THÁI THỊ HẰNG NGHIÊN CỨU VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG TRƯỜNG HỢP PHÁT HÀNH THÊM CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 1THÁI THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG
TRƯỜNG HỢP PHÁT HÀNH THÊM CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 2THÁI THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG
TRƯỜNG HỢP PHÁT HÀNH THÊM CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Tùng
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Hoàng Tùng
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
THÁI THỊ HẰNG
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu 3
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 8
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 8
1.1.1 Khái niệm về điều chỉnh lợi nhuận 8
1.1.2 Mục tiêu của việc điều chỉnh lợi nhuận 9
1.1.3 Cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận 10
1.2 NHỮNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐƯỢC VẬN DỤNG ĐỂ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 12
1.2.1 Khái niệm chính sách kế toán 12
1.2.2 Chính sách ghi nhận doanh thu 12
1.2.3 Chính sách ghi nhận chi phí 14
1.3 MỘT SỐ KỸ THUẬT ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN KHÁC 25
1.3.1 Tăng doanh thu qua chính sách tín dụng 25
1.3.2 Tăng doanh thu qua chính sách giá 25
Trang 51.3.5 Trì hoãn hay thúc đẩy thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả27
1.3.6 Sản xuất vượt công suất tối ưu 27
1.3.7 Điều chỉnh thời điểm lập hoá đơn bán hàng 27
1.4 MỘT SỐ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN29 1.4.1 Nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận qua biến kế toán dồn tích (Accruals) 29
1.4.2 The Healy Model (1985) 33
1.4.3 The DeAngelo Model (1986) 34
1.4.4 The FriedlanModel (1994) 35
1.4.5 The Jones Model (1991) 36
1.4.6 Mô hình ngành (Industry Model) của Dechow and Sloan (1991)37 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2 : NHẬN DIỆN VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG TRƯỜNG HỢP PHÁT HÀNH THÊM CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 39
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39
2.1.1 Giả thuyết nghiên cứu 39
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.1.3 Mẫu và dữ liệu nghiên cứu 43
2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
2.2.1 Sử dụng mô hình DeAngelo để kiểm định giả thuyết 50
2.2.2 Sử dụng mô hình Friedlan để kiểm định giả thuyết 53
Trang 6CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP GỢI Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
3.1 ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 653.2 ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ 693.3 ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP753.4 ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 77KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7BCTC : Báo cáo tài chính
BTC : Bộ tài chính
BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
DTHĐKD1 : Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm nghiên cứu
DA1 : Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh năm nghiên cứu
GDCK : Giao dịch chứng khoán
GDKHQ : Ngày giao dịch không hưởng quyền
HĐKD : Hoạt động kinh doanh
KTV : Kiểm toán viên
LN0 : Lợi nhuận sau thuế của năm trước năm nghiên cứu
LN1 : Lợi nhuận sau thuế của năm nghiên cứu
MCK : Mã chứng khoán
N0 : Năm trước năm nghiên cứu
N1 : Năm nghiên cứu
NĐT : Nhà đầu tư
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
Trang 8TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TTCK : Thị trường chứng khoán
TSCĐ : Tài sản cố định
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TA0 : Tổng biến kế toán dồn tích năm trước năm nghiên cứu
TA1 : Tổng biến kế toán dồn tích năm nghiên cứu
UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán nhà nước
VAS : Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 9bảng Tên bảng Trang 1.1 Ước tỷ lệ hoàn thành để ghi nhận doanh thu 14
2.2 Kết quả kiểm định bằng mô hình DeAngelo 52 2.3 Kết quả kiểm định bằng mô hình Friedlan 54 2.4 Bảng tổng hợp kết quả sau khi kiểm định bằng 2 mô hình 55 2.5 Bảng xác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận của các công
ty niêm yết
60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây đã thu hút rất nhiều người tham gia vào thị trường chứng khoán Nhưng tồn tại hiện tượng báo cáo lỗ thành lãi, lãi ít thành lãi nhiều, tình trạng nhập nhằng số liệu của các công ty niêm yết Vậy có hay không việc điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị để làm tăng giá trị thị trường của công ty và thu hút nhà đầu tư
Trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào một công ty nào đó, nhà đầu tư thường xem xét đến hiệu quả kinh doanh và triển vọng về khả năng sinh lời của công ty trong tương lai Và một chỉ tiêu quan trọng thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty chính là chỉ tiêu lợi nhuận Chính vì vậy để thu hút các nhà đầu tư các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán khi phát hành thêm cổ phiếu thường có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận Lợi nhuận
là một chỉ tiêu quan trọng được trình bày trên BCTC Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành Tuy nhiên tính linh hoạt của chuẩn mực và chế độ kế toán cho phép doanh nghiệp có thể vận dụng khéo léo để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình Việc điều chỉnh lợi nhuận sẽ làm sai lệch tình hình tài chính của doanh nghiệp, những thông tin sai lệch đó dẫn tới những hậu quả vô cùng lớn Đặc biệt là những thông tin của các công ty niêm yết trên TTCK chứng khoán, bởi nó liên quan trực tiếp tới quyết định đầu tư cổ phiếu của các nhà đầu tư, nhà đầu tư có thể bị đánh lừa và phải gánh chịu thiệt hại nặng nề
Và như vậy về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam
Như vậy cùng với sự phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam nói chung và Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vấn đề
Trang 11đặt ra là có khả năng các công ty niêm yết có điều chỉnh lợi nhuận Nhận biết được có hay không việc điều chỉnh lợi nhuận và các kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận nhằm giúp các bên có liên quan, đặc biệt là nhà đầu tư có nguồn thông tin chính xác từ đó có đánh giá khách quan về tình hình tài chính của các công
ty niêm yết và đưa ra những quyết định đúng đắn Nhận thấy ý nghĩa thực tiễn
đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu việc điều chỉnh lợi nhuận trong trường
hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ nhận định các công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán khi phát hành thêm cổ phiếu có khả năng sẽ điều chỉnh tăng lợi nhuận
để thu hút đầu tư Nghiên cứu này vận dụng các mô hình nghiên cứu việc điều chỉnh lợi nhuận của các tác giả DeAngelo và Friedlan, thu thập số liệu để kiểm chứng việc điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Qua đó rút ra kết luận từ kết quả nghiên cứu, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm giúp các đối tượng
sử dụng thông tin đặc biệt là các nhà đầu tư có đánh giá đúng đắn hơn về kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Cụ thể là nghiên cứu :
Có hay không việc điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong những lần phát hành thêm cổ phiếu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là hành động điều chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh phát hành thêm cổ phiếu
- Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Phạm vi nghiên cứu là các công ty niêm yết trên sở GDCK TP Hồ Chí Minh có phát hành thêm cổ phiếu trong giai đoạn 2010-2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn Trên cơ sở lý thuyết chỉ ra các kỹ thuật có thể vận dụng
để điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị công ty Phán đoán và đặt ra giả thuyết nghiên cứu sau đấy thu thập số liệu, vận dụng các mô hình đã nghiên cứu để kiểm định giả thuyết và đưa ra kết luận Sau đấy dựa vào kết quả kiểm định đưa ra các ý kiến nhằm nâng cao chất lượng thông tin công bố trên BCTC của các công ty niêm yết
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn có ý nghĩa thực tiễn nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin có được nguồn thông tin chính xác hơn để đưa ra quyết định đúng đắn Thông qua kết quả từ các mô hình nghiên cứu đưa ra kết luận có hay không việc điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh khi phát hành thêm cổ phiếu
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về việc điều chỉnh lợi nhuận trong các công
ty niêm yết
Chương 2: Nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp gợi ý từ kết quả nghiên cứu
6 Tổng quan tài liệu
Thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm
1998 và chính thức đi vào hoạt động năm 2000 Sau hơn 10 năm đi vào hoạt
Trang 13động thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh mạnh mẽ, số lượng công ty tham gia niêm yết ngày càng tăng, số lượng nhà đầu tư cũng tăng lên không ngừng Một trong những yếu tố thu hút nhà đầu tư chính là triển vọng phát triển của công ty, cụ thể là chỉ tiêu lợi nhuận Chính vì vậy dựa vào kẽ hở của chuẩn mực kế toán các nhà quản trị công ty thường có xu hướng “ đánh bóng” chỉ tiêu lợi nhuận trong những giai đoạn quan trọng như trước khi phát hành thêm cổ phiếu để thu hút các nhà đầu tư
Để điều chỉnh lợi nhuận nhằm một mục tiêu cụ thể nào đó nhà quản trị
có thể lựa chọn một số phương pháp như lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho, lựa chọn phương pháp tính khấu hao, ước tính thời gian khấu hao, ước tính thời gian phân bổ chi phí trả trước,… Các phương án trên có thể được vận dụng một cách tổng hợp để điều chỉnh lợi nhuận của một hoặc vài
kỳ kế toán Tuy nhiên việc vận dụng này phải tuân thủ nguyên tắc nhất quán Theo nguyên tắc nhất quán các phương pháp trong quy trình kế toán được thực hiện trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác Với nguyên tắc này, một phương pháp kế toán khi đã được chấp nhận thì không được thay đổi theo từng thời kỳ Khi thay đổi phương pháp kế toán khác phải đảm bảo thông tin
kế toán được phản ánh đầy đủ, trung thực, hợp lý hơn và những thay đổi đó phải được trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính Như vậy mức biến động của lợi nhuận phụ thuộc vào mức linh hoạt của các phương pháp kế toán Mặt khác, hướng điều chỉnh lợi nhuận không thể không có giới hạn vì việc điều chỉnh tăng doanh thu và giảm chi phí trong một vài kỳ này sẽ làm giảm doanh thu và tăng chi phí trong những kỳ sau đó
Vì vậy để nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận đã có nhiều nghiên cứu
ra đời dựa trên nguyên tắc có sự khác nhau giữa kế toán dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền Phần chênh lệch phát sinh giữa lợi nhuận trong báo cáo KQHĐKD và báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là phần lợi nhuận kế toán
Trang 14không bằng tiền được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, và phần chênh lệch này được các nhà nghiên cứu gọi là Accruals- Biến kế toán dồn tích
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc điều chỉnh lợi nhuận và các giả thuyết đã được chứng minh bằng nhiều mô hình nghiên cứu kinh nghiệm như: The Healy Model ( 1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model, Industry Model của Dechow and Sloan( 1991), The Friedlan (1994) , M-score Beneish,…
Đã có một số nghiên cứu về việc điều chỉnh lợi nhuận như : “Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận”, “ Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp”, “ Các mô hình quản trị lợi nhuận ở các nước phát triển có phù hợp với bối cảnh Việt Nam: phân tích lý thuyết ”… của PGS.TS Nguyễn Công Phương “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố trên BCTC” của TS Đường Nguyễn Hưng
Bên cạnh đấy cũng đã có một số nghiên cứu kiểm định việc điều chỉnh lợi nhuận bằng việc sử dụng các mô hình như:
-“ Lựa chọn chính sách kế toán trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang Với nghiên cứu này tác giả đã sử dụng mô hình DeAnglo và Friedlan để đưa ra kết luận: Loại hình doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần không điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm thuế thu nhập khi có sự thay đổi thuế suất thuế TNDN, loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH có điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm thuế thu nhập khi có sự thay đổi thuế suất thuế TNDN Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là nguồn dữ liệu chưa phong phú, bên cạnh đấy tác giả chỉ chọn mẫu là những doanh nghiệp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp, mà việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp hay gián tiếp thì cũng có kết quả giống nhau
Trang 15- “ Nghiên cứu hành động quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trong 2 năm đầu niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Thị Thanh Quý Với nghiên cứu này tác giả đã có kết luận khi có ưu đãi giảm 50% thuế TNDN trong thời gian 2 năm kể từ khi có chứng khoán niêm yết ( giai đoạn 2004 - 2006) các công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận trong 2 năm đầu niêm yết để tiết kiệm thuế TNDN
- “ Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc điều chỉnh lợi nhuận: trường hợp các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo Bối cảnh lựa chọn là năm 2008 có sự thay đổi thuế suất thuế TNDN, có hiệu lực vào năm 2009 Thuế suất thuế TNDN thay đổi từ 28% năm 2008 giảm xuống còn 25% năm 2009 Nghiên cứu đã đưa ra kết luận có 60% công
ty điều chỉnh giảm lợi nhuận trong năm 2008 để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp, có 40 % công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận
- “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Huỳnh Thị Vân Với thời gian nghiên cứu là năm 2008 đến năm 2010 Tác giả đã đưa ra kết luận phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này cũng giống như một hạn chế của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang là tác giả chỉ chọn mẫu những công ty lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp đã làm cho việc chọn mẫu không thật sự ngẫu nhiên vì mẫu đã bỏ qua những công ty lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp
Kế thừa những nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này vận dụng mô hình DeAngelo và Friedlan để nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở
Trang 16giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010-2012 với giả thuyết khi phát hành thêm cổ phiếu có thể các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
1.1.1 Khái niệm về điều chỉnh lợi nhuận
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về việc điều chỉnh lợi nhuận như sau:
Quan điểm thứ nhất: Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân [9]
Quan điểm thứ hai: Điều chỉnh lợi nhuận là hành động của nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu nào đó có liên quan đến lợi nhuận; hoặc; Điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cá nhân hoặc gia tăng giá trị thì trường của công ty [9]
Quan điểm thứ ba: Điều chỉnh lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán [7]
Quan điểm thứ tư: Điều chỉnh trị lợi nhuận là việc người quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố BCTC
và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán [6]
Tóm lại dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng việc điều chỉnh lợi nhuận chính là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị công ty nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán Cụ thể
Trang 18là thông qua việc điều chỉnh doanh thu và chi phí
1.1.2 Mục tiêu của việc điều chỉnh lợi nhuận
Với mỗi công ty trong những giai đoạn khác nhau có những động cơ khác nhau để thực hiện việc điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu nào
đó Có thể là những động cơ sau:
- Thu hút đầu tư: Đối với công ty lần đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc khi phát hành thêm cổ phiếu, để đủ điều kiện niêm yết trên TTCK hoặc để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và tăng giá cổ phiếu nhà quản trị công ty có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận
- Khi bị thua lỗ: Công ty bị đưa vào diện cảnh báo thua lỗ, để thoát ra khỏi diện bị cảnh báo thua lỗ và đủ điều kiện tiếp tục niêm yết trên TTCK có thể công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận
- Tối thiểu chi phí thuế: Đối với những công ty lớn thì khoản thuế TNDN là một khoản tiền khá lớn, để tối đa hoá lợi nhuận còn lại các công ty
có thể điều chỉnh giảm lợi nhuận để tối thiểu chi phí thuế TNDN phải nộp Bên cạnh đấy khi suất thuế TNDN thay đổi để tối thiểu chi phí thuế TNDN công ty có cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận Khi dự kiến thuế suất thuế TNDN giảm trong năm sau, công ty thường điều chỉnh giảm lợi nhuận trong năm hiện tại để chuyển một phần lợi nhuận vào năm sau để giảm chi phí thuế TNDN khi thuế suất giảm Ngược lại khi dự kiến thuế suất thuế TNDN năm sau tăng, doanh nghiệp có thể chuyển một phần lợi nhuận của năm sau về năm hiện tại để giảm một phần chi phí thuế TNDN khi thuế suất tăng Ví dụ công ty có thể báo cáo thu nhập chịu thuế thấp trong năm 2008 ( thuế suất 28%), chuyển số lợi nhuận này qua năm 2009 ( thuế suất 25%) để tiết kiệm 3% chi phí thuế TNDN
Bên cạnh đấy một số công ty được miễn giảm thuế TNDN trong những năm đầu mới thành lập, thì các công ty thường có xu hướng điều chỉnh tăng
Trang 19lợi nhuận trong những năm được ưu đãi đấy và làm giảm lợi nhuận của những năm sau không được ưu đãi, như vậy sẽ tối thiểu được chi phí thuế phải nộp
- Để tránh bị áp đặt một chính sách bất lợi: Để tránh bị áp đặt một chính sách bất lợi có thể doanh nghiệp sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận Ví dụ, đối với công ty điện lực, giá bán điện của công ty phải được sự đồng ý của chính phủ Như vậy muốn tăng giá bán điện thì công ty phải báo cáo lỗ để chính phủ cho phép tăng giá bán điện
- Liên quan đến tiền thưởng, tiền phạt hoặc cơ hội thăng chức của nhà quản lý: Với một số công ty quy định mức lương, thưởng của nhà quản lý dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh Chính vì vậy để tránh bị phạt hay để được thưởng nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận để đạt mục tiêu cá nhân của mình Hoặc nhà quản lý cũng nắm giữ cổ phần trong công ty, khi muốn bán
cổ phiếu nhà quản lý có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm tăng giá cổ phiếu
từ đấy sẽ thu được lợi cao khi bán cổ phiếu
- Khi doanh nghiệp phải ký kết hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận Nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận để không vi phạm các điều khoản đã ký kết
1.1.3 Cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận
Cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận chính là kế toán theo cơ sở dồn tích
Cơ sở kế toán dồn tích là một trong những nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp Theo đó, “mọi ngiệp vụ kinh tế, tài chính của công ty liên qua đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền” Việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của doanh nghiệp trong
kỳ, bởi vì lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và
Trang 20chi phí Từ đó BCKQHĐKD được lập trên cở sở dồn tích tuân thủ yêu cầu trung thực trong việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính Các thông tin
về tài sản, nguồn vốn được báo cáo một cách đầy đủ, hợp lý, từ đó cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho việc phân tích Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các thời kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,…
Bên cạnh những ưu điểm thì nhược điểm của phương pháp này là đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu “ khách quan” trong kế toán Bởi nó mang tính chủ quan của nhà quản lý thông qua việc tính toán chi phí cũng như việc xác định doanh thu để xác định kết quả giữa các kỳ kế toán, giữa các niên độ
kế toán với nhau Từ đó các thông tin kế toán có thể bị phản ánh sai lệch theo
ý chủ quan của người làm kế toán, cũng như là của nhà quản trị công ty Lợi nhuận giữa các kỳ kế toán được phản ảnh thiếu chính xác Chẳng hạn như việc phân bổ nhiều loại chi phí hay ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện trong hoạt động xây lắp thể hiện những ước tính mang tính chủ quan của nhà quản trị công ty
Ngược lại với kế toán theo cơ sở dồn tích, kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch phát sinh bằng tiền Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ
sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay chỉ sử dụng để lập BCLCTT Kế toán theo cơ sở tiền có ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình bày thông tin trên BCTC Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động
“ hữu hình”, số tiền và ngày thu được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp
Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, từ đó việc ghi nhận
Trang 21doanh thu và chi phí có tính quyết định đến lợi nhuận báo cáo trong một kỳ nào đó Chế độ kế toán hiện hành quy định rằng BCKQHĐKD phải được thực hiện theo cơ sở dồn tích Điều này mang lại cho nhà quản trị cơ hội thực hiện việc điều chỉnh lợi nhuận vì một mục tiêu nào đó, vì chế độ kế toán cũng đưa
ra nhiều lựa chọn cho mỗi loại giao dịch (đối tượng) có liên quan đến ghi nhận doanh thu và chi phí
Để thực hiện việc điều chỉnh lợi nhuận, nhà quản trị doanh nghiệp có thể vận dụng tổng hợp các chính sách kế toán có thể
1.2 NHỮNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐƯỢC VẬN DỤNG ĐỂ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
1.2.1 Khái niệm chính sách kế toán
Theo chuẩn mực 21- Trình bày báo cáo tài chính “ Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính” Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập
và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực
Tuy nhiên lựa chọn chính sách kế toán là việc lựa chọn có cân nhắc nằm trong khuôn khổ chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán mà doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị Việc lựa chọn chính sách kế toán nào đó áp dụng cho một dạng giao dịch cụ thể sẽ ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận
1.2.2 Chính sách ghi nhận doanh thu
Trong trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ và xây lắp thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của giao dịch trong từng kỳ được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công
Trang 22việc đã hoàn thành Phần công việc hoàn thành được xác định theo một trong
ba phương pháp tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ:
- Đánh giá phần công việc hoành thành
- So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành
- Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Phần công việc hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng
Như vậy việc xác định phần công việc hoàn thành để ghi nhận doanh thu trong kỳ phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị Nhà quản trị DN có thể ghi nhận tăng doanh thu trong kỳ so với thực tế bằng cách đánh giá tăng phần công việc hoàn thành, tăng tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với khối lượng công việc phải hoàn thành hoặc tăng tỷ lệ
% chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành Hoặc ngược lại nhà quản trị có thể ghi nhận doanh thu giảm đi bằng cách đánh giá giảm Việc xác định mức doanh thu ghi nhận trong kỳ sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán trong kỳ, từ đó có thể làm cho lợi nhuận tăng lên hoặc giảm đi
Ví dụ: Trong một doanh nghiệp xây dựng, một công trình mất nhiều năm mới hoàn thành Vào các kỳ lập BCTC, DN thực hiện ước tính tiến độ hoàn thành công việc để ghi nhận doanh thu và lợi nhuận Dù việc ước tính này luôn dựa trên cơ sở hợp lý như biên bản nghiệm thu công trình, nhưng vẫn mang tính chủ quan, có thể điều chỉnh được Giả sử công trình đó có giá trị 200 tỷ đồng, bằng việc chủ ý tăng hay làm giảm con số phần trăm ước tính hoàn thành công trình, doanh thu của doanh nghiệp có thể thay đổi đáng kể so với thực tế
Trang 23Bảng 1.1: Ước tỷ lệ hoàn thành để ghi nhận doanh thu
% Hoàn thành Doanh thu ghi nhận
a2 Phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho
Có 4 phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho bao gồm: Phương pháp nhập trước - xuất trước, phương pháp nhập sau - xuất trước, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp thực tế đích danh Việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho sẽ ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán Kết
Trang 24quả làm ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ Như vậy tuỳ theo đặc điểm hàng tồn kho, tình hình biến động giá cả và chủ ý của nhà quản trị doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho từ đó tác động đến chí phí
và lợi nhuận trong kỳ Chẳng hạn, nếu tình hình giá cả thị trường biến động theo xu hướng tăng, nhà quản trị muốn điều chỉnh giảm lợi nhuận thì lựa chọn phương pháp nhập sau xuất trước Bởi vì lúc này giá vốn hàng bán sẽ tăng tức
là tăng chi phí và dẫn đến làm giảm lợi nhuận trong kỳ
a3 Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Hàng tồn kho phải được xác định theo giá gốc (giá trị thực tế của hàng tồn kho tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế) Khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho thấp hơn giá gốc thì phải ghi nhận theo giá trị thuần có thể thực hiện được Việc ghi giảm giá gốc của hàng tồn kho cho bằng giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng dựa trên nguyên tắc tài sản không được phản ánh cao hơn giá trị thực hiện ước tính từ việc bán hay sử dụng chúng Cuối niên độ kế toán, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho thấp hơn giá gốc của nó thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Trong khi giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng Mức trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho DN tính vào chi phí trong kỳ, mà mức trích lập này hoàn toàn toàn phụ thuộc vào việc xác định các khoản giá bán ước tính và chi phí ước tính Cuối kỳ kế toán tiếp theo, doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó Trường hợp cuối kỳ kế toán năm nay, nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước đó thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập để đảm bảo cho giá trị của hàng tồn kho phản ánh trên báo cáo tài chính theo giá gốc ( nếu giá giá gốc nhỏ hơn giá trị thuần
Trang 25có thể thực hiện được) hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được ( nếu giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) Việc hoàn nhập hay trích lập thêm dự phòng trong năm tiếp theo cũng tùy thuộc vào những ước tính
Việc ước tính này ảnh hưởng chủ quan bởi nhà quản trị doanh nghiệp Như vậy, đối với việc trích lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, chuẩn mực kế toán luôn tạo ra khoảng tự do cho doanh nghiệp lựa chọn Mỗi
sự lựa chọn ảnh sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
b Chính sách kế toán TSCĐ
b1 Ghi nhận TSCĐ
- Đối với TSCĐ hữu hình
TSCĐ hữu hình thường là bộ phận chủ yếu trong tổng tài sản và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của công ty Vì vậy việc xác định một tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình hay một khoản chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến BCKQHĐKD của công ty
- Đối với TSCĐ vô hình
DN cần phân biệt các chi phí ban đầu liên quan đến TSCĐ vô hình, chi phí nào được ghi tăng nguyên giá, chi phí nào ghi tăng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Việc phân biệt này ảnh hưởng đến chi phí phát sinh trong kỳ,
từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ Ngoài những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp từ khâu thiết kế, triển khai, xây dựng đến khâu chuẩn bị đưa tài sản vào trạng thái sử dụng được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ Trong đó, chi phí của giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu thoã mãn
7 điều kiện:
+ Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán
Trang 26+ DN dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán
+ DN có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó
+ Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai + Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác
để hoàn tất giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó
+ Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó
+ Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐ vô hình
Trong 7 điều kiện ghi nhận chi phí giai đoạn triển khai vào nguyên giá TSCĐ vô hình, tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị, có thể lựa chọn thoã mãn 7 điều kiện này hoặc không thõa mãn 1 trong 7 điều kiện trên Như vậy nếu không thõa mãn 1 trong 7 điều kiện trên thì toàn bộ chi phí phát sinh trong giai đoạn này được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong
kỳ Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận của DN
Các chi phí khác phát sinh đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho
DN nhưng không được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình thì được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Bao gồm: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên và chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động của DN mới thành lập, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ hoặc được phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 3 năm kể từ khi công ty bắt đầu hoạt động Về khoản này DN có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian phân bổ các cho phí trên trong giới hạn 3 năm để tác động đến chi phí và lợi nhuận từng kỳ
b2 Chính sách khấu hao TSCĐ
- Đối với khấu hao TSCĐ hữu hình
Trang 27Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có
hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản mang lại cho DN Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ trừ khi chúng được tính giá trị các tài sản khác như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình ( theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc
tự chế các tài sản khác
Trong đó thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình do DN tự xác định chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản Đôi khi do chính sách quản lý tài sản của công ty mà thời gian sử dụng hữu ích của tài sản có thể ngắn hơn thời gian sử dụng hữu ích thực tế của nó Vì vậy, việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị DN, họ có thể tăng hoặc giảm chi phí khấu hao bằng cách ước tính thời gian sử dụng của tài sản
Có 3 phương pháp khấu hao TSCĐ bao gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng
+ Phương pháp khấu theo số dư giảm dần
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
Doanh nghiệp có thể lựa chọn 1 trong 3 phương pháp trên để tính và trích khấu hao TSCĐ Tuỳ thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, hoạt động sản xuất kinh doanh và mục đích của DN mà DN có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp Chi phí khấu hao được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ và mỗi phương pháp khấu hao khác nhau sẽ cho số khấu hao khác nhau, do vậy việc lựa chọn phương pháp khấu hao ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ Cụ thể, nếu DN áp dụng
Trang 28phương pháp khấu hao đường thẳng chi phí khấu hao sẽ được phân đều qua các năm sử dụng, nếu DN áp dụng phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu,…
- Đối với TSCĐ vô hình
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Theo chuẩn mực số 04- Tài sản cố định vô hình, thời gian tính khấu hao TSCĐ vô hình tối đa là 20 năm Việc tính khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình có thể vượt trên 20 năm nếu có bằng chứng tin cậy Chi phí khấu hao TSCĐ vô hình được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Do vậy, lựa chọn phương pháp khấu hao cũng như ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ dẫn đến ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình, DN xét thấy có thể thay đổi cách thức ước tính về lợi ích kinh
tế trong tương lai mà DN dự tính thu được Do đó, có thể thay đổi phương pháp khấu hao Ví dụ, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần phù hợp hơn phương pháp khấu hao đường thẳng Ngoài ra, nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng Ví dụ, thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu
Tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể DN có thể lựa chọn thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, việc lựa chọn nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi
Trang 29phí ghi nhận trong kỳ để xác nhận lợi nhuận trong kỳ báo cáo
b3 Ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ
Để duy trì và tăng năng lực hoạt động cho TSCĐ trong suốt thời gian
sử dụng DN cần phải sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ Có hai loại sửa chữa TSCĐ
đó là sửa chữa lớn và sửa chữa nhỏ TSCĐ, với mỗi loại sửa chữa sẽ phát sinh chi phí sửa chữa Tuy nhiên chi phí sửa chữa này được hạch toán vào chi phí khác nhau ứng với mỗi loại
- Đối với sửa chữa nhỏ TSCĐ: là sửa chữa thường xuyên, mang tính chất bảo dưỡng, là sửa chữa những bộ phận không quan trọng của TSCĐ, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí không lớn, do vậy chi phí phát sinh được tập hợp vào chi phí sản xuất kinh doanh [5,tr309]
- Đối với sửa chữa lớn mang tính chất phục hồi, là việc sửa chữa thay thế những bộ phận, chi tiết hư hỏng trong quá trình sử dụng Chi phí sửa chữa lớn, thời gian sửa chữa kéo dài, công việc sửa chữa có thể tiến hành theo kế hoạch (có trích trước) hoặc ngoài kế hoạch (không có trích trước) [5,tr309]
Vì vậy nếu DN chưa có kế hoạch trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thì chi phí sửa chữa được tập hợp và phân bổ cho nhiều kỳ DN có thể lựa chọn
số kỳ phân bổ theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị, song số kỳ phân bổ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và lợi nhuận trong kỳ Ngoài ra DN có thể ước tính và trích trước chi phí sữa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch vào những kỳ sản xuất kinh doanh trước thời điểm công việc sửa chữa diễn ra, điều này sẽ làm tăng chi phí từ đó làm giảm lợi nhuận trong kỳ
b4 Lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ
Việc quyết định khi nào đầu tư hay thanh lý TSCĐ cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán Nhà quản trị doanh nghiệp có thể quyết định khi nào và mức bao nhiêu cho chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, nâng cấp, cải tạo TSCĐ được chi ra Nhà quản trị cũng có thể quyết định thanh lý, nhượng bán
Trang 30TSCĐ để đẩy nhanh hay làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗ hoạt động khác Đẩy nhanh hay làm chậm việc gửi hàng cho khách hàng vào thời điểm gần cuối niên độ cũng ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận báo cáo trong kỳ
c Chính sách kế toán về chi phí vốn vay
Chi phí đi vay phải ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi phát sinh, trừ khi được vốn hoá theo quy định tại chuẩn mực kế toán số 16- chi phí đi vay Đối với các khoản chi phí đi vay, DN cần phân biệt khoản chi phí nào được vốn hoá vào giá trị tài sản hoặc không được vốn hoá mà chỉ được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Việc phân biệt này
có ảnh hưởng đến chi phí và lợi nhuận của kỳ báo cáo Bên cạnh đó việc xác định thời điểm bắt đầu vốn hoá, thời điểm tạm ngừng vốn hoá, thời điểm chấm dứt việc vốn hoá cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chỉ tiêu lợi nhuận Chuẩn mực chi phí đi vay quy định cụ thể các thời điểm nói trên, tuy nhiên
DN có thể chủ động tạo ra các điều kiện làm cơ sở để xác định các thời điểm nói trên
Ví dụ, chi phí đi vay liên quan đến việc mua một mảnh đất cần có các hoạt động chuẩn bị mặt bằng sẽ được vốn hoá trong kỳ khi các hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng đó Tuy nhiên, chi phí đi vay phát sinh khi mua mảnh đất đó để giữ mà không có hoạt động triển khai xây dựng liên quan đến mảnh đất đó thì chi phí đi vay không được vốn hoá Song việc có hoạt động chuẩn bị mặt bằng hay không tuỳ theo ý muốn chủ quan của doanh nghiệp [11]
d Chính sách kế toán về lợi thế thương mại
Lợi thế thương mại là một tài sản vô hình nhưng là một tài sản đặc biệt chỉ phát sinh khi có các nghiệp vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Hiểu một cách đơn giản thì lợi thế thương mại là phần chênh lệch giữa giữa số tiền mà
Trang 31một doanh nghiệp bỏ ra để mua một doanh nghiệp khác với giá trị tài sản
thuần của doanh nghiệp được mua[11]
Lợi thế thương mại được ghi nhận ngay vào chi phí sản xuất kinh doanh nếu có giá trị nhỏ hoặc phải phân bổ dần trong suốt thời gian hữu ích ước tính nếu giá trị lớn Thời gian sử dụng hữu ích phải phản ảnh được ước tính đúng đắn về thời gian thu hồi lợi ích kinh tế có thể mang lại cho doanh nghiệp tối đa 10 năm
Lợi ích thương mại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến BCKQHĐKD hay thu nhập trước thuế của doanh nghiệp dưới hình thức phân bổ dần vào chi phí hay ghi nhận ngay phần giảm sút về mặt giá trị hợp lý của lợi thế thương mại như một khoản chi phí Thời gian phân bổ và phương pháp phân bổ lợi thế thương mại phải được xem xét lại cuối mỗi năm tài chính Nếu thời gian sử dụng hữu ích của thế thương mại khác biệt lớn so với ước tính ban đầu thì phải thay đổi thời gian phân bổ Nếu có sự thay đổi lớn về cách thức thu hồi lợi ích kinh tế trong tương lai do lợi thế thương mại đem lại thì phương pháp phân bổ cũng phải đổi Trường hợp này phải điều chỉnh chi phí phân bổ của lợi thế thương mại cho năm hiện hành và các năm tiếp theo và phải được thuyết minh trong BCTC [1]
e Chính sách lập dự phòng phải thu khó đòi
Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh có những khoản phải thu
mà khó có thể thu được Các khoản nợ của khách hàng này gọi là nợ phải thu khó đòi Công ty dự kiến khoản phải thu khó đòi tính trước vào chi phí gọi là
dự phòng phải thu khó đòi, tức là dự phòng phần tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn thanh toán nhưng có thể không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán Khoản dự phòng phải thu khó đòi được trích trước vào chi phí hoạt động kinh doanh năm báo cáo của công ty, giúp cho công ty có nguồn tài chính để bù đắp
Trang 32những tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch nhằm bảo toàn vốn kinh doanh, đảm bảo cho công ty phản ánh giá trị của các khoản phải thu không cao hơn giá trị có thể thu hồi được tại thời điểm lập BCTC Tuy nhiên mức trích lập dự phòng dựa vào dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ, nên nhà quản trị hoàn toàn có thể điều chỉnh chi phí và lợi nhuận theo mong muốn thông qua việc dự kiến mức độ tổn thất đối với những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán, những con nợ khó có khả năng trả nợ hoặc điều chỉnh tuổi nợ của các khoản nợ phải thu Bên cạnh đó, nhà quản trị có thể xử lý xoá nợ hoặc hoãn việc xử lý xoá các khoản nợ quá hạn trên 3 năm để tác động đến chi phí và lợi nhuận trong kỳ
f Chính sách dự phòng giảm giá đầu tư tài chính
Ngoài hoạt động kinh doanh chính, nhiều công ty còn mở rộng sang
hoạt động tài chính như mua cổ phiếu, trái phiếu… Trường hợp công ty đầu
tư vào các cổ phiếu đang niêm yết trên sàn thì các khoản đầu tư này tất nhiên phải được đánh giá lại theo giá thị trường vào thời điểm cuối năm Thế nhưng, đối với những cổ phiếu chưa niêm yết hoặc có tính thanh khoản thấp thì việc đánh giá lại các khoản đầu tư này không dễ dàng Trước nhiều lựa chọn, công ty có thể chọn cách an toàn nhất thông qua tham vấn từ các công
ty chứng khoán để tránh phải ghi nhận dự phòng giảm giá đầu tư tài chính Cũng bằng phương thức tương tự, công ty có thể chỉ trích lập dự phòng ít hơn mức cần thiết để giảm bớt mức thua lỗ ghi nhận trong BCKQHĐKD Trường hợp công ty muốn báo cáo giảm bớt kết quả kinh doanh có thể tăng mức trích lập dự phòng hơn mức cần thiết[12]
g Chính sách kế toán với giao dịch bằng ngoại tệ
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp có thể phát sinh các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ Doanh nghiệp đồng thời theo dõi nguyên tệ vừa phải quy đổi sang đồng Việt Nam Việc quy đổi ra đồng Việt Nam sẽ làm
Trang 33phát sinh chênh lệch tỷ giá hối đoái Khoản chênh lệch này tuỳ theo từng trường hợp cụ thể sẽ được hạch toán vào doanh thu hay chi phí
Doanh nghiệp có thể điều chỉnh thời gian phát sinh các nghiệp vụ kinh
tế bằng ngoại tệ sẽ làm thay đổi khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái tính vào chi phí hoặc doanh thu trong kỳ Cụ thể, đối với các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái của các khoản mục nợ phải thu và nợ phải trả có gốc ngoại tệ phát sinh trong kỳ doanh nghiệp ghi nhận các khoản nợ lệch đi vài ngày nó sẽ ảnh hưởng đến chênh lệch tỷ giá khi thanh toán nợ hoặc khi thu hồi nợ
Ngoài ra, khi doanh nghiệp phát sinh các nghiệp vụ xuất ngoại tệ, tỷ giá xuất ngoại tệ được xác định theo một trong bốn phương pháp giống như hàng tồn kho: nhập trước - xuất trước, nhập sau - xuất trước, bình quân gia quyền, thực tế đích danh Khi doanh nghiệp áp dụng phương pháp khác nhau sẽ dẫn đến tỷ giá xuất ngoại tệ khác nhau Vì thế, tuỳ theo tỷ giá ngoại tệ trên thị trường và tuỳ theo từng điều kiện cụ thể, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp này hay phương pháp khác Việc lựa chọn các phương pháp này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu hoặc chi phí trong kỳ và làm lợi nhuận tăng lên hay giảm xuống [11]
h Chính sách phân bổ chi phí trả trước
Chi phí trả trước là những khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán, nhiều niên độ kế toán nên chưa thể tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ này mà phải phân bổ vào hai hay nhiều kỳ tiếp theo Mức phân bổ chi phí cho từng kỳ phụ thuộc vào số kỳ phân bổ dự kiến, cho nên DN có thể chủ động tăng giảm chi phí của từng kỳ bằng cách xác định thời gian phân bổ ngắn hay dài trong khoảng thời gian cho phép Có rất nhiều loại chi phí trả trước liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh như: chi phí trả trước về thuê hoạt động TSCĐ: nhà xưởng, kho tàng, văn phòng làm việc, cửa hàng,…; chi phí
Trang 34công cụ dụng cụ; tiền thuê cơ sở hạ tầng trả trước; chi phí thành lập công ty, chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động; chi phí nghiên cứu có giá trị lớn…Cho nên có thể nói đây là khu vực thuận lợi nhất cho công
ty điều chỉnh chi phí theo mục tiêu lợi nhuận của mình
i Chính sách ghi nhận chi phí phải trả, dự phòng phải trả, dự phòng trợ cấp mất việc làm
Chế độ kế toán quy định công ty được tính trước và hạch toán những
chi phí chưa phát sinh vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ khi có cơ sở
và được tính toán một cách chặt chẽ Quy định trên cho phép công ty có nhiều lựa chọn về mức trích lập, hoàn nhập thông qua các giá trị ước tính từ đó có thể tác động đến chi phí và lợi nhuận của công ty
1.3 MỘT SỐ KỸ THUẬT ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN KHÁC
1.3.1 Tăng doanh thu qua chính sách tín dụng
Việc thay đổi chính sách bán hàng có thể giúp DN tăng doanh thu nhanh chóng trong một thời gian ngắn Chẳng hạn vào cuối năm tài chính để doanh thu, lợi nhuận đạt mục tiêu, DN đang có thể thay đổi chính sách bán hàng trả chậm 15 ngày lên 30 ngày Được trả chậm bạn hàng sẵn lòng đón nhận ưu đãi này, nhập hàng số lượng lớn Kết quả, doanh thu của DN tăng vọt Tuy nhiên, hệ quả là số dư nợ phải thu tăng lên dẫn đến DN có thể gặp rủi ro với nợ khó đòi cũng tăng theo
Bên cạnh đó một số công ty vì mục tiêu tăng doanh thu có thể ký hợp đồng bán hàng hoá vào cuối năm tài chính để tăng doanh thu, nhưng thực chất hàng hoá đó không được bán mà sang đầu năm sau sẽ huỷ hợp đồng với một
lý do nào đó
1.3.2 Tăng doanh thu qua chính sách giá
Với các mặt hàng khan hiếm và thiết yếu, DN có thể tác động một cách khéo léo như thông báo sẽ tăng giá bán trong tương lai gần, kết quả khách
Trang 35hàng sẽ tích trữ sản phẩm với mục đích đầu cơ, doanh số công ty sẽ tăng Thực chất, phần doanh số và lợi nhuận tăng thêm trong kỳ này chỉ là phần doanh số và lợi nhuận của kỳ sau chuyển sang, nhằm phục vụ cho mục tiêu ngắn hạn nào đó Mặt khác việc tăng giá bán năm sau có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường
1.3.3 Cắt giảm một số chi phí
Cắt giảm một số chi phí chưa thực sự cần thiết trong ngắn hạn như : Chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị cũng là một cách có thể làm tăng lợi nhuận Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của công ty về lâu dài, nên sử dụng các giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc có thể hy sinh các khoản lợi nhuận tiềm năng trong tương lai
1.3.4 Tăng lợi nhuận qua thủ thuật chuyển giá
Bằng hình thức chuyển giá, một doanh nghiệp có thể lập ra một số công
ty bên ngoài phụ trách việc mua nguyên vật liệu và phân phối sản phẩm Ở vị trí trung gian, doanh nghiệp này sẽ mua được nguyên liệu với giá thấp và bán được sản phẩm cao hơn so với thực tế thị trường trong trường hợp DN muốn điều chỉnh tăng lợi nhuận Hoặc khi muốn điều chỉnh giảm lợi nhuận, DN sẽ mua nguyên liệu với giá cao và bán sản phẩm với giá thấp Vị thế này có thể giúp doanh nghiệp có thể tạo ra con số lợi nhuận “ tuỳ biến”, đẩy thua lỗ hoặc lợi nhuận về cho các công ty kia
Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận từ chính tài sản cố định Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, doanh nghiệp không được đánh giá lại giá trị tài sản khi đang sử dụng Tuy nhiên, nếu dùng tài sản này góp vốn kinh doanh thì sau quá trình định giá theo “giá thị trường” doanh nghiệp sẽ có nguồn lợi nhuận khác đáng kể Hay đơn giản hơn là thanh lý một số tài sản cố định có giá trị lớn
Trang 361.3.5 Trì hoãn hay thúc đẩy thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả
Đối với các khoản đầu tư không mang lại hiệu quả, giải pháp tối ưu là thanh lý càng sớm càng tốt Tuy nhiên, thanh lý tài sản thường đem lại một khoản lỗ cho công ty trong năm hiện tại Do đó, nếu lợi nhuận trong năm hiện tại có nguy cơ không đạt được mức kỳ vọng của thị trường, lãnh đạo công ty
có thể không muốn thanh lý Ngược lại, nếu công ty muốn điều chỉnh giảm lợi nhuận có thể thúc đẩy nhanh việc thanh lý
Ngoài trì hoãn thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả, công ty có thể bán các khoản đầu tư sinh lời nhằm tăng thêm lợi nhuận cho năm hiện tại Động thái này được ví như “gặt lúa non”, Vì thế, áp dụng biện pháp trên có nghĩa là công ty tự nguyện bỏ qua tiềm năng sinh lời từ các khoản đầu tư này trong những năm tiếp theo[19]
1.3.6 Sản xuất vượt công suất tối ưu
Trong điều kiện thông thường, mỗi doanh nghiệp xác định một mức công suất tối ưu, tuỳ thuộc vào năng lực nội tại cũng như điều kiện thị trường Tuy nhiên, trong trường hợp cần tăng lợi nhuận, công ty có thể quyết định sản xuất vượt mức công suất tối ưu Điều này cho phép công ty giảm giá thành đơn vị sản phẩm nhờ tận dụng chi phí cố định Mặt trái của biện pháp này là máy móc, thiết bị phải làm việc quá mức ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất và
độ bền Ngoài ra, sản phẩm làm ra nhiều, nếu không bán được, sẽ phát sinh chi phí bảo quản và hàng tồn kho lâu ngày sẽ bị giảm giá trị
1.3.7 Điều chỉnh thời điểm lập hoá đơn bán hàng
Vào thời điểm gần cuối kỳ kế toán doanh nghiệp có thể điều chỉnh thời điểm lập hoá đơn vài ngày có thể làm tăng hoặc giảm doanh thu trong kỳ Ví
dụ muốn tăng doanh thu, doanh nghiệp có thể xuất trước hoá đơn để đưa doanh thu kỳ sau sang kỳ báo cáo và ngược lại muốn giảm doanh thu doanh nghiệp có
Trang 37thể chậm xuất hoá đơn vài ngày để đẩy doanh thu kỳ này sang kỳ sau
Tóm lại các phương án trên có thể được vận dụng tổng hợp để điều chỉnh lợi nhuận mục tiêu của một kỳ hoặc vài kỳ kế toán tuỳ theo tình hình kinh doanh, đặc điểm của từng doanh nghiệp, mức độ linh hoạt của các phương pháp kế toán, trình độ của kế toán viên và mục tiêu lợi nhuận của nhà quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên việc sử dụng các phương pháp kế toán phải nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác và khi thay đổi phương pháp kế toán phải lý giải được việc phương pháp kế toán đó làm cho BCTC được trình bày trung thực hợp lý hơn Và hướng điều chỉnh (tăng, giảm) lợi nhuận không thể không có giới hạn vì việc điều chỉnh tăng doanh thu và giảm chi phí trong một ( hoặc một số kỳ) kỳ này sẽ làm giảm doanh thu và tăng chi phí trong một vài kỳ tiếp sau đó
Ví dụ sau sẽ làm rõ việc điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị thông qua việc vận dụng các phương pháp kế toán: Giả sử công ty A hoạt động trong lĩnh vực xây lắp có doanh thu thuần trong năm N là 200 tỷ đồng (doanh thu được ghi nhận theo phương pháp phần trăm hoàn thành) Chi phí được tập hợp như sau:
- Giá vốn hàng bán ( theo phương pháp nhập trước xuất trước):100 tỷ đồng
- Chi phí bán hàng: 20 tỷ đồng, trong đó chi phí bảo hành sản phẩm 10
tỷ đồng ( bằng 5% doanh thu)
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: 50 tỷ đồng
Như vậy lợi nhuận trước thuế là: 200- (100+20+50) = 30 tỷ đồng
Vì chuẩn bị phát hành thêm cổ phiếu, để thu hút đầu tư, ban giám đốc công ty muốn “tăng” lợi nhuận để thu hút vốn và quyết định khai thác tối đa các công cụ tài chính, kế toán để có lợi nhuận báo cáo trong năm là cao nhất Giả sử sau khi tính toán lợi nhuận theo các phương án khác nhau trong điều kiện cho phép và đảm bảo tính pháp lý của phương án được lựa chọn Giả sử
Trang 38phương án được chọn như sau:
- Ước tính phần trăm doanh thu theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành làm tăng doanh thu thêm 5 tỷ đồng
- Giá vốn hàng bán giảm so với phương án cũ 2 tỷ đồng khi chuyển từ phương pháp nhập nhập trước xuất trước sang phương pháp bình quân
- Tỷ lệ bảo hành sản phẩm ước tính lại theo mức 4% trên doanh thu ( 8 tỷ đồng)
- Chi phí quản lý giảm 1 tỷ đồng do ước tính lại thời gian phân bổ chi phí trả trước dùng cho bộ phận quản lý
Bảng 1.2: So sánh lợi nhuận của hai phương án
Khoản mục Phương án cũ Phương án mới
Như vậy, sau khi vận dụng các phương pháp kế toán có thể, lợi nhuận được điều chỉnh tăng lên 10 tỷ đồng Có thể thấy rằng 10 tỷ đồng này là lợi nhuận kế toán, không phải là lợi nhuận kinh tế Hay nói cách khác, lợi nhuận
bị “thổi phồng” thêm 10 tỷ đồng và có thể gây nhầm lẫn cho các nhà đầu tư nếu họ không am hiểu đủ bản chất của thông tin kế toán và nếu doanh nghiệp không giải thích đầy đủ cách thức tính lợi nhuận trong thuyết minh BCTC
1.4 MỘT SỐ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
1.4.1 Nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận qua biến kế toán dồn tích (Accruals)
Để nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị có thể có nhiều phương pháp khác nhau, cụ thể là kiểm tra trực tiếp sổ sách kế toán nếu
Trang 39có nghi ngờ Tuy nhiên phương pháp này thường chỉ được thực hiện thông qua các cơ quan có thẩm quyền như thanh tra, kiểm toán,… Mặt khác có khi thanh tra, kiểm toán cũng không phát hiện hết được những gian lận sai sót, hoặc có khi doanh nghiệp vận dụng kẽ hở của chuẩn mực kế toán để điều chỉnh lợi nhuận cho nên BCTC của các công ty vẫn tuân thủ theo chuẩn mực
kế toán và được kiểm toán cho là BCTC được trình bày trung thực, hợp lý… Như vậy với các đối tượng sử dụng thông tin khác như các nhà nghiên cứu, nhà đầu tư khó có thể tiếp cận sổ sách kế toán của các doanh nghiệp Từ đó các nhà nghiên cứu đã đưa ra các mô hình để nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận đó là:
Dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh được lập trên cơ sở dồn tích, tức doanh thu chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh không quan tâm đến thời điểm thực tế thu tiền hay chi tiền từ đó lợi nhuận có thể bị điều chỉnh bởi
ý muốn chủ quan của nhà quản trị Báo cáo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập dựa trên cơ sở tiền, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị
Từ đó chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo KQHĐKD và dòng tiền trong BCLCTT tạo ra biến biến kế toán mà các nhà nghiên cứu thường gọi là Accruals [11] Ta có công thức sau:
Dòng tiền từ HĐKD
Lợi nhuận sau thuế
Trang 40toán dồn tích
Tuy nhiên, không phải toàn bộ biến kế toán dồn tích (acccruals) đều có thể điều chỉnh Ví dụ như giảm khoản nợ phải thu do tăng dự phòng phải thu khó đòi điều này do mức dự phòng cần trích lập lớn hơn so với năm trước, lựa chọn mức lập dự phòng tuy trong giới hạn cho phép nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi ý muốn chủ quan của nhà quản trị Như vậy biến kế toán này có thể được điều chỉnh Ngoài ra, nguyên nhân khác giảm nợ phải thu là do chính sách thắt chặt tín dụng của doanh nghiệp, song nguyên nhân này không thể điều chỉnh bởi ý muốn chủ quan của nhà quản trị Vậy:
Như vậy Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh chính là lợi nhuận có được bằng việc vận dụng các phương pháp kế toán Vì discretinonary accruals không thể quan sát trực tiếp nên các mô hình nghiên cứu việc điều lợi nhuận đưa ra cách xác định nondiscretinonary accruals từ đó xác định discretinonary accruals
Để minh hoạ các biến kế toán có thể được vận dụng bởi các nhà quản
trị, ta xem xét vị dụ sau:
Bảng 1.3: Biến kế toán dồn tích
Các biến kế toán
+
Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (Discretinonary accruals )