Sau khi dành thành lập đất nước Inđônêsia, nền kinh tế Inđônêsia đó cú sự thay đổi. Để phát triển kinh tế - xó hội của đất nước Inđônêsia có nhiều vấn đề bức thiết cần phải đặt ra, trong đó có vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trỡnh bố trí, sắp xếp các loại đất đai cho các ngành, các lĩnh vực trên địa bàn một cách hợp lý nhất. Nó là một khâu trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xó hội, là một khâu không thể thiếu được trước khi đưa ra các chương trỡnh, kế hoạch phát triển kinh tế ở Inđônêsia. Quy hoạch sử dụng đất nó giải quyết thoả đáng mâu thuẫn giữa các loại đất, xác định cơ cấu hợp lý sử dụng đất. Mặt khác có thể kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt với lợi ớch lõu dài, giỳp cho quỏ trỡnh sử dụng đất đầy đủ, đúng đắn và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Inđônêsia cú ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần phát triển kinh tế xó hội của đất nước họ cũng như từng vùng, từng địa phương và các đơn vị cơ sở. Quy hoạch sử dụng đất là căn cứ không thể thiếu được để quy hoạch phát triển các ngành, các đơn vị kinh tế cơ sở rất cần thiết đối với con đường phát triển của đất nước Inđônêsia cũng như đó là bài học kinh nghiệm quý báu để Việt Nam chúng ta học tập Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên,chúng em đó nghiờn cứu đề tài: “Quy hoạch sử dụng đất Inđônêsia và bài học rút ra cho Việt Nam.”
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau khi dành thành lập đất nước Inđônêsia, nền kinh tế Inđônêsia đã có sựthay đổi Để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Inđônêsia có nhiều vấn đề bứcthiết cần phải đặt ra, trong đó có vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình bố trí, sắp xếp các loại đất đai chocác ngành, các lĩnh vực trên địa bàn một cách hợp lý nhất Nó là một khâu trongquy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, là một khâu không thể thiếu đượctrước khi đưa ra các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế ở Inđônêsia
Quy hoạch sử dụng đất nó giải quyết thoả đáng mâu thuẫn giữa các loạiđất, xác định cơ cấu hợp lý sử dụng đất Mặt khác có thể kết hợp hài hoà lợi íchtrước mắt với lợi ích lâu dài, giúp cho quá trình sử dụng đất đầy đủ, đúng đắn vàmang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Inđônêsia có ý nghĩa hết sức quan trọnggóp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước họ cũng như từng vùng, từng địaphương và các đơn vị cơ sở Quy hoạch sử dụng đất là căn cứ không thể thiếuđược để quy hoạch phát triển các ngành, các đơn vị kinh tế cơ sở rất cần thiết đốivới con đường phát triển của đất nước Inđônêsia cũng như đó là bài học kinhnghiệm quý báu để Việt Nam chúng ta học tập
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên,chúng em đã nghiên cứu
đề tài: “Quy hoạch sử dụng đất Inđônêsia và bài học rút ra cho Việt Nam.”
Đề tài ngoài phần lời nói đầu và kết luận còn nội dung chia làm ba phần như sau:
Phần 1: Tổng quan về đất nước Inđônêsia.
Phần 2: Thực trạng về tình hình quy hoạch sử dụng đất Inđônêsia , thành
công và những khó khăn còn đang tồn tại
Phần 3 : Bài học kinh nghiệm rút ra với Việt Nam
Do trình độ và thời gian có hạn nên trong qua trình thực hiện đề tài khôngthể tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý của thầy cô và cácbạn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 2Phần 1.
Tổng quan về đất nước Inđônêsia : 1.1 Tổng quan về đất nước Inđônêsia :
Cộng hòa Indonesia (tiếng Indonesia: Republik Indonesia; Hán Việt: Nam
Dương), là một quốc gia nằm giữa hai lục địa Đông Nam Á và Châu Đại Dương.
Indonesia gồm 17.508 hòn đảo và với dân số khoảng 237 triệu người, đứng thứ tưthế giới về dân số
Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên trongHiến pháp Indonesia không hề đề cập tới tôn giáo này Indonesia theo thể chếcộnghòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu Indonesia có biên giớitrên đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia, ngoài ra giáp cácnước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Ấn Độ Đảo Andaman và Nicobar.Thủ đô là Jakarta cũng đồng thời là thành phố lớn nhất
Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ
7, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ.Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hìnhchính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên sau Công Nguyên, và các vươngquốc Hindugiáo và Phật giáo đã bắt đầu phát triển Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởngbởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiêncủa họ Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốc Châu
Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hươngliệu Malukutrong Thời đại Khám phá Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân HàLan, Indonesia đã giành được độc lập sau Thế chiến thứ hai Từ đó lịch sửIndonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạntham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thayđổi kinh tế nhanh chóng
Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôngiáo riêng biệt Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớnnhất Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã pháttriển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạngchủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sửthực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó
Trang 3Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa
dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thànhnên quốc gia này Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đãdẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị Dù có dân
số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và làquốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới Nước này rấtgiàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểmcủa Indonesia hiện đại
1.1 Lịch sử đất nước :
Indonesia là một kết hợp của khoảng 250 chủng tộc, phần đông có họ hàng gầngũi với nhau trên phương diện ngữ học và nhân chủng học thuộc nhóm tộc MãLai Nhiều chủng tộc còn giữ được truyền thuyết là tổ tiên họ di cư đến bằngthuyền từ phương bắc Trên đảo Java đã đào được nhiều trống đồng cùng kiểuvới trống đồng Đông Sơn Nhiều sách giáo khoa lịch sử Indonesia dạy bài mở đầuvới nền văn minh trống đồng
Các di tích hoá thạch của người Homo erectus, thường được gọi là "Người Java",
cho thấy quần đảo Indonesia đã có người ở từ hai triệu năm tới 500.000 năm trước.[8] Người Austronesian, là cộng đồng dân cư đa số hiện tại, đã di cư tới Đông Nam
Á từ Đài Loan Họ tới Indonesia từ khoảng năm 2000 trước Công Nguyên, và đẩyngười Melanesian bản xứ về các vùng xa xôi phía đông khi họ mở rộng lãnh thổ.[9] Các điều kiện nông nghiệp lý tưởng, và nền văn minh lúa nước xuất hiện sớm từthế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên,[10] cho phép các làng mạc, thị trấn và các vươngquốc nhỏ dần phát triển từ thế kỷ thứ nhất Vị trí đường biển chiến lược củaIndonesia giúp thương mại nội địa và với nước ngoài phát triển Ví dụ, các conđường thương mại nối với cả các vương quốc Ấn Độ và Trung Quốc đã được thiếtlập từ nhiều thế kỷ trước Công Nguyên.[11] Chính thương mại đã hình thành nênlịch sử Indonesia.[12]
Từ thế kỷ thứ bảy, vương quốc hàng hải Srivijaya hùng mạnh phát triển nhờthương mại và các ảnh hưởng của Hindu giáo cùng Phật giáo được du nhập vàocùng thương mại Từ thế kỷ thứ 8 tới thế kỷ thứ 10, các triều đại nông nghiệp Phậtgiáo Sailendra và Hindu giáo Medangphát triển và suy tàn trong vùng nội địa Java,
để lại các công trình tôn giáo lớn như Borobudurcủa Sailendra và Prambanan củaMedang Vương quốc Hindu Majapahit được thành lập ở phía đông Java hồi cuốithế kỷ 13, và ở thời Gajah Mada, ảnh hưởng của nó đã lan rộng tới hầu hết
Trang 4Indonesia; giai đoạn này thường được coi là một "Thời kỳ Huy hoàng" trong lịch
Bồ Đào Nha, do Francisco Serrão dẫn đầu tìm cách thâu tóm các nguồn tàinguyên nhục đậu khấu, đinh hương, và hạt tiêu tại Maluku Các thương gia HàLan và Anh nhanh chóng theo chân Năm 1602, Hà Lan thành lập Công ty Đông
Ấn Hà Lan (VOC) và trở thành một quyền lực lớn của Châu Âu Sau khi bị phásản, Công ty Đông Ấn Hà Lan chính thức bị giải tán năm 1800, và chính phủ HàLan thành lập Đông Ấn Hà Lan như một thuộc địa được quốc hữu hóa.[17]
Sukarno, vị Tổng thống sáng lập Indonesia
Trong hầu hết thời gian của thời kỳ thuộc địa, Hà Lan chỉ kiểm soát vùng đất nàymột cách lỏng lẻo; chỉ tới đầu thế kỷ 20 Hà Lan mới thực sự kiểm soát toàn bộvùng đất lãnh thổ Indonesia hiện tại Cuộc xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bảnsau đó trong Thế chiến thứ hai đã chấm dứt thời kỳ cai trị của Hà Lan, và khuyếnkhích phong trào độc lập từng bị đàn áp trước đó ở Indonesia Hai ngày sau khiNhật Bản đầu hàng tháng 8 năm 1945, Sukarno, một lãnh đạo ảnh hưởng theo chủnghĩa quốc gia, tuyên bố độc lập và được chỉ định làm tổng thống Người Hà Lan
Trang 5đã tìm cách tái lập quyền cai trị, và cuộc tranh giành ngoại giao và vũ trang đãchấm dứt vào tháng 12 năm 1949, khi đối mặt với sức ép quốc tế, Hà Lan chínhthức công nhận nền độc lập của Indonesia (ngoại trừ lãnh thổ Hà Lan Tây NewGuinea, đã được tích hợp theo Thoả thuận New York năm 1962, và Đạo luật Tự
do Lựa chọn được Liên hiệp quốc uỷ thác)
Sukarno chuyển từ dân chủ sang chủ nghĩa độc đoán, và duy trì cơ sở quyền lựcbằng cách cân bằng các lực lượng đối lập trong quân đội, và Đảng Cộng sảnIndonesia (PKI) Quân đội âm mưu đảo chính ngày 30 tháng 9 năm 1965, dẫntới một phong trào thanh trừng bạo lực chống cộng, trong đó Đảng Cộng sảnIndonesia bị cáo buộc âm mưu đảo chính và cuộc đảo chính bị tiêu diệt Khoảng
500 nghìn tới 1 triệu người đã bị giết hại Lãnh đạo quân đội, Tướng Suharto, côngkhai làm suy yếu vị trí chính trị của Sukarno, và được chính thức chỉ định làmtổng thống vào tháng 3 năm 1968 Chính sách Trật tự Mới của ông được chính phủ
Mỹ ủng hộ,] và khuyến khích đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Indonesia, đây làmột yếu tố chính dẫn tới ba thập kỷ tăng trưởng kinh tế ổn định sau đó Tuy nhiên,
sự độc đoán của chính sách "Trật tự Mới" bị chỉ trích rộng rãi vì tình trạng thamnhũng và đàn áp chính trị đối lập
Năm 1997 và 1998, Indonesia là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc Khủnghoảng Tài chính Châu Á Điều này càng khiến sự bất mãn của dân chúng với Trật
tự Mới gia tăng và dẫn tới các cuộc tuần hành dân chúng Suharto từ chức ngày 21tháng 5 năm 1998 Năm 1999, Đông Timor bỏ phiếu ly khai khỏi Indonesia,sau một cuộc xâm chiếm quân sự dài 25 năm được đánh dấu bởi những lời lên ánquốc tế và những vụ đàn áp thường xuyên với người Đông Timor Từ khi Suharto
từ chức, một quá trình tăng cường dân chủ gồm cả một chương trình trao quyền tựtrị cho các vùng, và cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp năm 2004 Tình trạng bất ổnchính trị và kinh tế, bất ổn xã hội, tham nhũng và chủ nghĩa khủng bố đã giảm sútđáng kể Dù các quan hệ giữa các tôn giáo và các nhóm sắc tộc phần lớn hài hòa,những vấn đề bất đồng và bạo lực tại một số khu vực vẫn thỉnh thoảng xảy ra Mộtcuộc dàn xếp chính trị cho cuộc xung đột vũ trang ly khai ở Aceh đã được thựchiện năm 2005
1.2 Địa lý Inđônêsia :
Trang 6Hình 1.1 Bản đồ Inđônêsia
Nguồn : Google map
Indonesia gồm 17.508 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không có người ở Cáchòn đảo nằm rải rác ở cả hai phía đường xích đạo Năm hòn đảo lớn nhất
là Java, Sumatra,Kalimantan (phần Borneo thuộc,Indonesia…)
New Guinea (cùng chung với Papua New Guinea), và Sulawesi Indonesia cóbiên giới trên bộ với Malaysia trên hòn đảo Borneo vàSebatik, Papua NewGuinea trên đảo New Guinea, và Đông Timor trên đảo Timor Indonesia cũng cóchung biên giới với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ởphía nam bằng một dải nước hẹp Thủ đô, Jakarta, nằm trên đảo Java là thành phốlớn nhất nước, sau đó là Surabaya, Bandung, Medan, và Semarang
Với diện tích 1.919.440 kilômét vuông (741.050 dặm vuông), Indonesia là nướcđứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền Mật độ dân số trung bình là
134 người trên kilômét vuông (347 trên dặm vuông), đứng thứ 79 trên thế giới, dùJava, hòn đảo đông dân nhất thế giới, có mật độ dân số khoảng 940 người trênkilômét vuông (2.435 trên dặm vuông) Nằm ở độ cao 4.884 mét(16.024 ft), Puncak Jaya tại Papua là đỉnh cao nhất Indonesia, và hồ Toba tạiSumatra là hồ lớn nhất, với diện tích 1.145 kilômét vuông (442 dặm vuông) Cáccon sông lớn nhất nước này nằm ở Kalimantan, và gồm cácsông Mahakam và Barito; những con sông này là các đường giao thông quan trọngnối giữa các khu định cư trên đảo
Trang 7Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á,
và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ độngđất Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động,[40] gồm
cả Krakatoa và Tambora, cả hai núi lửa này đều đã có những vụ phun trào gây pháhủy lớn trong thế kỷ 19 Vụ phun trào siêu núi lửa Toba khoảng 70.000 năm trước,
là một trong những vụ phun trào lớn nhất từng xảy ra, và là một thảm họa toàncầu Những thảm họa gần đây liên quan tới hoạt động kiến tạo gồm vụ sóng thầnnăm 2004 đã giết hại tổng cộng gần 230.000 người và khoảng 167.736 người tínhriêng phía bắc Sumatra, và trận động đất Yogyakarta năm 2006 Tuy nhiên, tro núilửa là một yếu tố đóng góp vào sự màu mỡ của đất trong lịch sử từng giúp nuôisống mật độ dân cư dày tại Java và Bali
Nằm dọc theo xích đạo, Indonesia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với haimùa mưa và khô riêng biệt Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấpkhoảng từ 1.780–3.175 milimét (70–125 in), và lên tới 6.100 milimét (240 in) tạicác vùng núi Các vùng đồi núi—đặc biệt ở bờ biển phía tây Sumatra, Tây Java,Kalimantan, Sulawesi, và Papua—có lượng mưa lớn nhất Độ ẩm nói chung cao,trung bình khoảng 80% Nhiệt độ ít thay đổi trong năm; khoảng nhiệt độ ngàytrung bình tại Jakarta là 26–30 °C (79–86 °F)
Rừng nhiệt đới ẩm chiếm gần 2/3 diện tích lãnh thổ Đất canh tác 8% (3% đượctưới), đồng cỏ 10%, rừng và cây bụi 67%, các đất khác 15% Khoáng sảnchính: dầu khí, thiếc, niken, bauxit, đồng, than, vàng, bạc
Trang 8Phân bố dân số Indonesia:
có đến 12.985.075 người
Mật độ dân số bình quân của Indonesia là lúc 124 người / km ².Tỉnh mật độ dân sốcao nhất là các tỉnh của DKI Jakarta , lên tới 14.440 người / km ².Tỉnh của các cấp thấp nhất của mật độ dân số là các tỉnh Tây Papua , đó là bằng 8 người / km ²
Đa số người Indonesia là hậu duệ của những người nói tiếng Austronesia có nguồn gốc
từ Đài Loan Các nhóm chính khác gồm người Melanesia, sống ở phía đông Indonesia
Có khoảng 300 sắc tộc bản địa khác nhau tại Indonesia, và 742 ngôn ngữ cùng thổngữ Nhóm đông nhất là người Java, chiếm 42% dân số, và có ưu thế văn hóa cũng nhưchính trị Người Sundan, người Malay, và Madur là các nhóm lớn nhất ngoài Java Bảnsắc địa phương của các sắc tộc được duy trì bên cạnh một tình cảm quốc gia Indonesiamạnh mẽ Xã hội phần lớn hài hòa, dù các căng thẳng xã hội, tôn giáo và sắc tộc đã gây
ra những vụ bạo lực kinh khủng Người Indonesia gốc Hoa là sắc tộc thiểu số có ảnhhưởng dù chiếm chưa tới 1% dân số Đa số lĩnh vực thương mại và tài sản tư nhân quốcgia đều thuộc sự kiểm soát của người Hoa, điều này góp phần gây ra sự oán giận to lớn,
và thậm chí bạo lực chống lại người Hoa
Ngôn ngữ quốc gia, tiếng Indonesia, được dạy trong các trường học và đại học,
và được sử dụng bởi hầu hết mọi người dân Indonesia Đây là ngôn ngữ đượcdùng trong thương mại, chính trị, truyền thông quốc gia, giáo dục và hàn lâm Vềnguồn gốc nó từng là một ngôn ngữ chung cho hầu hết cả vùng, gồm cả nướcMalaysia hiện nay, và vì thế có quan hệ chặt chẽ với tiếng Malaysia Tiếng
Trang 9Indonesia lần đầu tiên được những người theo chủ nghĩa quốc gia truyền bá vàothập niên 1920, và đã được tuyên bố là ngôn ngữ chính thức khi nước này giànhđộc lập năm 1945 Đa số người dân Indonesia nói ít nhất một trong hàng trăm
ngôn ngữ địa phương (bahasa daerah), thường như tiếng mẹ đẻ Trong số các
ngôn ngữ đó, tiếng Java được sử dụng nhiều nhất bởi nó là ngôn ngữ của nhóm sắctộc lớn nhất Mặt khác, Papua có 500 hay nhiều hơn các ngôn ngữ bảnđịa Papua và Austronesia, trong một vùng chỉ có 2,7 triệu dân Đa số những ngườigià hiện nay vẫn có thể nói tiếng Hà Lan ở một số mức độ thành thạo
Dù tự do tôn giáo đã được quy định trong Hiến pháp Indonesia, chính phủ chính thứccông nhận chỉ sáu tôn giáo: Hồi giáo; Tin Lành; Cơ đốc giáo La Mã; Ấn Độgiáo; Phật giáo; và Nho giáo Dù không phải là một nhà nước Hồi giáo, Indonesia làquốc gia có đa số tín đồ Hồi giáo, với 86,1% người dân tuyên bố là tín đồ đạo này theocuộc điều tra dân số năm 2000 Indonesia cũng có 8,7% dân số là tín đồ Thiên chúagiáo, 3% là tín đồ Hindu, và 1,8% tín đồ Phật giáo hay tôn giáo khác Đa số tín đồ HinduIndonesia là người Bali, và đa số tín đồ Phật giáo tại Indonesia ngày nay là ngườiHoa Dù hiện là tôn giáo thiểu số, Hindu giáo và Phật giáo vẫn có ảnh hưởng trong vănhóa Indonesia Hồi giáo lần đầu được người dân Indonesia chấp nhận ở miền bắcSumatra trong thế kỷ 13, thông qua ảnh hưởng từ các thương nhân, và đã trở thành tôngiáo chiếm ưu thế tại quốc gia này từ thế kỷ 16 Cơ đốc giáo La Mã lần đầu được đưa tớiIndonesia bởi những người thực dân và các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha thời kỳ đầu, vàphái Tin Lành chủ yếu phát triển nhờ những nhà truyền giáo người Hà Lanphái Calvin và Luther trong thời kỳ thực dân tại đây Một tỷ lệ lớn người dân Indonesia
—như người Java abangan, Bali Hindu, và Dayak là các tín đồ Thiên chúa giáo—theomột hình thức hổ lốn chính thống của tôn giáo của họ, tạo nên phong tục và các đức tinđịa phương
1.4Phân chia hành chính của đất nước Inđônêsia :
Về mặt hành chính, Indonesia gồm 33 tỉnh, trong đó năm tỉnh có quy chế đặcbiệt Mỗi tỉnh có cơ quan lập pháp và thống đốc riêng Các tỉnh được chia tiếp
thành các huyện (kabupaten) và các thành phố (kota), chúng lại được chia tiếp thành các quận (kecamatan), và các nhóm làng (hoặc desa hay kelurahan) Sau khi
áp dụng các biện pháp vùng tự trị năm 2001, các huyện và các thành phố đã trởthành các đơn vị hành chính chủ chốt, chịu trách nhiệm cung cấp hầu hết dịch vụnhà nước Cấp hành chính làng là đơn vị có ảnh hưởng lớn nhất tới cuộc sốngthường ngày của người dân, và giải quyết các vấn đề của làng hay khu vực lân cận
thông qua một lurah hay kepala desa (trưởng làng) do dân bầu.
Trang 10Các tỉnh Aceh, Jakarta, Yogyakarta, Papua, và Tây Papua có mức độ tự trị và ưutiên hành pháp cao hơn từ chính quyền trung ương so với các tỉnh khác Ví dụ,chính phủ Aceh, có quyền thiết lập một hệ thống luật pháp độc lập; năm 2003, tỉnh
này đã cho ra đời một hình thức Sharia (Luật Hồi giáo) Yogyakarta được trao vị
thế Vùng Đặc biệt để ghi nhận vai trò nòng cốt của nó trong việc hỗ trợ nhữngngười Cộng hòa Indonesia thời Cách mạng Indonesia Papua, thường được gọibằng Irian Jaya, đã được hưởng một quy chế tự chủ đặc biệt từ năm 2001 Jakarta
là vùng thủ đô đặc biệt của quốc gia
1.5 Kinh tế của Inđônêsia :
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia ước khoảng 408 tỷ đô la (1.038 tỷ
đô la theoPPP) Năm 2007, ước tính GDP bình quân đầu người danh nghĩa là1.812 đô la, và GDP trên đầu người theo sức mua tương đương (PPP) là 4.616 (đô
la quốc tế) Lĩnh vực dịch vụ là ngành lớn nhất của nền kinh tế và chiếm 45,3%GDP (2005) Tiếp theo là công nghiệp(40,7%) và nông nghiệp (14,0%).Tuy nhiên,nông nghiệp sử dụng nhiều lao động hơn các lĩnh vực khác, chiếm 44,3% trongtổng số lực lượng lao động 95 triệu người Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ (36,9%)
và công nghiệp (18,8%) Các ngành công nghiệp chính gồm dầu mỏ vàkhí thiênnhiên, dệt, may, và khai thác mỏ Các sản phẩm nông nghiệp chính gồm dầu
cọ, gạo,chè, cà phê, gia vị, và cao su
Hình 1.2 – Tốc độ tăng trưởng GDP của Inđônêsia
Nguồn : http://www.tradingeconomics.com
Trang 11Năm 2010, GDP của Inđônêsia theo ước tính là khoảng 1.033.000.000.000 ( theohttp://www.theodora.com )
Các thị trường xuất khẩu chính của Indonesia (2005) là Nhật Bản (22,3%), Hoa
Kỳ (13,9%),Trung Quốc (9,1%), và Singapore (8,9%) Indonesia nhập khẩu nhiềuhàng của Nhật Bản (18,0%), Trung Quốc (16,1%), và Singapore (12,8%) Năm
2005, Indonesia có thặng dư thương mại, với kim ngạch xuất khẩu đạt 83,64
tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 62,02 tỷ Nước này có nhiều nguồn tài nguyênthiên nhiên lớn, gồm dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, đồng, và vàng Các mặt hàngnhập khẩu chính của Indonesia gồm máy móc và thiết bị, hoá chất, nhiên liệu vàcác mặt hàng thực phẩm
Trong thập kỷ 1960, nền kinh tế đã suy giảm nghiêm trọng vì sự bất ổn chính trị,một chính phủ trẻ và không có kinh nghiệm, và chủ nghĩa kinh tế quốc gia yếukém, dẫn tới tình trạngnghèo đói nghiêm trọng Sau khi chế độ Sukarno sụp đổ hồigiữa thập niên 1960, chính sách Trật tự Mới đã mang lại một mức độ kỷ lục chochính sách kinh tế nhanh chóng làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ, tái cơ cấu nợnước ngoài, và thu hút đầu tư cũng như viện trợ từ nước ngoài Indonesia là thànhviên duy nhất của OPEC tại Đông Nam Á, và sự bùng nổ giá dầu mỏ thời thậpniên 1970 đã mang lại một nguồn thu xuất khẩu lớn giúp duy trì tốc độ tăng trưởngkinh tế cao Sau những cải cách thêm nữa hồi thập niên 1980, Đầu tư nước ngoài
đổ vào Indonesia, đặc biệt vào những khu vực chế tạo phát triển nhanh và địnhhướng xuất khẩu, và từ năm 1989 tới năm 1997, kinh tế Indonesia phát triển vớitốc độ trung bình trên 7%
Indonesia là nước chịu tác động mạnh nhất từ cuộc Khủng hoảng tài chính Đông
Á năm 1997–1998 Tỷ giá tiền tệ nước này so với đồng đô la Mỹ đã giảm từkhoảng 2.000 Rp tới 18.000 Rp, và nền kinh tế giảm 13,7%.Từ đó đồng rupiah đã
ổn định ở mức trong khoảng 10.000 Rp/dollar, và đã xuất hiện dấu hiệu khôi phụckinh tế quan trọng tuy còn chậm chạp Sự bất ổn chính trị, cải cách kinh tế chậmchạp và tham nhũng ở mọi cấp độ chính phủ và kinh doanh từ năm 1998 đã ảnhhưởng tiêu cực tới sự phục hồi kinh tế Ví dụ, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếpIndonesia đứng hạng 143 trên 180 nước trong bảng Chỉ số nhận thức thamnhũng của họ Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP đã vượt 5% trong cả hai năm
2004 và 2005, và được dự báo sẽ còn tăng thêm Mặc dù vậy, tốc độ tăng này chưa
đủ mạnh đề dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ thất nghiệp,[115] và mức tăng
Trang 12lương, giá nhiên liệu và gạo tăng cao càng làm trầm trọng hơn vấn đề đóinghèo Năm 2006, ước tính 17,8% dân số sống dưới mức mức nghèo khổ, 49,0%dân số sống với chưa tới 2 đô la mỗi ngày, và tỷ lệ thất nghiệp ở mức 9,75%.
Trang 13PHẦN 2 THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH QUY HOẠCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA
INĐÔNÊSIA VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CÒN TỒN TẠI
2.1 Thực trạng về tình hình quy hoạch đất đai của Inđônêsia
2.1.1 Đất nông nghiệp :
Kể từ khi độc lập của Indonesia, chúng tôi đã nhận ra rằng đã có nhiều vấn đề vềcác vấn đề đất đai được thừa kế từ chủ nghĩa thực dân sự.Những vấn đề nổi bật là:
Thứ nhất: sự mất cân đối của cơ quan, quyền sở hữu, sử dụng đất và sử dụng đất,
trong khi ngày càng có nhiều nhu cầu của đất do sự tăng trưởng dân số nhanh
chóng; Thứ hai: các nhị nguyên trong luật pháp: truyền thống luật pháp và luật pháp quốc tế phương Tây / ngày Thứ ba: sự không chắc chắn để bảo vệ đất của
hầu hết cộng đồng Vấn đề thứ hai là kiểm soát sau khi bắt đầu UUPA (đất trồngtrọt chính Pháp lệnh), nhưng không phải với người đầu tiên và thứ ba đã được tiếptục đến nay
Sự tồn tại của các vấn đề nông nghiệp, chủ yếu là do nhu cầu ngày càng tăng củađất đai, như là kết quả của sự gia tăng nhanh chóng của sự tăng trưởng dân số vàcác hoạt động kinh tế trong khi số lượng đất và tiềm năng của nó là rất hạnchế Tình hình này đã mang lại cho đất khả năng cạnh tranh, quyền sở hữu đất đai,đất đai - sử dụng và sử dụng đất chấm dứt xung đột lợi ích nhất định
Sự mất cân bằng cấu trúc của chính quyền đất và quyền sở hữu đất
Làng cộng đồng thường tạo ra thu nhập thông qua các hoạt động nông nghiệptrong đó tiếp cận đất đai và khả năng huy động các thành viên gia đình để làm việctrên đất là rất cần thiết cho cuộc sống gia đình của họ Các hạn chế đất canh tác đãdẫn vào tăng số lượng nông dân nông dân hoặc người nông dân không có đất ở cáclàng Tình trạng có thể tồi tệ hơn vì hầu hết trong số họ không chính thức ủyquyền cho đất là đất riêng của họ, ngay cả khi như vậy, việc bảo vệ các quyền vớiđất không đủ mạnh Điều này cũng cho phép tác động xấu đến quyền truy cập thấpcủa nông dân vốn đặc biệt là tiếp cận tín dụng từ ngân hàng
Năm 1983 tỷ lệ thực hành nông nghiệp của nông dân nông dân (ít hơn 0,5 ha)trong nhóm quyền đất đạt 40,8 phần trăm so với tổng số các thực hành nôngnghiệp Tỷ lệ tăng lên đến 48,5% trong vòng 10 năm (1993) Tỷ lệ tăng là tồi tệhơn với việc giảm số lượng trung bình của các cơ quan đất đai của nông dân, từ0,26 ha đến 0,17 ha Các con số được mô tả trong Bảng-1
Trang 14Sau đó tình trạng trên, kết quả Tổng điều tra Nông nghiệp năm 2003 cho thấy các
vị trí khó khăn hơn của nông dân Indonesia, trong đó nói rằng người nông dânnông dân tăng lên 56,5% Các hộ nông dân tăng từ 20,8 triệu trong 1993-25,4 triệuvào năm 2003 Từ đó tổng số, 54,4% số hộ nằm trong đảo Java và 45,1% là trongđảo Java Các điều tra dân số trước đây cho thấy 56,1% số hộ nông dân sống ởJava và 43,9% trong Java Trong thời gian đó tỷ lệ nông dân nông dân tăng nhanhhơn so với các trong Java Năm 1993 tỷ lệ hộ gia đình nông dân nông dân ở Java
là khoảng 69,8%, trong khi năm 2003 tăng lên đến 74,9% Trong trong đảo Javavào năm 1993 tỷ lệ hộ nông dân nông dân được 30,6%, trong khi là 2003 tăng lên33,9% (mô tả trong hình-1)
Techncal irrigation paddy field
Non-irrigation field Total dimension of field
Hình 2.1 Phân phối đất nông nghiệp tại Indonesia (1993-2003)
Nguồn : Bộ Tài nguyên Inđonêsia (báo cáo năm 1997 )
Trang 15Từ quan điểm phân phối giữa các đảo đó cũng là sự mất cân bằng trong sử dụngđất và sử dụng đất Toàn quốc phân phối sử dụng đất không có vấn đề do hậu quả
ở tất cả Từ quan điểm phân phối đất địa lý, chúng ta có thể thấy sự mất cân đối sửdụng đất giữa Java và Bali và các khu vực khác Việc sử dụng đất trong khu vựcJava Bali là chuyên sâu hơn so với các khu vực khác Điều này gây ra từ sự lây lanphân bố dân cư tương quan với mức độ phì của đất
Các khu vực màu mỡ cho phép tốt hơn đời sống cho dân cư xung quanh dẫn lâncận nơi cư trú để di chuyển trong, điều này dẫn đến sự gia tăng của các cư dân củakhu vực Tự động điều kiện sẽ dẫn đến nhiều người dân tập trung, lây lan phân bốdân cư-un của toàn bộ các khu vực ở Indonesia (Hình-3 và 4)
Từ quan điểm phân phối giữa các đảo đó cũng là sự mất cân bằng trong sử dụngđất và sử dụng đất Toàn quốc phân phối sử dụng đất không có vấn đề do hậu quả
ở tất cả Từ quan điểm phân phối đất địa lý, chúng ta có thể thấy sự mất cân đối sửdụng đất giữa Java và Bali và các khu vực khác Việc sử dụng đất trong khu vựcJava Bali là chuyên sâu hơn so với các khu vực khác Điều này gây ra từ sự lây lanphân bố dân cư tương quan với mức độ phì của đất
Các khu vực màu mỡ cho phép tốt hơn đời sống cho dân cư xung quanh dẫn lâncận nơi cư trú để di chuyển trong, điều này dẫn đến sự gia tăng của các cư dân củakhu vực Tự động điều kiện sẽ dẫn đến nhiều người dân tập trung, lây lan phân bốdân cư-un của toàn bộ các khu vực ở Indonesia
Trang 16Biểu đồ 2.1 – Cơ cấu đất nông nghiệp các đảo của Inđônêsia ( 2005)
Biểu đồ 2.2 – Cơ cấu đất đai các đảo của Inđônêsia
MALUKU
SULAWES
Trang 17Bảng 2.2 – Cơ cấu đất nông nghiệp của Inđônêsia
2.2 Những khó khăn còn tồn tại trong công tác quản lý đất nông nghiệp của Inđônêsia
Xung đột đất đai :
Cuộc xung đột hay tranh chấp ruộng đất trong báo cáo này là một cuộc xung đột của một mảnh đất và bất kỳ thứ đang phát triển và bất kỳ thứ bao gồm trong đó tuyên bố chủ quyền một số bên cho bên kia Trong nhiều trường hợp này bắt đầu với việc cấp giấy phép và quyền sử dụng đất của một số mảnh đất cho các doanh nghiệp lớn, dự án phát triển đề xuất của chính phủ
Nó thường được hiểu là tranh chấp đất đai mà ban đầu đơn giản, kịp thời được các xung đột phức tạp nhất do thực hiện dở dang Trong thời gian có nghĩa là nông nghiệp xung đột xảy ra ở khắp mọi nơi và cần độ phân giải âm thanh trong
và chính trị cách pháp nhân đất trồng trọt xung đột có thể được xác định là vấn
đề tiềm ẩn, có nghĩa là mặc dù một cuộc xung đột nông nghiệp đã được thực hiện và giả định đã được giải quyết, vấn đề tương tự hoặc trường hợp có thể phát sinh bất ngờ trong ngày khác
Để dễ dàng và hiệu quả thực hiện các cuộc xung đột nông nghiệp, trong nông nghiệp l xung đột nói chung được nhóm lại trong 8 phân loại lớn, đó là:
1) Xung đột đất đai gây ra bởi:
o Chưa thực hiện quá trình bồi thường;
o Đất thừa kế của người dân thực hiện trên để trồng;
o Chiều rộng của đất trong lĩnh vực lớn là nó được ghi trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng Xây dựng (HGU);