Nhờ nghiên cứu chúng ta có thể hiểu rõ hơn việc vận dụng CSKT trong các DNNVV đồng thời có thể tìm thấy một số nhân tố ảnh hưởng đến các quyết định lựa chọn CSKT và xác định các yếu tố c
Trang 1NGUYỄN HỒNG HẠNH
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ TUY HÒA, PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2NGUYỄN HỒNG HẠNH
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ TUY HÒA, PHÚ YÊN
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Hạnh
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Kết cấu luận văn 3
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 8
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN 8
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của chính sách kế toán 8
1.1.2 Vai trò của chính sách kế toán 9
1.1.3 Các CSKT áp dụng trong DN 10
1.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CSKT TRONG DN 18
1.2.1 Lý thuyết kế toán tích cực (Positive Accounting Theory – PAT) 18
1.2.2 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 20
1.2.3 Lý thuyết kế toán quy phạm - chuẩn mực kế toán (Normative Accounting Theory) 21
1.2.4 Lý thuyết các bên liên quan 21
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG CSKT CỦA DN 22
1.3.1 Đặc thù của doanh nghiệp 26
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC DNNVV TRÊN ĐỊA BÀN TP TUY HÒA 31
2.1.1 Đặc điểm môi trường kinh tế tại TP Tuy Hòa 31
2.1.2 Đặc điểm các doanh nghiệp nhỏ và vừa 32
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.2.1 Chọn mẫu nghiên cứu 34
2.2.2 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 35
2.3 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN VÀ THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 39
2.3.1 Đo lường các biến 39
2.3.2 Mô hình nghiên cứu 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3.1 ĐẶC ĐIỂM VẬN DỤNG CSKT TẠI CÁC DNNVV TRÊN ĐỊA BÀN TP TUY HÒA 49
3.1.1 Thực trạng vận dụng CSKT liên quan đến HTK 49
3.1.2 Thực trạng vận dụng CSKT tài sản cố định 54
3.1.3 Thực trạng vận dụng CSKT liên quan nợ phải thu 58
3.1.4 Thực trạng vận dụng CSKT liên quan đến doanh thu và chi phí 60
3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DUNG CSKT 63
3.2.1 Kiểm tra dữ liệu 63
3.2.2 Chính sách kế toán liên quan đến HTK 65
3.2.3 Chính sách kế toán liên quan đến Nợ phải thu 67
3.2.4 Chính sách kế toán liên quan đến TSCĐ 71
Trang 6CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 83
4.1 KẾT LUẬN 83
4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 87
4.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7Ký hiệu Định nghĩa
Trang 83.6 Loại hình DN với các phương pháp tính khấu hao
3.7 Quy mô DN với các phương pháp tính khấu hao TSCĐ 57
3.9 Bảng loại hình DN với việc lập dự phòng nợ khó đòi 59 3.10 Thống kê lý do các DN không lập dự phòng 60 3.11 Loại hình DN với các phương pháp ghi nhận doanh thu 62
3.17 Bảng số năm hoạt động và lựa chọn CSKT nợ phải thu 68
Trang 93.20 Quy mô DN với việc lập dự phòng nợ khó đòi 70 3.21 Đòn bẩy tài chính và lập dự phòng nợ khó đòi 71 3.22 Bảng phân tích nhân tố ảnh hưởng đến CSKT về TSCĐ 72
3.25 Tỷ suất lợi nhuận và phương pháp ghi nhận doanh thu 74 3.26 Đòn bẩy tài chính và phương pháp ghi nhận doanh thu 75 3.27 Trình độ kế toán và phương pháp ghi nhận doanh thu 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, với sự biến động không ngừng của nền kinh tế, các DN đang hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau phải luôn đối phó với những tình huống kinh tế đa dạng và phức tạp Các giao dịch kinh tế và các sự kiện biến động về tình hình tài chính của DN là sản phẩm của các nghiệp vụ kinh tế đa dạng và phức tạp từ các hoạt động của DN CSKT giúp cho các DN ghi nhận
và xử lý những tình huống đa dạng và phức tạp liên quan đến sự biến động tình hình tài sản của DN Không phải tất cả các nội dung trong các BCTC có thể đo lường một cách chính xác mà có thể được ước tính, ví dụ: trích khấu hao tài sản cố định hay xác định giá trị SPDD,
CSKT là các nguyên tắc và lựa chọn các phương pháp kế toán, việc áp dụng những nguyên tắc này được thông qua bởi các DN trong việc chuẩn bị
và trình bày các BCTC Lựa chọn các CSKT được hướng dẫn bởi những hoàn cảnh cụ thể và nó liên quan đến sự phán xét của công tác quản lý của mỗi DN Như vậy, có thể nói rằng với mỗi phương pháp kế toán được lựa chọn thì thông tin trình bày trên BCTC là khác nhau và với mỗi DN khác nhau thì việc lựa chọn các CSKT để áp dụng cũng khác nhau Việc lựa chọn các CSKT áp dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có cả yếu tố chủ quan lẫn yếu tố khách quan và điều này ảnh hưởng đến lợi nhuận của DN trong kỳ Một khi có sự thay đổi của tình hình kinh tế như khủng hoảng tài chính thì các DNNVV là những DN chịu nhiều ảnh hưởng nhất vì số vốn hoạt động
ít và quy mô nhỏ nên khó cạnh tranh để tồn tại Mặt khác, tình hình biến động kinh tế ở mỗi địa phương khác nhau và các DNNVV cũng có những đặc thù khác nhau dẫn đến việc vận dụng CSKT tại các DN cũng trở nên khác biệt Nếu trước đây các DNNVV chưa quan tâm việc vận dụng CSKT thì từ khi các chuẩn mực kế toán ra đời, các DN đã chú trọng nhiều hơn trong việc lựa
Trang 11chọn và vận dụng CSKT phù hợp Tuy nhiên việc vận dụng các CSKT như thế nào và những nhân tố nào tác động tới việc vận dụng CSKT là một chủ đề còn mới ở nước ta Hầu hết các nghiên cứu về việc vận dụng CSKT chỉ gắn liền với một DN cụ thể Do vậy, nghiên cứu vận dụng CSKT tại các DNNVV trở nên thực sự cần thiết Nhờ nghiên cứu chúng ta có thể hiểu rõ hơn việc vận dụng CSKT trong các DNNVV đồng thời có thể tìm thấy một số nhân tố ảnh hưởng đến các quyết định lựa chọn CSKT và xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT trong các DNNVV Đó là lý do tôi chọn
đề tài: “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP Tuy Hòa, Phú Yên” Tôi hi vọng với kết quả đạt được sau khi nghiên cứu sẽ góp phần
định hướng trong việc vận dụng CSKT tại các DN, đặc biệt là DNNVV
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các CSKT tại các DNNVV trên địa bàn TP Tuy Hòa, Phú Yên Từ đó góp phần định hướng trong việc vận dụng CSKT tại các DNNVV
3 Câu hỏi nghiên cứu
Với các vấn đề về việc vận dụng CSKT đang vận dụng hiện tại ở các DNNVV, luận văn đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Những CSKT nào đang vận dụng tại các DNNVV trên địa bàn TP Tuy Hòa, Phú Yên?
- Đặc thù DNNVV ảnh hưởng đến vận dụng CSKT như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các CSKT được áp dụng tại các DNNVV trên địa bàn
TP Tuy Hòa, Phú Yên tính tới niên độ kế toán năm 2014 trước khi BTC ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC; trong đó tập trung chủ yếu vào các nhân tố ảnh hưởng đến các CSKT hàng tồn kho, tài sản cố định, các khoản phải thu,
Trang 12doanh thu và chi phí Đề tài tập trung xem xét các lựa chọn phương pháp kế toán và các ước tính kế toán trong quá trình xây dựng CSKT tại các DN
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CSKT tại các DNNVV trên địa bàn TP Tuy Hòa, luận văn thực hiện phương pháp điều tra chọn mẫu với đối tượng điều tra là kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán) tại các DN
Dựa trên danh mục các DNNVV trên toàn TP Tuy Hòa, đề tài đã tiến hành khảo sát các DN theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện với số lượng là
270 DN Tuy nhiên, khi tiến hành thu thập thì nhiều DN trên thực tế không tồn tại hoặc các đáp viên trả lời sai tiêu chí nên cuối cùng chỉ còn 111 DN Qua các thông tin thu thập được từ khảo sát, tiến hành phân tích và xử lý
số liệu để đưa ra các đánh giá về sự vận dụng các CSKT của các DNNVV
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu chỉ ra thực trạng vận dụng các CSKT tại các DNNVV cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các CSKT Kết quả phân tích cũng là cơ sở để người sử dụng BCTC có thể hình dung các yếu
tố chi phối đến việc vận dụng CSKT để làm tăng lợi nhuận
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục thì kết cấu luận văn bao gồm 4
chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về nhân tố ảnh hưởng đến chính sách kế toán trong doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 138 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu về các CSKT đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước bàn tới Có thể chỉ ra một số nghiên cứu cơ bản sau:
- Alver Lehte, Alver Jaan, Talpas Liis (2013), “Accounting Policy and Institutional Pressure: the case of Estonia” – GSTF Business Review, pp.1
Tác giả phân tích ảnh hưởng của sức ép các thể chế chính trị đến sự phát triển của CSKT tại Estonia Tác giả mong muốn đóng góp vào các bằng chứng cải cách kế toán trong nền kinh tế đang phát triển Các phân tích của tác giả chỉ ra ảnh hưởng của áp lực thể chế chính trị đến sự phát triển của hệ thống BCTC tại các nền kinh tế mới nổi như Estonia và có những ảnh hưởng khi phát triển luật kế toán mới trong tương lai Do đó, định hướng tương lai có thể liên quan đến kế toán tại Estonia được thảo luận thông qua lý thuyết về thể chế chính trị Cuối cùng, bài báo vạch ra những cơ hội để biết thêm thông tin nghiên cứu ở cấp độ toàn cầu Tác giả phân tích dựa vào các quy định về kế toán tại Estonia với kế toán quốc tế mà chưa có kiểm nghiệm tại công ty cụ thể, dẫn đến bài nghiên cứu còn nặng về mặt lý thuyết
- Hanaa Abd El-Kader El-Habashy (2004), “Determinants of Accounting Choices in Egypt: An Empirical Study” – Luận án Tiến sĩ, Đại học Dundee
Tác giả sử dụng cách tiếp cận lý thuyết kế toán tích cực để nghiên cứu CSKT
về HTK và TSCĐ tại một số DN ở Ai Cập Tác giả sử dụng các số liệu được lấy dựa theo 2 mẫu: căn cứ vào thông tin công bố của các DN trên thị trường chứng khoán của Ai Cập và tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi với các
DN nhỏ Sau khi thu thập số liệu, tác giả tiến hành phân tích đơn biến và đa biến Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của kế hoạch khuyến khích quản lý có liên quan đáng kể đến các chính sách khấu hao và phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho, từ đó làm tăng thu nhập kế toán Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số bằng chứng cho thấy đặc điểm đòn bẩy kinh doanh
Trang 14của các DN có liên quan đến sự lựa chọn chính sách khấu hao và phương pháp xác định HTK của DN Mặc dù nghiên cứu cũng đã có khảo sát các DN không niêm yết nhưng vẫn giới hạn là các DN lớn nhất trong các khu vực kinh tế phát triển chưa đại diện cho toàn thể các DN, nhất là chưa nói được các vấn đề của DNNVV ở Ai Cập
- Szilveszter Fekete, Yau M.Damagum và các cộng sự (2010),
“Explaining Accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods” – European Research Studies, Volume XIII Các tác
giả đã tiến hành nghiên cứu và giải thích sự lựa chọn CSKT trong DNNVV Tác giả đặc biệt quan tâm đến các phương pháp đánh giá ước tính kế toán Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát các đại diện của các DN (giám đốc tài chính, kế toán trưởng, nhân viên kế toán) về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp kế toán Các DN được tác giả lựa chọn bằng cách lấy mẫu phân tầng, đại diện cho các DNNVV tại Romania Tác giả
sử dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính trong việc xác định tác động của các yếu tố Kết quả cho thấy thuế là yếu tố có tác động mạnh nhất đến việc lựa chọn các CSKT áp dụng, bên cạnh đó là các yếu tố khác như hình ảnh, uy tín của công ty Tuy nhiên đề tài chỉ mới dừng lại ở phân tích các thành phần chính mà chưa đưa ra được một mô hình nhân tố ảnh hưởng, điều này tạo đà cho các nghiên cứu sau phát triển
- TS Trần Đình Khôi Nguyên (2012), “Chính sách kế toán trong doanh nghiệp”, Tạp chí phát triển kinh tế, số 260, tr.41 Trong bài viết, tác giả đề
cập đến cơ sở lý thuyết và định hướng xây dựng CSKT nhằm vận dụng CSKT trong các DN ở Việt Nam Từ mâu thuẫn đại diện và sự bất cân xứng thông tin, tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của việc công bố thông tin về CSKT trong các DN và chỉ ra hiện tượng bất cân xứng thông tin tồn tại trên các BCTC của hầu hết các DN Điều này làm cho nhà đầu tư, người cho vay không hiểu rõ
Trang 15tính xác thực của các con số trên BCTC đã được công bố Từ những nhận xét
về CSKT tại các DN, tác giả đã đưa ra các giải pháp về khung cơ sở xây dựng CSKT, và vận dụng vào tình hình thực tế của từng DN để xây dựng CSKT phù hợp Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến việc vận dụng các CSKT tại các DNNVV cụ thể như thế nào, mà chỉ đề cập đến các DN nói chung và chủ yếu
là các DN có niêm yết trên thị trường chứng khoán Từ đó tạo hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề lựa chọn các CSKT áp dụng
- Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), “Đánh giá sự vận dụng các chính sách
kế toán tại công ty lương thực và thực phẩm Quảng Nam” – Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Lê Thị Chi (2012), “Hoàn thiện chính sách kế toán tại công ty CP vật tư tổng hợp Phú Yên” – Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
Các tác giả dựa vào BCTC và qua phỏng vấn nhân viên kế toán tại DN để nghiên cứu các CSKT đang vận dụng tại DN; đồng thời so sánh, đối chiếu với các chuẩn mực kế toán về các CSKT Kết quả cho thấy có nhiều nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT của DN, trong đó có cả các nhân tố khách quan như chính sách thuế của Nhà nước, đặc thù của DN và các các nhân tố chủ quan như nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận tại DN hay khả năng, trình độ của nhân viên kế toán Tác giả đã nêu ra ưu nhược điểm của việc vận dụng các CSKT Từ đó tác giả tiến hành xây dựng và hoàn thiện việc lựa chọn các CSKT của DN Các đề tài tuy đã đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá các nhân
tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các CSKT, tuy nhiên các đề tài mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các CSKT áp dụng tại DN cho phù hợp với tình hình kinh doanh và đặc thù của DN mà chưa tìm hiểu các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn các CSKT của DN cũng như tác động của từng nhân tố đến việc lựa chọn CSKT như thế nào
- Ths Nguyễn Thị Phương Hồng – Nguyễn Thị Kim Oanh (2014), “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp
Trang 16Việt Nam hiện nay” – Tạp chí Thị trường – Tài chính – Tiền tệ, số 13.7.2014
Các tác giả tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN ở Việt Nam bằng phương pháp định lượng thông qua bảng câu hỏi khảo sát các nhân viên kế toán tại các DN Các câu hỏi được sử dụng thang đo định danh để phân chia các đặc trưng của từng đối tượng về mức độ đồng ý đối với từng nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT Kết quả cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN là chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, tình trạng niêm yết của DN và sự ổn định giữa các mức lợi nhuận Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng BCTC Tuy nhiên nhóm tác giả chưa nghiên cứu ở các DNNVV để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn các CSKT
mà chỉ nghiên cứu tổng thể các DN ở Việt Nam, mẫu lựa chọn cũng không được tác giả đề cập trong bài báo, CSKT nào được tác giả nghiên cứu cũng không được đề cập, dẫn đến nội dung bài báo chưa rõ ràng
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã tiến hành đi sâu vào phân tích cơ sở
lý thuyết về CSKT, lựa chọn CSKT ở các DN (chủ yếu là các DN có niêm yết trên thị trường chứng khoán) Phương pháp được các tác giả thực hiện có cả phỏng vấn, đối chiếu số liệu và khảo sát thực nghiệm Có tác giả chỉ ra ưu điểm và nhược điểm của việc vận dụng CSKT và đưa ra định hướng nhằm hoàn thiện việc vận dụng CSKT của một DN cụ thể Cũng đã có nghiên cứu giải thích về lựa chọn CSKT tại DNNVV nhưng không phải nghiên cứu tại Việt Nam Ngoài ra, các tác giả chưa đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các CSKT như thế nào tại các DN – đặc biệt là DNNVV trong bối cảnh nền kinh tế đang biến động hiện nay
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán số 29 ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì thuật ngữ “Chính sách kế toán (CSKT)” được định nghĩa như sau:
CSKT là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được
DN áp dụng trong quá trình xử lý và công bố thông tin kế toán trên BCTC Khái niệm trên cho thấy nội hàm CSKT có các đặc trưng sau:
CSKT là những nguyên tắc: Kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc kế
toán khi lập báo cáo Đây là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi DN phải
áp dụng, như nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, cơ sở dồn tích Tuân thủ các nguyên tắc trong kế toán ít có khả năng thay đổi thông tin trình bày trên BCTC hay khó đáp ứng được mục tiêu của đơn vị trong việc cung cấp thông tin Tuy nhiên, việc áp dụng một vài nguyên tắc kế toán cũng có thể làm thay đổi thông tin cung cấp ra bên ngoài, ví dụ: tùy thuộc thời điểm ghi nhận chi phí vào niên độ phát sinh hay phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp mà chi phí phát sinh trong kỳ sẽ khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
CSKT là những lựa chọn: Chuẩn mực kế toán cho phép DN có thể lựa
chọn các phương pháp kế toán khác nhau cho phù hợp với đặc điểm và mục tiêu của DN Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một CSKT sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các BCTC hay thông tin cung cấp ra bên ngoài Các lựa chọn kế toán bao gồm lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho, lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ, …
Trang 18CSKT là ước tính kế toán: Ước tính kế toán là các nguyên tắc đo lường
đối tượng kế toán mà DN tự xây dựng do chuẩn mực không thể bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị Các khoản ước tính kế toán gồm có ước tính liên quan đến khấu hao TSCĐ, cách xác định dự phòng giảm giá, ước tính giá trị SPDD, các ước tính kế toán khác liên quan đến phân bổ hay trích trước chi phí, các ước tính liên quan đến dự phòng phải trả ở DN
1.1.2 Vai trò của chính sách kế toán
Giống như các chính sách và quy định của một tổ chức khác, các CSKT
áp dụng nhằm để nâng cao hiệu quả hoạt động trong nhiều cách Bằng cách hiểu được lợi ích của việc có các CSKT được thiết kế tốt, kế toán viên có thể thiết kế và thực hiện các CSKT trong DN để cải thiện cả về chất lượng và hiệu quả của các BCTC của DN
CSKT giúp nhân viên ghi nhận các giao dịch kinh tế - tài chính trong DN một cách hợp lý hơn CSKT là cơ sở để thực hiện việc đo lường tài sản của
DN và từ đó công bố các thông tin về tình hình tài chính của DN Thông qua
đó, người chủ sở hữu, nhà đầu tư có thể đánh giá được hoạt động của DN, khả năng điều hành của nhà quản trị, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hợp lý hơn Đối với các vấn đề kế toán phức tạp, chẳng hạn như ghi nhận doanh thu, các CSKT cung cấp một hướng dẫn để nhân viên kế toán ghi nhận một cách phù hợp, ngay cả khi họ không có kiến thức chuyên môn nhiều về những vấn
đề phức tạp Các CSKT giúp hướng dẫn các nhân viên có thể đưa ra quyết định đúng đắn Nhân viên kế toán biết nên làm thế nào để áp dụng các CSKT
và nhận ra phải áp dụng CSKT nào khi một giao dịch kinh tế - tài chính phát sinh trong trường hợp giao dịch đó không được ghi rõ trong chính sách
Các CSKT có thể làm cho quá trình kế toán hiệu quả hơn Đối với các giao dịch đơn giản, CSKT có thể được sử dụng để tự động hóa các giao dịch kinh tế - tài chính trong hệ thống kế toán của đơn vị Mặc dù công việc của hệ
Trang 19thống kế toán tự động vẫn cần phải được xem xét bởi nhân viên kế toán, nhưng quá trình này vẫn tốn ít thời gian hơn là thực hiện một cách thủ công tất cả các công việc của hệ thống kế toán Một lợi ích nữa là giảm lỗi trong quá trình kế toán do đánh máy hoặc chuyển số liệu từ nơi này sang nơi khác trong các sổ sách kế toán
Đối với các DN có yêu cầu kiểm toán, CSKT như là một bằng chứng cho thấy các giao dịch kinh tế - tài chính được đánh giá một cách có hệ thống và
sự tuân thủ các chính sách cho thấy các giao dịch được xử lý theo cùng một cách Kế toán kiểm tra, kiểm soát nội bộ có thể sử dụng các CSKT để theo dõi toàn bộ các giao dịch trên toàn hệ thống kế toán Bên cạnh đó thông qua các CSKT được công bố, các cơ quan thuế có thể tiến hành kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong việc hạch toán kế toán tại DN, nhất là trong các trường hợp nghi ngờ có sự gian lận về thuế
a CSKT liên quan đến hàng tồn kho
Lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho
Theo chuẩn mực số 02 ban hành và công bố theo quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính việc tính trị giá xuất kho được áp dụng 1 trong 4 phương pháp sau: phương pháp nhập trước – xuất trước, phương pháp nhập sau – xuất trước, phương pháp thực tế đích danh, phương pháp bình quân gia quyền Với mỗi phương pháp mà DN
áp dụng sẽ ảnh hưởng khác nhau tới các chỉ tiêu trên các BCTC
Trang 20Phương pháp thực tế đích danh: là phương án tốt nhất trong các phương pháp tính giá xuất kho, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra Hơn nữa, giá trị HTK được phản ánh trên BCTC đúng theo giá trị thực tế của nó
Phương pháp bình quân gia quyền: có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán nhưng trị giá hàng xuất không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả trong kỳ hiện tại Vì vậy, phương pháp này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh không sát với giá thực tế
Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO) cho kết quả số liệu trong bảng cân đối kế toán là sát nhất với giá phí hiện tại so với các phương pháp tính giá HTK khác Vì vậy chỉ tiêu HTK trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực
tế hơn Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại
Phương pháp nhập sau xuất trước1
(LIFO): sẽ đảm bảo được yêu cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán Tuy nhiên, trị giá vốn của HTK cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế Khi giá cả tăng lên, phương pháp nhập sau xuất trước cho số liệu trên bảng cân đối kế toán thường thấp hơn so với giá phí hiện tại
Việc lựa chọn phương pháp tính giá HTK sẽ có ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý trong việc trình bày giá trị HTK trên BCTC và kết quả lãi, lỗ của các hoạt động của một DN Thông tin về HTK và kết quả lãi, lỗ của DN là
cơ sở để phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định quản lý HTK và các quyết định kinh doanh
Trang 21 Vấn đề về ước tính SPDD
SPDD là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang nằm trong quá trình sản xuất, để xác định được giá thành của một sản phẩm
DN phải tiến hành ước tính giá trị SPDD Để ước tính được giá trị SPDD thì
DN có thể lựa chọn một trong các phương pháp ước tính SPDD cuối kỳ như: + Ước tính SPDD theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (vật liệu chính) tiêu hao
+ Ước tính SPDD theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
+ Ước tính SPDD theo chi phí sản xuất định mức
Cho dù chọn lựa theo cách thức nào, nhưng cách thức tính toán thể hiện một chính sách đo lường của DN, đảm bảo tính trung thực của thông tin về SPDD Với mỗi phương pháp đánh giá SPDD khác nhau thì giá trị SPDD sẽ khác nhau Cụ thể như DN đánh giá SPDD theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị SPDD chỉ tính trên giá trị nguyên vật liệu trực tiếp còn các chi phí chế biến khác xem như không ảnh hưởng không tính, ngược lại nếu DN đánh giá SPDD theo phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương thì giá trị SPDD đều được đánh giá trên ba loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Như vậy trong cùng một lượng SPDD nếu đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì giá trị SPDD sẽ nhỏ hơn so với phương pháp khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương Điều này cho thấy khi giá trị SPDD bé thì giá thành sản phẩm cao và giá vốn của hàng bán cao dẫn đến lợi nhuận sẽ giảm
và ngược lại
Như vậy, nếu DN xác định phương pháp đánh giá SPDD không hợp lý
sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về SPDD, thành phẩm, chi phí giá vốn trên BCTC, từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận của DN
Trang 22 Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Theo chuẩn mực số 02 ban hành và công bố theo quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính, DN được trích lập dự phòng khi giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK nhỏ hơn giá gốc của HTK Theo thông tư số 200/2014/TT-BTC thì mức trích lập dự phòng tính theo công thức sau:
Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được HTK nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá HTK Số dự phòng giảm giá HTK được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của HTK lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng Việc trích lập dự phòng giảm giá HTK sẽ làm cho chi phí SXKD trong kỳ tăng lên từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận Mức lập dự phòng giảm giá HTK của DN tùy thuộc vào mức ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK Khi lập BCTC, căn cứ vào số lượng, giá gốc, giá trị thuần có thể thực hiện được của từng loại vật tư, hàng hóa, từng loại dịch vụ cung cấp dở dang để xác định khoản dự phòng giảm giá HTK phải lập Trường hợp khoản dự phòng giảm giá HTK phải lập ở cuối kỳ kế toán này lớn hơn khoản dự phòng giảm giá HTK đang ghi trên sổ kế toán thì số chênh lệch lớn hơn được ghi tăng dự phòng và ghi tăng giá vốn hàng bán Trường hợp khoản dự phòng giảm giá HTK phải lập ở cuối kỳ kế toán này nhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá HTK đang ghi trên sổ kế toán thì số chênh lệch nhỏ hơn được hoàn nhập ghi giảm dự phòng và ghi giảm giá vốn hàng bán Việc hoàn nhập hay trích lập thêm dự phòng cũng tùy thuộc vào mức lựa chọn theo
ý muốn chủ quan của các nhà quản trị Mỗi sự lựa chọn đều ảnh hưởng trực
x
Giá gốc HTK theo
sổ kế toán
-
Giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK
Trang 23tiếp đến việc ghi nhận chi phí và dự phòng giảm giá HTK trong kỳ từ đó ảnh hưởng khoản mục tài sản và lợi nhuận trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ của DN
b Chính sách kế toán liên quan đến nợ phải thu
Trong kinh doanh, để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ thì DN thường áp dụng phương thức bán chịu Phương thức này làm cho việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa nhanh hơn nhưng không phải các khoản khách hàng nợ lúc nào cũng thu được Tuy là doanh thu tăng nhưng DN phải chấp nhận một mức tổn thất
do không thể thu được nợ
Theo thông tư số 200/2014/TT-BTC thì khi lập BCTC, DN xác định các khoản nợ phải thu khó đòi và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn có bản chất tương tự có khả năng không đòi được để trích lập hoặc hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi DN trích lập dự phòng phải thu khó đòi dựa trên nợ phải thu quá hạn thanh toán ghi trong các hợp đồng, nhưng chưa thu được Việc xác định thời gian quá hạn của khoản nợ phải thu được xác định là khó đòi căn cứ vào thời gian trả nợ gốc theo hợp đồng mua – bán ban đầu, không tính trường hợp gia hạn nợ giữa các bên; hoặc nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng khách nợ đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể, mất tích, bỏ trốn
Như vậy, việc trích lập dự phòng tại DN dựa vào dự kiến mức tổn thất không thu hồi được Do đó DN có thể dự kiến mức tổn thất cao hay thấp là tùy vào năng lực xét đoán của kế toán và các bằng chứng hiện có, trong đó có
cả chủ quan của DN, đồng thời DN sẽ ghi nhận mức trích lập dự phòng vào chi phí quản lý trong kỳ và sẽ ảnh hưởng đến chi phí phát sinh trong kỳ Theo
đó, lợi nhuận của DN trong kỳ cũng thay đổi nghịch với sự thay đổi của chi phí Để điều chỉnh lợi nhuận thì DN có thể lựa chọn thời điểm và mức dự
Trang 24phòng cần lập của phải thu khó đòi; thời điểm khoản dự phòng này được hoàn nhập và mức hoàn nhập
c Chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định
Chính sách khấu hao TSCĐ
Theo chuẩn mực số 03 ban hành và công bố theo quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ tài chính Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho DN Có 3 phương pháp trích khấu hao TSCĐ bao gồm: Phương pháp khấu hao đường thẳng; phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần; phương pháp khấu hao theo sản lượng
DN có thể lựa chọn một trong ba phương pháp trên để tính và trích khấu hao TSCĐ Tùy thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, hoạt động SXKD và mục đích của DN mà DN có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp Bởi lẽ việc trích khấu hao TSCĐ sẽ được tính vào chi phí SXKD trong kỳ Do đó, lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Cụ thể như DN áp dụng phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần
sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu, hoặc áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào chi phí liền đều qua các năm sử dụng,…
Theo chuẩn mực số 04 ban hành và công bố theo quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ tài chính và thông tư 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/4/2013 - Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ Lựa chọn phương pháp khấu hao và ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo DN có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ, DN xét thấy có thể thay đổi
Trang 25cách thức ước tính về lợi ích kinh tế trong tương lai mà DN dự tính thu được
Ví dụ: Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần phù hợp hơn phương pháp khấu hao đường thẳng Ngoài ra, nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng hoặc thời gian sử dụng hữu ích có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể DN có thể lựa chọn thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, việc lựa chọn này nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí ghi nhận trong kỳ để xác định lợi nhuận kỳ báo cáo Tóm lại, việc lựa chọn phương pháp trích khấu hao TSCĐ đều làm ảnh hưởng trực tiếp đến khoản mục tài sản trong tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán và lợi nhuận của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của DN
CSKT liên quan đến công tác sửa chữa TSCĐ
Để duy trì năng lực hoạt động cho TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng,
DN cần phải sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ Có hai loại sửa chữa TSCĐ trong thực tiễn là: Sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn Tuy nhiên, chi phí sửa chữa này được hạch toán vào chi phí SXKD khác nhau do mức độ chi phí, công tác kế hoạch, do đó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo
- Đối với sửa chữa nhỏ TSCĐ: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nhẹ, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa phát sinh ít Do vậy, toàn bộ chi phí sửa chữa DN hạch toán vào chi phí SXKD trong kỳ
- Đối với sửa chữa lớn: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nặng, thời gian sửa chữa dài, chi phí phát sinh nhiều Vì thế nếu DN chưa có kế hoạch trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thì toàn bộ chi phí này được tập hợp vào chi phí trả trước và phân bổ nhiều kỳ DN có thể lựa chọn số kỳ phân bổ tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị Như vậy, mức phân bổ chi
Trang 26phí sửa chữa trong từng kỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó Ngoài ra, DN có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí SXKD trong kỳ (chi phí trích trước) tại thời điểm chưa phát sinh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ và mức chi phí ước tính trích trước này, sẽ làm gia tăng chi phí trong kỳ từ đó làm giảm lợi nhuận của kỳ báo cáo Đây cũng là một trong số các lựa chọn, mà nhà quản trị DN có thể sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của họ
Như vậy, chính sách phân bổ (trích trước) chi phí sửa chữa TSCĐ (thường là trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
số liệu Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của
DN
d Chính sách kế toán liên quan đến doanh thu và chi phí
Chính sách ghi nhận doanh thu và chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây dựng
Lựa chọn CKST liên quan đến doanh thu thường liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ và hoạt động xây lắp Doanh thu và chi phí của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng
kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành
Và doanh thu, chi phí của hợp đồng xây dựng cũng được ghi nhận theo tiến độ kế hoạch hoặc theo giá trị khối lượng thực hiện Tùy vào bản chất của từng hợp đồng, DN có thể lựa chọn phương pháp tính toán thích hợp để xác định phần công việc đã hoàn thành
Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp sau, tùy thuộc vào bản chất của dịch vụ cũng như bản chất của hợp đồng: (a) Đánh giá phần công việc đã hoàn thành;
Trang 27(b) So sánh tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành;
(c) Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Việc ước lượng phần trăm công việc hoàn thành phụ thuộc vào nhận định của DN Do mang tính chất chủ quan nên phương pháp này cho phép
DN ghi nhận mức doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng Từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ của DN
Doanh thu hoạt động tài chính (tiền lãi bán hàng trả góp)
Việc phân bổ lãi trả chậm đối với hoạt động bán hàng trả góp cũng là một cách điều chỉnh thông tin trên BCTC Với hai phương pháp phân bổ lãi trả chậm là phương pháp tiền lãi và phương pháp đường thẳng thì phần lãi hạch toán vào doanh thu tài chính sẽ khác nhau dẫn đến thông tin trình bày trên BCTC với mỗi phương pháp phân bổ lãi trả chậm là khác nhau
Chi phí trả trước, chi phí phải trả, dự phòng phải trả
Các khoản chi phí này cũng là một chỉ tiêu có thể làm thông tin sai lệch trên BCTC Tùy thuộc vào thời gian phân bổ hoặc trích trước dài hay ngắn dẫn đến việc phân bổ chi phí phát sinh hoặc trích trước chi phí vào chi phí trong kỳ sẽ khác nhau Do đó thông tin trên BCTC cũng khác nhau tùy vào mức chi phí được ghi nhận vào chi phí trong kỳ
1.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CSKT TRONG DN
1.2.1 Lý thuyết kế toán tích cực (Positive Accounting Theory – PAT)
Lý thuyết kế toán tích cực (PAT) là một biểu hiện của lý thuyết kinh tế tân cổ điển Về cơ bản nó là dựa vào lý thuyết lựa chọn hợp lý Đó là, liệu lợi ích riêng – thường được gọi là hành vi cơ hội – là cơ sở của tất cả các hoạt
Trang 28động kinh tế Vì vậy, trong PAT, hành vi cơ hội là lý do cho sự lựa chọn của các phương pháp kế toán Trong PAT, các DN được mô tả như là một mối quan hệ hợp đồng, hợp đồng này là cần thiết để có được sự đồng ý hợp tác của các cá nhân để tối đa hóa lợi ích của các chủ sở hữu, cổ đông của DN Theo đó, lý thuyết PAT tìm cách kiểm tra, mô tả, giải thích và dự đoán thực hành kế toán, chứ không tìm cách quy định các hành động cụ thể Theo Watts
và Zimmerman có ba giả thuyết liên quan đến việc dự đoán và giải thích sự lựa chọn kế toán của một DN là kế hoạch tiền thưởng, mức vay nợ (nợ trên vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tài chính) và chi phí chính trị, “lý thuyết kế toán tích cực có liên quan với giải thích thực hành kế toán Nó được thiết kế để giải thích và dự đoán các DN sẽ hoặc sẽ không sử dụng một phương pháp kế toán
cụ thể, nhưng nó không chỉ ra phương pháp mà một DN nên sử dụng.”
Lý thuyết PAT thực hiện một số dự đoán theo kinh nghiệm liên quan đến hành vi quản lý trong sự hiện diện của nguồn lực tài chính và sự thay đổi kế toán Một ý nghĩa hữu ích của công việc trong lĩnh vực này là liệu một phương pháp kế toán hay một quy tắc đặc biệt có gây ra những hậu quả kinh
tế thực sự, tác động tới người sử dụng thông tin kế toán, người tiếp xúc với các quy tắc kế toán mới Phát triển lý thuyết kế toán tích cực, trong nghiên cứu của mình, Watts và Zimmerman đưa ra dự đoán về khả năng một DN sẽ trình bày BCTC của mình nhằm đảm bảo rằng các chi phí trong quản lý, cổ đông và trái phiếu được giảm thiểu Trong trường hợp này người ta có thể dự đoán được thái độ của các nhà quản lý hướng tới một chuẩn mực kế toán mà
có thể ảnh hưởng xấu đến đòn bẩy tài chính của DN và các khoản nợ của DN
đó Ở một mặt khác, lý thuyết cũng dự đoán rằng đòn bẩy DN càng cao, nhiều khả năng nó làm các nhà quản lý sẽ lựa chọn phương pháp kế toán thu nhập ngày càng tăng để làm giảm nguy cơ vi phạm các điều khoản liên quan trong các hợp đồng nợ Tuy nhiên, nhà quản lý có thể thêm thông tin về DN từ bên
Trang 29ngoài và điều này có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ về phương pháp
kế toán [16]
1.2.2 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Lý thuyết đại diện là một phần quan trọng của PAT Nguồn gốc của nó
là các tài liệu thông tin kinh tế trong đó thông tin được đặt vào một môi trường ra quyết định rõ ràng Lý thuyết đại điện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ sở hữu vốn của DN và một bên khác là người quản lý – người đại diện thực hiện các quyết định của DN Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất cho người chủ khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của những ông chủ này Theo PAT, cả hai bên sẽ hành động theo lợi ích riêng mà không nhất thiết phải trùng nhau
Ở thị trường không hoàn hảo, sự hiện diện của chi phí đại diện rất rõ ràng Lựa chọn kế toán được xác định ảnh hưởng đến một hoặc nhiều thỏa thuận hợp đồng của DN Thông thường được gọi là quan điểm ký kết hợp đồng hiệu quả Thỏa thuận hợp đồng này bao gồm các thỏa thuận về bồi thường, các giao ước nợ, chức năng chính là giảm bớt các chi phí đại diện bằng cách sắp xếp tốt các ưu đãi cho các bên Tuy nhiên tùy thuộc vào cấu trúc của các hợp đồng, sự lựa chọn kế toán có thể được thực hiện để tăng bồi thường hoặc tránh vi phạm giao ước nợ Trong hầu hết các trường hợp, nhiều
sự lựa chọn kế toán có thể được lựa chọn đơn lẻ hoặc phối hợp để thực hiện một hoặc nhiều mục tiêu Ví dụ: Sử dụng phương pháp LIFO thường làm giảm giá trị hiện tại của các loại thuế và các quy định phù hợp LIFO thường
sử dụng tại các đơn vị với mục đích thuế trước tiên, sau đó LIFO phải được
sử dụng cho mục đích BCTC Tương tự như vậy, trong việc phân bổ giá mua trong hợp nhất kinh doanh chịu thuế, phân bổ cho các mục đích thuế và
Trang 30BCTC là gống nhau Có thể nói rằng, có những mâu thuẫn tiềm tàng giữa nhiều mục tiêu trong việc lựa chọn phương pháp kế toán [24]
1.2.3 Lý thuyết kế toán quy phạm - chuẩn mực kế toán (Normative Accounting Theory)
Lý thuyết kế toán quy phạm cung cấp hướng dẫn trong việc lựa chọn các CSKT, thủ tục kế toán một cách thích hợp nhất cho phù hợp với hoàn cảnh và quy định những gì nên được thực hiện
Lý thuyết quy phạm đôi khi còn được coi là quy tắc khi nó đưa ra hướng dẫn, quy tắc cho người làm kế toán về những gì phát sinh trong thực tiễn cần thực hiện theo để đạt được kết quả cụ thể Ví dụ: Phải ghi nhận tài sản như thế nào để đánh giá nhằm mục đích lập BCTC, ghi nhận theo giá thị trường hay theo giá gốc
Kế toán thực hành dựa vào lý thuyết quy phạm khi cố gắng thiết lập chính sách kinh tế, tài chính trong tương lai Thông thường để lập được kế hoạch tài chính cho tương lai cần phải dựa vào các báo cáo kế toán dựa trên nền tảng các số liệu quá khứ, hay nói cách khác phải căn cứ vào các thực hành thực tế dựa trên lý thuyết kế toán tích cực
1.2.4 Lý thuyết các bên liên quan
Các bên liên quan là bất kỳ cá nhân hay nhóm người có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của DN, bao gồm: các cổ đông, nhân viên, khách hàng, người cho vay, nhà cung cấp, Tất cả các bên liên quan có quyền được cung cấp thông tin
Lý thuyết các bên liên quan [12] tìm cách giải thích và dự đoán một tổ chức sẽ phản ứng như thế nào với nhu cầu của các bên liên quan khác nhau
Lý thuyết các bên liên quan không quy định những thông tin nào cần được công bố, hay chỉ ra việc cung cấp các thông tin có thể hữu ích cho các hoạt động của DN Bằng các số liệu kế toán cung cấp cho các bên liên quan, nhà
Trang 31quản lý mong đợi sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của bên thứ ba trong trường hợp các bên thứ ba sử dụng thông tin kế toán Các thông tin cung cấp phải phù hợp và ảnh hưởng đến chính sách công bố thông tin của DN đối với bên thứ ba, do đó các DN có thể có động cơ để quản lý những con số mà kế toán báo cáo Các giả thuyết phổ biến nhất là các phương pháp kế toán mà
DN chọn có thể là để giảm hoặc trì hoãn số thuế phải nộp và để tránh một số quy định hiện hành khác (hay còn gọi là chi phí chính trị)[24]
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG CSKT CỦA DN
CSKT được áp dụng tại mỗi DN được chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành cho phép lựa chọn sao cho phù hợp với tình hình của DN đó
Từ các ảnh hưởng kinh tế, theo một số nghiên cứu thực nghiệm về sự lựa chọn CSKT trên thế giới và Việt Nam thì các nhân tố có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn CSKT có thể tổng hợp như sau:
Trang 32Bảng 1.1.Tổng hợp một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT
Ai cập trong việc lựa chọn phương pháp khấu hao theo đường thẳng và tính giá theo phương pháp FIFO
2011 Quyết định lựa chọn các phương
pháp kế toán khác nhau tại Tanzania
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố: Đòn bẩy tài chính, quy mô DN, lao động, chủ sở hữu, kiểm toán đến lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau
Emma I Okoye;
Cletus O
Akenbor
2010 Chính sách kế toán và ảnh hưởng
kế hoạch thuế tại Nigeria
Nghiên cứu chỉ ra sự lựa chọn các CSKT tại Nigeria chịu sự tác động của kế hoạch thuế
El-Habashy
2004 Quyết định lựa chọn kế toán tại Ai
Cập: Một nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng tồn kho và phương pháp khấu hao TSCĐ Tác giả chứng minh các nhân tố ảnh
Trang 33hưởng gồm: Kế hoạch thưởng, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, cường độ vốn, quy mô DN, thuế, niêm yết trên thị trường chứng khoán
Các tác giả nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến
sự lựa chọn các CSKT tại Hungary Kết quả cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng gồm: Thuế, thông tin cung cấp, ảnh hưởng của bên thứ ba, hình ảnh DN, kinh tế
và tỷ lệ vốn của Chính phủ trên tổng vốn chủ sở hữu Nguyễn Thị 2012 Đánh giá việc vận dụng CSKT tại Tác giả đã nghiên cứu việc vận dụng các CSKT tại
Trang 34Kim Oanh công ty Cổ phần Lương thực và
Dịch vụ Quảng Nam
DN và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới việc vận dụng CSKT tại đây là: Chính sách thuế, thông tin trên thị trường, đặc thù DN (quy mô, cơ cấu vốn,…), lợi nhuận, và khả năng của kế toán
Tác giả đã chỉ ra các áp lực thể chế (cưỡng chế và bắt chước) để phát triển hệ thống kế toán tại Estonia dựa trên các quy định pháp luật về kế toán bắt nguồn từ sự hội nhập kinh tế, kế toán dưới ảnh hưởng của IFRS làm ảnh hưởng tới các CSKT được lựa chọn ở đây
Nguồn: Tác giả thu thập
Trang 35
Căn cứ vào các nghiên cứu trên, có thể khái quát một số nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn các CSKT tại các DN như sau:
1.3.1 Đặc thù của doanh nghiệp
Đặc thù của DN thể hiện qua các yếu tố như: quy mô, hình thức sở hữu, cấu trúc vốn, loại hình DN,… chẳng hạn: DNTN Kinh doanh Xăng Dầu Mười Sum – đây là doanh nghiệp tư nhân thuộc lĩnh vực thương mại chuyên mua bán xăng dầu với tổng vốn chủ sở hữu là 5,09 tỷ và tỷ lệ nợ là 4%,…
Theo V Gopalakrishnan [1] các DN không sử dụng vốn vay có xu hướng vận dụng CSKT làm tăng thu nhập như phương pháp khấu hao theo đường thẳng và phương pháp tính giá hàng xuất kho là phương pháp FIFO
Và ngược lại các DN có sử dụng vốn vay có xu hướng vận dụng CSKT làm giảm thu nhập bằng cách sử dụng phương pháp khấu hao nhanh và phương pháp tính giá hàng xuất kho là phương pháp LIFO
Ngoài ra, mỗi DN có đặc thù khác nhau thì sẽ vận dụng các CSKT khác nhau để điều chỉnh thông tin trên BCTC Nếu DN có HTK chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng CSKT liên quan đến HTK để điều chỉnh thông tin, như: phương pháp tính giá xuất kho của HTK, việc trích lập dự phòng giảm giá HTK Nếu DN sản xuất thì sẽ vận dụng các chính sách liên quan đến việc đánh giá SPDD cũng như các phương pháp liên quan đến HTK Nếu DN có TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ vận dụng CSKT liên quan đến TSCĐ, như: phương pháp trích khấu hao TSCĐ, phân bổ chi phí trả trước (trường hợp không trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ), chi phí phải trả (trường hợp trích trước chi phí sửa chữa TSCĐ) để điều chỉnh thông tin Nếu DN xây dựng hay các DN có chi phí bảo hành sản phẩm lớn thì sẽ vận dụng CSKT liên quan đến chi phí bảo hành (dự phòng phải trả) Nếu DN có phương thức bán hàng trả chậm, trả góp thì sử dụng các chính sách về phân bổ lãi trả chậm, về dự
Trang 36phòng phải thu khó đòi… Thông thường DN sẽ vận dụng kết hợp nhiều CSKT để điều chỉnh thông tin[1]
Theo nghiên cứu của Holthausen và Leftwich [21] cho thấy quy mô của
DN và đòn bẩy có ảnh hưởng lớn trong việc giải thích sự lựa chọn các phương pháp kế toán Điều này cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Hanaa Abd El-Kader El-Habashy [17]
1.3.2 Thuế TNDN
Các nghiên cứu của Wofson (1993), Cloyd (1996) và Bosnyák [4] về các CSKT đều đã xác nhận các tác động về thuế đến kế toán, thuế luôn có ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn các CSKT của DN Theo TS Nguyễn Công Phương [5], ở nước ta hiện tồn tại một mối quan hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế, luật thuế can thiệp mạnh mẽ vào lĩnh vực kế toán để quy định các nguyên tắc đánh giá, nguyên tắc lập và trình bày BCTC của một DN theo một lĩnh vực cụ thể Các nguyên tắc kế toán bị áp đặt để xác định lợi nhuận chịu thuế Từ đó, các phương pháp kế toán được sử dụng để xác định lợi nhuận kế toán gần như là các phương pháp được sử dụng để xác định lợi nhuận chịu thuế của DN Vì thế các nhà quản trị có thể thực hiện hành động quản trị lợi nhuận để tiết kiệm thuế khi có cơ hội
Có thể xem xét những ảnh hưởng của thuế tới việc lựa chọn kế toán của các DN từ những lựa chọn đơn giản, ví dụ: các DN phải đối mặt với (hoặc có thể) là tăng chi phí HTK thường sẽ lựa chọn phương pháp LIFO trong ghi nhận và hạch toán để gia tăng tiết kiệm thuế và quản lý tối đa thuế Tuy nhiên khi có sự hiện diện của nhiều mâu thuẫn khác nhau trong quá trình kinh doanh thì có thể nhà quản lý sẽ không chọn phương pháp LIFO mà lựa chọn phương pháp khác hiệu quả hơn trong ảnh hưởng bởi thuế Kang [24] mô hình hóa các quyết định áp dụng LIFO đã cho thấy rằng thực tế các công ty chuyển sang LIFO có khoản tiết kiệm thuế lớn hơn
Trang 37Dhaliwal và Wang [24] báo cáo bằng chứng cho thấy các DN bị ảnh hưởng điều chỉnh số liệu kế toán bằng cách chuyển chênh lệch vĩnh viễn và
sự khác biệt thời gian vào các kỳ kế toán khác nhau để giảm thiểu tác động của thuế Dhaliwail, et al [24] đã sử dụng một mô hình đa biến để phân tích quyết định sử dụng LIFO và thấy rằng giảm thiểu thuế, quản lý thu nhập và các khoản nợ đã khuyến khích các DN lựa chọn phương pháp LIFO
Cloyd et al [24] chỉ ra rằng DN lựa chọn một phương pháp kế toán phù hợp để lập các BCTC khi các khoản tiết kiệm thuế rõ ràng và lớn hơn chi phí thuế ước tính Tác giả đã kết luận rằng họ xác định được một biến – thuế - các nhà quản lý có thể xem xét trong việc lựa chọn kế toán
Như vậy, có thể nói rằng các DN lựa chọn kế toán để giảm bớt các gánh nặng về thuế đối với họ Đây là điều không ngạc nhiên vì thuế là điều đầu tiên
mà các nhà quản lý nghĩ đến và thực hiện tiết kiệm thuế là điều không bao giờ
họ muốn từ bỏ
1.3.3 Quản lý lợi nhuận
Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ DN theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận và giả thuyết này rất vững chắc Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh của DN phải có hiệu quả Lợi nhuận chính là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Nếu DN phấn đấu cải tiến, nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm hạ thì lợi nhuận sẽ tăng lên một cách trực tiếp Ngược lại, nếu giá thành sản phẩm tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm đi Bởi vậy lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng nhất tác động đến mọi vấn đề của DN, quyết định sự tồn tại và phát triển của DN, đồng thời lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của DN, là chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Trang 38Trong nghiên cứu của mình, DeFond và Park [24] đưa ra bằng chứng rằng khi thu nhập hiện tại là thấp và dự kiến lợi nhuận trong tương lai tốt hơn,
vì bị thúc đẩy bởi những lo ngại và các mục tiêu hoạt động các nhà quản lý có
xu hướng mượn thu nhập từ tương lai để sử dụng trong giai đoạn hiện tại (và ngược lại) Các tác giả lưu ý rằng kết quả của họ phụ thuộc vào tính chính xác của các ước tính của họ về thu nhập dự kiến trong tương lai, các khoản trích trước tùy ý và có thể do mẫu nghiên cứu của họ
Còn Burgstahler và Dichev [24] lại báo cáo rằng các nhà quản lý dường như quản lý thu nhập để tránh bị thua lỗ Họ đưa vào một lý thuyết về chi phí giao dịch chứ không phải ký kết hợp đồng quản lý hiệu quả Họ gợi ý về giao dịch với các bên liên quan thuận lợi hơn làm cho DN có thu nhập cao hơn chứ không phải thu nhập thấp hơn và nhà đầu tư cũng không phải là hoàn toàn hợp lý trong việc đánh giá các nội dung thông tin trong báo cáo thu nhập Theo Ths Nguyễn Thị Phương Hồng, Nguyễn Thị Kim Oanh [2] lợi nhuận ổn định giữa các kỳ giúp DN được đánh giá tốt hơn, do đó các DN sẽ lựa chọn các CSKT phù hợp sao cho có thể giúp họ dịch chuyển sự biến động của lợi nhuận kỳ này sang kỳ sau và ngược lại; nhân tố này cũng được chứng mình qua nghiên cứu thực nghiệm của Steven Young [2]
Nói chung, kế toán được xem là một công cụ của người quản lý để kiểm tra, giám sát các hoạt động của DN sao cho các hoạt động có hiệu quả Tùy thuộc vào mục tiêu của DN mà nhà quản lý có xu hướng lựa chọn các CSKT
để điều chỉnh tăng hoặc giảm lợi nhuận trong kỳ Khi cần cung cấp những thông tin về DN cho bên thứ ba thì nhà quản lý cũng lựa chọn các CSKT sao cho thông tin cung cấp là thông tin có lợi nhất cho DN
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong quá trình hoạt động, tình hình tài chính của DN luôn biến động không ngừng làm phát sinh các nghiệp vụ kinh tế đa dạng, phức tạp; để ghi nhận một cách trung thực các thay đổi đó đòi hỏi các DN phải tuân thủ theo các CSKT cụ thể
Trong chương thứ nhất, luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về CSKT trong DN, các lý thuyết liên quan đến việc lựa chọn các CSKT
và một số nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng các CSKT theo các nghiên cứu trong nước và ngoài nước Những lý luận này xuất phát từ nội dung các chuẩn mực kế toán Việt nam và các nghiên cứu trước đây về việc vận dụng các CSKT trong các DN Đây sẽ là nền tảng lý thuyết cho các chương sau khi tiến hành thiết kế mô hình nghiên cứu, xây dựng giả thuyết nghiên cứu, đo lường các biến của mô hình và tiến hành phân tích các kết quả từ điều tra các
DN trên địa bàn TP Tuy Hòa, Phú Yên
Trang 40CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TP TUY HÒA
2.1.1 Đặc điểm môi trường kinh tế tại TP Tuy Hòa
TP Tuy Hòa là một thành phố biển trực thuộc tỉnh Phú Yên nằm ở vùng Nam Trung Bộ Tuy Hòa có diện tích 107 Km2
, nằm trên trục Quốc Lộ 1A Bắc Nam, có tuyến đường sắt Bắc Nam, Quốc lộ 25, ĐT645 nối liền các tỉnh, thành phố trong khu vực Sân bay Đông Tác đã được nâng cấp thành sân bay Tuy Hòa, có vị trí chiến lược quan trọng, phục vụ các chuyến bay đi TP Hồ Chí Minh và TP Hà Nội Vào năm 2013, sân bay Tuy Hòa đã có nhà ga hàng không và trở thành sân bay dân dụng TP Tuy Hòa có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, với hệ thống vận tải – thông tin, liên lạc thông suốt đến tất cả các vùng lân cận, đường truyền internet tốc độ cao, hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học
Với vị thế là một nơi gần biển và tiếp giáp với đồng bằng, khí hậu thành phố Tuy Hòa có nét chung là nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng vừa
có nét riêng là khí hậu trung bình thấp hơn các nơi Địa hình thành phố tương đối bằng phẳng, một số núi thấp tập trung ở xã Hòa kiến, còn ở vùng châu thổ đồng bằng có núi Nhạn và núi Chóp Chài nằm ngay trung tâm, cùng với sông
Ba tạo cho thành phố có một nét đẹp riêng không phải nơi nào cũng có Trên núi Nhạn có tháp Nhạn - một công trình kiến trúc cổ của người Chăm được xây dựng vào thế kỷ XII Đây là điều kiện tốt để phát triển các ngành dịch vụ phục vụ du lịch ở địa phương
Cùng với những nét độc đáo về núi và sông, Tuy Hòa còn có bờ biển dài gần 10 km, có các bãi biển đẹp là Tuy Hòa và Mỹ Á (Long Thủy), trong đó bãi biển Mỹ Á với các đảo như hòn Chùa, hòn Cù Lao, Mái Nhà rất nổi tiếng