Thực trạng chung công bố thông tin trên báo cáo tài chính theo quy định hiện hành của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu .... Báo cáo tài chính là sự tổng hợp số li
Trang 1TRẦN THỊ KIM TUYỀN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2012
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đình Khôi Nguyên
Đà Nẵng – Năm 2012
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Kim Tuyền
Trang 4Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 4
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 4
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa 4
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
1.1.3 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 7
1.2 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 10
1.2.1 Các hình thức công bố thông tin 10
1.2.2 Các lý thuyết liên quan đến công bố thông tin 11
1.3 CÁC VẤN ĐỀ VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 14
Trang 5doanh nghiệp nhỏ và vừa 23
1.3.3 Nội dung Báo cáo tài chính 25
1.3.4 Quy định về Công khai Báo cáo tài chính 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 28
CHƯƠNG 2 - THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29
2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU 29
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31
2.2.1 Các yếu tố dự kiến ảnh hưởng đến việc lập và công bố thông tin của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu 31
2.2.2 Tổ chức thu thập dữ liệu 35
2.2.3 Đo lường các biến và chọn mẫu 37
2.2.4 Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2.5 Phân tích thông tin 38
2.3 THÔNG TIN CHUNG VỀ MẪU NGHIÊN CỨU 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 44
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT 45
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1.1 Thực trạng chung công bố thông tin trên báo cáo tài chính theo quy định hiện hành của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu 45
3.1.2 Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày và công bố thông tin tài chính tại doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu…… 59
Trang 63.1.4 Đánh giá tổng quát kết quả nghiên cứu 79
3.2 MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI
CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN LIÊN CHIỂU 82
3.2.1 Sự cần thiết củng cố việc công bố thông tin tài chính trong
các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu 82
3.2.2 Một số đề xuất về vấn đề công bố thông tin tài chính của các
doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 91
KẾT LUẬN 92
Trang 7DN Doanh nghiệp DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
BC KQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
BC LCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ BCĐKT Bảng cân đối kế toán
Trang 82.1 Thống kê theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp 30
2.3 Thống kê theo lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp 31
2.7 Đặc điểm về số lượng lao động tại doanh nghiệp 41 2.8 Đặc điểm về trình độ của nhân viên kế toán 42 2.9 Đặc điểm về thời gian thực hiện công tác của kế toán 42 2.10 Đặc điểm về hình thức làm việc tại doanh nghiệp 42 3.1 Các mẫu biểu được lập trong Báo cáo tài chính 46
3.2 Công khai thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh
58
3.5 Ý kiến của kế toán về các nhân tố ảnh hưởng đến việc
3.11 Kết quả phân tích hồi quy (Coefficientsa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận quan trọng đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế trong quá trình đổi mới kinh tế Doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Việt Nam bao gồm các loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư nhân và cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sự đa dạng đó thể hiện tại từng địa phương, khu vực trong cả nước Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã có nhiều bước phát triển quan trọng, ngày càng giữ vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của địa phương Do đó, thông tin kế toán cung cấp phải trung thực, đáng tin cậy
về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, về tình hình tài chính … phù hợp với chuẩn mực kế toán nhất là việc trình bày và công bố báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là sự tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhất định một cách có hệ thống nhằm cung cấp thông tin cần thiết, quan trọng về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông tin có liên quan khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng sử dụng thông tin kế toán không chỉ giới hạn là những người quản
lý ở bên trong các doanh nghiệp hay phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả các đối tượng, các thể nhân, pháp nhân bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng thương mại, Cơ quan Thuế, các đối tác kinh doanh Mỗi đối tượng sử dụng thông tin kế toán với mục đích rất khác nhau
Qua nghiên cứu thực tiễn công tác lập báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên quận Liên Chiểu hiện nay còn thiếu một số chỉ tiêu, phương pháp trình bày một số chỉ tiêu chưa tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán, việc công bố thông tin tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa
Trang 10thực sự phản ảnh đầy đủ, trung thực thông tin về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đánh giá vấn đề công bố thông tin kế toán, nhằm mục đich tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tăng cường tính minh bạch, trung thực của thông tin tài chính được công bố của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa Vì vậy, tôi chọn đề tài: “ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU”
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm 2 mục đích:
(1) Đánh giá thực trạng công bố thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu
(2) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày và công bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên quận Liên Chiểu Trên cơ
sở đó, đưa ra các định hướng nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liêu Chiểu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa, đặt biệt là thuyết minh báo cáo tài chính
Phạm vi nghiên cứu: công bố thông tin là một chủ đề rất rộng nên trong phạm vi nghiên cứu này, vấn đề công bố chỉ được xem xét thông qua hệ thống báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Điều này hoàn toàn phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp không niêm yết, nên công
bố chủ yếu hiện nay qua hệ thống BCTC Cách tiếp cận này cũng phù hợp khi đối tượng sử dụng BCTC của nhóm doanh nghiệp này hiện nay chủ yếu là ngân hàng thương mại (khi doanh nghiệp đi vay) và cơ quan thuế
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Luận văn sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu để khảo sát việc công
bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Số lượng mẫu được chọn là 70 doanh nghiệp Các doanh nghiệp được chọn mẫu là những doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 2 năm trở lên để đảm bảo việc công bố thông tin qua BCTC có tính ổn định kể từ khi doanh nghiệp đi vào hoạt động Quá trình thu thập số liệu được tiến hành qua hai giai đoạn:
Giai đoạn khảo sát BCTC của các doanh nghiệp nộp tại Chi cục Thuế Quận Liên chiểu Thông qua BCTC của các doanh nghiệp này sẽ đánh giá mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Giai đoạn khảo sát, thu thập ý kiến của các phụ tránh kế toán của những đơn vị đã khảo sát BCTC ở trên nhằm làm rõ hơn các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin
Thông tin thu thập qua hai giai đoạn sẽ được sử dụng để xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học : giúp chúng ta hiểu rõ thực trạng thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu
Về mặt thực tiễn : đưa ra một số kiến nghị về vấn đề công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để đảm bảo tính trung thực hợp lý của các thông tin được công bố
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương :
Chương 1: Tổng quan về công bố thông tin tài chính của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Trang 12Chương 3: Kết quả nghiên cứu và đề xuất
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng quốc gia
và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế Trên
cơ sở đó mỗi nước lại chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNNVV cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế
Căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009
ta có khái niệm DNNVV như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Tiêu chí về quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô
Khu vực
DN siêu
Số lao động
Tổng nguồn Vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm 10 người 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200
Trang 1320 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến
50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Theo nghị định này, đối tượng được xác định là DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước; Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 109/2004/ND-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh Như vậy, theo định nghĩa này, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thoả mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là DNNVV
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn đầu tư ban đầu ít, chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp và hoạt động dưới mọi hình thức như: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, và các cơ sở kinh tế
cá thể
Trang 14- Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh Sản phẩm của các DNNVV đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này thì nó sẽ dễ dàng hơn các doanh nghiệp có quy
mô vốn lớn trong việc chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường
- Năng lực kinh doanh còn hạn chế: do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém
+ Sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Yếu tố tư bản cấu thành trong sản phẩm thấp, hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung thấp;
+ Khả năng hạn chế về vốn, khả năng tiếp cận nguồn thông tin của các DNNVV, sự bảo hộ của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước
đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNVV
DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kém hiệu quả Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trường
- Năng lực quản lý còn thấp: Quản trị nội bộ của DNNVV còn yếu, nhất
là quản lý tài chính; ý thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao; còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hội ngành nghề Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạo
Trang 15doanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế Số lượng DNNVV
có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế-xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh Mặt khác, DNNVV
ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ, tay nghề cao do khó có thể trả lương cao và có các chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như những người lao động giỏi
1.1.3 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
* Thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư
Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Vốn là yếu tố
cơ bản để khai thác và phối hợp các yếu tố sản xuât khác như lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận cho các chủ DN Vốn có vai trò
to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình dộ tay nghề cho công nhân cũng như trình độ quản lý của chủ DN
* Nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn
Trang 16Trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV có thể hỗ trợ cho các DN lớn kinh doanh một cách hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các DN lớn, cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn hoặc thâm nhập vào mỗi ngõ ngách thị trường mà DN lớn khó có thể với tới
để phân phối các sản phẩm của DN lớn Bên cạnh đó, khi số DNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng các sản phẩm và dịch vụ mới trong nền kinh tế Nhờ hoạt động với quy mô nhỏ và vừa, các DNNVV
có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những ngành nghề kém hiệu quả sang các ngành khác hiệu quả hơn, thoả mãn nhu cầu linh hoạt của dân
cư Chính sự phát triển đó của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế
* Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng như sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh Các DN được phân bố đều hơn về lãnh thổ ở cả vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng bằng Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNNVV còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi như sự tăng mạnh của các cơ
sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các DN nhà nước Sự phát triển các DNNVV cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc, khai thác thêm nhu cầu đất nước
* Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế
Trang 17Các DNNVV hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác nhau luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN lớn Nhiều DN nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cấp các sản phẩm cho các DN lớn Do dó, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường mối quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và giữa các DN lớn Nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẻ và góp phần tăng hiệu quả kinh tế xã hội nói chung
* Tạo cơ sở để hình thành các doanh nghiệp lớn
Hầu hết các cơ sở dân doanh ở Việt Nam khi mới ra đời do thiếu kinh nghiệm và chưa thật hiểu về thị trường nên họ thường lựa chọn quy mô kinh doanh nhỏ và vừa để bắt đầu để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh Sau một thời gian tích lũy thêm vốn, kinh nghiệm và khảng định được vị thế của mình trên thị trường, họ mới tiến hành mở rộng kinh doanh và phát triển với quy mô lớn hơn
Ngoài ra, DNNVV còn là nơi đào tạo tay nghề và trau dồi kinh nghiệm cho các cán bộ quản lý của các DN lớn vì người lao động thường có xu hướng chỉ làm trong các DNNVV một thời gian, sau khi có đủ kinh nghiệm và khả năng họ sẽ chuyển sang các DN lớn để làm việc, hưởng thu nhập cao hơn Như thế, DN lớn tiết kiệm được nhiều chi phí đào tạo khi tuyển dụng các nhân viên có tay nghề từ các DNNVV chuyển sang
1.1.3.2 Về khía cạnh xã hội
* Tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp
Đặc điểm chung của các DNNVV là vốn ít và hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động Do dó, DNNVV có thể tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động Khi các DNNVV phát triển sẽ tạo
cơ hội tăng việc làm, thu hút lao động và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền
Trang 18kinh tế, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lợi ích cho cộng đồng dân cư, kể cả người thất nghiệp, phụ nữ và người tàn tật
* Nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội
Việt Nam là một nước nông nghiệp, năng suất của nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp Việc phát triển các DNNVV ở thành thị cũng như ở nông thôn là một trong những biện pháp cơ bản góp phần tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư Thông qua việc phát triển các DNNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các DN nhờ đó mà thu nhập của dân cư được đa dạng hóa và nâng cao Đời sống của người dân nông thôn sẽ ổn định hơn và mức sống của dân cư sẽ được nâng cao góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức công bằng trong nền kinh tế Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt, khi các DNNVV phát triển sẽ tạo điều kiện phát huy lợi thế mới của vùng, phát triển các ngành và các khu công nghiệp tạo điều kiện giảm bớt khoảng cách giữa các vùng trên toàn quốc, xoá bỏ mức chênh lệch về thu nhập rất lớn giữa các vùng dân cư
1.2 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1 Các hình thức công bố thông tin
Thông tin kế toán là thông tin tiền tệ về các hoạt động kinh tế tài chính diễn ra ở đơn vị kế toán cụ thể Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng
sử dụng, giúp họ ra các quyết định kinh tế hiệu quả liên quan đến đơn vị kế toán
Công bố thông tin kế toán là cung cấp thông tin kế toán của một doanh nghiệp thông qua hệ thống các BCTC của trong một thời kỳ nhất định Mục đích của công bố thông tin kế toán là để thông báo cho cả nhà đầu tư hiện tại
và nhà đầu tư tiềm năng về các chính sách và phương pháp kế toán được sử
Trang 19dụng để trình bày các thông tin tài chính của doanh nghiệp trong những khoảng thời gian phát triển nhất định (kỳ kế toán)
Việc công bố thông tin kế toán ra bên ngoài được xem là một yêu cầu khách quan của thực tiễn để Nhà nước vận hành nền kinh tế tốt hơn; để các tổ chức kinh tế và cá nhân liên quan có điều kiện đánh giá các khoản vốn đầu tư của mình hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt nhất Vấn đề này đặt ra cho kế toán phải công bố những thông tin gì cho bên ngoài để vừa đảm bảo tính bí mật thông tin của từng doanh nghiệp, vừa đảm bảo nhu cầu thông tin của cộng đồng kinh doanh
Công bố thông tin bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc và các công
bố tự nguyện hay không bắt buộc:
Công bố bắt buộc (Mandatory disclosures): là những công bố kế toán
theo quy định của luật pháp, những công bố này phải được trình bày theo những quy định của GAAP và Các Chuẩn mực kế toán Công bố thông tin tài chính bắt buộc là những công bố quan trọng trong các quyết định đầu tư
Công bố tự nguyện (Voluntary disclosures): là việc công bố những
thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu, doanh nghiệp được lựa chọn các thông tin cần thiết cho những đối tượng sử dụng thông tin để công bố Khi các DN tự nguyện công bố thông tin sẽ đem lại lợi ích quan trọng cho cả công
ty và các nhà quản lý Khi các DN tăng việc công bố tự nguyện thì các thông tin tài chính mà DN cung cấp sẽ minh bạch hơn, thu hút đầu tư hơn, độ tin cậy cao Những lợi ích này thường được giải thích thông qua ba phương pháp tiếp cận lý thuyết chính: : Lý thuyết đại diện (Agency theory), Lý thuyết Tín hiệu (Signaling theory) và Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory) (Watson
và cộng sự, 2002) [8,tr 198]
1.2.2 Các lý thuyết liên quan đến công bố thông tin
1.2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Vấn đề đại diện bắt nguồn từ sự tồn tại các mâu thuẫn lợi ích trong nội bộ của doanh nghiệp Các mâu thuẫn này tồn tại do sự phân chia quyền sở hữu
Trang 20và quyền quản lý tài sản trong công ty Đó là các mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và người đại diện quản lý; và mâu thuẫn giữa chủ nợ và cổ đông của công ty Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông và người quản
lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy thác và cho rằng nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho các cổ đông và công ty [16]
Theo Jensen và Meckling (1976); Chow và Wong-Boren (1987); Lang và Lundholm, (1993), chú trọng đến việc công bố thông tin tự nguyện và việc khuyến khích các nhà quản lý tham gia vào các hoạt động này đã chứng minh được là có sự khác nhau với các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy kinh doanh và sự phân tán quyền sở hữu ([7], [8], [17], [18], [19], [20])
1.2.2.2 Lý thuyết Tín hiệu (Signaling theory)
Một cách tiếp cận lý thuyết được sử dụng trong quá trình công bố thông tin tự nguyện là lý thuyết tín hiệu Lý thuyết tín hiệu được phát triển để giải thích việc công bố thông tin tự nguyện Theo lý thuyết tín hiệu việc công bố thông tin của một DN có thể truyền những dấu hiệu cho người đầu tư bên ngoài về thông tin bên trong ở doanh nghiệp
Dựa trên nghiên cứu của Craven và Marston (1999), nhà quản lý cố gắng thông qua việc tự nguyện công bố thông tin để phân biệt được đơn vị hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao với các đơn vị có hiệu quả thấp hơn trong cùng lĩnh vực kinh doanh Tín hiệu có mức độ khác nhau về độ tin cậy (Eccles và cộng sự, 2001) Và do đó công bố tự nguyện được coi là một trong những phương tiện cho các công ty hoặc người quản lý để phân biệt DN này với những DN khác về chất lượng và hiệu quả Theo Watts & Zimmerman (1986), một chiến lược hợp lý để công bố những thông tin bổ sung cho các
Trang 21nhà đầu tư tín hiệu về giá trị công ty Việc sử dụng các công ty kiểm toán viên
uy tín là các phương tiện và các yếu tố thúc đẩy cho việc công bố (Healy và Palepu, 2001) ([7], [9], [19], [20], [21])
1.2.2.3 Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory)
Lý thuyết tính hợp pháp có nguồn gốc từ các khái niệm về tính hợp pháp
của tổ chức, theo Dowling và Pfeffer (1975, trang 122.) “ Trong một điều kiện hoặc tình trạng tồn tại nào đó khi hệ thống giá trị của một thực thể đồng dạng với một phần của hệ thống giá trị xã hội lớn hơn của thực thể Khi có sự chênh lệch, thực tế hoặc tiềm năng, trong sự tồn tại hai hệ thống giá trị, là một mối đe dọa cho tính hợp pháp của tổ chức.”
Một số nghiên cứu đã kiểm tra trực tiếp hoặc gián tiếp cho lý thuyết tính hợp pháp và ứng dụng của nó được sử dụng trong việc công bố của công ty (ví dụ, Adams, Hill và Roberts, 1998; Campbell, Craven và Shrives, 2003; Deegan, Rankin và Voght, 2000; Deegan và cộng sự 2002; Deegan và Gordon, 1996; Deegan và Rankin, 1996; Guthrie và Parker, 1989; Gray, Kouhy và Lavers, 1995; O'Donovan, 1999; Patten, 1991; Walden và Schwartz, 1997; Wilmhurst và Frost, 2000) Kết quả của những nghiên cứu thường có xu hướng thừa nhận ứng dụng của lý thuyết tính hợp pháp để hiểu biết về vấn đề công bố tự nguyện của các công ty ([7], [10], [11], [12], [13], [14], [15], [20]
Lý thuyết về tính hợp pháp rằng các tổ chức luôn tìm cách đảm bảo rằng
họ hoạt động trong các giới hạn và quy định của pháp luật, của Nhà nước Tính hợp pháp của lý thuyết dựa trên ý niệm rằng có một "hợp đồng xã hội giữa công ty và xã hội mà nó hoạt động (Deegan 2000; Deegan 2002; Mathew 1993; Patten 1991; 1992) Shocker và Sethi (1974) cung cấp một cái nhìn tổng quan về khái niệm của một hợp đồng xã hội (khế ước xã hội): Bất kỳ tổ
Trang 22chức xã hội và tổ chức kinh doanh cũng không là ngoại lệ khi hoạt động trong
xã hội cần thống nhất các nguyên tắc để cùng chung sống với nhau
Tính hợp pháp tập trung vào các quy định, điều khoản trên hợp đồng hoặc thỏa thuận giữa DN và các đối tác của nó là dựa trên tiền đề rằng: tính hợp pháp của công ty được biểu hiện (tín hiệu) bằng cách công bố một số thông tin trong báo cáo hàng năm (Shocker và Sethi, 1974)[22] Bằng cách tự nguyện tiết lộ một số thông tin, nhà quản lý có thể thông tin với các bên liên quan (Watson và cộng sự, 2002) Các thông tin được công bố bởi các công ty
có trình độ khác nhau Một số người trong số họ có thể được thông tin kế toán trong khi những người khác có thể được hỗ trợ thông tin từ thông tin kế toán
Ta có thể xem xét tính hợp pháp đối với thông tin được công bố trên một số khía cạnh:
Thứ nhất, phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật, không trái với hiến pháp, luật, pháp lệnh và các quy định của cơ quan nhà nước
Thứ hai, trong phạm vi thẩm quyền của công ty
Thứ ba, phải xuất phát từ chính lợi ích thiết thực của doanh nghiệp, Nhà đầu tư, cơ quan quản lý, các đối tác ,
Thứ tư, phải bảo đảm trình tự, thủ tục, hình thức theo luật định
1.3 CÁC VẤN ĐỀ VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.3.1 Các chuẩn mực liên quan đến việc trình bày và công bố thông tin trên Báo cáo tài chính
1.3.1.1 Chuẩn mực số 01 - Chuẩn mực chung
a) Mục đích của chuẩn mực: quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và
yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính của doanh nghiệp
b) Các giả thuyết và nguyên tắc kế toán
Trang 23- Giả thuyết kỳ kế toán: Là việc phân chia hoạt động của DN thành
nhiều phân đoạn thời gian bằng nhau, gọi là kỳ kế toán, để lập các báo cáo kế toán phục vụ cho việc phân tích đánh giá quá trình hoạt động và những thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Giả thuyết hoạt động liên tục: DN được giả định là đang hoạt động
liên tục BCTC không được giả định bất kỳ khả năng nào của sự phá sản hoặc bất kỳ dự định nào có thể thu hẹp quy mô hoạt động hiện tại
- Nguyên tắc cơ sở dồn tích: DN phải lập BCTC theo cơ sở kế toán dồn
tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền Các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và BCTC của các kỳ kế toán liên quan BCTC được lập dựa trên cơ sở dồn tích sẽ phản ảnh tình hình tài chính của DN trong quá khứ, hiện tại và tương lai
- Nguyên tắc giá gốc: Việc đo lường, tính toán tài sản, nợ phải trả,
nguồn vốn chủ sở hữu và chi phí phải đặt trên cơ sở giá gốc tại thời điểm hình thành Nguyên tắc này tạo nên một hạn chế của BCTC là nó không phản ánh giá thị trường của tài sản, nguồn vốn mà chỉ phản ảnh theo giá vốn
- Nguyên tắc phù hợp: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế
toán là tính lãi, lỗ kế toán sau một thời kỳ hoạt động của doanh nghiệp Nguyên tắc phù hợp đưa ra hướng dẫn trong việc xác định chi phí để tính lợi nhuận kế táon Chi phí để tính lưọi nhuận kế toán là toàn bộ khoản chi phí đẻ tạo nên doanh thu đã ghi nhận trong kỳ Như vậy, chi phí để tính lợi nhuận kế toán của một kỳ kế toán phải có sự phù hợp với doanh thu ghi nhận trong kỳ
- Nguyên tắc nhất quán: Theo nguyên tắc này các quá trình kế toán phải
áp dụng tất cả các khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực và các phương pháp tính toán trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác
Trang 24- Nguyên tắc thận trọng: thu nhập chỉ được ghi nhận khi có chứng cứ
chắc chắn và chi phí có thể được ghi nhận ngay khi có thể chưa chắc chắn
- Nguyên tắc trọng yếu: Thông tin kế toán mang tính trọng yếu là những
thông tin có ảnh hưởng đáng kể tới bản chất của nghiệp vụ hoặc ảnh hưởng tới những đánh giá của đối tượng sử dụng về tình hình tài chính của đơn vị, hoặc ảnh hưởng đến đối tượng sử dụng về tình hình tài chính của đơn vị, hoặc ảnh hưởng tới đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong BCTC
c) Các yếu tố của Báo cáo tài chính
- Tình hình tài chính: Các yếu tố có liên quan trực tiếp tới việc xác định
và đánh giá tình hình tài chính là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu
- Tình hình kinh doanh: Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình
hình và kết quả hoạt động kinh doanh là doanh thu, thu nhập khác, chi phí và kết quả kinh doanh
d) Ghi nhận các yếu tố của Báo cáo tài chính
BCTC phải ghi nhận các yếu tố về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp; trong các yếu tố đó phải được ghi nhận theo từng khoản mục Một khoản mục được ghi nhận trong BCTC khi thỏa mãn cả hai tiêu chuẩn: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế hoặc làm giảm lợi ích kinh tế trong tương lai và khoản mục đó có giá trị và xác định được giá trị một cách đáng tin cậy
- Ghi nhận tài sản: Tài sản được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán
khi DN có khả năng chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và giá trị của tài sản đó được xác định một cách đáng tin cậy Tài sản không được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi các chi phí bỏ ra không chắc chắn sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho DN thì các chi phí đó được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi phát sinh
Trang 25- Ghi nhận nợ phải trả : Nợ phải trả được ghi nhận trong Bảng cân đối
kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn là DN sẽ phải dùng một lượng tiền chi
ra để trang trải cho những nghĩa vụ hiện tại mà DN phải thanh toán, và khoản
nợ phải trả đó phải xác định được một cách đáng tin cậy
- Ghi nhận doanh thu và thu nhập khác: việc ghi nhận doanh thu xảy
ra đồng thời với việc tăng các lợi ích kinh tế của đơn vị trong một kỳ kế toán, phát sinh làm một tài sản (lợi ích kinh tế) tăng lên nhưng không làm giảm một tài sản khác hay không làm tăng một khoản nợ phải trả, phát sinh lên quan đến một khoản nợ phải trả giảm đi nhưng không giảm một tài sản tương ứng hoặc không làm tăng một khoản nợ phải trả Doanh thu và thu nhập khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của người chủ sở hữu
- Ghi nhận chi phí: việc ghi nhận chi phí xảy ra đồng thời với việc ghi
nhận khoản nợ phải trả tăng lên hoặc khoản tài sản giảm Theo cơ sở kế toán dồn tích, chi phí để xác định lãi lỗ được ghi nhận trên Báo cáo KQHĐKD trong thời kỳ khi những hao phí của nó được xác định một cách tin cậy, phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí
1.3.1.2 Chuẩn mực số 21 – Trình bày Báo cáo tài chính
a) Mục đích của chuẩn mực : Quy định và hướng dẫn các yêu cầu và
nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính Mục đích, yêu cầu
và nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo cáo tài chính
b) Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính: Nguyên tắc lập và
trình bày BCTC tuân thủ theo nguyên tắc kế toán và các yêu cầu của thông tin
Trang 26kế toán được quy định tại Chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực kế toán chung
c) Các yêu cầu của công bố thông tin trên báo cáo tài chính : BCTC
phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của DN Để đạt được các yêu cầu đó, BCTC phải được lập trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán và các quy định liên quan
Để lập và trình bày BCTC trung thực và hợp lý, DN phải : Lựa chọn và
áp dụng các chính sách kế toán phù hợp; Trình bày các thông tin kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu; Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc của những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết qủa kinh doanh của DN
Khi BCTC cung cấp được những thông tin hữu ích về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và những biến động về tình hình tài chính của đại đa số người sử dụng bên ngoài, có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh và ra quyết định kinh tế liên quan đến DN là đã đạt được mục tiêu của nó Các đối tượng bên ngoài DN khi sử dụng các thông tin tài chính đều cần những thông tin trung thực hợp lý, độ tin cậy cao
1.3.1.3 Những yêu cầu về chất lượng đối với Báo cáo tài chính
Qua nghiên cứu nội dung 02 (hai) Chuẩn mực nêu trên, chúng ta có thể thấy được những yêu cầu về chất lượng thông tin trên BCTC Đây là những yêu cầu ảnh hưởng, chi phối đến việc thiết kế, trình bày, cung cấp thông tin và cũng được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của thông tin trên BCTC Những yêu cầu đó bao gồm: Thích hợp, tin cậy, dễ hiểu, kịp thời và
có thể so sánh
Thích hợp
Trang 27Các thông tin trên BCTC phải thích hợp với nhu cầu ra quyết định của người sử dụng Từ việc sử dụng những thông tin này họ có thể nhận xét , đánh giá được những sự kiện và kết quả đã xảy ra và có phương hướng thực hiện trong tương lai nhằm đạt tới mục tiêu đã định
Để thông tin trên BCTC hữu ích với người sử dụng thì trước hết các thông tin cung cấp phải phù hợp với mối quan tâm của người sử dụng Từ việc sử dụng những thông tin này người sử dụng có thể tìm hiểu, đánh giá được tình hình, kết quả đã, đang và dự kiến sẽ xảy ra hoặc điều chỉnh những đánh giá trước đây để trên cơ sở đó có thể ra được các quyết định phù hợp với mục tiêu đã định Nếu thông tin không đáp ứng và góp phần giải quyết được mối quan tâm của người sử dụng thì nó cũng trở nên vô nghĩa Như vậy, tính thích hợp của thông tin không chỉ chịu sự tác động của chính bản chất mà còn bởi tính trọng yếu của thông tin Các thông tin được coi là trọng yếu nếu bỏ sót hoặc xác định sai những thông tin đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin Mức độ trọng yếu lại tuỳ thuộc vào mức độ của khoản mục hoặc mức độ sai lầm mà trong hoàn cảnh cá biệt nào đó đã bị bỏ sót hoặc xác định sai
Tin cậy
Thích hợp với nhu cầu thông tin của người sử dụng nhưng BCTC phải đảm bảo sự tin cậy Mức độ tin cậy của thông tin phụ thuộc vào tính trung thực, khách quan, thận trọng, đầy đủ và sự coi trọng nội dung hơn hình thức pháp lý trong xử lý thông tin
Độ tin cậy của thông tin kế toán là một trong những yếu tố quan trọng và chủ yếu của chất lượng thông tin Các thông tin có chất lượng đáng tin cậy khi
nó phản ánh trung thực, khách quan các nghiệp vụ và sự kiện phát sinh, tôn trọng nội dung hơn là hình thức, hoặc thông tin không bị bóp méo theo ý muốn của người lập, nó sẽ giúp cho các thông tin kế toán hữu ích hơn để từ
Trang 28đó các nhà đầu tư có thể khắc hoạ được đầy đủ và chính xác các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông tin đáng tin cậy khi được trình bày một cách trung thực, hợp lý, khách quan tình hình tài chính, tình hình và kết quả họat động kinh doanh của doanh nghiệp; Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện, không chỉ đơn thuần phản ánh hình thực hợp pháp của chúng; Tuân thủ nguyên tắc thận trọng ; Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
Trung thực, khách quan: Thông tin trong các BCTC phải phản ánh trung
thực, khác quan trên cơ sở tôn trọng sự thật về các nghiệp vụ và sự kiện kinh
tế phát sinh, đồng thời phải tuân thủ các quy định về nguyên tắc ghi nhận, xử
lý, tổng hợp và trình bày thông tin Trên thực tế, một BCTC được đánh giá là trung thực, khách quan khi nó được lập trên cơ sở tuân thủ mọi quy định về kế toán trong các chuẩn mực và chế độ kế toán Mọi sự thiên vị, xuyên tạc, bóp méo một cách chủ quan thông tin về các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế phát sinh, và trình bày thông tin nhằm đạt được kết quả theo ý muốn chủ quan đều ảnh hưởng làm suy giảm tính khách quan của thông tin Tuy nhiên những vấn
đề này cũng cần được xem xét trong phạm vi ảnh hưởng của tính trọng yếu Nếu việc bỏ sót hoặc xác định sai những thông tin đến mức có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết định kinh tế của người sử dụng thì những thông tin ấy được coi là trọng yếu và sẽ dẫn đến kết quả là các BCTC không được xem là
khách quan Trung thực : Tính trung thực của thông tin hoặc số liệu kế toán
hay tính có thật của các nghiệp vụ ghi chép trên sổ sách kế toán Các thông tin
và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về nội dung và giá trị của nghiệp vụ
kinh tế phát sinh Khách quan : Kế toán phải đặt trên cơ sở các số liệu khách
quan và các quyết định khách quan trong phạm vi đầy đủ nhất có thể được Số liệu được ghi chép vào báo cáo phải có thể kiểm tra được Đó là yêu cầu đảm
Trang 29bảo tính trung thực, đáng tin cậy của BCTC Và do vậy, việc ghi chép kế toán luôn được yêu cầu có chứng từ gốc kèm theo để đảm bảo tính khách quan
Thận trọng: Để lập BCTC, kế toán không phải chỉ xử lý một cách khách
quan các giao dịch, các sự kiện kinh tế đã xảy ra mà còn phải xử lý rất nhiều các thông tin liên quan đến các sự kiện có thể xảy ra nhưng không chắc chắn như khả năng khó đòi của các khoản phải thu, khả năng giảm giá của hàng tồn kho, thời gian hoạt động của máy móc thiết bị v.v Để đáp ứng yêu cầu tin cậy
về thông tin đối với người sử dụng, khi thực hiện các ước tính kế toán trên đây phải đảm bảo tính thận trọng, không được đánh giá quá cao đối với các khoản thu nhập, không đánh giá quá thấp các khoản chi phí nhưng cũng không đánh giá quá lớn các khoản dự phòng v.v, bởi vì như vậy sẽ dẫn đến xuyên tạc sự thật và vi phạm tính khách quan và tin cậy của thông tin
Đầy đủ: Để có độ tin cậy, các thông tin trong BCTC phải được trình bày
đầy đủ trong phạm vi giới hạn của những vấn đề trọng yếu và chi phí cho phép Nếu vì một sự bỏ sót, thiếu hụt về những thông tin mà gây ra những sai lệch dẫn đến những đánh giá, nhận xét, kết luận không đúng về doanh nghiệp thì thông tin đó không hữu dụng, không đáng tin cậy vì không đầy đủ Tuy nhiên, khuynh hướng quá chi tiết dẫn đến BCTC bị cồng kềnh, thông tin bị rối hoặc làm lộ bí mật thông tin, hoặc khuynh hướng quá tổng hợp, thiếu chi tiết, thiếu những thông tin cần thiết bổ sung dẫn đến hiểu sai, hiểu không đầy đủ
về tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đều là những khuynh hướng không dùng với tiêu chuẩn đầy đủ của thông tin Tính đầy đủ của thông tin có nghĩa là những nghiệp vụ kinh tế nào đã phát sinh thì phải ghi đầy đủ vào sổ sách, không bỏ ngoài sổ sách
Coi trọng nội dung hơn là hình thức: Để tin cậy và hữu dụng, đặc biệt trong
đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp, thông tin BCTC phải chú trọng
Trang 30đến khía cạnh kinh tế của các sự kiện, các giao dịch, xử lý chúng theo bản chất kinh tế chứ không đơn thuần là dựa vào danh nghĩa pháp lý của chúng
Yêu cầu này làm cho ý nghĩa kinh tế của thông tin được tôn trọng, giúp cho việc phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đúng theo bản chất kinh tế của giao dịch và sự kiện kinh tế Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau và ở các thời kỳ khác nhau, sự nhận thức, thừa nhận và vận dụng những yêu cầu này cũng có những đặc điểm khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng kế toán và quan niệm giữa kế toán và thuế Ở Mỹ rất coi trọng yêu cầu này, nhưng ở Pháp yêu cầu này lại không phải là mối quan tâm chủ yếu
Dễ hiểu
Tiêu chuẩn cơ bản thứ nhất về chất lượng mà các BCTC cần phải đạt được là thông tin do các BCTC cung cấp phải dễ hiểu đối với người sử dụng Thông tin quá khó sẽ làm mọi nỗ lực trong nghiên cứu cũng như trong quá trình thu thập, xử lý thông tin trở nên kém ý nghĩa với người sử dụng Nhưng tính dễ hiểu của thông tin trên BCTC cũng không phải là làm cho mọi đối tượng có thể hiểu được Thông tin về những vấn đề phức tạp nhưng có cần thiết cho nhu cầu đưa ra các quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin cũng không vì tính dễ hiểu mà bị loại ra khỏi BCTC Vì vậy, tính dễ hiểu cũng đòi hỏi người sử dụng thông tin phải có kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và kế toán Thông tin trên BCTC chỉ hữu ích khi người đọc có thể hiểu được chúng Tính dễ hiểu được xác định trong phạm vi là người sử dụng thông tin phải có những kiến thức nhất định vể kế toán, chứ không phải rộng rãi ra cho các đối tượng Tuy nhiên, khi một thông tin phức tạp nhưng cần thiết cho nhu cầu ra quyết định vẫn được phản ánh, mặc dù nó có thể khó hiểu đối với người sử dụng
Kịp thời
Trang 31Để hữu ích trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp,
thông tin BCTC phải phát huy được tính kịp thời Yêu cầu này sẽ làm cho việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của DN đúng đắn theo bản chất của các sự kiện phát sinh, từ đó không dẫn đến các đánh giá, nhận xét sai lầm
về doanh nghiệp
Tính có thể so sánh
Thông tin trong các BCTC cần được trình bày một cách thống nhất giữa
các thời kỳ để giúp cho người sử dụng có thể xác định xu hướng biến động về tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp Người sử dụng có thể so sánh được các BCTC của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác, để đánh giá mối tương quan về tình hình tài chính, kinh doanh Vì vậy việc xác định, tính toán và trình bày các ảnh hưởng tài chính của giao dịch và các sự kiện phải được tiến hành một cách nhất quán giữa kỳ này với kỳ khác trong phạm
vi một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau BCTC chỉ hữu ích khi có thể phân tích được những biến động về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các thông tin trên BCTC phải đảm bảo được tính có thể so sánh được, các thông tin trên BCTC của kỳ này có thể so sánh với các thông tin trên BCTC của kỳ trước, hoặc so với kỳ này của những năm trước, hoặc với BCTC của các DN khác
1.3.2 Công bố thông tin qua hệ thống Báo báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Để tìm hiểu về hệ thống BCTC của các DNNVV thì trước hết chúng ta xem xét một khái niệm tổng quát hơn là báo cáo kế toán của doanh nghiệp Báo cáo kế toán là kết quả của công tác kế toán trong một kỳ kế toán, là nguồn thông tin quan trọng không chỉ cho DN mà cho nhiều đối tượng ở bên ngoài có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của DN Căn cứ
Trang 32vào mục đích thông tin thì báo cáo kế toán của doanh nghiệp được phân thành: Báo cáo kế toán quản trị và báo cáo kế toán tài chính
Báo cáo kế toán quản trị là những báo cáo phục vụ cho yêu cầu quản trị
và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà quản lí doanh nghiệp Báo cáo kế toán quản trị cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà quản lí
để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp, nó tồn tại vì lợi ích của nhà quản lý
Báo cáo tài chính là một hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính, nhằm cung cấp những thông tin tài chính có ích cho các đối tượng sử dụng để đưa ra quyết định kinh tế Bản chất của BCTC là phản ánh các sự kiện diễn ra trong quá khứ trên cơ sở các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và những đánh giá của cá nhân
1.3.2.1 Mục đích của Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính được xác định là loại báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định, được thể hiện thông qua các chỉ tiêu có mối liên
hệ với nhau do Nhà nước qui định thống nhất và mang tính pháp lệnh Nó cung cấp cho người sử dụng thấy được bức tranh toàn cảnh về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Khác với báo cáo kế toán quản trị, mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính (tài sản và nguồn vốn), kết quả hoạt động tài chính cũng như những thay đổi về tình hình tài chính của một doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh doanh BCTC phục
vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp cũng như của các đối tượng bên ngoài
1.3.2.2 Hệ thống Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 33Theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ Tài Chính, các DNNVV bắt buộc phải lập các báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán: Mẫu số B 01 – DNN; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Mẫu số B 02 – DNN; Bản Thuyết minh BCTC: Mẫu số B 09 – DNN;
Báo cáo tài chính gửi cho cơ quan thuế phải lập và gửi thêm phụ biểu sau: Bảng cân đối tài khoản: Mẫu số F 01- DNN Ngoài ra khuyến khích lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B 03-DNN
1.3.3 Nội dung Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính bao gồm một hệ thống báo cáo có mối quan hệ tương
hỗ lẫn nhau, mỗi một báo cáo phản ánh theo những phạm vi, khía cạnh khác nhau của các đối tượng kế toán, nhưng không có một báo cáo nào phục vụ riêng cho một mục đích hoặc cung cấp tất cả thông tin cần thiết có thể đáp ứng yêu cầu quản lý và sử dụng Điều này nói lên tính hệ thống của BCTC trong việc cung cấp thông tin cho người sử dụng Theo chế độ kế toán dành cho DNNVV thì BCTC bao gồm: Bảng cân đối kế toán ; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (không bắt buộc); Bản thuyết minh BCTC; Bảng cân đối tài khoản (đối với BCTC gởi cho cơ quan thuế)
1.3.3.1 Nội dung Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán nhằm tổng hợp, phản ảnh tổng quát tình hình tài sản của DN theo giá trị tài sản và nguồn vốn tại một thời điểm nhất định Nội dung của Bảng cân đối kế toán thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu phản ảnh tài sản và nguồn hình thành tài sản Công bố thông tin trên bảng CĐKT là bắt buộc Căn cứ vào chuẩn mục kế toán số 21 và Chế độ kế toán ban hành kèm
QĐ 48/2006QĐ-BTC dành cho DNNVV, Bảng cân đối kế toán phải gồm những yếu tố chủ yếu sau: Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu
1.3.3.2 Nội dung Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 34Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo bắt buộc lập, thể hiện kết quả kinh doanh của một DN trong một thời kỳ nhất định Báo cáo này, phản ảnh tổng quát các khoản doanh thu, thu nhập phát sinh và các chi phí đã
sử dụng tạo ra doanh thu và thu nhập đó; lãi hay lỗ thuần là chênh lệch giữa doanh thu, thu nhập và chi phí Công bố thông tin trên báo cáo KQKD là bắt buộc Báo cáo KQHĐKD phải gồm những yếu tố chủ yếu sau: Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và kết quả kinh doanh
1.3.3.3 Nội dung Báo cáo lưu chuyển tiền
Báo cáo LCTT là là một bộ phận hợp thành của BCTC, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp BCLCTT cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của DN trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động Công bố thông tin trên báo cáo LCTT là
tự nguyện
1.3.3.4 Nội dung Bản thuyết minh Báo cáo tài chính
Thuyết minh Báo cáo tài chính là một là một bộ phận hợp thành của BCTC nhằm mục đích giải trình, bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình tài chính của DN trong kỳ báo cáo, mà chưa được trình bày đầy đủ, chi tiết trong các BCTC khác Mỗi khoản mục trong Bảng CĐKT, Báo cáo KQHĐKD và Báo cáo LCTT cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong Bản thuyết minh BCTC Công bố thông tin trên báo cáo Thuyết minh BCTC là bắt buộc, một số thông tin bổ sung trình bày trên Thuyết minh BCTC lại là tự nguyện (Công bố bắt buộc: Chính sách kế toán, thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toán Công bố tự nguyện: Thông tin bổ sung cho các khoản mục trong Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ, thông tin khác )
1.3.4 Quy định về công khai Báo cáo tài chính
Trang 35Theo Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2003 và Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ Tài Chính quy định vấn đề công khai Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm các
mục sau:
* Nội dung công khai Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm: Tình hình tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; Trích lập và sử dụng
các quỹ; Kết quả hoạt động kinh doanh; Thu nhập của người lao động
* Hình thức và thời hạn công khai Báo cáo tài chính : Việc công khai
BCTC được thực hiện theo các hình thức: Phát hành ấn phẩm; Thông báo bằng văn bản; Niêm yết; Các hình thức khác theo quy định của pháp luật Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là DNTN và công ty hợp danh phải công khai BCTC năm trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm; đối với các DNNVV khác thời hạn công khai BCTC chậm nhất là 120 ngày
* Kỳ lập BCTC: Kỳ lập BCTC đối với DNNVV là kỳ kế toán năm: lập
BCTC theo kỳ kế toán năm là năm dương lịch hoặc kỳ kế toán năm là 12 tháng tròn sau khi thông báo cho cơ quan thuế
* Trách nhiệm lập BCTC : Tất cả các DNNVV thuộc đối tượng áp dụng
hệ thống BCTC này phải lập và gửi BCTC năm theo đúng quy định của chế
độ kế toán này./
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương I trình bày những vấn đề cơ bản về việc công bố thông tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong chương này trình bày các nội dung sau:
Thứ nhất: Nội dung cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ hai: Các lý thuyết về vấn đề công bố thông tin
Thứ ba: Hệ thống hoá các vấn đề về công bố thông tin trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Những vấn đề lý luận được trình bày và phân tích trong chương I là cơ sở cho việc nghiên cứu và đánh giá thực trạng thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu
Trang 37CHƯƠNG 2 - THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU
Quận Liên Chiểu được thành lập vào tháng 01/1997 trên cơ sở 03 xã của huyện Hòa Vang (cũ) Phía Bắc là đèo Hải Vân giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Đông giáp vịnh Đà Nẵng và quận Thanh Khê, phía Tây và Nam giáp huyện Hòa Vang Nằm ở vị trí có nhiều đầu mối giao thông quan trọng (quốc
lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, gần sân bay quốc tế Đà Nẵng và tương lai sẽ có cảng nước sâu Liên Chiểu) thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế Hiện nay, tốc độ phát triển về hạ tầng cơ sở ở TP Đà Nẵng nói chung và quận Liên Chiểu nói riêng phát triển rất mạnh mẽ, có đầy đủ hệ thống đường giao thông Ngoài ra, có 3 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động đáp ứng mọi yêu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Với chính sách “trải thảm đỏ” để kêu gọi đầu tư cùng với các cơ chế
chính sách thông thoáng, nhanh chóng, đơn giản về thủ tục được thành phố, địa phương đã và đang triển khai nên các DN được hoạt động trong môi trường kinh doanh rất thuận lợi
Trên địa bàn tập trung nhiều trường đại học, trung học chuyên nghiệp và
cơ sở dạy nghề là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực của quận do đó hàng năm đã cung cấp cho các DN gần như đủ số lượng lao động trẻ, có trình độ chuyên môn, nhiệt tình trong công việc
Từ những đặc điểm nêu trên, hiện nay trên địa bàn quận Liên Chiểu có hơn 900 DNNVV thuộc các thành phần kinh tế như : DNTN, Công ty TNHH, Công ty Cổ Phần, Hợp tác xã hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trên địa bàn quận
Trang 38Bảng 2.1 Thống kê theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp
STT Hình thức sở hữu của DN Số lượng DN Tỷ lệ
(Nguồn : Chi cục Thuế Liên Chiểu )
Căn cứ vào hình thức sở hữu của các DN trên địa bàn quận thì hình thức Công ty TNHH là chủ yếu với 625 DN chiếm 68,7% DN trên địa bàn
Bảng 2.2 Thống kê quy mô doanh nghiệp
(Nguồn : Chi cục Thuế Liên Chiểu )
Nếu căn cứ vào vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thì có 43 DN vừa, 464
DN siêu nhỏ và 402 DN nhỏ Theo bảng thông kê trên, ta thấy đến 31/12/2010 quy mô của các DNNVV trên địa bàn chủ yếu là DN siêu nhỏ và nhỏ: 51% DN siêu nhỏ, 44% là DN nhỏ
Trang 39Bảng 2.3 Thống kê theo lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
STT Lĩnh vực kinh doanh Số lượng DN Tỷ lệ
(Nguồn : Chi cục Thuế Liên Chiểu )
Về ngành nghề kinh doanh, các doanh nghiệp có xu hướng đăng ký nhiều ngành, nghề kinh doanh khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thương mại dịch vụ cụ thể: 62,16% số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, 18,81% kinh doanh xây dựng, 17,49% thuộc lĩnh vực sản xuất
Qua số liệu thống kê trên có thể thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, loại hình doanh nghiệp chủ yếu là các Công ty TNHH Nguồn thu từ các doanh nghiệp này
chiếm khoảng hơn 90% trên tổng số thu ngân sách trên địa bàn quận
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Các yếu tố dự kiến ảnh hưởng đến việc lập và công bố thông tin của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu
2.2.1.1 Mô hình nghiên cứu dự kiến
Cho đến nay chưa có quy định cụ thể về vấn đề công bố thông tin tài
chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc công bố thông tin tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa bị ảnh hưởng bởi hai nhóm đặc điểm chính là: đặc điểm về tài chính và đặc điểm về quản lý doanh nghiệp Do đó, tác giả dự
kiến mô hình các nhân tố ảnh hưởng như sau:
Trang 40Hình 2.1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin
2.2.1.2 Giả thuyết
Từ mô hình nghiên cứu đề nghị, chúng tôi đưa ra các gỉa thuyết nghiên
cứu của đề tài:
Quy mô và mức độ phức tạp của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có quy
mô càng lớn, càng phức tạp thì có nhiều nguồn thông tin công bố hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, phát sinh nghiệp vụ nhiều và phức tạp hơn có
xu hướng thực hiện đẩy đủ các quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Dự kiến đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công
bố thông tin của các DNNVV Vì các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là
DN có quy mô nhỏ và siêu nhỏ nên chưa chú trọng đến vấn đề công bố đầy đủ các quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán
Giả thuyết 1: Các doanh nghiệp có quy mô lớn và phức tạp thì thông tin
tài chính của doanh nghiệp được công bố có chất lượng hơn các công ty có