lỗi thời, lạc hậu sẽ
bị trừ khử, biến mất, những yếu tố còn phù hợp sẽ được cải tạo và phát triển
Do vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Động lực thúc đẩy sự vận động, phát triển của chúng là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Do vậy, sự vận động của các sự vật, hiện tượng là sự “tự vận động” Theo Ph Ăngghen, người ta sẽ không tìm thấy sự khác biệt, mâu thuẫn nội tại của các sự vật, hiện tượng nếu xét chúng trong trạng thái tĩnh Tuy nhiên tình hình sẽ khác hẳn đi nếu xét chúng trong trạnh thái vận động và tác động lẫn nhau Ph.Ăngghen viết:
“Lúc đó, chúng ta sẽ lập tức gặp phải những mâu thuẫn Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác…Và sự nảy sinh thường xuyên và việc giải quyết đồng thời mâu thuẫn này – đó cũng chính là vận động…”[33, tr 172-173] Ph.Ăngghen không những vạch ra mâu thuẫn tồn tại trong sự di động đơn giản mà còn vạch rõ những mâu thuẫn nội tại trong các hình thái vận động cao hơn, trong bản thân sự sống hữu cơ, trong tư duy con người Ph.Ăngghen viết:
Trang 35“Nếu bản thân sự di động máy móc đơn giản đã chứa đựng mâu thuẫn, thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càng phải chứa đựng mâu thuẫn như vậy… rằng sự sống trước hết chính là
ở chỗ mỗi sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là một cái khác Như vậy, sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì
sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến Cũng như chúng ta đã thấy rằng trong lĩnh vực tư duy, chúng ta không thể tránh mâu thuẫn, chẳng hạn như mâu thuẫn giữa năng lực nhận thức vô tận ở bên trong của con người với sự tồn tại thực tế của năng lực ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài và bị hạn chế trong những năng lực nhận thức, - mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ… - và được giải quyết trong sự vận động đi lên vô tận” [33, tr 173-174] Phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề này, V.I.Lênin cũng đi đến luận điểm khoa học, cho rằng: “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập” [30, tr 379] Theo V.I.Lênin sự thống nhất giữa các mặt đối lập là tương đối, tạm thời và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, do đó, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối Nếu không có sự đấu tranh của các mặt đối lập – tức là không có sự xuất hiện, tồn tại, phát triển và giải quyết mâu thuẫn, thì không thể có sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên xã hội và tư duy
Trang 36Chính sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập của sự vật tạo thành nguồn gốc của sự vận động và phát triển Sự tác động qua lại, sự đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu những thay đổi của các mặt đang tác động qua lại cũng như của sự vật nói chung, nó là nguồn gốc vận động và phát triển, là xung lực của sự sống Chẳng hạn, bất kỳ một sinh vật nào cũng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có sự tác động qua lại giữa đồng hóa và dị hóa Sự tiến hóa của các giống loài không thể có được, nếu không có sự tác động qua lại giữa di truyền và biến dị Cũng như vậy trong lĩnh vực xã hội đều có sự tồn tại và đấu tranh thường xuyên giữa các mặt đối lập, do vậy, tạo nên sự vận động và phát triển của xã hội, tư tưởng, nhận thức của con người cũng không thể phát triển nếu không có sự liên hệ thường xuyên với thực tiễn
Như vậy, theo quan điểm của triết học Mác – Lênin coi sự tồn tại của các mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mọi sự vật, hiện tượng
là nguồn gốc và động lực tạo nên sự vận động và phát triển của chúng Phép
biện chứng, một mặt, vạch rõ nguồn gốc và động lực của sự vận động, phát triển – đó là” sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong của
cách thức của sự vận động, phát triển – sự chuyển hóa từ lượng thành chất và ngược lại; đồng thời chỉ ra khuynh hướng tiến lên của sự vận động, phát triển thông qua quá trình phủ định của phủ định
1.2.3 Tính chất của sự phát triển
- Tính khách quan của sự phát triển
Thế giới là khách quan nên sự phát triển của sự vật, hiện trong thế giới
ấy bao giờ cũng mang tính khách quan Phát triển là quá trình tự thân của mọi
sự vật và hiện tượng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân các sự vật, hiện tượng, là quá trình liên tục nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn
Trang 37trong sự tồn tại của sự vật, hiện tượng đó Phát triển là một khuynh hướng tất yếu, một thuộc tính khách quan
Tính khách quan biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển, là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật hiện tượng, là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Mâu thuẫn tồn tại là khách quan
và sự phát triển cũng là khách quan, chúng tồn tại và không hề phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người, không phụ thuộc vào sự chi phối hay những tác động làm cho sự vật đi theo hướng mà con người mong muốn Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan, độc lập với ý thức con người Phát triển không phụ thuộc vào ý muốn của con người, không mơ hồ, thần bí, không phải sự điều khiển chi phối bởi lực lượng thần linh… Sự vật luôn luôn phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất
Cái mang tính khách quan là toàn bộ các quan hệ độc lập đối với con người và “trên thực tế, đó là cái được mọi người thừa nhận, đó là cái làm đối tượng cho kinh nghiệm phổ biến, cho sự đồng ý phổ biến” [30, tr 619-620] Thế giới mang tính khách quan “nghĩa là một cái gì đó đối lập với khái niệm độc lập, nhưng cũng có ý nghĩa là cái gì đó tồn tại tự nó và vì nó” [30, tr.196] Cũng như nguyên lý về sự phát triển được rút ra từ hiện thực và từ những quy luật ấy ta lại vận dụng vào các hiện tượng tự nhiên và xã hội để tìm ra cơ sở khách quan của sự vật động Quá trình mang tính khách quan ấy, độc lập với
ý thức con người, độc lập với lực lượng siêu nhiên, không mơ hồ, không thần
bí, và dù con người có muốn hay không thì sự phát triển của thế giới vẫn cứ diễn ra theo các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và của con người Sự vận động đó là vốn có trong sự vật làm cho chính bản thân sự vật luôn luôn biến đổi, chuyển hóa không ngừng trong tư thế chuyển mình lên một trình độ cao hơn
Trang 38Khi nghiên cứu về xã hội, C Mác cho rằng sự phát triển của xã hội là quá trình tự nhiên, khách quan, Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” [36, tr 21] Sự vận động của xã hội là “bước tiến của tự nhiên và lịch sử của nó”, là cái chuyển biến theo quy luật từ một giai đoạn phát triển này sang một giai đoạn phát triển khác đều theo quy luật vận động chi phối Lịch sử loài người là một quá trình phát triển từ thấp đến cao, nhưng đó không phải là một quá trình tự phát
mà là quá trình gắn với con người hoạt động có ý thức, tuy con người làm nên lịch sử, nhưng con người không thể tùy tiện làm trái với quy luật của tự nhiên,
mà phải căn cứ vào các điều kiện khách quan và chịu sự quy định của tính tất yếu khách quan ấy
Như vậy qua những gì đã phân tích trên đây có thể một lần nữa khẳng định rằng, sự phát triển là một tất yếu khách quan của sự vật, là một quá trình liên tục giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động phát triển của sự vật
- Tính phổ biến của sự phát triển
Sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực, tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ
sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển, chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và phạm trù mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn luôn vận động
và phát triển
Hêghen nói rằng: “Cả thời đại lẫn triết học của nó đều mang trong mình cùng một sự vận động”, theo đó chúng ta hiểu rằng sự vận động, phát triển là khuynh hướng chung của sự vật, hiện tượng và chúng mang tính phổ biến
Trong tự nhiên, biểu hiện của quá trình phát triển trong tự nhiên là những biến đổi của cơ thể sinh vật để ngày càng tăng cường sự thích nghi
Trang 39trước những thay đổi của môi trường, nâng cao khả năng tự sản sinh để thích ứng và hoàn thiện hơn quá trình trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường Trong tự nhiên, tất cả các động, thực vật, từ vô cơ đến hữu cơ, từ thực thể đơn bào, hay đa bào, từ những động vật chưa có hệ thần kinh trung ương đến có đầy đủ, tất cả đều trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” khi phân tích vấn đề sự sống, Ph.Ăngghen cho rằng, sự sống là một quá trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên, với những điều kiện thuận lợi tích tụ trong quá trình các chất nguyên sinh sống ban đầu đã hình thành Sự sống xuất hiện cũng là lúc lịch sử của nó bắt đầu và trải qua một thời kỳ tiến hóa Mầm mống của sự sống đầu tiên là các thể anbumin chưa có kết cấu tế bào, qua nhiều lần phân hóa hàng tỷ năm
đã hình thành nên các tế bào đầu tiên nhờ “một cái nhân và một cái màng bọc bên ngoài Nhưng với cái tế bào đầu tiên ấy thì cơ sở cho sự cấu thành hình thức của thế giới hữu cơ cũng đã có” [36, tr 480] Quá trình vận động trong những đơn bào làm cho quá trình phân hóa cứ thế tiếp tục diễn ra phát triển thành những sinh vật đa bào và các sinh vật đa bào hình thành nên các động, thực vật đầu tiên và tiếp tục phân hóa phát triển thàng lớp, họ, bộ, giống… Và thành quả vĩ đại của tự nhiên là sự tiến hóa từ động vật có vú đến việc xuất hiện loài người với bộ não “kỳ diệu” Giới tự nhiên có quá trình phân hóa vô cùng, vô tận, mọi thứ nằm trong “guồng quay của tự nhiên” và dần phát triển, tiến hóa hình thành nên những sản phẩm khác hơn, những sản phẩm tiến bộ theo tiến trình lịch sử Loài người xuất hiện đã mở ra trang sử đầu tiên của mình
giới tự nhiên và cải tạo xã hội hiện thực để phục cho những mục đích cao cả, con người ngày càng làm chủ tự nhiên, xã hội để tiến lên thang bậc cao hơn trong sự nghiệp giải phóng con người Sự phát triển trong xã hội, thể hiện qua những thay đổi về kết cấu giai cấp, cơ cấu ngành, lực lượng sản xuất, quan hệ
Trang 40sản xuất, sự phát triển của khoa học công nghệ… Sự phát triển của lực lượng
thời sơ khai chúng ta biết, con người sống bằng nghề hái lượm và săn bắt, tự cung tự cấp thì không cần trao đổi, nhưng khi có sản xuất thì bắt đầu có trao đổi, sản xuất càng phát triển thì trao đổi ngày càng rộng, và dần hình thành sự mua bán và thị trường Trong xã hội phong kiến trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, thị trường bị vây chặt trong địa hạt của từng lãnh chúa Ban đầu là thị trường có giới hạn trong vùng dân cư hạn hẹp, nhưng theo thời gian số lượng con người tăng dần và đồng thời với điều đó là phạm vi, quy mô, tốc độ sản xuất hàng hóa cũng tăng theo, do đó càng ngày giới hạn của thị trường càng được mở rộng theo nhu cầu của loài người Bây giờ sản xuất của loài người là rất lớn đã vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra, chủ nghĩa tư bản ra đời với lực lượng sản xuất hiện đại đã hình thành nên thị trường dân tộc, với sự chuyển hóa của chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa đế quốc bành trướng xâm chiếm thị trường trên diện rộng Sang cuối thế kỉ XX sự phát triển của lực lượng sản xuất, đưa loài người từ xã hội công nghiệp sang xã hội hậu công nghiệp và đang tiến dần vào ngưỡng cửa xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức, vì vậy đòi hỏi phải có thị trường rộng lớn, thị trường khu vực một số nước không đủ thì phải mở rộng ra thị trường toàn cầu Thực tế, hiện nay loài người đang sống trong một thế giới với sự phát triển cao của công nghệ điện tử viễn thông, một thế giới toàn cầu hóa với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ điện tử viễn thông Như vậy,
sự phát triển xã hội là xu thế tất yếu, đáp ứng nhu cầu cần thiết của con người Với yêu cầu, đòi hỏi khách quan phải phát triển của xã hội, thì sự phát triển của xã hội lên một tầm cao mới, một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa với
sự phát triển ở trình độ cao của LLSX là một tất yếu của xã hội loài người