Do vậy, việc công bố minh bạch chính sách kế toán như là cơ sở để giải quyết bất cân xứng thông tin giữa người bên trong và bên ngoài DN, ngoài ta tác giả cũng nghiên cứu sự vận dụng chí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
ÐẠI HỌC ÐÀ NẴNG
ĐOÀN THỊ THU BA
\ NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Ðà Nẵng – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
ÐẠI HỌC ÐÀ NẴNG
ĐOÀN THỊ THU BA
\ NGHIÊN CỨU VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG TÙNG
Ðà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 7 1.1.1 Khái niệm Chính sách kế toán 7
1.1.2 Đặc trưng chính sách kế toán 8
1.1.3 Vai trò của chính sách kế toán 10
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP 11
1.2.1 Nhu cầu về thông tin kế toán của người sử dụng 11
1.2.2 Đặc thù của doanh nghiệp 12
1.2.3 Mục tiêu quản trị lợi nhuận 13
1.2.4 Trình độ chuyên môn của kế toán 16
1.2.5 Ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán 17
1.3 NỘI DUNG VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở DOANH NGHIỆP 19
1.3.1 Chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định 19
1.3.2 Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 24
1.3.3 Chính sách kế toán liên quan đến doanh thu 30
Trang 51.3.4 Chính sách kế toán liên quan đến chi phí 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 35
2.1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 35 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 35
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 36
2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty 36
2.1.4 Cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh tại Công ty 37
2.1.5 Tổ chức kế toán tại Công ty 39
2.2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 42
2.2.1 Chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam 42
2.2.2 Chính sách kế toán liên quan đến Hàng tồn kho tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam 46
2.2.3 Chính sách kế toán liên quan đến Doanh thu tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam 53
2.2.4 Chính sách kế toán liên quan đến Chi phí tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam 58
2.2.5 Chính sách liên quan công bố thông tin 62
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CP XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 63
Trang 62.3.1 Thông tin trên thị trường 63
2.3.2 Mục tiêu của nhà quản trị 64
2.3.3 Khả năng của kế toán 64
2.4 ĐÁNH GIÁ VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 65
2.4.1 Ưu điểm 65
2.4.2 Nhược điểm 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 69
3.1 PHƯỚNG HƯỚNG CHUNG HOÀN THIỆN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 69
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU ĐIỆN QUẢNG NAM 70
3.2.1 Đối với chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định 70
3.2.2 Đối với chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 73
3.2.3 Đối với chính sách kế toán liên quan đến doanh thu 76
3.2.4 Đối với chính sách kế toán liên quan đến chi phí trả trước, chi phí phải trả 77
3.2.5 Các chính sách kế toán khác có liên quan 82
3.2.6 Chính sách liên quan công bố thông tin 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
Trang 7KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Các khoản chi phí không hợp pháp, hợp lý trong
thuế và kế toán
15
2.1 Số liệu về trích khấu hao tài sản cố định hữu
hình của Công ty Cổ phần xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
43
2.2 Bảng tính khấu hao TSCĐ tháng 3/2013 tại Công
ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
45
2.3 Bảng tổng hợp nhập-xuất-tồn tại Công ty CP xây
lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
51
2.4 Sổ chi tiết tài khoản doanh thu tại Công ty CP
xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
56
2.5 Bảng Phân bổ chi phí ngắn hạn, dài hạn tháng
3/2013 tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch
vụ bưu điện Quảng Nam
60
3.1 Bảng tính khấu hao TSCĐ tháng 6/2013 tại Công
ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
72
3.2 Bảng Phân bổ chi phí ngắn hạn, dài hạn tháng
6/2013 tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch
vụ bưu điện Quảng Nam
79
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
2.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty CP
xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
37
2.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Cổ
phần xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
39
2.3 Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty Cổ phần
xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
41
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối tượng sử dụng các thông tin trên báo cáo tài chính rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả đối tượng bên trong như nhà quản lý doanh nghiệp và đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư, ngân hàng… Bởi vì, báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng, là sự phản ánh trung thực về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được lập dựa trên cơ sở các chính sách và chuẩn mực, các thông tư hướng dẫn Tuy nhiên, trên thực tế tồn tại một quan điểm cho rằng việc cho phép người lập BCTC sử dụng các xét đoán chủ quan khi lập báo cáo sẽ làm giảm độ tin cậy của thông tin tài chính vì có khả năng người lập BCTC sẽ tìm cách che giấu những thông tin quan trọng nếu những thông tin đó có ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của họ
Với mỗi phương pháp kế toán được lựa chọn thì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính sẽ khác nhau Mục tiêu của Báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế Tuy nhiên, khi các chính sách, yêu cầu hướng dẫn lập và trình bày báo cáo tài chính không rõ ràng và đầy đủ, thiếu tính đồng bộ, khó áp dụng sẽ ảnh hưởng làm các thông tin không đáng tin cậy, khó hiểu và không thể so sánh được Các nghiên cứu trước đây cho thấy, sự vận dụng các chính sách kế toán khác nhau của một công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố: như nhận thức của người chủ sở hữu, né tránh thuế, thu hút vốn đầu tư mới, kỳ vọng tăng lợi nhuận cơ bản trên mỗi cổ phiếu Chính mỗi tác nhân này ít nhiều ảnh hưởng đến những hành vi khác nhau trong việc điều chỉnh lợi nhuận một cách có thể chấp nhận được
Với đặc thù ngành xây dựng có chu kỳ sản phẩm dài, địa bàn hoạt động rộng, ảnh hưởng của biến động giá cả lớn, việc áp dụng các chính sách kế
Trang 12toán cũng như xác định lợi nhuận kế toán để từ đó có điều kiện tham gia đấu thầu công trình, lập dự án…
Một vấn đề cốt lõi tạo nên sự thành công của công ty là thực hiện có hiệu quả các chính sách kế toán trong đơn vị Nếu việc thực hiện không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến việc xác định đúng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Vì vậy cần phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến sự vận dụng các chính sách kế toán để giúp công ty tự đánh giá và có các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này
Công ty Cổ phần xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam đang hoạt động và đã có những chính sách kế toán được công bố trên thuyết minh báo cáo tài chính nhưng có một số khoản mục chưa được rõ ràng còn mang tính chung chung như các khoản mục hàng tồn kho, trích khấu hao tài sản cố định… Do đó từ việc xem xét, đánh giá sự vận dụng các chính sách kế toán và ước tính kế toán cũng như tình hình thực tế tại công ty tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu vận dụng chính sách kế toán tại Công ty Cổ phần xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam” nhằm giúp công ty có thể lựa
chọn chính sách kế toán phù hợp để hạn chế sự sai lệch của thông tin tài chính
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát lý luận về chính sách kế toán ở Việt Nam, luận văn hướng đến tìm hiểu thực trạng vận dụng chính sách kế toán tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam Qua đó đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện việc vận dụng chính sách kế toán cho phù hợp với yêu cầu quản lý và đặc thù hoạt động tại công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về
lý luận, thực trạng việc vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty CP xây
Trang 13lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách kế toán tại công ty này
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách kế toán của Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam trong giai đoạn 2013-2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu tình hình vận dụng chính sách kế toán tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh để nghiên cứu Từ đó, qua những kinh nghiệm làm việc trực tiếp tại công ty với các thông tin trên số liệu sổ sách, sẽ đối chiếu với các chính sách kế toán trong chuẩn mực kế toán Việt Nam để hoàn thiện các chính sách kế toán tại công ty
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách kế toán trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng vận dụng chính sách kế toán tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
Chương 3: Hoàn thiện việc vận dụng chính sách kế toán tại Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chính sách kế toán là một phần không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp, việc vận dụng nó nhuần nhuyễn nhằm góp phần cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng Doanh nghiệp có quyền lựa chọn các chính sách
kế toán cho phù hợp với đặc điểm của công ty, thông tin cung cấp cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp và bên ngoài Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn khi vận dụng những chính sách kế toán này, thông tin trong
Trang 14báo cáo tài chính vừa phải hợp lý, đầy đủ nhưng cũng vừa phải cung cấp kịp thời, chính xác Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong Công ty CP xây lắp và phát triển dịch vụ bưu điện Quảng Nam nhằm đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện việc vận dụng chính sách kế toán trong công ty nghiên cứu
Dưới đây là một số tài liệu có liên quan được sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài:
- TS Trần Đình Khôi Nguyên (2012), “Bàn luận về chính sách kế toán trong doanh nghiệp” Tác giả nhằm bàn đến cơ sở lý thuyết và định hướng xây dựng chính sách kế toán trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Nền tảng xây dựng chính sách kế toán liên quan đến hai lý thuyết là mâu thuẫn đại diện (mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài) và sự bất cân xứng về thông tin (các bên có liên quan không thể tiếp cận thông tin như nhau về doanh nghiệp khi đầu tư Thông thường, người bên trong doanh nghiệp (người quản
lý, cổ đông đa số) có đầy đủ thông tin nhiều hơn người bên ngoài (ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư tiềm tàng) Điều này ảnh hưởng đến khả năng ra quyết định của người đầu tư và các bên có liên quan) Do vậy, việc công bố minh bạch chính sách kế toán như là cơ sở để giải quyết bất cân xứng thông tin giữa người bên trong và bên ngoài DN, ngoài ta tác giả cũng nghiên cứu
sự vận dụng chính sách kế toán trong các doanh nghiệp ở Việt Nam và có thể
dự báo hiện tượng bất cân xứng thông tin đã tồn tại ngay chính trên BCTC của các công ty niêm yết, và chính điều này làm người đầu tư không hiểu rõ thực hư con số trên BCTC được công bố Sự bất cân xứng thông tin đã kéo theo mâu thuẫn đại diện mà hệ lụy của nó là chi phí đại diện sẽ cao hơn khi một công ty phát hành chứng khoán hay tiếp nhận các khoản tín dụng từ bên ngoài Trên phương diện toàn xã hội, đây là một sự lãng phí vô cùng lớn
Trang 15Qua đó cho thấy vận dụng chính sách kế toán không chỉ xem đến phía doanh nghiệp và còn xem xét đảm bảo lợi ích cho người sử dụng Từ đó tác giả đã đề xuất khung cơ sở để xây dựng chính sách kế toán ở doanh nghiệp
- TS Trần Đình Khôi Nguyên (2010), “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ” Thông qua bối cảnh triển khai và việc vận dụng chế độ kế toán trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, tác giả đặt ra câu hỏi là những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán để có thể tiếp tục cải tiến kế toán ở nước ta trong thời gian tới Để trả lời cho câu hỏi trên thì tác giả đã thu thập thông tin
từ điều tra thử qua các bảng câu hỏi với nội dung hướng đến 2 chủ đề chính
đó là những chuẩn mực kế toán nào thường sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp và nhận thức của kế toán viên, cán bộ thuế về các nhân tố ảnh hưởng đến việc công tác kế toán hàng ngày ở doanh nghiệp như thế nào Kết quả cho thấy rằng nhận thức về vai trò thông tin kế toán theo các chuẩn mực của chủ doanh nghiệp còn non kém; Kế toán ở doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ chú trọng vào ghi chép cho mục đích tính thuế hơn là mục đích kế toán; Khả năng yếu kém của nhân viên kế toán; Các chuẩn mực kế toán khó hiểu cho các doanh nghiệp vận dụng; Chi phí cho công việc kế toán quá lớn; Dựa vào kết quả điều tra thử nghiệm cùng với các nghiên cứu lý thuyết, tác giả đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam: Mức độ phức tạp của các chuẩn mực; Tính độc lập về nghề nghiệp; Trình độ của kế toán viên; ảnh hưởng của tổ chức kiểm toán hay vai trò công tác thanh tra, kiểm tra; Ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán; Nhận thức của chủ doanh nghiêp; Qui mô hoạt động của doanh nghiệp
và khả năng sinh lời
- Ngô Lê Phương Thúy (2012), “Nghiên cứu việc vận dụng chính sách
kế toán tại Công ty CP tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng”; và Nguyễn Thị
Trang 16Kim Oanh (2012),”Đánh giá sự vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty
CP lương thực và thực phẩm Quảng Nam” – Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Thông qua phương pháp phỏng vấn, phân tích, tổng hợp, xem xét số liệu, đối chiếu với các chuẩn mực kế toán, các tác giả đã nghiên cứu các chính sách kế toán đang vận dụng tại Công ty CP tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng
và Công ty CP lương thực và thực phẩm Quảng Nam Chính sách kế toán được trình bày chủ yếu đó là các chính sách liên quan đến hàng tồn kho, tài sản cố định, ghi nhận doanh thu, các khoản chi phí….Bên cạnh đó, các tác giả
đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc xây dựng chính sách kế toán tại công ty
- Thomas D.Fields, Thomas Z.Lys, Linda Vincent (2011), “Empirical
research on accounting choi, Journal of Accounting and Economics
31(2011), 256 ” : tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản về vai trò của các chính sách kế toán và đề xuất phương hướng ứng dụng các lựa chọn này vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài
- V.Gopalakrishnan (1994), “Accounting choise dicisions and unlevered
giả thuyết là (1) lý thuyết nợ/vốn chủ sở hữu và (2) giả thuyết quy mô Tác giả đã đưa ra mô hình, tiến hành chọn mẫu nhằm đưa ra kết luận về cách các doanh nghiệp không dùng vốn vay lựa chọn khấu hao và phương pháp kế toán hàng tồn kho Nghiên cứu của tác giả chỉ ra mức độ ảnh hưởng của đặc thù doanh nghiệp đến lựa chọn các chính sách kế toán, thông thường một công ty
sẽ kết hợp nhiều chính sách kế toán khác nhau
Đã có một số nghiên cứu về vận dụng chính sách kế toán, tuy nhiên các nghiên cứu trên vẫn chưa khảo sát được toàn diện các nhân tố ảnh hưởng đến
sự lựa chọn phương pháp và chính sách kế toán ở các doanh nghiệp
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 1.1.1 Khái niệm Chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán số 29 - Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì thuật ngữ “chính sách kế toán” được hiểu như sau:
Chính sách kế toán: Là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính Ngoài các chính sách kế toán cụ thể được sử dụng trong báo cáo tài chính, điều quan trọng là người sử dụng phải nhận thức được cơ sở đánh giá được sử dụng (như nguyên giá, giá hiện hành, giá trị thuần có thể thực hiện được, giá trị hợp lý hoặc giá trị hiện tại) bởi vì các cơ sở này là nền tảng để lập báo cáo tài chính Khi doanh nghiệp sử dụng nhiều cơ sở đánh giá khác nhau để lập báo cáo tài chính, như trường hợp một số tài sản được đánh giá lại theo quy định của nhà nước, thì phải nêu rõ các tài sản và nợ phải trả áp dụng mỗi cơ sở đánh giá đó
Việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán:
• Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán được thực hiện dựa trên cơ sở các chuẩn mực, các văn bản hướng dẫn các chuẩn mực và các chính sách, chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành
• Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế, việc lựa chọn và áp dụng chính sách
kế toán được thực hiện dựa trên cơ sở các chuẩn mực của IASB và các hướng dẫn thực hiện chuẩn mực của IASB và các hướng dẫn khác
Trang 18Nếu không có chuẩn mực hay hướng dẫn, Ban Giám đốc doanh nghiệp phải đưa ra các xét đoán đối với việc xây dựng và áp dụng chính sách kế toán Trong việc đưa ra xét đoán đó, Ban Giám đốc phải xem xét đến các nguồn theo thứ tự ưu tiên giảm dần như sau (VAS không có quy định này):
Các yêu cầu và các hướng dẫn trong các chuẩn mực của IASB đối với các vấn đề tương tự;
Quy định chung đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính;
Các quy định mới nhất của các tổ chức ban hành chuẩn mực khác có cùng những quy định chung để xây dựng các chuẩn mực kế toán, hướng dẫn
kế toán và các thông lệ được chấp nhận trong cùng ngành
Từ đó cho thấy: Chính sách kế toán không chỉ là những nguyên tắc kế toán chung đã được thừa nhận và mang tính bắt buộc mà còn là những lựa chọn, những ước tính mang tính xét đoán, chủ quan của người làm kế toán nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của chủ doanh nghiệp
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể linh hoạt lựa chọn cho mình các chính sách kế toán phù hợp Một chính sách kế toán có thể được coi là quan trọng thậm chí khi các số liệu được trình bày trong các niên độ hiện tại và trước đây không mang tính trọng yếu Việc diễn giải các chính sách không được quy định trong các chuẩn mực kế toán hiện hành, nhưng được lựa chọn
và áp dụng phù hợp phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật quy định
1.1.2 Đặc trưng Chính sách kế toán
toán là những tuyên bố chung như là những chuẩn mực kế toán và sự hướng dẫn để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính đạt được mục tiêu dễ hiểu, đáng tin cậy, dễ so sánh của các thông tin kế toán Những nguyên tắc này được rút ra
từ kinh nghiệm thực tiễn của những người làm công tác kế toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng được thừa nhận có tính pháp lệnh và
Trang 19được triển khai áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước cho tất cả các đơn vị kinh tế Đây là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi doanh nghiệp phải áp dụng, như nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, cơ
sở dồn tích, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắc thận trọng…Kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán khi lập báo cáo Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng
có thể vận dụng các nguyên tắc để thay đổi các thông tin cung cấp ra bên ngoài, ví dụ: tùy thuộc thời điểm ghi nhận chi phí vào niên độ phát sinh hay phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp mà chi phí phát sinh trong kỳ
sẽ khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Chuẩn mực kế toán cho phép doanh nghiệp có thể lựa chọn một cách thức đo lường phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp mình Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài Các lựa chọn kế toán như lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho (bình quân, nhập trước - xuất trước, nhập sau - xuất trước, đích danh), lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định (đường thẳng, số dư giảm dần, sản lượng), lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang Mỗi lựa chọn
sẽ gây ảnh hưởng đến chi phí khác nhau và dẫn đến lợi nhuận cũng khác nhau
niệm “ước tính kế toán” đề cập tới các khoản mục trên báo cáo tài chính mà giá trị của chúng được ước tính chứ không thể đo lường một cách chính xác bằng các công thức toán học, điều này là do chuẩn mực không thể cụ thể hóa được mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị Các ước tính được sử dụng trong kế toán nhằm đảm bảo cho thông tin tài chính phản ánh một cách trung thực, đúng bản chất và hợp lý tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Các khoản ước tính kế toán gồm có ước tính liên quan đến khấu hao
Trang 20tài sản cố định, cách xác định dự phòng giảm giá, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, các ước tính kế toán khác liên quan đến phân bổ hay trích trước chi phí, các ước tính liên quan đến các khoản dự phòng phải trả ở công ty Để đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp”
Vì là các xét đoán nên mang tính chủ quan, khó có một tiêu chuẩn nào để đánh giá tính hợp lý Chính vì vậy tính tin cậy của các ước tính kế toán là một vấn đề được người sử dụng BCTC đặc biệt quan tâm
Ngoài việc vận dụng các chính sách kế toán để doanh nghiệp lập và trình bày báo cáo tài chính, tại đoạn 67-71 của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21- Trình bày báo cáo tài chính còn nhấn mạnh doanh nghiệp cần phải công bố công khai chính sách kế toán của chính doanh nghiệp một cách kỹ lưỡng để người sử dụng có điều kiện ra quyết định Việc công bố các chính sách kế toán áp dụng của doanh nghiệp thể hiện trên Thuyết minh báo cáo tài chính
1.1.3 Vai trò của Chính sách kế toán
Đối với kế toán viên: Chính sách kế toán là cơ sở để thực hiện các công
việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị và qui định của pháp luật
Đối với nhà quản trị: Chính sách kế toán là phương tiện để kiểm soát
hoạt động của công ty bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận Từ đó các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, chính sách tài trợ cho phù hợp, lập kế hoạch cho hoạt động của doanh nghiệp
Đối với cơ quan thuế: Thông qua chính sách kế toán được công bố, là cơ
sở để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các quy định về kế toán Đối chiếu với các qui định của thuế để có những điều chỉnh, kiểm tra việc chấp hành các chế độ tài chính và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ phải trả cho nhà nước
Trang 21Đối với các đối tượng khác: Thông qua chính sách kế toán để đánh giá
hoạt động của đơn vị, tính trung thực trong việc cung cấp thông tin tài chính của doanh nghiệp Những người chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ quan tâm đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, khả năng điều hành của nhà quản trị, những nhà đầu tư trong tương lai sẽ quan tâm đến sự an toàn của lượng vốn đầu tư, mức độ sinh lời, khả năng hoàn vốn để quyết định có nên đầu tư hay không
Chính vì vậy việc vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp cũng được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến số liệu trình bày trên BCTC của doanh nghiệp trong kỳ Doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán nhằm quản trị lợi nhuận, điều chỉnh các thông tin kế toán để phục vụ mục đích chủ quan của mình Việc nghiên cứu sự vận dụng chính sách kế toán giúp làm rõ hơn chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp các đối tượng đánh giá khách quan hơn về thực trạng của doanh nghiệp
và đưa ra các quyết định đúng đắn
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH
KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Nhu cầu về thông tin kế toán của người sử dụng
Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, là mục tiêu của bộ phận kế toán để cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tối ưu Đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính rất đa dạng Vì vậy, việc lựa chọn các chính sách kế toán của doanh nghiệp được cân nhắc để đảm bảo nhu cầu về thông tin của đối tượng sử dụng báo cáo tài chính khác nhau
- Đối tượng có quyền lợi tài chính trực tiếp như các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư đều quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ
Trang 22và tiềm năng tạo ra lợi nhuận cũng như tiềm năng tạo ra tiền của doanh nghiệp Thông tin từ các báo cáo do kế toán cung cấp có thể giúp các nhà đầu
tư hiểu rõ về viễn cảnh tương lai của việc đầu tư của họ vào doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp sẽ vận dụng chính sách kế toán để có thể cung cấp thông tin
kế toán tích cực về doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư
- Để đáp ứng hoạt động, hiện nay các doanh nghiệp đa số đều có sử dụng vốn vay và đều có các mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, ngân hàng: Các ngân hàng cho vay tiền đều quan tâm đến việc liệu doanh nghiệp có đủ tiền để hoàn trả nợ vay cho họ khi nợ đến hạn hay không Như vậy họ sẽ tìm hiểu nghiên cứu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng như tình hình biến động tiền mặt và khả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp Các ngân hàng đều phân tích rất kỹ tình hình tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay Điều này dẫn đến động cơ điều chỉnh các thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo chiều hướng tích cực để đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng
- Đối với cơ quan thuế: Đây là người đại diện cho Nhà nước để thu thuế các doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều phải nộp các loại thuế khác nhau tùy theo lĩnh vực, loại hình doanh nghiệp Vấn đề khai thuế và nộp thuế thường rất là phức tạp, nó chi phối phần nào đến việc lập báo cáo tài chính để dùng trong việc tính thuế Vì vậy, các doanh nghiệp thường có xu hướng áp dụng những chính sách kế toán phù hợp với quy định của luật thuế
1.2.2 Đặc thù của doanh nghiệp
Việc sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phụ thuộc vào hình thức sở hữu về vốn của các doanh nghiệp như Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Giá thị trường của chứng khoán được quyết định bởi giá trị sổ sách
kế toán và lợi nhuận kỳ vọng Chính vì niêm yết trên thị trường chứng khoán
Trang 23nên kế toán phải sử dụng các phương pháp, nguyên tắc kế toán một cách linh hoạt để điều chỉnh lợi nhuận tăng cao nhất tại thời điểm cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được niêm yết trên thị trường nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài Các doanh nghiệp có đặc thù khác nhau thì sẽ vận dụng các chính sách
kế toán khác nhau để điều chỉnh thông tin trên báo cáo tài chính Doanh nghiệp có hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho để điều chỉnh thông tin, như: phương pháp tính giá xuất kho của hàng tồn kho, việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Doanh nghiệp có tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng chính sách
kế toán liên quan đến tài sản cố định, như: phương pháp trích khấu hao TSCĐ, phân bổ chi phí trả trước (trường hợp không trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ), chi phí phải trả (trường hợp trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ)
để điều chỉnh thông tin
1.2.3 Mục tiêu quản trị lợi nhuận
Các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận cho phép các nhà quản trị linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp kế toán và ước tính kế toán Chính
sự linh hoạt này tạo ra một báo cáo tài chính không phản ánh một cách trung thực, hợp lý tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, doanh nghiệp có hành động quản trị lợi nhuận
Theo Healvy và Wahlen (1998) quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản trị
sử dụng để điều chỉnh trong báo cáo tài chính và trong nội dung nghiệp vụ kinh tế để làm thay đổi báo cáo tài chính hoặc đánh lừa các bên liên quan về hoạt động công ty phụ thuộc vào số liệu báo cáo kế toán
Theo Scott (2009) thì quản trị lợi nhuận là sự lựa chọn của nhà quản trị trong chính sách kế toán hoặc hành động ảnh hưởng đến lợi nhuận, để đạt được một số mục tiêu cụ thể báo cáo lợi nhuận
Trang 24Các mục tiêu quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp dựa trên cơ sở các mục tiêu tài chính trong ngắn hạn, dài hạn Các mục tiêu này được thể hiện qua các chỉ tiêu tài chính sau; ROA, ROE, ROS…
a Mục tiêu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Việc vận dụng các phương pháp kế toán để điều chỉnh thông tin trên BCTC nhằm tăng lợi nhuận thường được các doanh nghiệp sử dụng để thỏa mãn kỳ vọng các nhà đầu tư vốn vào doanh nghiệp, bán cổ phiếu ra bên ngoài thị trường…Vì vậy, các đối tượng trên khi sử dụng BCTC của doanh nghiệp cho mục đích riêng của mình thì cần thiết phải tìm hiểu thông tin và so sánh các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, đồng thời cần quan tâm kỹ đến chính sách kế toán của doanh nghiệp được công bố trên thuyết minh BCTC để đưa
ra quyết định đúng đắn và hợp lý nhất
b Mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp
Nếu mức thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp tăng lên thì các doanh nghiệp có xu hướng vận dụng các chính sách kế toán sao cho chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là nhiều nhất và ngược lại nếu mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm xuống thì các doanh nghiệp cũng sẽ vận dụng các chính sách kế toán sao cho chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện tại ít hơn so với tương lai để sử dụng khoản này đầu tư vào các nhu cầu khác của doanh nghiệp
Theo các tài liệu nghiên cứu thì thuế luôn là yếu tố quyết định đến việc vận dụng các chính sách kế toán Đây là nhân tố mạnh mẽ nhất, chẳng hạn như chi phí hợp lý và không hợp lý như bảng dưới đây:
Bảng 1.1 sẽ liệt kê các khoản mục chi phí hợp pháp, hợp lý trong thuế và đối chiếu với kế toán “Không” là không được phép ghi nhận, “Có” là được phép ghi nhận (Nguyễn Công Phương, Trang 24-Tr27)
Trang 25Bảng 1.1: Các khoản chi phí không hợp pháp, hợp lý trong thuế
- Trích khấu hao TSCĐ tương ứng với phần nguyên giá trên
1,6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chở người <=9 chổ ngồi mới đăng
ký sử dụng và trích khấu hao từ 1/9/2009 (trừ ô tô chuyên
kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn
Không Có
2 Chi phí tiền lương, tiền công
- Chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả
cho người lao động nhưng hết hạn nộp hồ sơ quyết toán
theo năm nhưng vẫn chưa chi
Không Có
- Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ
công ty TNHH MTV, thù lao trả cho sáng lập viên, thành
viên của hội đồng thành viên, không trực tiếp tham gia
điều hành sản xuất KD
Không Có
3 Phần chi trang phục bằng hiện vật cho người lao động
không có hóa đơn, phần chi trang phục bằng hiện vật cho
người lao động vượt quá 1.500.000đồng/người/năm, phần
chi trang phục bằng tiền cho người lao động vượt quá
1.000.000đồng/người/năm
Không Có
4 Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà doanh nghiệp không
có quy chế quy định cụ thể về chi khen thưởng sáng chế
Không Có
5 Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động Không Có
Trang 26Chính những khoản chi phí hợp lý và không hợp lý này đã làm cho các chính sách kế toán bị chi phối mạnh mẽ
Để thực hiện quản trị lợi nhuận nhằm đạt được các mục tiêu, nhà quản lý
có thể có các hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua vận dụng chính sách kế toán như sau:
- Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thay đổi phương pháp kế toán: là cách thức thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận bị hạn chế bởi nguyên tắc nhất quán
và các quy định công bố thông tin Bản thân việc thay đổi phương pháp kế toán áp dụng chỉ đem lại tác động đến lợi nhuận báo cáo của kỳ kế toán có sự thay đổi đó Cụ thể, công ty có thể làm thay đổi lợi nhuận công bố khi thay đổi lựa chọn phương pháp tính giá trị hàng tồn kho, phương pháp khấu ha tài sản cố định, phương pháp ghi nhận doanh thu và chi phí trong hợp đồng xây dựng
- Điều chỉnh lợi nhuận thông qua thực hiện các ước tính kế toán: Các ước tính kế toán có thể làm tăng hoặc giảm chi phí theo ước muốn chủ quan
để có được lợi nhuận mong muốn được nhà quản lý áp dụng thường xuyên Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa ước tính kế toán một lần và ước tính kế toán mỗi kỳ ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh, chẳng hạn: ước tính thời gian khấu hao tài sản cố định, ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ
kế toán, chẳng hạn: ước tính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang
1.2.4 Trình độ chuyên môn của kế toán
Trình độ của kế toán viên ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn các kỹ thuật, các chính sách kế toán phù hợp để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp mình Nếu kế toán có khả năng vận dụng các chính sách kế toán một cách nhuần nhuyễn sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp đạt được những mục
Trang 27tiêu cần thiết Kế toán được xem như một phương tiện giúp cho doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty: quá trình sản xuất, theo dõi thị trường… Nhờ đó người quản lý điều hành trôi chảy các hoạt động, quản lý hiệu quả, kiểm soát nội bộ tốt
Tuy nhiên, một điều có thể nhận thấy là trình độ kế toán tại nước ta chưa cao Trình độ của kế toán viên sẽ ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn chính sách kế toán để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp Thực tế là các kế toán viên không cần quan tâm đến nội dung của chuẩn mực mà chỉ quan tâm đến các thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính ban hành Mặt khác, công tác kế toán
ở các doanh nghiệp chỉ chú trọng cho mục đích kê khai thuế khá cao nên trong nhiều trường hợp, kế toán chỉ quan tâm đến mục đích thuế và bỏ qua rất nhiều sự lựa chọn về chính sách kế toán mà kế toán viên có thể áp dụng Vì vậy, nếu kế toán có kiến thức và kinh nghiệm thực tế nhiều thì sẽ hiểu được
sự khác nhau của việc vận dụng cac chính sách kế toán phù hợp theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp
1.2.5 Ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán
Tối thiểu hóa chi phí thuế luôn được xem là nhân tố then chốt tác động đến mỗi phương án lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp Do đó, trong từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp khéo léo vận dụng từng khoảng không của sự lựa chọn trong chuẩn mực kế toán để đạt được mục tiêu chủ quan của doanh nghiệp
* Mối quan hệ giữa chính sách kế toán với chuẩn mực kế toán và công tác quản trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực
kế toán Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng
Trang 28các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:
- Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;
- Đáng tin cậy, khi:
+ Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;
+ Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
+ Trình bày khách quan, không thiên vị;
+ Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;
+ Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
Tuy nhiên tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể mục tiêu của nhà quản trị là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Mục tiêu của nhà quản trị có thể là tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,…mà họ sẽ lựa chọn điều chỉnh giảm hoặc tăng lợi nhuận Cụ thể lựa chọn chính sách kế toán như sau:
- Lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí Lựa chọn phương pháp kế toán làm cho việc ghi nhận doanh thu sớm hơn và ghi nhận chi phí chậm hơn sẽ làm tăng lợi nhuận, hoặc ngược lại sẽ làm lợi nhuận giảm đi Ví dụ: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh thời điểm lập hóa đơn lệch vài ngày có thể làm gia tăng hoặc giảm doanh thu trong kỳ, các phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho cũng sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận chi phí trong kỳ, với mỗi phương pháp khác nhau có ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán ra từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Cụ thể như việc lựa chọn phương pháp LIFO sẽ làm tăng giá trị vật
tư, hàng hóa xuất dùng trong kỳ, có nghĩa là tăng chi phí trong kỳ Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ cũng cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các
Trang 29niên độ, lựa chọn phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu
và chi phí theo tiến độ hợp đồng xây dựng và trong cung cấp dịch vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí theo tiến độ thực hiện hợp đồng,… Tất cả các phương pháp này đều có thể tùy theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị để lựa chọn và điều chỉnh lợi nhuận cho doanh nghiệp mình
- Tiếp theo việc lựa chọn phương pháp kế toán, các nhà quản trị cũng có thể vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán Nhà quản trị có thể dịch chuyển một vài chi phí từ niên độ này về các niên độ sau hoặc ngược lại sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện hành, từ đó lợi nhuận được điều chỉnh tăng hoặc giảm đi Ví dụ: việc lựa chọn phương pháp phân bổ giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng nhiều kỳ, phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, việc xác định mức trích trước chi phí bao gồm trích trước chi phí bảo hành, trích trước chi phí tiền lương công nhân sản xuất nghĩ phép (đối với các doanh nghiệp sản xuất) Ngoài ra, các nhà quản trị còn lựa chọn thời điểm nào ghi nhận các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán, dự phòng phải thu khó đòi, khi nào các khoản
dự phòng này được hoàn nhập với mức trích lập bao nhiêu và mức hoàn nhập bao nhiêu? Các nhà quản trị cũng có thể ước tính lãi suất ngầm của hợp đồng thuê tài sản để vốn hóa tiền thuê trong hợp đồng thuê tài chính
1.3 NỘI DUNG VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG CÔNG
TÁC KẾ TOÁN Ở DOANH NGHIỆP
1.3.1 Chính sách kế toán liên quan đến Tài sản cố định
a Nguyên tắc ghi nhận tài sản cố định
Tài sản cố định được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc Nguyên giá tài sản cố định hữu hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được tài sản cố định hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái
Trang 30sẵn sàng sử dụng Các chi phí phát sinh sau ngày ghi nhận ban đầu được tăng nguyên giá tài sản cố định nếu các khoản chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản Chi phí phát sinh khi ghi nhận chi phí ban đầu không thỏa mãn điều kiện này thì được ghi nhận vào chi phí trong kỳ Xác định nguyên giá trong một số trường hợp sau đây:
- Nguyên giá TSCĐ hữu hình do các nhà thầu xây dựng bao gồm giá trị công trình hoàn thành bàn giao, các chi phí liên quan trực tiếp khác
- Nguyên giá TSCĐ hữu hình do tự làm, tự xây dựng bao gồm chi phí xây dựng, chi phí sản xuất thực tế phát sin cộng chi phí lắp đặt và chạy thử
- Nguyên giá TSCĐ vô hình là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ
ra để có được TSCĐ đó tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự kiến Doanh nghiệp cần phân biệt các chi phí ban đầu liên quan đến TSCĐ vô hình, chẳng hạn chi phí từ khâu thiết kế, triển khai, xây dựng đến khâu chuẩn
bị đưa tài sản vào trạng thái sử dụng được, chi phí nào được tăng nguyên giá, chi phí nào ghi tăng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Việc phân biệt này ảnh hưởng đến chi phí phát sinh trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp
Một TS được xem là TSCĐ nếu thỏa mãn đồng thời cả ba điều kiện sau: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; + Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;
+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên
b Khấu hao tài sản cố định
- Đối với khấu hao TSCĐ hữu hình:
Việc lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp cho từng loại tài sản cố định trong doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố Các yếu tố này có thể là: Đặc tính hao mòn của tài sản cố định, cách thức sử dụng tài sản cố định để tạo
Trang 31ra lợi ích kinh tế, mục tiêu quản trị của doanh nghiệp và chính sách quản lý của Nhà nước Theo chuẩn mực số 03 - Tài sản cố định hữu hình Đối với khấu hao TSCĐ hữu hình: Giá trị khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai
là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác Có 3 phương pháp trích khấu hao TSCĐ bao gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng: là số khấu hao hằng năm không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng thay đổi công nghệ
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần: là số khấu hao hằng năm giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm: là dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương pháp trên để tính và trích khấu hao TSCĐ Tùy thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, hoạt động sản xuất kinh doanh và mục đích của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp Bởi lẽ việc trích khấu hao TSCĐ sẽ được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do đó, lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Cụ thể như
Trang 32doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu, hoặc áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào chi phí liền đều qua các năm sử dụng,…
- Đối với khấu hao TSCĐ vô hình:
Theo chuẩn mực số 04 - Tài sản cố định vô hình và thông tư số 203/2009
- Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Đối với khấu hao TSCĐ vô hình: Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Thời gian tính khấu hao của TSCĐ vô hình tối đa là 20 năm Việc tính khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình có thể vượt quá 20 năm khi có những bằng chứng tin cậy Việc trích khấu hao TSCĐ vô hình được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do vậy, lựa chọn phương pháp khấu hao
và ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình, doanh nghiệp xét thấy có thể thay đổi cách thức ước tính về lợi ích kinh
tế trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính thu được Do đó, có thể thay đổi phương pháp khấu hao Ví dụ: Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần phù hợp hơn phương pháp khấu hao đường thẳng Ngoài ra, nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng hoặc thời gian sử dụng hữu ích có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản
so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn thay đổi phương pháp khấu hao và
Trang 33thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, việc lựa chọn này nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí ghi nhận trong kỳ
để xác định lợi nhuận kỳ báo cáo
Tóm lại, việc lựa chọn phương pháp trích khấu hao của tài sản cố định hữu hình và vô hình của doanh nghiệp đều làm ảnh hưởng trực tiếp đến khoản mục tài sản trong tổng tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán và lợi nhuận của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
c Sửa chữa tài sản cố định
Sau khi đưa tài sản cố định vào sử dụng, để đảm bảo cho tài sản hoạt động bình thường và ổn định, doanh nghiệp thường tiến hành sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định Tùy theo quy mô sửa chữa tài sản cố định, chi phí sửa chữa tài sản cố định được phân thành 2 loại: Sửa chữa thường xuyên TSCĐ, sửa chữa lớn TSCĐ, với mỗi loại sửa chữa đều phát sinh chi phí sửa chữa Tuy nhiên, chi phí sửa chữa này được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh khác nhau ứng với công dụng tài sản khác nhau Từ đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo
- Sửa chữa thường xuyên TSCĐ: là công việc sửa chữa đơn giản phát sinh thường xuyên trong quá trình sử dụng TSCĐ như công tác bảo dưỡng hoặc thay thế các bộ phận nhỏ mau hư hỏng Công việc sửa chữa này nhằm mục đích đảm bảo máy móc thiết bị hoạt động được bình thường, không xảy
ra tình trạng hư hỏng đột xuất làm gián đoạn quá trình sản xuất Hơn nữa, chi phí sửa chữa thường xuyên thường không lớn, nên chi phí này khi phát sinh được tính hết vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phát sinh
- Sửa chữa lớn TSCĐ: là công việc sửa chữa phức tạp, thay thế các bộ phận quan trọng của TSCĐ nhằm khôi phục lại năng lực hoạt động ban đầu của chúng Công việc sửa chữa này thường phát sinh không đều đặn giữa các tháng và qui mô chi phí sửa chữa tương đối lớn Do vậy, để thỏa mãn nguyên
Trang 34tắc phù hợp, cần tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn vào chi phí sản xuất kinh doanh trong từng tháng theo kế hoạch sửa chữa lớn và dự toán chi phí sửa chữa lớn hàng năm Tương tự, với các trường hợp sửa chữa lớn phát sinh đột xuất ngoài kế hoạch sửa chữa thì cần tính phân bổ dần chi phí sửa chữa vào chi phí sản xuất kinh doanh theo các bộ phận sử dụng TSCĐ một cách phù hợp Kế toán có thể lựa chọn số kỳ phân bổ tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị, mức phân bổ chi phí sửa chữa trong từng kỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó
Việc sửa chữa lớn TSCĐ có tính chất nâng cấp nhằm mục đích làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng TSCĐ đó so với dự tính ban đầu Lợi ích kinh tế do TSCĐ mang lại có thể là tăng công suất sử dụng, cải thiện chất lượng sản phẩm làm ra hoặc tiết kiệm chi phí hoạt động Với mục đích như thế, chi phí sửa chữa nâng cấp TSCĐ sẽ được vốn hóa, tức là được ghi tăng nguyên giá TSCĐ
Như vậy, chính sách phân bổ (trích trước) chi phí sửa chữa TSCĐ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.2 Chính sách kế toán liên quan đến Hàng tồn kho
Nam số 02, hàng tồn kho được tính theo giá gốc giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại
định số 15/2006/QĐ-BTC quy định doanh nghiệp được áp dụng một trong hai phương pháp hạch toán hàng tồn kho, đó là:
+ Phương pháp kê khai thường xuyên: là phương pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn vật tư hàng
Trang 35hóa trên sổ kế toán Khi áp dụng phương pháp này thì tài khoản hàng tồn kho được dùng để phản ánh số dư hiện có, tình hình tăng giảm của từng loại hàng tồn kho ở doanh nghiệp Vì vậy, số lượng và giá trị của mỗi loại hàng tồn kho trên sổ kế toán được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán
+ Phương pháp kiểm kê định kỳ: là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ của vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán tổng hợp và từ đó tính giá trị của hàng tồn kho đã xuất trong kỳ theo công thức:
Trị giá hàng xuất
kho trong kỳ =
trị giá htk đầu kỳ +
tổng trị giá htk trong kỳ -
trị giá htk cuối kỳ
c Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho
Theo chuẩn mực số 02 - Hàng tồn kho, việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương pháp sau: Phương pháp thực tế đích danh; Phương pháp bình quân gia quyền; Phương pháp nhập trước, xuất trước; Phương pháp nhập sau, xuất trước Với mỗi phương pháp mà đơn vị áp dụng sẽ ảnh hưởng khác nhau tới các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính
- Ph ương pháp giá thực tế đích danh: Phương pháp này có thể được áp
dụng đối với doanh nghiệp có ít chủng loại hàng hoặc mặt hàng ổn định và dễ nhận biết Theo phương pháp này, kế toán sẽ sử dụng giá gốc thật sự của từng đơn vị hàng tồn kho để xác định giá trị của hàng tồn kho và hàng xuất kho Đây là phương pháp hợp lý nhất trong bốn phương pháp Tuy nhiên đây cũng
là phương pháp đòi hỏi nhiều công sức nhất vì phải nhận biết cho được giá gốc của mỗi đơn vị hàng tồn kho
dựa trên giả định là tất cả hàng đang có sẵn trong kho đều bị trộn lẫn vào nhau, không phân biệt được theo các lần nhập kho khác nhau Theo phương
Trang 36pháp này, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của hàng tồn kho hiện có lúc đầu kỳ và giá trị các lô hàng nhập kho trong kỳ Trường hợp giá trị trung bình này được tính sau mỗi lần nhập thì gọi là “bình quân gia quyền liên hoàn” Trường hợp giá trị trung bình này được tính một lần vào cuối kỳ thì gọi là “bình quân gia quyền cố định”
- Ph ương pháp nhập trước - xuất trước: Phương pháp này được áp dụng
dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho Như vậy giá trị vốn của hàng tồn kho sát với giá trị thị trường của nó nên chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa hơn các phương pháp khác Tuy nhiên, phương pháp này có những tồn tại sau: làm cho doanh thu hiện tại ko phù hợp với khoản chi phí hiện tại, vì doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị thành phẩm, hàng hóa nhập kho từ trước Mặt khác, nếu chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến khối lượng công việc kế toán nhiều và làm cho chi phí cao cho việc hạch toán
dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho Như vậy với phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát với trị giá vốn của hàng thay thế Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được
Trang 37yêu cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán Tuy nhiên, giá trị vốn của hàng tồn kho cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế Tùy theo đặc điểm hàng tồn kho, mục tiêu của nhà quản trị mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính giá trị hàng xuất kho sẽ liên quan trực tiếp đến giá vốn hàng bán ra, từ đó có thể làm gia tăng hoặc giảm chi phí, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ và các chỉ tiêu trên BCTC Vì vậy việc lựa chọn phương pháp nào phải được công khai trên các báo cáo và phải sử dụng nhất quán trong niên độ kế toán, không thay đổi tùy tiện để đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán
d Đánh giá sản phẩm dở dang
Đánh giá sản phẩm dở dang trong các doanh nghiệp sản xuất được xem
là một biểu hiện của ước tính kế toán Chuẩn mực hàng tồn kho không đưa ra các nguyên tắc đánh giá sản phẩm dở dang, mặc dù chuẩn mực vẫn thừa nhận đây là một hình thức tồn kho của doanh nghiệp Để ước tính được giá trị sản phẩm dở dang doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ như:
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (vật liệu chính) tiêu hao
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Cho dù chọn lựa theo cách thức nào, nhưng cách thức tính toán thể hiện một chính sách đo lường của doanh nghiệp, đảm bảo tính trung thực của thông tin về sản phẩm dở dang
Việc lựa chọn các phương pháp khác nhau sẽ làm ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm khác nhau vì:
Tổng giá thành = Giá trị sản + Chi phí phát - Giá trị sản
Trang 38sản phẩm hoàn
thành
phẩm dở dang đầu kỳ
sinh trong
kỳ
phẩm dở dang cuối kỳ
Với mỗi phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ khác nhau Cụ thể như doanh nghiệp đánh giá sản phẩm
dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính trên giá trị nguyên vật liệu còn các chi phí chế biến khác xem như không ảnh hưởng không tính, ngược lại nếu doanh nghiệp đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương thì giá trị sản phẩm dở dang đều được đánh giá trên ba loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Như vậy trong cùng một lượng sản phẩm dở dang nếu đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ nhỏ hơn so với phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương Điều này cho thấy khi giá trị sản phẩm dở dang bé thì giá thành sản phẩm cao và giá vốn của hàng bán cao dẫn đến lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại
Như vậy, nếu doanh nghiệp xác định phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về sản phẩm dở dang, thành phẩm, chi phí giá vốn trên báo cáo tài chính Từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp
e Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Theo chuẩn mực số 02 - Hàng tồn kho, doanh nghiệp được trích lập dự phòng khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá
gốc của hàng tồn kho Theo thông tư số 13/2006/TT-BTC thì:
Mức trích lập dự phòng tính theo công thức sau:
Trang 39x
Giá gốc hàng tồn kho theo sổ
kế toán
-
Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho
Và giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho (giá trị dự kiến thu hồi) là giá bán (ước tính) của hàng tồn kho trừ chi phí để hoàn thành sản phẩm và chi phí tiêu thụ (ước tính)
Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng Việc trích lập
dự phòng giảm giá hàng tồn kho sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh trong
kỳ tăng lên từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt tùy thuộc vào mức ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho Cuối kỳ kế toán năm tiếp theo, phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó Trường hợp cuối kỳ kế toán năm nay, nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập để đảm bảo cho giá trị của hàng tồn kho phản ánh trên báo cáo tài chính là theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trị thuần
có thể thực hiện được) hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) Việc hoàn nhập hay trích lập thêm dự phòng trong năm tiếp theo cũng tùy thuộc vào mức lựa chọn theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị Do vậy, đối với vấn đề trích lập và hoàn nhập dự phòng, chuẩn mực kế toán luôn tạo ra khoảng không tự do cho các
Trang 40doanh nghiệp lựa chọn Mỗi sự lựa chọn này đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc ghi nhận chi phí và dự phòng giảm giá hàng tồn kho trong kỳ từ đó ảnh hưởng khoản mục tài sản và lợi nhuận trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
1.3.3 Chính sách kế toán liên quan đến Doanh thu
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu liên quan đến ghi nhận doanh thu và chi phí của hợp đồng xây dựng nên tác giả tập trung nghiên cứu về chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 - Hợp đồng xây dựng
Nguyên tắc ghi nhận: Doanh nghiệp ghi nhận doanh thu hợp đồng xây
dựng tùy thuộc vào việc hợp đồng đó thuộc áp dụng một trong hai trường hợp sau:
+ Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, thì doanh thu và chi phí của hợp đồng xây dựng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập báo cáo tài chính mà không phụ thuộc vào hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch đã lập hay chưa và số tiền ghi trên hóa đơn là bao nhiêu + Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo khối lượng thực hiện, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong kỳ phản ánh trên hóa đơn
đã lập
Kết quả của hợp đồng được ước tính một cách đáng tin cậy đối với hợp đồng xây dựng với giá cố định khi đồng thời thỏa mãn bốn điều kiện sau:
+ Tổng doanh thu của hợp đồng tính toán được một cách đáng tin cậy
+ Doanh nghiệp thu được lợi ích kinh tế từ hợp đồng