Khái niệm về chính sách kế toán Theo chuẩn mực kế toán số 29 ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì thuật ngữ “Ch
Trang 1LÊ THỊ THƯƠNG
NGHIÊN CỨU SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng, Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ THƯƠNG
NGHIÊN CỨU SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Kế Toán
Mã số : 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học : GS- TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng, Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
d ẫn của GS- TS Trương Bá Thanh
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Thị Thương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của luận văn 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 7
1.1.1 Khái niệm về chính sách kế toán 7
1.1.2 Đặc trưng chính sách kế toán 8
1.1.3 Vai trò của chính sách kế toán đối với quản trị của doanh nghiệp 9 1.2 CÁC MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI DOANH NGHIỆP 11
1.2.1 Mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp 11
1.2.2 Mục tiêu về chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 11
1.2.3 Mục tiêu của chủ doanh nghiệp 13
1.3 NỘI DUNG VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở DOANH NGHIỆP 14
1.3.1 Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 14
1.3.2 Chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định (TSCĐ) 18
1.3.3 Chính sách kế toán liên quan đến doanh thu và chi phí 21
Trang 51.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH
KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP 24
1.4.1 Thông tin trên thị trường 24
1.4.2 Đặc thù của doanh nghiệp 24
1.4.3 Khả năng của nhân viên kế toán 25
1.4.4 Ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VỀ SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN QUẢNG NAM 30
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN QUẢNG NAM 30
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam 30
2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quản lý tại công ty 32
2.1.3 Tổ chức kế toán tại công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam 37
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.2.1 Mô tả mẫu 40
2.2.2 Quy trình nghiên cứu 41
2.2.3 Thu thập dữ liệu 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CP XÂY LẮP ĐIỆN QUẢNG NAM 44
3.1 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 44
Trang 63.1.1 Thực tế chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho tại công ty
cổ phần xây lắp điện Quảng Nam 44
3.1.2 Thực tế chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định tại công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam 51
3.1.3 Thực tế chính sách kế toán liên quan đến chi phí tại công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam 58
3.1.4 Thực tế chính sách kế toán liên quan đến ghi nhận doanh thu và xác định kết quả 60
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64
3.2.1 Đối với chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 64
3.2.2 Đối với chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định 67
3.2.3 Đối với chính sách kế toán liên quan đến chi phí trả trước và chi phí phải trả 70
3.2.4 Đối với chính sách kế toán liên quan đến ghi nhận doanh thu 72
3.3 ĐÁNH GIÁ VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN QUẢNG NAM 74
3.3.1 Ưu điểm 74
3.3.2 Nhược điểm 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
CHƯƠNG 4 HÀM Ý NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY79 4.1 CĂN CỨ ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY 79 4.2 HÀM Ý NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG BỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 80
Trang 74.2.1 Hàm ý nghiên cứu nhằm hoàn thiện công bố thông tin liên quan đến chính sách kế toán 80 4.2.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện công bố thông tin liên quan đến chính sách kế toán 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 89
KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 8của Công ty Cổ phần xây lắp điện Quảng Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần xây lắp Điện
xây lắp Điện Quảng Nam
38
2.4 Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty Cổ phần xây lắp
Điện Quảng Nam
39
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, không riêng gì các doanh nghiệp trên địa bàn Quảng Nam mà các doanh nghiệp trong ngành xây lắp cũng gặp không ít khó khăn do khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh gây gắt giữa các doanh nghiệp, nguồn vốn đầu tư bị hạn hẹp… Tuy nhiên cũng có nhiều cơ hội kinh doanh như sự hổ trợ từ ngân sách trung ương, các dự án mới được cấp phép
….nhưng cũng tiềm ẩn đầy những rủi ro do đặc thù của mỗi ngành, những quyết định không hợp lý từ ban lãnh đạo doanh nghiệp…
Trên thực tế tồn tại một quan điểm cho rằng việc cho phép người lập BCTC sử dụng các xét đoán chủ quan khi lập báo cáo sẽ làm giảm độ tin cậy của thông tin tài chính vì có khả năng người lập BCTC sẽ tìm cách che giấu những thông tin quan trọng nếu những thông tin đó có ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của họ
Với mỗi phương pháp kế toán được lựa chọn thì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính sẽ khác nhau Mục tiêu của Báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế Tuy nhiên, khi các chính sách, yêu cầu hướng dẫn lập và trình bày báo cáo tài chính không rõ ràng và đầy đủ, thiếu tính đồng bộ, khó áp dụng sẽ ảnh hưởng làm các thông tin không đáng tin cậy, khó hiểu và không thể so sánh được Các nghiên cứu trước đây cho thấy, sự vận dụng các chính sách kế toán khác nhau của một công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố: như nhận thức của người chủ sở hữu, né tránh thuế, thu hút vốn đầu tư mới, kỳ vọng tăng lợi nhuận cơ bản trên mỗi cổ phiếu Chính mỗi tác nhân này ít nhiều ảnh hưởng đến những hành vi khác nhau trong việc điều chỉnh lợi nhuận một cách có thể chấp nhận được
Trang 11Với đặc thù ngành xây dựng có chu kỳ sản phẩm dài, địa bàn hoạt động rộng, ảnh hưởng của biến động giá cả lớn, việc áp dụng các chính sách kế toán cũng như xác định lợi nhuận kế toán để từ đó có điều kiên tham gia đấu thầu công trình, lập dự án…
Một vấn đề cốt lõi tạo nên sự thành công của công ty là thực hiện có hiệu quả các chính sách kế toán trong đơn vị Nếu việc thực hiện không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến việc xác định đúng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Vì vậy cần phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến sự vận dụng các chính sách kế toán để giúp công ty tự đánh giá và có các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này Từ đó, luận văn đi vào tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các chính sách kế toán ở các công ty xây lắp
Mặc dù công ty này đang hoạt động và đã có chính sách kế toán được công bố trên thuyết minh BCTC nhưng có một số khoản mục chưa được rõ ràng còn mang tính chung chung như trích khấu hao tài sản cố định, ghi nhận
doanh thu Với lý do đó tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu sự vận
làm đề tài luận văn tốt nghiệp, nhằm giúp công ty có thể lựa chọn chính sách phù hợp để hạn chế sự sai lệch của thông tin tài chính
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu sự vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam Từ đó giúp Công ty lựa chọn các chính sách kế toán phù hợp để thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phù hợp với mục tiêu của đơn vị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về lý luận, thực trạng
chính sách kế toán tại Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam và các giải
Trang 12pháp nhằm hoàn thiện chính sách kế toán tại công ty này
* Ph ạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu và hoàn thiện chính sách kế toán của công ty mà chủ yếu vào các chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định, ghi nhận doanh thu, hàng tồn kho và các chi phí phải trả, chi phí trích trước
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu các chính sách kế toán đang vận dụng tại Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam, phương pháp thực hiện là phỏng vấn, kết hợp sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp Đối tượng được phỏng vấn là: giám đốc, kế toán trưởng và các nhân viên kế toán Qua đó, đối chiếu những thông tin đã thu thập với các chính sách kế toán trong chuẩn mực
kế toán Việt Nam để hoàn thiện các chính sách kế toán tại công ty
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Chính sách kế toán là một phần không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp
vì nó góp phần điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ Việc vận dụng các chính sách kế toán một cách khoa học, hợp lý cũng hết sức quan trọng, đòi hỏi người phụ trách kế toán phải am hiểu kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mới làm tốt công tác này
Từ chuẩn mực kế toán và các thông tư, văn bản về chính sách kế toán đi đến thực tiễn thực hành còn nhiều trở ngại Nghiên cứu này được thực hiện trên
cơ sở kết hợp thực tiễn với lý thuyết nhằm cụ thể hoá các chính sách kế toán giúp người làm công tác kế toán dễ dàng hơn trong thực hành Ngoài ra, nghiên cứu này sẽ là tài liệu hữu ích cho những sinh viên chuyên ngành khi tìm hiểu
về mối liên hệ, ảnh hưởng qua lại giữa chuẩn mực kế toán và thông tư mới về các chính sách kế toán cần quan tâm Đề tài nhằm góp phần làm rõ lý luận về chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Qua đó giúp cho Công ty Cổ phần
Trang 13Xây lắp điện Quảng Nam xây dựng một chính sách kế toán hợp lý trên một khung lý thuyết đã được xây dựng
5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự vận dụng các chính sách kế toán trong doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu sự vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam
Chương 3: Kết quả nghiên cứu sự vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam
Chương 4: Hàm ý nghiên cứu và kiến nghị trong việc vận dụng các chính sách kế toán tại công ty
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chính sách kế toán là một phần không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp, việc vận dụng nó nhuần nhuyễn nhằm góp phần cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng Song cũng chính những chính sách này đã tạo cho doanh nghiệp nhiều khó khăn trong quá trình vận dụng nó, vừa phải làm đẹp báo cáo tài chính vừa phải cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ là một vấn đề rất khó khăn Những nghiên cứu trước đây về chính sách kế toán
và những nghiên cứu có liên quan vẫn còn khiêm tốn như: “Chuẩn mực kế toán Việt nam 02, 03, 14, 29” do Bộ tài chính ban hành đã đưa ra các cơ sở lý luận về chính sách kế toán, là nền tảng cho sự vận dụng của các doanh nghiệp song các cơ sở lý luận này còn mang tính chung chung và hầu như phải có các thông tư hướng dẫn kèm theo thì mới ứng dụng vào thực tế của từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực Đối với, “Giáo trình Kế toán tài chính doanh nghiệp – P1” của Đại học Kinh tế Đà Nẵng (2008) đã chỉ rõ sự cần thiết trong việc áp dụng các chính sách kế toán, giáo trình đã nêu bật điểm cần theo dõi hay hạch
Trang 14toán trong chính sách này “Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao Tài sản cố định, Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng” đã hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng các chế độ này, các thông tư thường không có tính vận dụng cao và còn tùy thuộc vào cơ chế hoạt động của doanh nghiệp “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 5(40).2010 của TS Trần Đình Khôi Nguyên đã nghiên cứu trên góc độ lý luận một số chính sách kế toán đang vận dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng chưa đi sâu thực tế cụ thể từng chính sách ảnh hưởng như thế nào đến từng loại hình doanh nghiệp “Thomas D.Fields, Thomas Z.Lys, Linda Vincent (2011), Empirical research on accounting
choi”, Journal of Accounting and Economics 31(2011), 256 ” tác giả đã hệ
thống các nội dung cơ bản về vai trò của các chính sách kế toán và đề xuất phương hướng ứng dụng các lựa chọn này vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài Đề tài “Đánh giá sự vận dụng các chính sách kế toán tại công ty Cổ phần Lương thực và Dịch vụ Quảng Nam” Nguyễn Thị Kim Oanh (2012) và Lê Thị Chi (2012), “ Hoàn thiện chính sách kế toán tại công ty CP vật tư tổng hợp Phú Yên ” – Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng Các tác giả đã đi vào phân tích được các chính sách
kế toán tại doanh nghiệp và đưa ra được một số nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp để hoàn thiện được các chính sách kế toán tại doanh nghiệp Tất cả các tài liệu đã đưa ra các phương hướng và giải pháp xây dựng chính sách kế toán tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh
Trang 15hoạt của các chính sách kế toán lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành
Tuy đã có một vài nghiên cứu ban đầu về vận dụng chính sách kế toán, nhưng các bài viết trên vẫn chưa khảo sát toàn diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các kỹ thuật, phương pháp kế toán ở các doanh nghiệp
Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu về các chính sách kế toán đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về chính sách ké toán áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp điện, trong khi xây lắp là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, là ngành đang rất cần những thông tin kế toán phục vụ cho công tác ra quyết định của nhà quản lý doanh nghiệp Chính vì vậy, các vấn đề
mà luận văn cần tập trung là nghiên cứu sự vận dụng các chính sách kế toán trong doanh nghiệp xây lắp mà cụ thể ở đây là tại Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, thực trạng chính sách kế toán tại Công ty và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách kế toán tại công
ty này
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH
KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán số 29 ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì thuật ngữ “Chính sách kế toán” được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở
và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính
Ngoài các chính sách kế toán cụ thể được sử dụng trong báo cáo tài chính, điều quan trọng là người sử dụng phải nhận thức được cơ sở đánh giá được sử dụng (như nguyên giá, giá hiện hành, giá trị thuần có thể thực hiện được, giá trị hợp lý hoặc giá trị hiện tại) bởi vì các cơ sở này là nền tảng để lập báo cáo tài chính Khi doanh nghiệp sử dụng nhiều cơ sở đánh giá khác nhau để lập báo cáo tài chính, như trường hợp một số tài sản được đánh giá lại theo quy định của nhà nước, thì phải nêu rõ các tài sản và nợ phải trả áp dụng mỗi cơ sở đánh giá đó
Việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán:
• Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán được thực hiện dựa trên cơ sở các chuẩn mực, các văn bản hướng dẫn các chuẩn mực và các chính sách, chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành
• Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế, việc lựa chọn và áp dụng chính sách
kế toán được thực hiện dựa trên cơ sở các chuẩn mực của IASB và các hướng dẫn thực hiện chuẩn mực của IASB và các hướng dẫn khác
Trang 17Nếu không có chuẩn mực hay hướng dẫn, Ban Giám đốc doanh nghiệp phải đưa ra các xét đoán đối với việc xây dựng và áp dụng chính sách kế toán Trong việc đưa ra xét đoán đó, Ban Giám đốc phải xem xét đến các nguồn theo thứ tự ưu tiên giảm dần như sau (VAS không có quy định này):
Các yêu cầu và các hướng dẫn trong các chuẩn mực của IASB đối với các vấn đề tương tự;
Quy định chung đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính; và
Các quy định mới nhất của các tổ chức ban hành chuẩn mực khác có cùng những quy định chung để xây dựng các chuẩn mực kế toán, hướng dẫn
kế toán và các thông lệ được chấp nhận trong cùng ngành
Từ đó cho thấy: Chính sách kế toán không chỉ là những nguyên tắc kế toán chung đã được thừa nhận và mang tính bắt buộc mà còn là những lựa chọn, những ước tính mang tính xét đoán, chủ quan của người làm kế toán nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của chủ doanh nghiệp
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng có thể linh hoạt lựa chọn cho mình các chính sách kế toán phù hợp Một chính sách kế toán có thể được coi là quan trọng thậm chí khi các số liệu được trình bày trong các niên độ hiện tại và trước đây không mang tính trọng yếu Việc diễn giải các chính sách không được quy định trong các chuẩn mực kế toán hiện hành, nhưng được lựa chọn
và áp dụng phù hợp phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật quy định
1.1.2 Đặc trưng chính sách kế toán
Chính sách kế toán là những nguyên tắc: Kế toán phải tuân thủ các
nguyên tắc kế toán khi lập báo cáo Đây là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi doanh nghiệp phải áp dụng, như nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, cơ sở dồn tích Tuân thủ các nguyên tắc trong hạch toán ít có khả năng thay đổi thông tin trình bày trên báo cáo tài chính hay khó đáp ứng được mục tiêu của đơn vị trong việc cung cấp thông tin Tuy nhiên,
Trang 18việc áp dụng các nguyên tắc kế toán cũng có một vài nguyên tắc có thể thay đổi thông tin cung cấp ra bên ngoài, ví dụ: tùy thuộc thời điểm ghi nhận chi phí vào niên độ phát sinh hay phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp
mà chi phí phát sinh trong kỳ sẽ khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Chính sách kế toán là những lựa chọn: Chuẩn mực kế toán cho phép
doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau cho phù hợp với đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài Các lựa chọn kế toán bao gồm lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho, lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định, lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, lựa chọn phương pháp tính giá thành…
Chính sách kế toán là ước tính kế toán: Ước tính kế toán là các nguyên
tắc đo lường đối tượng kế toán mà công ty tự xây dựng do chuẩn mực không thể bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị cơ sở Các khoản ước tính
kế toán gồm có ước tính liên quan đến khấu hao tài sản cố định, cách xác định
dự phòng giảm giá, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, các ước tính kế toán khác liên quan đến phân bổ hay trích trước chi phí, các ước tính liên quan đến các khoản dự phòng phải trả ở công ty Để đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp” Vì là các xét đoán nên mang tính chủ quan, khó có một tiêu chuẩn nào để đánh giá tính hợp lý Chính vì vậy tính tin cậy của các ước tính kế toán là một vấn đề được người sử dụng BCTC đặc biệt quan tâm
1.1.3 Vai trò của chính sách kế toán đối với quản trị của doanh nghiệp
Kế toán luôn là công cụ đắc lực của quá trình quản lý các hoạt động kinh
Trang 19tế trên phương diện cung cấp thông tin tài chính về một tổ chức nhất định Những thông tin kế toán cung cấp chỉ thực sự hữu ích khi đáp ứng được yêu cầu về thông tin của quản lý
Sự lựa chọn kế toán là một quyết định bất kỳ nào đó mà mục đích cơ bản
là để ảnh hưởng đến đầu ra của hệ thống kế toán bằng một cách đặc biệt, bao gồm không chỉ những báo cáo tài chính công bố phù hợp với các nguyên tắc
kế toán được chấp nhận chung, mà còn các tờ khai thuế và các hồ sơ mang tính quy định Sự lựa chọn kế toán chính là quyết định sử dụng phương pháp
kế toán nào đó trong các phương pháp kế toán mà chuẩn mực kế toán đã quy định để tác động đến đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, chính là các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính Đồng thời, việc lựa chọn các chính sách
kế toán cũng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về chi phí và thu nhập, từ đó ảnh hưởng đến các số liệu trong các tờ khai thuế
Việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ cho phép nhà quản trị công ty có khả năng điều chỉnh các thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính của công ty từ kỳ này sang kỳ khác Từ đó sẽ làm cho một số thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính của công ty được điều chỉnh theo chủ ý của các nhà quản trị công ty Đồng thời việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau có thể giúp các nhà quản trị có thể làm đẹp các báo cáo tài chính khi cần thiết
Tuy nhiên, các chủ doanh nghiệp chưa nhận thức được vai trò của việc vận dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận cũng như khả năng
sử dụng thông tin báo cáo tài chính trong công tác điều hành của mình Mối quan tâm của các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ là làm sao tối thiểu số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp chứ không quan tâm đến việc tối đa lợi ích cho các cổ đông như các doanh nghiệp lớn Đồng thời các doanh nghiệp vừa
và nhỏ chưa thấy được vai trò của việc vận dụng các chính sách kế toán trong
Trang 20điều chỉnh lợi nhuận, để giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thường doanh nghiệp cố gắng “chạy” chứng từ, đây là hiện tượng khá phổ biến trong các doanh nghiệp
Vì vậy để chính sách kế toán thể hiện được vai trò của mình trong việc điều chỉnh lợi nhuận thì trước tiên nhận thức của chủ doanh nghiệp về vai trò của việc vận dụng các chính sách kế toán phải thay đổi
1.2 CÁC MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI DOANH NGHIỆP
1.2.1 Mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp
Quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ
kế toán
Kế toán được xem là một công cụ của người quản lý để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động và vận hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.[4, tr.203] Nếu nhà quản trị coi trọng vai trò của kế toán đối với công tác quản lý thì có thể yêu cầu kế toán sử dụng các chính sách kế toán phù hợp để đạt được mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp
Tùy thuộc vào mục tiêu điều chỉnh tăng hay giảm lợi nhuận mà kế toán
sẽ vận dụng các chính sách kế toán phù hợp để điều chỉnh lợi nhuận theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp
Mặt khác, khi nhà quản trị cần những thông tin của kế toán để cung cấp
ra bên ngoài cho các đối tác của doanh nghiệp thì cũng có thể yêu cầu kế toán vận dụng các chính sách kế toán sao cho thông tin cung cấp có lợi nhất cho doanh nghiệp
1.2.2 Mục tiêu về chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
Nếu mức thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp tăng lên thì các doanh nghiệp có xu hướng vận dụng các chính sách kế toán sao cho chi phí
Trang 21thuế thu nhập doanh nghiệp là nhiều nhất và ngược lại nếu mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm xuống thì các doanh nghiệp cũng sẽ vận dụng các chính sách kế toán sao cho chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện tại ít hơn so với tương lai để sử dụng khoản này đầu tư vào các nhu cầu khác của doanh nghiệp
Theo các tài liệu nghiên cứu thì thuế luôn là yếu tố quyết định đến việc vận dụng các chính sách kế toán Đây là nhân tố mạnh mẽ nhất, chẳng hạn như chi phí hợp lý và không hợp lý như bảng dưới đây:
Bảng 01 sẽ liệt kê các khoản mục chi phí hợp pháp, hợp lý trong thuế và đối chiếu với kế toán “Không” là không được phép ghi nhận, “Có” là được phép ghi nhận (Nguyễn Công Phương, Trang 24-Tr27)
Bảng 1.1: Các khoản chi phí không hợp pháp, hợp lý trong thuế
- Trích khấu hao TSCĐ tương ứng với phần nguyên giá
trên 1,6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chở người <=9 chổ ngồi
mới đăng ký sử dụng và trích khấu hao từ 1/9/2009 (trừ ô
tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách
sạn
2 Chi phí tiền lương, tiền công
- Chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả
cho người lao động nhưng hết hạn nộp hồ sơ quyết toán
theo năm nhưng vẫn chưa chi
- Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ
công ty TNHH MTV, thù lao trả cho sáng lập viên, thành
Trang 22Khoản mục Thuế Kế toán
viên của hội đồng thành viên, không trực tiếp tham gia điều
hành sản xuất KD
3 Phần chi trang phục bằng hiện vật cho người lao động
không có hóa đơn, phần chi trang phục bằng hiện vật cho
người lao động vượt quá 1.500.000đồng/người/năm, phần
chi trang phục bằng tiền cho người lao động vượt quá
1.000.000đồng/người/năm
4 Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà doanh nghiệp không
có quy chế quy định cụ thể về chi khen thưởng sáng chế
Chính những khoản chi phí hợp lý và không hợp lý này đã làm cho các chính sách kế toán bị chi phối mạnh mẽ
Các nghiên cứu trước đây về các lựa chọn chính sách kế toán của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ đã xác nhận phát hiện của mình về tác động của thuế đến kế toán, thuế luôn là yếu tố mạnh mẽ nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán.Các doanh nghiệp luôn có xu hướng tăng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ở mức có thể Tuy nhiên nhiều kế toán ở nước ta lại chưa nghĩ đến việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau để điều chỉnh tăng giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
1.2.3 Mục tiêu của chủ doanh nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp, tùy theo những mục tiêu mang tính chủ quan của của nhà quản trị có thể thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp để đẩy giá thị trường cổ phiếu của công ty lên một giá trị ảo hoặc tối thiểu hóa chi phí thuế doanh nghiệp phải nộp Khi đó, việc vận dụng các phương pháp kế toán cũng như những ước tính kế toán nhằm “bóp méo” sự trung thực của những thông tin kế toán miễn sao luồng
Trang 23thông tin này được lập trong khuôn khổ chuẩn mực kế toán quy định Như vậy, nhiều chủ doanh nghiệp chỉ xem kế toán như một công cụ để kê khai thuế theo quản lý của nhà nước, chứ chưa thực sự quan tâm đến vai trò quản
ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này
Phương pháp bình quân gia quyền: có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán nhưng trị giá hàng xuất không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả trong kỳ hiện tại Vì vậy, phương pháp này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh không sát với giá thực tế
Trang 24Phương pháp nhập trước xuất trước cho kết quả số liệu trong bảng cân đối kế toán là sát nhất với giá phí hiện tại so với các phương pháp tính giá hàng tồn kho khác Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại
Phương pháp nhập sau xuất trước: sẽ đảm bảo được yêu cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán Tuy nhiên, trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế Khi giá cả tăng lên, phương pháp nhập sau xuất trước cho số liệu trên bảng cân đối kế toán thường thấp hơn so với giá phí hiện tại
Việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng tồn kho sẽ có ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý trong việc trình bày giá trị hàng tồn kho trên báo cáo tài chính và kết quả lãi, lỗ của các hoạt động của một doanh nghiệp
Thông tin về hàng tồn kho và kết quả lãi, lỗ theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp là cơ sở để phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định quản lý hàng tồn kho và các quyết định kinh doanh Sẽ có những thiếu sót, sai lầm trong các định hướng sản xuất kinh doanh một khi các thông tin kế toán cung cấp không đảm bảo kịp thời, trung thực và hợp lý
Với ý nghĩa trên, trên cơ sở ưu nhược điểm của từng phương pháp tính giá trị hàng tồn kho; đặc điểm và yêu cầu quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp, kế toán mỗi doanh nghiệp xác định phương pháp tính giá hàng tồn kho phù hợp cho mục tiêu của doanh nghiệp mình
b Chính sách kế toán liên quan đến xác định giá trị sản phẩm dở dang
Đánh giá sản phẩm dở dang trong các doanh nghiệp sản xuất được xem
là một biểu hiện của ước tính kế toán Chuẩn mực hàng tồn kho không đưa ra các nguyên tắc đánh giá sản phẩm dở dang, mặc dù chuẩn mực vẫn thừa nhận đây là một hình thức tồn kho của doanh nghiệp Để ước tính được giá trị sản
Trang 25phẩm dở dang doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ như:
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (vật liệu chính) tiêu hao
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
+ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Cho dù chọn lựa theo cách thức nào, nhưng cách thức tính toán thể hiện một chính sách đo lường của doanh nghiệp, đảm bảo tính trung thực của thông tin về sản phẩm dở dang
Việc lựa chọn các phương pháp khác nhau sẽ làm ảnh hưởng đến gía thành của sản phẩm khác nhau vì:
+
Chi phí phát sinh trong
kỳ
-
Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ Với mỗi phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ khác nhau Cụ thể như doanh nghiệp đánh giá sản phẩm
dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính trên giá trị nguyên vật liệu còn các chi phí chế biến khác xem như không ảnh hưởng không tính, ngược lại nếu doanh nghiệp đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương thì giá trị sản phẩm dở dang đều được đánh giá trên ba loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Như vậy trong cùng một lượng sản phẩm dở dang nếu đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị sản phẩm dở dang sẽ nhỏ hơn so với phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương Điều này cho thấy khi giá trị sản phẩm dở dang bé thì giá thành sản phẩm cao và giá vốn của hàng bán cao dẫn đến lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại
Trang 26Như vậy, nếu doanh nghiệp xác định phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về sản phẩm dở dang, thành phẩm, chi phí giá vốn trên báo cáo tài chính Từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp
c Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Theo chuẩn mực số 02 – Hàng tồn kho, doanh nghiệp được trích lập dự phòng khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc của hàng tồn kho Theo thông tư số 13/2006/TT-BTC thì:
Mức trích lập dự phòng tính theo công thức sau:
x
Giá gốc hàng tồn kho theo sổ
kế toán
-
Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho
Và giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho (giá trị dự kiến thu hồi) là giá bán (ước tính) của hàng tồn kho trừ chi phí để hoàn thành sản phẩm và chi phí tiêu thụ (ước tính)
Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng Việc trích lập
dự phòng giảm giá hàng tồn kho sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh trong
kỳ tăng lên từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho doanh nghiệp có thể vận dụng linh hoạt tùy thuộc vào mức ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho Cuối kỳ kế toán năm tiếp theo, phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó Trường hợp cuối kỳ kế toán năm nay, nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn khoản dự phòng
Trang 27giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập để đảm bảo cho giá trị của hàng tồn kho phản ánh trên báo cáo tài chính là theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trị thuần
có thể thực hiện được) hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) Việc hoàn nhập hay trích lập thêm dự phòng trong năm tiếp theo cũng tùy thuộc vào mức lựa chọn theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị Do vậy, đối với vấn đề trích lập và hoàn nhập dự phòng, chuẩn mực kế toán luôn tạo ra khoảng không tự do cho các doanh nghiệp lựa chọn Mỗi sự lựa chọn này đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc ghi nhận chi phí và dự phòng giảm giá hàng tồn kho trong kỳ từ đó ảnh hưởng khoản mục tài sản và lợi nhuận trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
1.3.2 Chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định (TSCĐ)
a Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ
Việc lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp cho từng loại tài sản cố định trong doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố Các yếu tố này có thể là: Đặc tính hao mòn của tài sản cố định, cách thức sử dụng tài sản cố định để tạo
ra lợi ích kinh tế, mục tiêu quản trị của doanh nghiệp và chính sách quản lý của Nhà nước [3, tr.79] Theo chuẩn mực số 03 – Tài sản cố định hữu hình Đối với khấu hao TSCĐ hữu hình: Giá trị khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình
Trang 28dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác Có 3 phương pháp trích khấu hao TSCĐ bao gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương pháp trên để tính và trích khấu hao TSCĐ Tùy thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, hoạt động sản xuất kinh doanh và mục đích của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp Bởi lẽ việc trích khấu hao TSCĐ sẽ được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do đó, lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Cụ thể như doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu, hoặc áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào chi phí liền đều qua các năm sử dụng,…
- Theo chuẩn mực số 04 – Tài sản cố định vô hình và thông tư số 203/2009 – Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Đối với khấu hao TSCĐ vô hình: Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Thời gian tính khấu hao của TSCĐ vô hình tối đa là
20 năm Việc tính khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình có thể vượt quá 20 năm khi có những bằng chứng tin cậy Việc trích khấu hao TSCĐ vô hình được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do vậy, lựa chọn phương pháp khấu hao và ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử
Trang 29dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình, doanh nghiệp xét thấy có thể thay đổi cách thức ước tính
về lợi ích kinh tế trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính thu được Do đó,
có thể thay đổi phương pháp khấu hao Ví dụ: Phương pháp khấu hao theo số
dư giảm dần phù hợp hơn phương pháp khấu hao đường thẳng Ngoài ra, nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng hoặc thời gian sử dụng hữu ích có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, việc lựa chọn này nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí ghi nhận trong kỳ để xác định lợi nhuận kỳ báo cáo
Tóm lại, việc lựa chọn phương pháp trích khấu hao của tài sản cố định hữu hình và vô hình của doanh nghiệp đều làm ảnh hưởng trực tiếp đến khoản mục tài sản trong tổng tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán và lợi nhuận của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
b Chính sách kế toán liên quan đến chi phí sửa chữa TSCĐ
Sau khi đưa tài sản cố định vào sử dụng, để đảm bảo cho tài sản hoạt động bình thường và ổn định, doanh nghiệp thường tiến hành sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định Tùy theo quy mô sửa chữa tài sản cố định, chi phí sửa chữa tài sản cố định được phân thành 2 loại: Sửa chữa nhỏ TSCĐ, Sửa chữa lớn TSCĐ, với mỗi loại sửa chữa đều phát sinh chi phí sửa chữa Tuy nhiên, chi phí sửa chữa này được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh khác nhau ứng với công dụng tài sản khác nhau Từ đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo
- Đối với sửa chữa nhỏ TSCĐ: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nhẹ,
Trang 30thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa phát sinh ít Do vậy, toàn bộ chi phí sửa chữa doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ
- Đối với sửa chữa lớn: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nặng, thời gian sửa chữa dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều Vì thế nếu doanh nghiệp chưa có kế hoạch trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thì toàn bộ chi phí này được tập hợp vào chi phí trả trước và phân bổ nhiều kỳ Doanh nghiệp có thể lựa chọn số kỳ phân bổ tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị Song mức phân bổ chi phí sửa chữa trong từng kỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ (chi phí trích trước) tại thời điểm chưa phát sinh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ và mức chi phí tính trích trước này, sẽ làm gia tăng chi phí trong kỳ từ đó làm giảm lợi nhuận của kỳ báo cáo Đây cũng là một trong số các lựa chọn, mà nhà quản trị doanh nghiệp có thể sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của họ
Như vậy, chính sách phân bổ (trích trước) chi phí sửa chữa TSCĐ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.3 Chính sách kế toán liên quan đến doanh thu và chi phí
a Chính sách ghi nhận doanh thu và chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây lắp
* Với chính sách ghi nhận doanh thu trong hoạt động cung cấp dịch vụ
và hợp đồng xây lắp
Doanh thu và chi phí của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương
Trang 31pháp tỷ lệ hoàn thành
Doanh thu hoạt động xây lắp được ghi nhận theo nguyên tắc cơ sở dồn tích, doanh thu được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu tiền Ngoài ra, việc ghi nhận doanh thu hoạt động xây lắp còn được hướng dẫn cụ thể tại chuẩn mực kế toán số 15 - Hợp đồng trong hoạt động xây dựng
Việc ghi nhận doanh thu của hợp đồng xây dựng theo một trong hai trường hợp sau:
Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, thì doanh thu của hợp đồng xây dựng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập báo cáo tài chính mà không phụ thuộc vào hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch đã lập hay chưa và số tiền ghi trên hóa đơn là bao nhiêu;
Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo khối lượng thực hiện, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong kỳ phản ánh trên hóa đơn
đã lập
Khi kết quả hợp đồng xây dựng không thể ước tính một cách đáng tin cậy thì doanh thu chỉ được ghi nhận tương ứng với chi phí thực tế của hợp đồng xây dựng đã phát sinh mà việc hoàn trả là tương đối chắn chắn
Như vậy, việc ghi nhận doanh thu căn cứ theo điều khoản thanh toán quy định trên hợp đồng xây lắp, cụ thể:
- Doanh thu được xác định bằng khối lượng xây lắp hoàn thành nghiệm thu giữa hai bên cộng trừ các khoản thưởng phạt hợp đồng trong trường hợp
Trang 32hợp đồng quy định thanh toán theo khối lượng nghiệm thu Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm ký biên bản nghiệm thu công trình, hạng mục công trình
- Trường hợp hợp đồng quy định thanh toán theo tiến độ kế hoạch, doanh thu được xác định bằng khối lượng xây lắp hoàn thành theo tiến độ hợp đồng cộng trừ các khoản thưởng phạt hợp đồng Hợp đồng thường quy định tiến độ thanh toán phù hợp với tiến độ kế hoạch mà không cần có biên bản nghiệm thu xác nhận giữa hai bên Vì vậy, thời điểm ghi nhận doanh thu thường là thời điểm khách hàng thanh toán theo tiến độ hợp đồng nhằm đảm bảo tính chắc chắn của khoản doanh thu
Tuy nhiên, doanh thu hợp đồng năm trước có thể được điều chỉnh giảm trong năm sau do sự cắt giảm giá trị quyết toán của cơ quan có thẩm quyền
Do mang tính chất chủ quan nên phương pháp này đã ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp
* Với chính sách ghi nhận chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây lắp
Nhằm đảm bảo cơ sở cho việc ghi nhận chi phí kế toán, các nghiêp vụ kinh tế phát sinh đều phải có chứng từ gốc kèm theo Chi phí được ghi nhận bao gồm các chi phí trực tiếp cấu thành sản phẩm xây lắp và các chi phí khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) Do đặc điểm của từng loại chi phí, các chi phí trực tiếp kết tinh cấu thành nên sản phẩm hoàn thành và giá trị dở dang cuối kỳ Đối với sản phẩm xây lắp, kế toán có các phương pháp riêng trong công tác tập hợp chi phí sản xuất, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ và tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ Còn chi phí thời kỳ được kết chuyển một lần để xác định lợi nhuận kế toán trong kỳ
Trang 33b Doanh thu hoạt động tài chính (tiền lãi bán hàng trả góp)
Việc phân bổ lãi trả chậm đối với hoạt động bán hàng trả góp cũng là một cách điều chỉnh thông tin trên báo cáo tài chính Với hai phương pháp phân bổ lãi trả chậm là phương pháp tiền lãi và phương pháp phân bổ đều thì phần lãi hạch toán vào doanh thu tài chính sẽ khác nhau dẫn đến thông tin trình bày trên báo cáo tài chính với mỗi phương pháp phân bổ lãi trả chậm là khác nhau
c Chi phí trả trước, chi phí phải trả
Các khoản chi phí này cũng là một chỉ tiêu có thể làm thông tin sai lệch trên báo cáo tài chính Tùy thuộc vào thời gian phân bổ hoặc trích trước dài hay ngắn dẫn đến việc phân bổ chi phí phát sinh hoặc trích trước chi phí vào chi phí trong kỳ sẽ khác nhau Do đó thông tin trên báo cáo tài chính cũng khác nhau tùy vào mức chi phí được ghi nhận vào chi phí trong kỳ
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH
KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
1.4.1 Thông tin trên thị trường
Khi thông tin trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, thì doanh nghiệp
sẽ vận dụng chính sách kế toán để có thể cung cấp thông tin tích cực về doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư Một khi nhu cầu về thông tin trên các báo cáo tài chính có tính chất quyết định đối với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ vận dụng chính sách kế toán để đưa ra những thông tin có lợi nhất cho doanh nghiệp của họ
1.4.2 Đặc thù của doanh nghiệp
Việc sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phụ thuộc vào hình thức sở hữu về vốn của các doanh nghiệp như Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy
Trang 34động vốn Giá thị trường của chứng khoán được quyết định bởi giá trị sổ sách
kế toán và lợi nhuận kỳ vọng Chính vì niêm yết trên thị trường chứng khoán nên kế toán phải sử dụng các phương pháp, nguyên tắc kế toán một cách linh hoạt để điều chỉnh lợi nhuận tăng cao nhất tại thời điểm cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được niêm yết trên thị trường nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài
Các doanh nghiệp có đặc thù khác nhau thì sẽ vận dụng các chính sách
kế toán khác nhau để điều chỉnh thông tin trên BCTC Nếu doanh nghiệp có hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho để điều chỉnh thông tin, như: phương pháp tính giá xuất kho, việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Nếu doanh nghiệp sản xuất thì sẽ vận dụng các chính sách liên quan đến việc đánh đánh giá sản phẩm dở dang, doanh nghiệp xây lắp sẽ quan tâm đến chính sách ước lượng phần trăm công việc hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí…
Thông thường doanh nghiệp sẽ vận dụng kết hợp nhiều chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin
1.4.3 Khả năng của nhân viên kế toán
Trình độ của kế toán viên ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn các kỹ thuật, các chính sách kế toán phù hợp để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp mình.[4, tr.229] Nếu kế toán có khả năng vận dụng các chính sách kế toán một cách nhuần nhuyễn sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp đạt được những mục tiêu cần thiết Việc vận dụng hay thay đổi các chính sách kế toán giữa các kỳ có khi phải áp dụng hồi tố các chính sách đã thay đổi, do đó kế toán phải tính toán lại các số liệu đã cung cấp ở những năm trước nên hầu như các doanh nghiệp ít thay đổi các chính sách kế toán đã áp dụng trước đó
Kế toán được xem như một phương tiện giúp cho doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty: quá trình
Trang 35sản xuất, theo dõi thị trường…Nhờ đó người quản lý điều hành trôi chảy các hoạt động, quản lý hiệu quả, kiểm soát nội bộ tốt Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, kế toán được vận dụng như là một phương tiện để kê khai thuế theo quản lý của nhà nước chứ nhiều chủ doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến vai trò quản lý của kế toán Nếu chủ doanh nghiệp có yêu cầu càng cao về thông tin kế toán thì buộc kế toán viên phải tự nâng cao trình độ của mình đồng thời quan tâm đến việc vận dụng chính sách kế toán để xử lý thông tin tài chính tốt hơn
1.4.4 Ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán
Tối thiểu hóa chi phí thuế luôn được xem là nhân tố then chốt tác động đến mỗi phương án lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp Do đó, trong từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp khéo léo vận dụng từng khoảng không của sự lựa chọn trong chuẩn mực kế toán để đạt được mục tiêu chủ quan của doanh nghiệp
* Mối quan hệ giữa chính sách kế toán và công tác quản trị doanh nghiệp Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực
kế toán Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:
- Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;
- Đáng tin cậy, khi:
+ Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;
+ Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
Trang 36+ Trình bày khách quan, không thiên vị;
+ Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;
+ Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
Tuy nhiên tùy theo mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị, có thể mục tiêu của nhà quản trị là điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Mục tiêu của nhà quản trị có thể là tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,…mà họ sẽ lựa chọn điều chỉnh giảm hoặc tăng lợi nhuận Cụ thể lựa chọn chính sách kế toán như sau:
- Lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí Lựa chọn phương pháp kế toán làm cho việc ghi nhận doanh thu sớm hơn và ghi nhận chi phí chậm hơn sẽ làm tăng lợi nhuận, hoặc ngược lại sẽ làm lợi nhuận giảm đi Ví dụ: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh thời điểm lập hóa đơn lệch vài ngày có thể làm gia tăng hoặc giảm doanh thu trong kỳ, các phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho cũng sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận chi phí trong kỳ, với mỗi phương pháp khác nhau có ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán ra từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Cụ thể như việc lựa chọn phương pháp LIFO sẽ làm tăng giá trị vật
tư, hàng hóa xuất dùng trong kỳ, có nghĩa là tăng chi phí trong kỳ Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ cũng cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ, lựa chọn phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu
và chi phí theo tiến độ hợp đồng xây dựng và trong cung cấp dịch vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí theo tiến độ thực hiện hợp đồng,… Tất cả các phương pháp này đều có thể tùy theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị để lựa chọn và điều chỉnh lợi nhuận cho doanh nghiệp mình
- Tiếp theo việc lựa chọn phương pháp kế toán, các nhà quản trị cũng có thể vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán Nhà quản trị có thể dịch chuyển một vài
Trang 37chi phí từ niên độ này về các niên độ sau hoặc ngược lại sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí của niên độ hiện hành, từ đó lợi nhuận được điều chỉnh tăng hoặc giảm đi Ví dụ: việc lựa chọn phương pháp phân bổ giá trị công cụ dụng cụ xuất dùng nhiều kỳ, phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, việc xác định mức trích trước chi phí bao gồm trích trước chi phí bảo hành, trích trước chi phí tiền lương công nhân sản xuất nghĩ phép (đối với các doanh nghiệp sản xuất) Ngoài ra, các nhà quản trị còn lựa chọn thời điểm nào ghi nhận các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán, dự phòng phải thu khó đòi, khi nào các khoản
dự phòng này được hoàn nhập với mức trích lập bao nhiêu và mức hoàn nhập bao nhiêu? Các nhà quản trị cũng có thể ước tính lãi suất ngầm của hợp đồng thuê tài sản để vốn hóa tiền thuê trong hợp đồng thuê tài chính
Lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận
kế toán Các nhà quản trị doanh nghiệp có thể quyết định khi nào và ở mức bao nhiêu các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, chi phí nâng cấp cải tạo TSCĐ được chi ra Các chi phí này có thể tính hết vào niên độ hiện hành hoặc phân bổ dần cho các niên độ sau,với quyết định khác nhau của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến chi phí và từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của niên độ hiện hành Mặc khác, nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán TSCĐ để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận chi phí và thu nhập khác của doanh nghiệp Từ đó, làm cho lợi nhuận trong niên độ hiện hành có thể tăng hoặc giảm đi
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Theo chuẩn mực kế toán đã ban hành, doanh nghiệp có quyền lựa chọn các phương pháp kế toán sử dụng cho phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp Tuy nhiên, ngoài đặc điểm của doanh nghiệp thì kế toán phải lựa chọn phương pháp kế toán dựa vào các yếu tố khách quan và chủ quan khác, như: yêu cầu quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp, chính sách thuế của Nhà nước, thông tin cung cấp ra bên ngoài và chính khả năng của các kế toán viên
Với mỗi phương pháp kế toán khác nhau được áp dụng thì thông tin cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin cũng khác nhau Vì vậy, để thông tin cung cấp ra bên ngoài phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp, kế toán cần phải xác định phương pháp nào phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nhất để lựa chọn phương pháp kế toán và cung cấp thông tin một cách chính xác nhất Vấn
đề này cũng mang tính chất tương đối, tức là kế toán sẽ cố gắng cung cấp thông tin phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp nhưng đồng thời kế toán sẽ cân nhắc giữa chi phí bỏ ra để thông tin cung cấp được chính xác và mức độ chính xác của thông tin để lựa chọn phương pháp cho phù hợp
Trong chương này, tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản về chính sách kế toán trong doanh nghiệp Những nội dung này xuất phát từ các chuẩn mực kế toán Việt Nam Đây sẽ là nền tảng lý thuyết cho chương thứ hai khi tác giả đi vào nghiên cứu sự vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty Cổ phần Xây lắp điện Quảng Nam
Trang 39CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VỀ SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN
QUẢNG NAM 2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP ĐIỆN QUẢNG NAM
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam
a Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh mới được chia tách từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng theo Quyết định số 965/TTg ngày
28 tháng 12 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ Là một tỉnh còn non trẻ đang từng bước xây dựng và phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì vậy cần phải có một nền móng vững chắc đó là quá trình cơ giới hoá, điện khí hoá Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của một tỉnh mới chia tách, đồng thời thực hiện Chỉ thị số 857/ĐMDN về việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước mới điều chỉnh địa giới hành chính Ngày 6 tháng 6 năm
1998 Công ty xây lắp điện Quảng Nam ra đời theo quyết định số 958/QĐ - UBND tỉnh của UBND tỉnh Quảng Nam
Theo chủ trương của Chính phú về việc chuyển đổi Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần Kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010 Công ty xây lắp điện Quảng Nam đã chuyển đổi thành Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam
Công ty Công ty cổ phần xây lắp điện Quảng Nam trực thuộc Sở Công
nghiệp Quảng Nam, có đầy đủ tư cách pháp nhân hạch toán độc lập Trụ sở chính của công ty đóng tại khu Công nghiệp Thuận Yên thị xã Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam
Trang 40Điện thoại : (0510) 812020, 3812523, 3845073
Khi mới thành lập, Công ty hoạt động với nguồn ngân sách cấp là 200 triệu đồng Qui mô còn nhỏ với 152 cán bộ công nhân viên Lĩnh vực hoạt động chủ yếu là chuyên thi công, xây lắp thiết kế các công trình về điện, bán các loại vật tư thiết bị điện Là một DNNN hoạt động trong cơ chế thị trường
có sự cạnh tranh gay gắt nhưng với sự năng động của Ban lãnh đạo cùng với
uy tín công ty và sự đoàn kết thống nhất toàn thể Cán bộ công nhân viên, Công ty đã tạo được chỗ đứng trên thị trường và tự khẳng định mình Không những thế qui mô hoạt động ngày càng được mở rộng khắp khu vực Miền Trung và sang các lĩnh vực khác như sản xuất kinh doanh sản phẩm đồ uống, thi công lắp đặt các công trình viễn thông Để khai thác tiềm năng khu vực Bắc Miền trung, Công ty đã thành lập chi nhánh Xây lắp điện Đông Hà đặt tại tỉnh Quảng Trị và mở văn phòng đại diện tại thành phố Đà Nẵng
b Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Khi mới thành lập chức năng và nhiệm vụ của công ty chủ yếu là thi công xây lắp các công trình điện và xây dựng thủy lợi với quy mô nhỏ và vừa Năm 2003 công ty đã xin đăng ký thêm nhiều nghành nghề theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 112328 ngày 26/12/2003 do sở kế hoạch và đầu
tư Quảng Nam cấp, Nghành nghề kinh doanh của Công ty gồm:
- Thi công xây lắp các công trình điện dân dụng và công nghiệp
- Thi công hệ thống chiếu sáng
- Tham gia phát triển hệ thống nguồng điện được nhà nước giao
- Đại lý cung ứng vật tư, thiết bị điện
- Gia công cơ khí mạ kẽm nhúng nóng cấu kiện đường dây, sản xuất ống cống và trụ điện bê tông ly tâm
- Tư vấn và thiết kế các công trình điện đường dây và trạm biến áp ……