1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

70 823 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả Trần Thanh Xuân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế hoạch
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 796 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ đô Hà Nội mới mở rộng(2008), với một diện tích lớn diện tích lớn, có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng với nền văn hoá lâu đời. Đặc biệt, sau khi sát nhập với Hà Tây, nơi đây trở thành nơi hội tụ nhiều làng nghề sản xuất thủ công truyền thống nhất cả nước với bề dày phát triển hàng trăm năm đã sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị nghệ thuật, mỹ thuật cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trong những năm vừa qua ngành công nghiệp - TTCN của Thành phố Hà Nội ngày càng đổi mới và đạt được những thành tựu nhất định. Đến năm 2010 Thành phố Hà Nội đã có 1.350 làng có nghề chiếm 58,8% số làng của toàn Thành phố trong đó có 274 làng nghề đã được UBND thành phố công nhận với 244 làng nghề truyền thống. Quá trình hình thành và phát triển của nghề, làng nghề truyền thống gắn liền với quá trình phát triển CN - TTCN ở nông thôn đã góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn trên địa bàn Thành phố, đời sống của người lao động được nâng cao, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động, giảm sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữ vững trật tự an ninh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, hạn chế di dân tự do và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên trong quá trình phát triển nghề và làng nghề vẫn mang tính tự phát, manh mún và gặp phải không ít những khó khăn như: thiếu mặt bằng để sản xuất tập trung, thiếu đội ngũ lao động có tay nghề cao, thiếu vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh thấp, nguồn nguyên liệu không ổn định, chưa tạo nhiều thương hiệu hàng hoá, sức tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, một số sản phẩm truyền thống bị mai một, suy giảm. Cơ sở hạ tầng các làng nghề nhất là đường giao thông, thông tin liên lạc chưa đồng bộ, môi trường làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, chưa có biện pháp khắc phục. Để nghề và làng nghề phát huy thế mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và phát triển bền vững thân thiện với môi trường, tạo ra những sản phẩm có nét văn hoá độc đáo riêng của từng địa phương, sử dụng nguồn lao động tại chỗ, phát triển làng nghề kết hợp với phát triển du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới thì chúng ta cần có những nhận định đúng đắn về hiện trạng phát triển và có kế hoạch, định hướng phát triển rõ ràng cho các làng nghề. Dựa trên nhu cầu thựa tế và tính cấp thiết của vấn đề, em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội” phân tích và nghiên cứu trong bài khoá luận này. Bài làm của em có kết cấu dự kiến gồm 3 chương:

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thủ đô Hà Nội mới mở rộng(2008), với một diện tích lớn diện tích lớn, cóđiều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng với nền văn hoá lâu đời Đặc biệt, sau khi sátnhập với Hà Tây, nơi đây trở thành nơi hội tụ nhiều làng nghề sản xuất thủ côngtruyền thống nhất cả nước với bề dày phát triển hàng trăm năm đã sản xuất ra nhiềusản phẩm có giá trị nghệ thuật, mỹ thuật cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu Trong những năm vừa qua ngành công nghiệp - TTCN của Thành phố Hà Nộingày càng đổi mới và đạt được những thành tựu nhất định Đến năm 2010 Thành phố

Hà Nội đã có 1.350 làng có nghề chiếm 58,8% số làng của toàn Thành phố trong đó

có 274 làng nghề đã được UBND thành phố công nhận với 244 làng nghề truyềnthống Quá trình hình thành và phát triển của nghề, làng nghề truyền thống gắn liềnvới quá trình phát triển CN - TTCN ở nông thôn đã góp phần tích cực vào sự nghiệpcông nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn trên địa bàn Thành phố, đời sống của ngườilao động được nâng cao, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động,giảm sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữ vững trật tự an ninh xã hội, giảm

tỷ lệ hộ nghèo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, hạn chế di dân tự do

và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Tuy nhiên trong quá trình phát triển nghề và làng nghề vẫn mang tính tựphát, manh mún và gặp phải không ít những khó khăn như: thiếu mặt bằng để sảnxuất tập trung, thiếu đội ngũ lao động có tay nghề cao, thiếu vốn để đầu tư đổi mớicông nghệ, thiết bị máy móc nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, khảnăng cạnh tranh thấp, nguồn nguyên liệu không ổn định, chưa tạo nhiều thương hiệuhàng hoá, sức tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, một số sản phẩm truyền thống bị maimột, suy giảm Cơ sở hạ tầng các làng nghề nhất là đường giao thông, thông tin liênlạc chưa đồng bộ, môi trường làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, chưa có biệnpháp khắc phục

Để nghề và làng nghề phát huy thế mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội

và phát triển bền vững thân thiện với môi trường, tạo ra những sản phẩm có nét vănhoá độc đáo riêng của từng địa phương, sử dụng nguồn lao động tại chỗ, phát triểnlàng nghề kết hợp với phát triển du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn

Trang 2

mới thì chúng ta cần có những nhận định đúng đắn về hiện trạng phát triển và có kếhoạch, định hướng phát triển rõ ràng cho các làng nghề

Dựa trên nhu cầu thựa tế và tính cấp thiết của vấn đề, em đã lựa chọn đề tài

“Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội”

phân tích và nghiên cứu trong bài khoá luận này Bài làm của em có kết cấu dự kiếngồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về làng nghề

Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề thành phố Hà Nội

Chương 3:Phương hướng và giải pháp khôi phục, phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hy vọng bài khoá luận này có thể đóng góp một phần nhở cho sự phát triểnchung của thành phố Hà Nội

Do thời gian nghiên cứu và giới hạn về mặt kinh nghiệm, bài nghiên cứu củatôi khó có thể tránh được có những sai sót Kính mong sự đóng góp và nhận xét từcác thầy cô giáo và các cán bộ làm việc trong Sở Kế hoạch - Đầu tư Hà Nội đểnghiên cứu của tôi đầy đủ và có ích hơn

Trang 3

1.1 Làng nghề: Là một hoặc nhiều cụm dân cư thôn ấp, bản làng, buôn, phun

sóc, hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt độngngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

Tiêu chí để được công nhận làng nghề như sau:

- Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghềnông thôn

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm

đề nghị công nhận

- Chấp hành tốt chính sách pháp luật nhà nước

1.2 Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền thống được hình

thành từ lâu đời Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất 1nghề truyền thống theo quy định tại thông tư số 116/2006, TT-BNN Đối với nhữnglàng chưa đạt tối thiểu 30% tổng số hộ và 2 năm sản xuất kinh doanh làng nghề ổnđịnh nhưng có ít nhất 1 nghề truyền thống được công nhận theo quy định của thông

tư 116/2006, TT – BNN thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống

Tiêu chuẩn làng nghề truyền thống ở Hà Nội: (Theo quyết định số 85/2009QĐ-UBND ngày 2/7/2009 của UBND Thành phố Hà Nội)

- Về thời gian: Là làng có nghề được hình thành trên 50 năm tính đến ngàylàng được đề nghị xét danh hiệu làng nghề truyền thống

- Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làng nghề chiếm

tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị của làng

- Về sử dụng lao động: Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt độngngành nghề nông thôn

Trang 4

- Đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn lao động theo các quy định hiệnhành

- Chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của những nước,các quy định của thành phố và địa phương

- Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hóa dân tộc, phải gắn với tên tuổicủa làng

- Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn 4 về môi trường vẫn cóthể được xem xét công nhận danh hiệu khi đã có các đề án, dự án nghiên cứu đánhgiá tác động môi trường và đề ra biện pháp xử lý, khắc phục tình trạng trên

1.3 Làng nghề mới: Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của

nền kinh tế, chủ yếu do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống, có những điềukiện nhất định để hình thành và phát triển

1.4 Nghề truyền thống: Là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra sản phẩm

độc đáo có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy

cơ bị mai một, thất truyền

Tiêu chí:

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm côngnhận

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc

- Nghề gắn với tên tuổi 1 hay nhiều nghệ nhân và tên tuổi làng nghề

1.5 Làng có nghề: Làng được hình thành cùng với sự phát triển của nền kinh

tế chủ yếu do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống, có những điều kiện thuận lợi đểphát triển

- Làng nghề phán ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp, gắn với cơ chế sảnxuất mùa vụ, mang đặc trưng chế độ văn hóa làng xã, dòng họ Các làng nghề xuấthiện trong từng làng, xã ở nông thôn, sau đó các ngành nghề tiểu thủ công nghiệpđược tách dần ra nhưng vẫn không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp Trướctiên, các làng nghề xuất hiện là do nhu cầu đời sống của chính người nông dân địaphương, thứ hai, chúng ta có thể thấy, theo cơ chế sản xuất mùa vụ, người nông dân

Trang 5

thường sẽ chỉ bận rộn vào những ngày mùa vụ, vì thế nên, thời gian rảnh rỗi, họ sẽtrở thành những người thợ thủ công lành nghề.

- Thường sản xuất dưới những hình thức đơn lẻ, quy mô hộ gia đình Cómột số hộ gia đình có quy mô lớn hơn đã chuyển sang hình thức doanh nghiệp vớicác xưởng sản xuất lớn

- Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trongquá trình sản xuất ra một loại sản phẩm

- Sản phẩm kĩ thuật thủ công là chủ yếu, thường không sản xuất hàng loạt,

có tính đơn chiếc nên rất độc đáo và khác biệt Các sản phẩm đều là sự kết hợp giữaphương pháp thủ công tinh xảo và sự sáng tạo nghệ thuật Từ những con rồng chạmtrổ trên mái đình, chùa, hoa văn trên trống đồng, các hoạ tiết gốm sứ đến những nếtchấm phá trên các bức thêu, tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứađựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc

- Trong các loại sản phẩm thường sẽ có một số sản phẩm mang tính nghệthuật cao, có khả năng buôn bán thương mại lớn Điều này giúp cho các làng nghềtạo ra thương hiệu riêng cho mình, thúc đẩy việc giao thương

- Có đội ngũ nghệ nhân và thợ với tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệpriêng, được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau Ngày nay, việc ứngdụng công nghệ, khoa học kĩ thuật vào sản xuất đã giúp giảm bớt được lượng laođộng thủ công, giản đơn Tuy nhiên, trong những công đoạn nhất định, cần đến sựtinh xảo của đôi bàn tay con người thì vai trò của các nghệ nhân, thợ thủ công làkhông thể thiếu

- Sản phẩm có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quantrọng hơn là nó mang lại những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử,văn hóa, xã hội liên quan tới chính họ

Có nhiều cách để phân loại làng nghề như:

- Theo lịch sử hình thành và phát triển các nghề: làng nghề truyền thống, làngnghề mới,…

- Theo quy mô làng nghề: làng nghề quy mô lớn, làng nghề quy mô nhỏ

Trang 6

- Theo ngành nghề sản xuất kinh doanh: làng nghề tiểu thủ công nghiệp, làngnghề cơ khí chế tác, làng nghề dịch vụ,…

- Theo loại hình kinh doanh của nghề: làng nghề truyền thống chuyên doanh,làng nghề kinh doanh tổng hợp, …

- Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh làng nghề: các làng nghề thủcông chuyên nghiệp, các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu, các làng nghề vừa sảnxuất nông nghiệp, vừa sản xuất kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp,…Ngoài ra, các làng nghề cúng có thể được phân loại theo các nghề nhỏ, baogồm 16 loại như sau:

 Ngành nghề sơn mài, khảm trai

 Ngành nghề làm nón lá, mũ

 Ngành nghề mây tre giang đan, tăm hương, làm lồng chim

 Ngành nghề chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp

 Ngành nghề thêu ren

 Ngành nghề dệt may

 Ngành nghề da giầy, khâu bóng

 Ngành nghề làm giấy, vàng mã, in tranh dân gian

 Ngành nghề cơ kim khí, điện, rèn, dao kéo

 Ngành nghề chạm, điêu khắc đá, kim loại, gỗ , xương , sừng

Trang 7

II Vai trò của phát triển các làng nghề:

1 Gia tăng giá trị sản phẩm hàng hóa:

Làng nghề đem lại giá trị sản xuất cao, sản xuất một khối lượng sản phẩm,hàng hóa lớn

Sự phục hồi và phát triển các làng nghề có ý nghĩa rất quan trọng đối với sựphát triển kinh tế xã hội tại các đại phương vùng nông thôn Tuy với quy mô nhỏ bénhưng các làng nghề lại phân bố rộng khắp nên hàng năm luôn sản xuất ra một khốilượng sản phẩm, hàng hóa lớn, đóng góp đáng kể vào GDP địa phương nói riêng vàcủa cả nước nói chung

Ngày nay, những thay đổi trong xu thế hội nhập kinh tế vừa mang lại nhữngthuận lợi vừa tạo ra thách thức đối với các làng nghề trong quá trình phát triển Mởcửa, hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với kháchnước ngoài Theo thống kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta như thủ công

mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạchxuất khẩu ngày càng tăng Nếu như năm 2004, kim ngạch xuất khẩu mới đạt 450triệu USD, thì năm 2008 đã tăng lên hơn 776 triệu USD Theo số liệu thống kê củaTổng cục Hải quan trong tháng 4/2009, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹnghệ đạt được gần 14,07 triệu USD Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công

mỹ nghệ dự kiến phải đạt 1,5 tỷ USD

Ví dụ như trong năm 2007, Việt Nam đã có những thành tích xuất khẩu hàngthủ công mỹ nghệ đáng khen ngợi

Trang 8

Hình 1: Doanh thu xuất khẩu hàng năm của hàng thủ công mỹ nghệ

(nghìn USD)

Hình 2: Doanh thu xuất khẩu năm 2007 theo sản phẩm (nghìn USD)

Hình 3: Doanh thu xuất khẩu hàng thủ công theo quốc gia (%)

(nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Phát triển các Làng nghề Thủ công truyền thống Việt Nam (HRPC)

Trang 9

Riêng ở Hà Nội, năm 2009 giá trị sản xuất của 1.350 làng có nghề đạt7.650,87 tỷ đồng, chiếm 26% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và8,4% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố.

Một số làng nghề tiêu biểu có giá trị sản xuất cao như: làng nghề mộc mayđan Chàng Sơn (huyện Thạch Thất) đạt 282 tỷ đồng/năm, làng nghề dệt nhuộm LaDương, Ỷ La (quận Hà Đông) mỗi làng đạt 416 tỷ đồng/năm, làng nghề gốm sứ BátTràng (huyện Gia Lâm) đạt 350 tỷ đồng/năm, …

Giá trị xuất khẩu năm 2009 của kinh tế ngoài nhà nước đạt 754,9 triệu USDchiếm hơn 11,6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố, mặt hàng xuấtkhẩu chủ yếu là dệt may, mây tre đan, sơn mài, khảm trai, gốm sứ, giầy dép

Các con số trên cho thấy làng nghề là một nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh

tế nông thôn Việt Nam

2 Giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao đời sống nhân dân địa phương

Làng nghề đã góp phần giải quyết một khối lượng lớn lao động nông thônnhàn rỗi

Hiện nay, dân số ở nông thôn Việt nam chiếm sấp xỉ 70%, đa phần làm nôngnghiệp Hầu hết nông dân đều làm việc theo mùa vụ và khi đã kết thúc vụ mùa thi

họ trở thành lao động thất nghiệp tạm thời Nguồn lao động này nếu như khôngđược sử dụng sẽ dẫn tới tình trạng lãng phí, thậm chí rất dễ gây ra tình trạng di dânquá tải đến các thanh phố lớn Đặc biệt là với một số vùng nông thôn mà đất ruộng

bị đô thị hóa hoặc bị chuyển thành đất công nghiệp, người dân không có đất canhtác và vô tình trở thành những người không có việc làm

Khi các làng nghề phát triển sẽ tạo ra công ăn việc làm tại chỗ cho ngườidân, đặc biệt là các thanh niên trẻ tuổi, họ có thể tự kiếm sống ngay tại quê hươngmình, theo đúng như chính sách của Đảng và Nhà nước “ly nông, bất ly hương” Đểlàm việc thủ công tại các làng nghề không cần đồi hỏi nhiều vốn, trình độ văn hoácao mà chỉ cần đến một chút khéo léo và sáng tạo Vì vậy đây là một cơ hội nghềnghiệp cho mọi người nôn gdân Việc này không chỉ giúp cải thiện đời sống ngườidân tại địa phương mà còn giúp giảm gánh nặng cho các đô thị, giảm tệ nạn xã hộicho địa phương mình

Trang 10

3 Bảo tồn văn hóa truyền thống

Mỗi sản phẩm từ làng nghề đều mang một nét văn hóa đặc trưng của địaphương Nó thể hiện khiếu thẩm mĩ, cách nhìn cuộc sống của những người nghệnhân

Giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơ cấucủa làng, lối sống, phong tục tập quán của cộng đồng Các sản phẩm thủ côngtruyền thống hầu hết là những hàng hóa mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩm vănhóa vật thể vừa chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể Những sản phẩm thủcông thể hiện sự ứng xử của con người trước nguyên liệu, trước thiên nhiên Từnhững nguyên liệu thô sơ, qua bàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã trở thànhnhững sản phẩm xinh xắn, duyên dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tàinăng, thể hiện khiếu thẩm mỹ lao động, sự thông minh sự sáng tạo, khéo léo, tinhthần lao động của người thợ – nghệ nhân Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ vănhóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng Làng nghềtruyền thống từ lâu đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóadân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạonên những nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóadân tộc Việt Nam Làng nghề là cả một môi trường kinh tế, văn hoá xã hội Làngnghề là nơi cộng đồng dân cư có lối sống văn hóa: sống yêu lao động; sống cần cù,giản dị, tiết kiệm; sống đùm bọc, giúp nhau cùng rèn luyện tay nghề Làng nghề lànơi không có đất để văn hóa phẩm độc hại, các tệ nạn: ma túy, cờ bạc, rượu chè,đua xe… nẩy nở Cũng chính vì lẽ đó mà nảy sinh nhận thức: làng nghề thủ côngtruyền thống chắc chắn sẽ đóng góp tích cực, thiết thực vào việc xây dựng đời sốngvăn hóa ở cơ sở, bảo tồn văn hóa địa phương

4 Đa dạng hóa kinh tế nông thôn, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế địa phương theo hướng phát triển công nghiệp

Nhà nước ta đã có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theohướng công nghiệp hóa Việc phát triển làng nghề tại các vùng nông thôn sẽ giúpngười nông dân có việc làm, với thu nhập cao hơn, ổn định hơn Phát triển côngnghiệp thay vì nông nghiệp như trước đây

Trong giai đoạn mở cửa, đất nước đang tăng tốc phát triển kinh tế bằng cáchtập trung đầu tư phát triển những ngành nghề công nghiệp hiện đại tại các khu đô

Trang 11

thị đồng thời tiếp tục nỗ lực phấn đấu phát huy mọi nguồn sức mạnh, tận dụng mọilợi thế và nguồn lực để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp – xay dựng cơbản nhằm công nghiệp hoá kinh tế nông thôn.

Việc khôi phục và phát triển các làng nghề cũ, phát triển các làng nghề mới,tạo ra những sản phẩm độc đáo không chỉ giúp giải quyết việc làm, nâng cao đờisống người dân nông thôn, mà còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tậpquán sản xuất từ sản xuất nhỏ, phân tán, độc canh, tự cung tự cấp sang sản xuấtnông nghiệp hàng hoá, đa canh, kết hợp sản xuất nông nghiệp với công nghiệp dịch

vụ, thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường hàng hoá, thị trường vốn, thị trườnglao động trong nông thôn

Như vậy, sự phát triển làng nghề tạo điều kiện cho công nghiệp, dịch vụ pháttriển làm giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, phù hợp với quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

III Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển làng nghề :

1 Ảnh hưởng từ truyền thống, văn hoá:

Văn hóa truyền thống thể hiện qua các di sản vật thể cũng như phi vật thể của

xã hội Đây là yếu tố trước tiên, tác động và chi phối mạnh mẽ đến sự hình thành vàphát triển của các làng nghề

Thực tế cho thấy, sự tồn tại và phát triển của bất kì làng nghề nào cũng là do

có sự kế tục của con cháu, nghề được các bậc tiền bối truyền lại cho lớp hậu sinh.Điều này thể hiện thông qua các “quy lệ” của làng xã Nó như một tài liệu về làngnghề được truyền từ đời này sang đời khác, thể hiện luật lệ, bí quyết để giữ gìnnghề, giữ gìn văn hoá của dòng họ, của cộng đồng, làng xã Việc giữ “bí quyếtnghề” không chỉ đơn thuần là giữ nghề mà còn ảnh hưởng lớn đến các quan hệ khácnhư quan hệ hôn nhân, gia đình, Những người học nghề phải tôn trọng và đảmbảo những quy tắc nhất định Những quy lệ này cứ lớn dần theo quy mô làng xã, rồitrả thành quy ước, hương ước, lệ làng Điều này đã tạo ra một nét văn hoá đặc thùriêng của làng nghề

Thông qua các quy lệ làng nghề và những nét văn hoá đặc sắc riêng có củatừng vùng miền, làng nghề được hình thành và phát triển và tồn tại từ thế hệ nàyqua thế hệ khác Vì thế, trong nền kinh tế thị trường với những công nghệ hiện đạiđược áp dụng thì vấn đề làm sao đẻ đưa khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất mà

Trang 12

vẫn giữ được những yếu tố truyền thống, nét tinh hoa văn hoá cha ông để lại là mộtbài toán cần có lời giải đáp.

2 Chính sách phát triển làng nghề, các quy hoạch cơ sở hạ tầng

2.1 Chính sách phát triển làng nghề

- Chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến bảo tồn và phát triểnlàng nghề Sự thay đổi của chính sách có thể làm mất đi làng nghề hoặc có khả năngkhôi phục hoặc tạo ra những làng nghề mới Chẳng hạn như nghề làm gạch ở CẩmHà- Hội An, vì sự ảnh hưởng của nó đến môi trường và chủ trương phát triển làngnghề văn hoá du lịch nên nghề đó đã không tồn tại

- Trước năm 1996, với quan điểm duy ý chí muốn thiết lập nhanh chóng quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam chỉ chấp nhận hai thành phầnkinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nên các làng nghề vốn là các hộ sản xuất cáthể không có cơ may tồn tại, phải chuyển thành các hợp tác xã, do đó làng nghềkhông thể phát triển được Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế tự do, tưnhân, các hộ gia đình được thừa nhận là những thành phần kinh tế độc lập thì cácnghề đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển Gần đây, một trong những nộidung định hướng phát triển kinh tế nông thôn do đại hội Đảng đề ra là: " mởmang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuấthàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùngnguyên liệu " đã tạo tiền đề cho các làng nghề phát triển nhanh hơn, mạnh hơn

- Đặc biệt, trong năm 2005 bộ NN-PTNT đã xây dựng đề án " mỗi làng mộtnghề" theo đó hàng năm mỗi tỉnh sẽ chọn 2 đến 4 làng điểm để xây dựng dự án pháttriển, trong đó có 1 đến 2 dự án được chọn làm trọng điểm cấp quốc gia, được hỗtrợ kinh phí từ ngân sách trung ương Dự án này đã góp phần phát triển làng nghềmạnh mẽ hơn

- Bên cạnh đó, chính sách mở cửa hội nhập kinh tế của nước ta với các nướctrong khu vực và trên thế giới cũng làm cho một số sản phẩm làng nghề có điềukiện phát triển mạnh mẽ, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ, thêu ren nhưng đồng thờicũng tạo điều kiện cho hàng hoá các nước tràn vào cạnh tranh với các sản phẩm củanước ta

- Thời gian gần đây , Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để

hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục, trong đó có các doanh nghiệp tại làng nghề Đó

Trang 13

là việc hỗ trợ lãi suất 4% cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất,kinh doanh Tiếp đó, các tổ chức, cá nhân được vay vốn trung hạn, dài hạn của ngânhàng để đầu tư đổi mới sản xuất kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng trong thờigian tối đa là 24 tháng, Chính phủ đã đưa ra rất nhiều chính sách hỗ trợ, nhưngvấn đề ở đây là làm sao để những chính sách đó được thực thi đúng thời gian, đúngmục tiêu, đúng đối tượng Có nhiều chính sach, nhưng trên thực tế, số doanh nghiệp

cá, nhân kinh doanh sản xuất tại các làng nghề tiêế cận được với lợi ích từ các chínhsách còn rất hạn chế

2.2 Cơ sở hạ tầng:

Các cơ sở hạ tầng cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến việc giao thương, phát triển cáclàng nghề Từ xa xưa, các làng nghề truyền thống thường được hình thành ở nhữngvùng có giao thông thuận lợi Ngày nay, khi giao lưu kinh tế càng được phát triển,thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề không còn bó hẹp tại địa phương mà đãvươn ra các khu vực lân cận, thậm chí còn xuất khẩu ra nước ngoài Bên cạnh đónguồn nguyên liệu tại chỗ đáp ứng cho nhu cầu của làng nghề ngày càng bị thu hẹp,bắt buộc phải vận chuyển từ những nơi khác về, chính vì vậy hệ thống giao thôngcàng thuận lợi thì làng nghề càng phát triển

Ngoài hệ thống giao thông thì mạng lưới trường học, y tế, bưa chính viễnthông cũng quan trọng không kém Nó tạo ra những yếu tố để ổn định về mặt đờisống, nâng cao dân trí và sức khảo cho người dân, người lao động Từ đó tác độngmột cách tích cự đến năng suất và hiệu quả lao động của người thợ thủ công

Điện năng cũng là một yếu tố không thể thiếu trong việc đưa công nghệ, khoahọc kỹ thuật tiên tiến đến với làng nghề, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài

Do tầm ảnh hưởng lâu dài của mình mà việc quy hoạch , xây dựng cơ sở hạtầng không chỉ ảnh hưởng mạnh đến việc phát triển của các làng nghề nói riêng, mà

là của toàn bộ ngành kinh tế nói chung

3 Ảnh hưởng từ các yếu tố đầu vào

3.1 Nhân lực:

Nhân lực là yếu tố quan trọng bậc nhất để phát triển làng nghề Nguồn nhânlực ở đây có thể thấy rõ bao gồm hai lực lượng : thứ nhất là những nghệ nhân,những thợ thủ công, những người trực tiếp làm và sáng tạo ra những sản phẩm, thứhai là những người quản lí, những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh.Nếu thiếu đi

Trang 14

những con người tâm huyết với nghề, những nghệ nhân với đôi bàn tay tài hoa thì

có lẽ các làng nghề khó mà tồn tại được Họ có vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời chính là những người sáng tạo ra những sảnphẩm độc đáo mang đậm yếu tố truyền thống Hiện nay ở các làng nghề vẫn còn córất nhiều nghệ nhân tâm huyết với nghề và muốn giữ gìn phát triển nghề Bên cạnh

đó là một lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu lao động trẻ, có khả năng học hỏi vàthích ứng nhanh với nền kinh tế thị trường là một nhân tố quan trọng trong việc pháttriển và mở rộng làng nghề

Tuy nhiên, ngày nay, ngoài những nghệ nhân tâm huyết, giàu kinhnghiệm,làng nghề cần phải có những người quản lí có hiểu biết về kinh tế thịtrường, xông xáo, sáng tạo, nhạy bén Như vậy thì mới có thể giúp làng nghề khôngchỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ, vươn ra thị trường quốc tế Đây chính cóthểlà một điểm yếu, môt sự thiếu sót cho một làng nghề phát triển hiện nay Nguồnnhân lực tuy dồi dào, nhưng trình độ văn hóa và chuyên môn nói chung lại chưacao, đặc biệt là nguồn nhân lực quản lí còn rất yếu kém Đây là một lực cản lớn trêncon đường phát triển mà chúng ta cần phải gỡ bỏ

Bên cạnh công nghệ sản xuất, bí quyết sản xuất là một yếu tố rất quan trọngtạo nên danh tiếng và phát triển cho một làng nghề Thông thường, trông các làngnghề, bí quyết sản xuất chỉ được phổ biến, truyền dạy trong một hoặc vài dòng họnhất định Bí quyết chính là điểm quyết định làm nên sự khác biệt, tinh tế ,thươnghiệu riêng cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Trang 15

3.3 3.3 Nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và giá thành sảnphẩm Nếu nguyên vật liệu đầu vào tốt, chất lượng cao thì sản phẩm đầu ra cũngnhờ đó mà có chất lượng tốt hơn, tạo uy tín mạnh hơn trên thị trường

Trước đây các làng nghề thường được hình thành ngay trên hoặc gần vớinguồn nguyên liệu Nhưng trong quá trình phát triển, mở rộng, việc khai thác nguồnnguyên liệu tại chỗ đã dần trở nên cạn kiệt, như đá, đất sét, khi đã hết thì phải lấtnguyên liệu từ các địa phương khác

Một ngành nghề muốn phát triển tốt thì trước tiên phải có một nguồn nguyênliệu ổn định, giá thành và chất lượng hợp lí, các ngành nghề thủ công cũng khôngphải là ngoại lệ Hơn nữa, những ngành nghề thủ công lại mang những tính đặc thùriêng, phải lấy nguyên liệu từ thiên nhiên là chính, vì thế vai trò của nguồn nguyênliệu lại càng trở nên quan trọng hơn Vì thế, để hoạt đông kinh doanh lâu dài thì cáclàng nghề phải chú trọng vào khâu quy hoạch và tìm nguồn nguyên liệu cho mình

4 Ảnh hưởng từ các yếu tố đầu ra đến sản xuất và phát triển

Thị trường tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyết định đến sự tồn tại của bất kìmặt hàng nào Một mặt hàng ra đời nếu không được thị trường chấp nhận thì sẽ bịđào thải ngay lập tức Thị trường là rất lớn, nhưng cũng rất khắc nghiệt với bất kìmột sản phẩm nào, kể cả những sản phẩm mang tính truyền thống

Sự tồn tại và phát triển của các sản phẩm từ các làng nghề tuyền thống cũngkhông nằm ngoài quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh của thị trường Hơn nữa,

do mang đặc tính văn hóa, truyền thống cao, nên những sản phẩm này nếu khôngchú trọng vào chất lượng và công dụng thì sẽ khó tồn tại Những làng nghề mà sảnphẩm của nó có đủ sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường và luôn đổi mới phù hợpvới thị hiếu của người tiêu dùng thì mới có khả năng thích ứng với sự thay đổi củathị trường Điều này được thể hiện rõ ở sự phát triển mạnh mẽ của một số làng nghềtruyền thống như gốm sứ, đồ gỗ, mỹ nghệ, … Ví dụ, cũng là những làng nghềchuyên làm gốm sứ, nhưng gốm sứ Bát Tràng đang có hướng phát triển vô cùngmạnh mẽ, vươn ra thị trường thế giới Trong khi đó, một số làng gốm như làng gốm

Gò Nồi (Quế Sơn, Quảng Nam), làng gốm Hương Canh (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc)

… thì lại đang đứng trước nguy cơ mai một và thất truyền Đó là do Bát Trang đãbiết quảng bá thương hiệu của mình, phát triển các dịch vụ đi kèm, và quan trọng

Trang 16

hơn cả là đã biết dựa trên nhu cầu thị trường để phát triển, sản xuất những sản phẩmkết hợp giữa văn hóa truyền thống và nhu cầu hiện đại.

Hiện nay, thị trường của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đang làrất lớn, do nhu cầu của các nước mà người dân có đời sống cao là hướng về các yếu

tố văn hóa, truyền thống đặc sắc và riêng có Tuy nhiên, những thị trường này cũng

có những đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng Vì thế, ngoài việc tiếp tục giới thiệuquảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường, các làng nghề cũng phải liên tục đổi mới,nâng cao chất lượng sản phẩm để tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường

6 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số địa phương trong nước và một số nước lân cận:

6.1 Các nước lân cận:

Nhật Bản và Thái Lan đều xây dựng chương trình hành động “mỗi làng 1 sảnphẩm” để bảo tồn và phát triển ngành nghề nông thôn và chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợnên một số sản phẩm như nấm Sitake, nước cam ép, hàng tre đan lát, gỗ gia dụng đã khôiphục và phát triển Đồng thời, tại Nhật Bản, để hỗ trợ các làng nghề, chính phủ còn banhành chính sách cho các hộ tại làng nghề vay vốn không cần thế chấp

Trung Quốc đã xây dựng các xí nghiệp Hương Trấn và Nhà nước đã hỗ trợ

xí nghiệp về chính sách thuế, cung cấp tín dụng và áp dụng kĩ thuật tiên tiến Năm

2007, XNHT đã đóng góp cho nền kinh tế Trung Quốc 6.962 tỷ NDT, chiếm 1/3tăng trưởng GDP, tăng 332 lần so với giá trị tạo ra trong 30 năm cải cách mở cửa

Thái Lan : Chính phủ đã hỗ trợ cho mỗi làng 1 triệu Baht ( tương đương 400triệu VNĐ) để làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao Mờicác chuyên gia tư vấn về để làm việc, hỗ trợ quá trình phát triển TTCN

Trang 17

Indonesia: Chính phủ đã tổ chức ra Hội đồng thủ công nghiệp quốc gia và hỗtrợ cho mỗi làng 20 triệu Rupi để phát triển sản xuất nông nghiệp và nghề thủ công.

Ấn Độ : Nhà nước hỗ trợ về tài chính thông qua chiến lược phát triển nôngthông; thành lập các trun tâm đào tạo nghề và xây dựng cơ sở hạ tầng

6.2 Bài học kinh nghiệm cho phát triển làng nghề Việt Nam:

Như vậy, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm cho phát triển làng nghề ở HàNội như sau:

Muốn phục hồi và phát triển ngành TTCN thực sự có hiệu quả trước tiên phải có

sự hỗ trợ từ phía nhà nước Đó là sự hỗ trợ bằng việc ban hành những cơ chế, chính sáchtạo môi trường pháp lí thuận lợi, đồng thời hỗ trợ về tài chính, khả năng tiếp cận nguồnvay,… Tạo nền tảng và động lực cho phát triển các ngành TTCN

Việc phát triển các loại hàng hóa phải xuất phát trên nhu cầu thị trường, phảiđáp ứng được những yêu cầu của thì trường Cải tiến mẫu mã bằng việc mời cácchuyên gia của những nước nhập khẩu chính để tư vấn (như Thái Lan đã làm)

Tập trung chú trọng sản xuất và phát triển những mặt hàng chủ lực, sản phẩmTTCN tiêu biểu, có giá trị cao, có thể xuất khẩu Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợthỏa đáng cho các sản phẩm này nâng cao chất lượng, có thương hiệu, đặc biệt làchính sách hỗ trợ về vốn (như Thái Lan đã làm)

Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề chongười lao dộng của làng nghề thông qua các trung tâm đào tạo, các viện nghiêncứu, Đồng thời xây dựng và phát triển các trung tâm đào tạo nghề bậc cao về đàotạo nghề mới

Phải luôn quan tâm, đầu tư, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo điều kiệncho sản xuất phát triển

Tập trung hỗ trợ một số doanh nghiệp làng nghề trở thành các doanh nghiệp

đủ mạnh, thực hiện vai trò mở rộng thị trường, là đầu mối thu gom sản phẩm xuấtkhẩu.( Thái Lan năm 2001 doanh thu của nghề chế tác vàng bạc, đá quý đạt 3 tỷUSD, Ấn Độ đạt 5 tỷ USD)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 18

I Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên

1 Đ ặc đ iểm về vị trí địa lí

Thành phố Hà Nội thuộc trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Vị trí nằm ở 24độ 34’đến 21độ 23’ Vĩ độ Bắc; 105 độ 17’ đến 106 độ 02’ Kinh độ Đông Phía Bắc giápThái Nguyên, Vĩnh Phúc, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên,phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ và Hòa Bình

Hà Nội có 11 quận, thị xã và 18 huyện Có 555 phường, xã và 22 thị trấn,trong đó có 401 xã và 154 phường, với 2296 làng ở ngoại thành Tổng diện tích tựnhiên 3.348,52km2

2 Đ ặc đ iểm các nguồn lực

2.1 Tài nguyên nước:

Tài nguyên nước khá phong phú với nhiều đoạn sông chảy qua như sôngHồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích, … Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài163km, sông Đà dài 32km, sông Đáy 144km, sông Tích 70km, sông Bùi 32km,sông Nhuệ 49km Các sông Sét, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ nhận nướcthải trực tiếp của thành phố Hệ thống hồ đầm của thành phố vơi scanhr quan môitrường sinh thái đẹp như hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Bảy Mẫu, hồThiền Quang, … và hệ thống hồ đập lớn như suối Hai, Đồng Mô Ngải Sơn, TuyLai,…Nhìn chung tài nguyên nước ở Hà Nội có trữ lượng lớn và tương đối tốt

Hệ thông sông ngòi chảy qua Hà Nội tạo thành một mạng lước giao thôngđường thủy khá thuận lợi cho phát triển làng nghề, nổi bật là các làng nghề huyệnGia Lâm (Bát Tràng), huyện Đông Anh (Liên Hà, Vân Hà) và các huyện ThườngTín, Phú Xuyên, Thanh Trì, Phúc Thọ, Đan Phượng

2.2 Tài nguyên đất:

Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 156.646,2ha chiếm 46,8% tổng diệntích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp chiếm 131.300,5 ha chiếm 39,2%, đất chưa sửdụng chiếm 10.831ha chiếm 3,2% Như vậy quỹ đất đã đảm bảo đáp ứng cho nhucầu phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói chung và các khu, cụm côngnghiệp nói riêng Theo dự kiến đến năm 2020 diện tích đất cho 173 cụm côngnghiệp làng nghề của thành phố là 1.492ha (trong đó đất chưa sử dụng chiếm trên10.000ha)

Trang 19

2.3 Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng:

Hà Nội có một số tài nguyên khoáng sản chính như : đá xây dựng ở Sóc Sơn,

đá vôi ở Mỹ Đức, đá granit ở Chương Mỹ, đất sét để sản xuất gạch ngói phân bổ ởkhắp thành phố

Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 7,2% đất tự nhiên, tập trung ở các huyện SócSơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ Diện tích rừng có22.867ha Hàng năm trồng rừng tập trung đạt 200-300ha, trồng cây phân tán từ600.000 đến 800.000 cây, khai thác gỗ tròn 6.441 m3 và gần 3 triệu cây tre luồng,

125 tấn song mây Giá trị sản xuất lâm nghiệp 32.314,5 triệu đồng

Tóm lại, Hà Nội là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, là đầu mốigiao thông quan trọng Có vị trí địa lí tự nhiên đa dạng, phong phú, nguồn nhân lựcdồi dào, có trình độ văn hóa, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuấthàng hóa Có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, có nhiều diện tích mặt nước, sông ngòi

là cảnh quan thiên nhiên sinh thái để phát triển du lịch và cung cấp nước cho sảnxuất cũng như sinh hoạt Hà Nội có tiềm năng về đất để phát triển cụm công nghiệplàng nghề, tiềm năng về tài nguyên rừng Cơ sở hạ tầng(hệ thống điện, cấp thoátnước, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng,…) đáp ứng về cơ bản nhu cầu sảnxuất và sinh hoạt của nhân dân Các nguồn lực trên rất thuận lợi để phát triển kinh

tế xã hội nói chung và làng nghề nói riêng

II Đặc điểm kinh tế - xã hội Hà Nội

1 Đặc điểm về dân số, lao động và cơ cấu lao động

- Năm 2009, dân số và lực lượng lao động: theo kết quả điều tra dân số Hà Nội là6,45 triệu người, tăng bình quân 0,86% chiếm 7,5% dân số cả nước Trong đó namgiới chiếm 3.175.300 người, nữ giới chiếm 3.272.700 người Dân số sống ở thànhthị 2.632.100 người (chiếm 40,8%), nông thôn là 3.618.800 người(chiếm 59,2%).Mật độ dân số là 1.926 người /km2 Dân cư ở nội thành tập trung cao như quậnHoàn Kiếm, Đống Đa trên 33.000 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,24% Có70% dân số đang ở độ tuổi lao động Gần 2/3 số xã của thành phố có làng nghề tiểuthủ công nghiệp Trong các làng có nghề số lao động tham gia sản xuất công nghiệp– tiểu thủ công nghiệp là 625.854 người chiếm 42% tổng số lao động sản xuất côngnghiệp – TTCN của thành phố Dân số sống ở thành thị chiếm 40,8%, ở nông thônchiếm 59,2% Giai đoạn 2006-2010 trung bình mỗi năm có trên 120.000 người

Trang 20

được giải quyết việc làm Cơ cấu lao động có sự thay đổi, tỷ trọng thu hút lao độngvào các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng, lao động trong ngànhnông, lâm, thuỷ sản giảm.

Năm 2006, tỷ trọng lao động trong công nghiệp-xây dựng dịch vụ chiếm88,5%; nông lâm thủy sản là 11,5% Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm từ 6,06%năm 2006 xuống 5% năm 2010

Theo số liệu điều tra : Cơ cấu số hộ và số lao động trong các làng nghề đã có

sự thay đổi Số hộ thuần nông có xu hướng giảm còn các hộ sản xuất công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng lên

Bảng 4: Cơ cấu số hộ gia đình trong làng nghề

Năm Số Các hộ thuần nông Số Các hộ sản xuất

(Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội)

Số lao động thuần nông giảm dần Năm 2006 lao động thuần nông chiếm52,6%, đến năm 2010 còn 45,89% Số lao động sản xuất công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ năm 2006 chiếm 47,4%, đến năm 2010 là 54,12%

Bên cạnh đó, hiện tài Hà Nội cũng là địa phương có tốc độ đô thị hóa khánhanh Năm 2005 đất đô thị là 39,6%, đến năm 2010 đã đạt 40,8% Theo kế hoạch sửdụng đất thời kỳ 2001 - 2010 được HĐND Thành phố khoá XII, kỳ họp thứ 4 thôngqua việc chuyển đổi 22.000 ha đất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và đô thị,trong đó có 11.900 ha được quy hoạch các khu, cụm công nghiệp và cụm công nghiệplàng nghề Theo đó cơ cấu lao động của Thành phố sẽ thay đổi theo hướng: lao độngnông nghiệp giảm, lao động công nghiệp - dịch vụ tăng

- Dạy nghề và đào tạo nghề:

Hiện nay thành phố Hà Nội có 77 trường đại học và cao đẳng với số sinh viên là643.500 người; 45 trường trung học dạy nghề chuyên nghiệp với số học sinh là56.000 người; 279 trường công nhân kĩ thuật với số học sinh là 117.000 người Lựclượng lao động trên địa bàn thành phố là khá dồi dào, có kĩ năng và trình độ văn hóakhá Tại các làng nghề, trước kia đào tạo nghề chủ yếu thông qua truyền nghề, vì

Trang 21

vậy có điều kiện để bảo tồn nghề truyền thống Đến nay việc đào tạo nghề với nhiềuhình thức phong phú và đa dạng hơn trước kia Thành phố đã đầu tư, mở rộng nângquy mô một số trường đào tạo nghề như: trường Cao đẳng công nghiệp Việt Hưng,trường Trung cấp nghề tổng hợp tại Hà Đông và Xuân Mai, trường Trung cấp dạynghề số 1 Phú Xuyên,… và các trung tâm dạy nghề tại các quận, huyện khác Cáctrường này đã đào tạo lao động phục vụ cho nhu cầu tuyển dụng tại các doanhnghiệp thuộc khu, cụm công nghiệp đại phương Ngoài ra thành phố còn huy độngcác tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo theo phương pháp truyền nghề với hình thứcdaỵ nghề, đào tạo nghề phong phú đã đem lại cho người lao động việc làm phù hợp.Tuy nhiên, việc dạy nghề và đào tạo nghề nói chung vẫn chưa đáp ứng được nhucầu sử dụng lao động trên địa bàn thành phố.

2 Tình hình tăng trưởng và phát triển các ngành kinh tế của thành phố:

2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế các ngành

Hà Nội là một trong 11 tỉnh, thành phố của đồng bằng sông Hồng, có vị tríquan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội chung của cả vùng và cả nước

Tốc độ tăng trưởng kinh tế và giá trị sản xuất các ngành có xu hướng tăng Tuynhiên, từ cuối năm 2008, do khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế thế giớigiảm sút nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta nóichung và thành phố Hà Nội nói riêng Nhịp độ tăng trưởng GDP của thành phố từ12,2 – 12,5%/năm xuống còn 10,6(2008), 6,67% năm 2009 Đến năm 2010 là 11%.Theo đó nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị sản xuất nôngnghiệp cũng chậm lại Năm 2005 nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp là 14,72%đến năm 2008 là 13,49%, năm 2009 là 9,4%, năm 2010 là 14,4% Nhịp độ tăng giá trị

Trang 22

sản xuất nông nghiệp năm 2005: 3,92%, năm 2008: 9,84%, năm 2009: 0,39%, năm2010: 8,78%

Tổng vốn đầu tư phát triển tăng hàng năm Năm 2005 đạt 42.384 tỷ đồng, đếnnăm 2010 là 173.269 tỷ đồng tăng 4,1 lần, trong đó vốn nhà nước là 47.102 tỷ đồngchiếm 27,18%, vốn ngoài nhà nước là 109.154 tỷ đồng chiếm 63% và vốn đầu tưtrực tiếp từ nước ngoài là 17.013 tỷ đồng chiếm 9,82%

Tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng dần qua các năm Năm 2005 đạt 56.283 tỷđồng, năm 2010 đạt 206.260 tỷ đồng tăng 3,67 lần

Tổng kim ngạch xuất khẩu của Thành phố tăng nhanh, năm 2005 đạt 3.003triệu USD, năm 2008 đạt 6936 triệu USD tăng 2,3 lần Năm 2009 kim ngạch xuấtkhẩu đạt 6.362,2 triệu USD giảm 11% so với năm 2008 Năm 2010 kim ngạch xuấtkhẩu đạt 7.990,1 triệu USD

Tổng lượt khách du lịch năm 2005 là 8.080.000 lượt khách, năm 2008 là8.750.000 người Năm 2009 là 7.747.000 lượt người Đến năm 2010 là 8.634.000lượt người

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hà Nội tăng qua các năm.Năm 2005 đạt 32.390 tỷ đồng, năm 2009 đạt 73.500 tỷ đồng tăng 2,26 lần Năm

2010 ước đạt 100.00 tỷ đồng

Nhìn chung kinh tế của thành phố ngày càng phát triển GDP bình quân đầungười năm 2005 đạt 15,6 triệu/người đã là 37,5 triệu/người năm 2010

Bảng 5: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu Thành phố Hà Nội đến năm 2010

2000

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Trang 23

(Nguồn: Cục thống kê Hà Nội)

2.2 Đặc điểm về cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế thành phố có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọngGDP về dịch vụ công nghiệp, xây dựng và giảm dần về nông , lâm , thủy sản Cơcấu kinh tế của thành phố năm 2005 : dịch vụ - công nghiệp, xây dựng – nông, lâmthủy sản là 51,6% - 39,3% - 9,1%; Năm 2010 chuyển dịch tương ứng là 50,7% -43,1% - 6,2% Điều này cho thấy sự tác động của chính sách công nghiệp hoámhiện đại hoá của nhà nước ta

III Thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội:

Trang 24

1 Phân bố, quy mô, số lượng làng nghề :

- Làng nghề được phân bố chủ yếu ở các huyện ngoại thành Hà Nội, tập trung chủyếu ở các huyện Chương Mỹ (174 làng), Thường Tín (125 làng), Phú Xuyên (124làng), Ứng Hòa (113 làng), Ba Vì (101 làng), Sóc Sơn (54 làng), Đông Anh (32làng), Gia Lâm (22 làng),…Trong đó mấy tre giang đan là 365 làng chiếm gần27,04% làng có nghề, tập trung ở huyện Chương Mỹ 141 làng, Ứng Hòa 55 làng,Phú Xuyên 25 làng, Thạch Thất 19 làng, ba Vì 17 làng,… Ít nhất là ngành nghề dátvàng, bạc, đá quý 4 làng, gốm sứ 5 làng

- Quy mô, số lượng làng nghề

UBND thành phố đã công nhận 274 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề, chiếm20,15% tổng số làng có nghề của thành phố, trong đó có 244 làng nghề truyềnthống Huyện Thanh Oai có 51 làng, Thường Tín có 44 làng, Phú Xuyên 37 làng,Chương Mỹ 33 làng, Ứng hòa 20 làng, Ba Vì 14 làng,…

Bảng 6: Tổng số làng nghề UBND Thành phố Hà Nội công nhận đến năm 2010 ST

T

Tên quận, huyện

thị xã

Đơn vị

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Trang 25

7 Huyện Đông Anh Làng 1 1

Phân theo ngành nghề gồm: Ngành mây tre đa có 83 làng, chiếm tới 30% tổng

số làng nghề; ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm với 43 làng, chiếm 15,8%,nghề thêu ren 28 làng; nghề dệt may 25 làng; nghề chế biến lâm sản 22 làng; nghề

da dầy khâu bóng 8 làng,…

Riêng trong nghề mây tre đan thì Chương Mỹ đã có 29 làng, Phú Xuyên 11làng, Quốc Oai 11 làng, Ứng Hòa 11 làng, Thanh Oai 8 làng,…

2 Các loại hình đơn vị sản xuất và các Hội, Hiệp hội làng nghề:

Các loại hình đơn vị sản xuất và Hội, Hiệp hội của làng nghề ngày càng pháttriển Qua thống kê sơ bộ năm 2010 trong 1350 làng có nghề đã thu hút 166.393 hộsản xuất với 625.854 lao động tham gia sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.Trong các làng có nghề có 2063 công ty cổ phần, 4562 công ty TNHH, 1466 hợp tác xã

Đã có 50 Hội và hiệp hội được thành lập, thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề như:Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng, hiệp hội tơ tằm Vạn Phúc, Hội nghề da Kiêu Kị, …

Trang 26

Nhìn chung các loại hình này đã thúc đẩy sự phát triển, hỗ trợ các gia đìnhtrong việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cũng như đảm bảo sự ổn định của đầu ra,góp phần thúc đẩy xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho các làng nghề.

3 Các chính sách phát triển làng nghề hiện hành của thành phố Hà Nội

Việc phát triển các ngành nghề TTCN của thành phố đã được đưa vào chi tiếtquy hoạch thành phố, cho thấy vai trò, tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triểnlàng nghề đối với Thủ đô:

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm

2020, tầm nhìn 2030 (đến năm 2015 tỷ trọng trong GDP của thành phố: dịch vụ đạt54%, công nghiệp-xây dựng đạt 43%, tỉ lệ đô thị hóa 46%, xây dựng nền văn hóađậm đà bản sắc dân tộc)

- Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050:Phát triển vùng Thủ đô có đủ chức năng và vị thế của một trung tâm đô thị hiện đạitrong khu vực phát triển hài hòa, nâng cao chất lượng hệ thống đô thị, bảo vệ môitrường, bảo đảm phát triển bền vững Tỷ lện đô thị hóa năm 2020 khoảng 62,5%.Định hướng phát triển vùng Thủ đô theo hướng đa cực, tập trung liên kết khônggian giữa Thành phố Hà Nội và các tỉnh xung quanh

- Quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn2030: mục tiêu đến năm 2030 công nghiệp thành phố có tỷ trọng trong cơ cấu GDPđạt gần 32% Với định hướng phát triển các khu, cụm công nghiệp nhỏ và vừa, cáclàng nghề truyền thống phù hợp với quy hoạch mở rộng thành phố và toàn vùngkinh tế trọng điểm bắc bộ Chú trọng xây dựng phát triển các làng nghề của thànhphố gắn với bảo tồn, khôi phục bản sắc văn hóa dân tộc

- Quy hoạch phát triển các ngành nghề nông thôn đến năm 2015, định hướngnăm 2020

Bên cạnh đó, Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố đã quan tâm chỉ đạo nhằmthúc đẩy phát triển nghề, làng nghề thông qua những chính sách cụ thể như:

- Triển khai thực hiện quyết định 134/2004/QĐ/CP ngày 09/6/2004 của Chínhphủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn

Trang 27

- Thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển làngnghề, tạo mặt bằng sản xuất, ưu đãi về đầu tư tín dụng, xúc tiến thương mại, hỗ trợ

về khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực

- Xây dựng đề án số 34 DA/TU ngày 25/1/2005 cua Thành Ủy về việc khôiphục, phát triển làng nghề Hà Nội đến năm 2010

Và các chính sách khác, trong đó xác định việc phát triển làng nghề là cầnthiết, mộ số phương hướng để phát triển làng nghề lâu dài

Tuy nhiên cơ quan quản lí nhà nước về làng nghề còn chồng chéo, các chínhsách phát triển làng nghề còn bất cập, chưa phù hợp với thực tế, thiếu những dự báo

về thị trường, các yếu tố về môi trường sản xuất,…

4 Tình hình sản xuất kinh doanh của các làng nghề

4.1 Số hộ, số lao động:

+ Số hộ sản xuất kinh doanh các làng nghề, làng có nghề:

Từ năm 2006 - 2010 số hộ làng nghề, làng có nghề ngày càng tăng

Năm 2006 số hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong 241 làngnghề được công nhận là 97.313 hộ Đến năm 2010 số hộ sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp trong trong 274 làng nghề được công nhận là 129.653 hộ (tăng32.340 hộ)

Năm 2006 có 1.270 làng có nghề với 163.151 hộ sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp Đến năm 2010 có 1.350 làng có nghề (tăng 80 làng) với 170.607hộ(tăng 7.456 hộ)

Bảng 7: Số lượng và số hộ sản xuất trong các làng nghề và làng có nghề

Trang 28

Quy mô làng nghề ngày càng phát triển,mở rộng kéo theo số hộ tham gia sảnxuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tăng, số hộ thuần nông giảm dần.

Cơ cấu lao động ở nông thôn ngoại thành chuyển dịch nhanh sang làm công nghiệp

và dịch vụ Các huyện có nhiều hộ sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp là:Thanh Oai, Chương Mỹ, Hoài Đức,Thường Tín từ 11.000 hộ đến 19.000 hộ Một sốhuyện có số hộ thấp tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp như Từ Liêm, Sóc Sơn,Thanh Trì, Đông Anh, Mê Linh, thị xã Sơn Tây từ 300 - 800 hộ

+ Số lao động sản xuất kinh doanh các làng nghề, làng có nghề:

Số lao động công nghiệp tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề, làng cónghề ngày càng tăng

Năm 2006 trong 241 làng nghề có 265.860 lao động chiếm 78,88% lao độngcủa các làng Đến năm 2009 trong 272 làng nghề tăng 31 làng có 362.100 lao động,

số lao động tăng thêm 96.240 người chiếm 79% lao động của làng Năm 2010 côngnhận thêm 02 làng nâng tổng số làng nghề lên 274 làng và số lao động là 402.490người

Số lao động công nghiệp tiểu thủ công nghiệp trong các làng có nghề tăng lên

rõ rệt: Năm 2006 số lao động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp trong 1.270làng có nghề là 414.946 người Đến năm 2010 số lao động trong 1.350 làng có nghề

là 672.667 người (tăng 257.721người)

Số lượng làng nghề, làng có nghề ngày càng tăng đã thu hút nhiều lao độngtham gia trong đó có hàng nghìn lao động ở địa phương khác đến làm việc ở cáclàng nghề như làng nghề gốm sứ Bát Tràng huyện Gia Lâm, làng nghề đan cỏ tếPhú Túc (Phú Xuyên), làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Minh Khai (HoàiĐức) đã góp phần làm tăng giá trị kinh tế cho làng

4.2 Giá trị sản xuất của làng nghề, làng có nghề:

Giá trị sản xuất của làng có nghề ngày càng tăng Giá trị sản xuất năm 2006của 1.270 làng có nghề đạt 4.757,21 tỷ đồng Đến năm 2010 giá trị sản xuất của1.350 làng có nghề đạt 8.979 tỷ đồng (tăng 4.222 tỷ đồng)

Giá trị sản xuất của làng nghề ngày càng tăng Giá trị sản xuất năm 2006 của

241 làng nghề đạt 4.025,50 tỷ đồng Đến năm 2010 giá trị sản xuất của 274 làngnghề đạt 7.120,60 tỷ đồng (tăng 3.095,1tỷ đồng)

Trang 29

Tổng giá trị sản phẩm của 15 nhóm nghề ngày càng tăng như: Giá trị nghề sơnmài khảm trai năm 2006 là 290,15 tỷ đồng, năm 2010 là 519,39 tỷ đồng; nghề mâytre đan từ 713,12 tỷ đồng tăng lên 1.307,72 tỷ đồng năm 2010; nghề chế biến lâmsản, mộc dân dụng từ 512,26 tỷ đồng tăng lên 1.207,72 tỷ đồng năm 2010; Nghề dệtmay từ 656,56 tỷ đồng tăng lên 1.1028,23 tỷ đồng năm 2010; nghề chế biến nôngsản thực phẩm từ 918,43 tỷ đồng tăng lên 1.675,85 tỷ đồng năm 2010

Những làng nghề tiêu biểu có giá trị sản xuất hàng năm cao là: làng nghề dệtkim La Phù (Hoài Đức) đạt 810 tỷ đồng/năm; làng nghề dệt, nhuộm thôn Ỷ Laphường Dương Nội (Hà Đông) đạt 416 tỷ đồng/năm; làng nghề gốm sứ xã BátTràng (Gia Lâm) 350 tỷ đồng/năm; nghề mộc xã Chàng Sơn (Thạch Thất) đạt 282

tỷ đồng/năm; làng nghề mộc xã Vạn Điểm (Thường Tín) 240 tỷ đồng/năm; làngnghề chế biến nông sản thực phẩm xã Minh Khai (Hoài Đức) đạt 179 tỷ đồng, làngnghề chế biến lương thực thực phẩm xã Dương Liễu (Hoài Đức) là 95 tỷ đồng,; mâytre đan xã Trường Yên (Chương Mỹ) đạt 75,6 tỷ đồng/năm;

4.3 Sản lượng và thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề:

* Số lượng sản phẩm chính:

Qua số liệu điều tra ở các làng nghề số lượng sản phẩm của các làng nghềngày càng tăng như: sản phẩm mây tre giang đan tăng 0,1%, sơn mài khảm trai tăng11,33%, đồ mộc cao cấp tăng bình quân 9,49%, tăm hương tăng 14,3%, vải lụa tăng9,3%, quần áo dệt kim tăng 23,74%, chè búp khô tăng 17,96%, đồ nhựa tăng 18,6%,thêu ren tăng 16,34%, khăn mặt các loại tăng 13%

Bảng 8 : Số lượng một số sản phẩm chủ yếu của các làng nghề

2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Tốc độ tăng BQ

%

2 Hàng sơn mài, khảm trai 1000 sp 106,22 122,15 129,48 133,5 11,33

Trang 30

9 Quần áo dệt kim Triệu cái 38 52,81 65,32 67,42 23,74

(Nguồn: Khảo sát thực tế TT Khuyến công và Tư vấn PTCN Hà Nội)

Chất lượng các sản phẩm làng nghề mới chỉ cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêudùng trong nước và xuất khẩu Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề vớicác sản phẩm cùng loại của các địa phương khác chưa cao, xuất khẩu còn hạn chế

Bảng 9: M t s s n ph m xu t kh u c a các l ng ngh ột số sản phẩm xuất khẩu của các làng nghề ố sản phẩm xuất khẩu của các làng nghề ản phẩm xuất khẩu của các làng nghề ẩm xuất khẩu của các làng nghề ất khẩu của các làng nghề ẩm xuất khẩu của các làng nghề ủa các làng nghề àng nghề ề

2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Tốc

độ tăng BQ%

2 Quần áo dệt kim 1000 sp 35340 42050 51320 60432 21,68

Trang 31

5 Mây tre đan 1000 sp 733,2 674,55 681,29 701,29 2,33

15 Khâu bóng các loại 1000 quả 1030 1258 1563 1753 20,28

(Kết quả khảo sát thực tế của TT Khuyến công và Tư vấn PTCN Hà Nội)

Hầu hết các sản phẩm của làng nghề xuất khẩu trực tiếp còn gặp khó khăn,

do chất lượng sản phẩm chưa cao, mẫu mã chưa phong phú hầu hết các sản phẩmchưa có thương hiệu, nhãn mác nên chủ yếu là xuất khẩu qua uỷ thác làm giảm lợinhuận của các doanh nghiệp và ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động

* Tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu của làng nghề:

Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội đạt 7.990,1 triệu USD trong đóhàng thủ công mỹ nghệ truyền thống 101,4 triệu USD; dệt may 987,9 triệu USD;giầy dép và sản phẩm từ da 187,3 triệu USD; hàng nông sản 867,4 triệu USD

Bảng 10: Giá trị xuất khẩu của Thành phố Hà Nội Năm

Kim ngạch xuất khẩu của

Thành phố (Triệu USD) 3.947 5.072 6.936 6.362,2 7.990,1 Trong đó kinh tế ngoài nhà

(Nguồn: Cục thống kê Thành phố Hà Nội)

Nhìn chung sản phẩm làng nghề chủ yếu tiêu thụ trong nước chiếm hơn 80%,xuất khẩu chiếm gần 20% Các sản phẩm thủ công còn đơn giản, mẫu mã chưa đượccải tiến, hầu hết chưa có thương hiệu, nhãn mác hàng hoá, nên chất lượng chưa cao,

Trang 32

sức cạnh tranh kém Vì vậy, ngoài việc chú trọng mở rộng, tìm kiếm thị trường thìcần phải cải thiện các yếu tố trên.

4.3 Cơ sở hạ tầng làng nghề

4.3.1 Giao thông, điện, cấp thoát nước:

Hạ tầng kĩ thuật làng nghề được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo đầu tưxây dựng Hệ thống đường giao thông nông thôn từ thành phố đến trung tâm các xãđều đã được cải tạo, nâng cấp theo Sở giao thông vận tải Hà Nội, đường giao thôngnông thôn ngoại thành có 9.845,16km Đã có 6.101,71km đường liên thôn, liên xãđược rải nhựa bê tông hóa chiếm 62% Đường giao thông nông thôn đã được bêtông hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển , lưu thông nguyên liệu, hànghóa Giao thông đã phục vụ tốt hơn cho sản xuất và khách du lịch đến tham quancác làng nghề

100% các thôn và 100% số hộ đã có điện từ điện lước quốc gia Nhiều cơ sở

và các hộ đã đầu tư máy móc thiết bị mới nên năng suất và chất lượng sản phẩmđược nâng cao rõ rệt

70-75% dân số đã được dùng nước sạch trong sinh hoạt với 18 nhà máy nước

và hàng nghìn giếng khoan

Tuy nhiên hệ thống điện cho sản xuất hiện nay chưa đồng bộ, các đường giaothông còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của ngườidân

Mạng lưới điện ở các làng nghề không đồng bộ, chất lượng thấp, thiếu côngsuất phục vụ cho sản xuất nên thường xảy ra cháy, chập ảnh hưởng đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh của các làng nghề

Hệ thống xử lí nước thải còn yếu kém 80% cơ sở sản xuất chưa có hệ thống

xử lí nước thải, làm gia tăng ô nhiễm môi trường

Vì vậy cần quan tâm cải thiện, nâng cấp cơ sở hạ tầng cho các làng nghề nhằmđáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân

4.3.2 Thông tin liên lạc:

Thông tin liên lạc về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển củacác làng nghề, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm thị trường và tiêu thụ sản phẩm

Trang 33

Toàn thành phố đã đạt 26 máy điện thoại/100 dân 100% số xã ngoại thành đã

có điện thoại Các làng nghề phát triển 100% số hộ làng nghề có điện thoại cố địnhnhư xã Vạn Phúc (Hà Đông), Bát Tràng (Gia Lâm), La Phù, Dương Liễu (HoàiĐức),, Chuyên Mỹ, Phú Túc (Phú Xuyên), Ninh Sở, Thắng Lợi, Vạn Điểm, QuấtĐộng (Thường Tín), Phùng Xá, Hữu Bằng (Thạch Thất),…Một số làng nghề cótruyền thống như làng nghề gốm sứ Bát Tràng, làng nghề dệt lụa Vạn Phúc,… cóhàng nghìn cơ sở và hộ sản xuất sử dụng internet để giao dịch thương mại và quảng

bá sản phẩm của làng nghề Điều này dã cho thấy việc ânng cao đời sống dân trínhân dân đã tác động tích cực đến việc phát triển sản xuất

4.4 Kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất

Trong các năm vừa qua, nhiều cơ sở tại các làng nghề đã tập trung đổi mớicông nghệ, thiết bị, máy móc mới để thay thế một số công đoạn sản xuất thủ công

Vì vậy năng suất lao động, chất lượng của một số sản phẩm của làng nghề đã nângcao đáng kể Đồng thời nhà nước cũng đã hỗ trợ về mặt kinh phí cho một số cơ sởcông nghiệp nông thôn để đổi mới thiết bị, ứng dụng khoa học kĩ thuậtvào sảnxuất.Từ năm 2005-2009 nhà nước đã hỗ trợ cho 43 cơ sở công nghiệp nông thôn vềđổi mới thiết bị và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật với kinh phí hỗ trợ là 2,53 tỷđồng.Một số làng nghề như Bát Tràng đã thay thế lò nung than bằng lò nung gas,bình nghiền trong sản xuất gốm sứ Các máy móc chuyên dùng trong may da, giả da

ở xã Kiêu Kị (Gia Lâm), các làng nghề Liên Hà, Vân Hà (Đông Anh), LiênTrung(Đan Phượng), Rùa Hạ (Thanh Oai),… đã sử dụng những thiết bị cơ khítương đối hiện đại, tiên tiến Các làng dệt len Ỷ La, La Dương, La Nội, La Phù đãđổi mới nghiều máy dệt len để tăng năng suất lao động

Tuy nhiên sự hỗ trợ này là chưa đáp ứng được nhu cầu, do việc đổi mới thiết bịđòi hỏi lượng vốn lớn Việc huy động các nguồn vốn để đầu tư cho sản xuất và đổimới công nghệ còn khó khăn Việc sử dụng thiết bị máy móc, các vật liệu, hóa chất

và một số biện pháp gia công kĩ thuật mới vào sản xuất còn tùy tiện, không đồng bộnên việc đổi mới công nghệ còn hạn chế, hiệu quả thấp

4.5 Thực trạng sử dụng quỹ đất của các làng nghề

Quỹ đất sử dụng cho các làng nghề còn hạn chế, do đặc trưng của sản xuất tạilàng nghề là theo hộ gia đình nên diện tích đất ở của gia đình kết hợp luôn cho sảnxuất Nhu cầu mặt bằng cho sản xuất ngày càng lớn nên các hộểan xuất phải thu hẹp

Trang 34

không gian sống để giành mặt bằng cho sản xuất của mình như : tại các làng nghềdệt may Tân Triều (Thanh Trì), Cổ Nhuế (Từ Liêm), dệt kim La Phù (Hòai Đức),dệt lụa Vạn Phúc (Hà Đông),… Nhiều nhà ống cao tầng vừa là nơi sản xuất, vừa lànhà kho, hầu như không có khoảng trống lưu thông nên ảnh hưởng nhiều đến đờisống và hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiện nay diện tích sản xuất kinh doanh tạicác làng nghề mới chỉ đáp ứng được 25-30% Theo điều tra khảo sát tại một số làngnghề như La Phù, Hữu Bằng (Thạch Thất),… có tới 70% số nhà xưởng không đápứng được nhu cầu sản xuất của các hộ.Các nhà xưởng này không đảm bảo yêu cầu

về an toàn trong sản xuất và phòng chống cháy nổ Đa số các cơ sở sản xuất tại làngnghề không có hệ thống thoát nước thải phù hợp gây ảnh hưởng đến môi trường Vìvậy nhu cầu mặt bằng tại các làng nghề đang là rất lớn như: làng nghề gốm sứ BátTràng, nhu cầu về mặt bằng sản xuất tại của mỗi hộ là 500m2, các doanh nghiệpthuộc làng nghề là 2000m2, trong khi đó, hiện tại chỉ có khoảng 200m2/1 hộ và500-700m2/ 1 doanh nghiệp Các làng nghề khác như chế biến gỗ, các làng nghề dệtmay cũng cần diện tích gấp 4 lần hiện nay để phục vụ cho sản xuất

Với mục tiêu nhằm tạo dựng quỹ đất có đủ điều kiện cơ bản về hạ tầng kỹthuật, mở rộng mặt bằng sản xuất ở các làng nghề góp phần phát triển nông thôntheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ năm 2001 thành phố đã tiến hành quyhoạch nhiều cụm công nghiệp làng nghề trên địa bàn thành phố và triển khai thựchiện Đến nay đã có 41 cụm công nghiệp đã và đang xây dựng với tổng diện tích

443 ha Số dự án của các doanh nghiệp làng nghề là 5870 dự án, bình quân 800m2/

dự án Số dự án của các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động là khoảng 2000 dự án

4.6 Cung ứng vật tư, nguồn nguyên liệu đầu vào:

Nhu cầu nguồn nguyên liệu để sản xuất ở các làng nghề là rất lớn, tuy nhiênchủ yếu lại là nhập khẩu và thu mua từ các tỉnh trong nước và nhập khẩu từ nướcngoài chiếm tới 80% : như sắt thép, tơ sợi, len ,… nhập từ Trung Quốc, nguyên liệu

gỗ, song mây nhập từ Lào và các tỉnh miền Trung, Tây Bắc Một số sản phẩm sảnxuất ra từ nguyên liệu trong nước như chế biến nông sản thực phẩm: sắn, ronggiềng, song mây, cỏ tế, cao lanh, thuốc dược liệu cúng thu mua từ các tỉnh khác Dovậy nguyên liệu chính tại các cơ sở sản xuất vẫn chưa thể chủ động được Mạt kháccác làng nghề chưa có nguồn cung ứng nguyên liệu lâu dài nên chưa có nguồn cungứng nguyên liệu đảm bảo chất lượng, ổn định

Trang 35

Nhìn chung nguyên liệu chính, phục vụ cho sản xuất làng nghề còn khó khăn,phụ thuộc vào bên ngoài Các nguồn nguyên liệu của thành phố mới chỉ đáp ứngđược khoảng 20% nhu cầu nguyên vật liệu của sản xuất Vì vậy cần liên doanh, liênkết với các tỉnh để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, quy hoạch việcchuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo vùng nguyên liệu cho các làng nghề Căn cứ vàotình hình phát triển từng vùng cần mở rộng và hình thành các tổ chức dịch vụ khaithác, cung cấp vật tư nguyên liệu đảm bảo cho sản xuất, hạn chế nhập khẩu

4.7 Môi trường làng nghề:

Các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chungđang đứng trước những vấn đề môi trường rất gay gắt, có thể nêu ra một số đặ điểmchung nhất như sau:

- Hầu hết các cơ sở sản xuất đặt tại hộ gia đình nên việc thu gom rác thải sảnxuất rất khó khăn Hầu hết các làng nghề chưa có biện pháp nào để hạn chế tìnhtrạng ô nhiễm môi trường do chất thải sản xuất, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếngồn,…

- Công tác quản lí và can thiệp bảo vệ môi trường tại các làng nghề chưa đượcquan tâm và chỉ đạo việc tuyên truyền để nâng cao ý thức nhân dân trong việc bảo

vệ môi trường chưa được chú ý Chưa có cán bộ chuyên môn về môi trường tịa cơ

sở làm việc

- Ý thức bảo vệ môi trường của người dân địa phương và các đơn vị sản xuấtcòn yếu kém Người lao động cũng chưa có ý thức tự bảo vệ mình trong quá trìnhsản xuất như mặc đồ bảo hộ lao động,…

- Cơ sở hạ tầng không đồng bộ, không có quy hoạch cụ thể dẫn đến tình trạngkhó khăn trong việc xây dựng hệ thống xử lí rác thải Điều này đã ảnh hưởng đến sự

an toàn và chất lượng cuộc sống, sức khỏe cộng đồng

- Môi trường tại một số làng nghề đã bị ô nhiếm nặng như ô nhiễm nguồnnước ở các làng nghề chế biến nông sản, cơ kim khí, chế biến lâm sản,… ô nhiễmkhông khí tại các làng nghề sắt thép, gốm sứ, mộc, như làng mộc Chàng Sơn (HàTây cũ) , ô nhiễm tiếng ồn tại các làng nghề dệt may, như làng Vạn Phúc (HàĐông),

4.8 Tình hình vốn đầu tư và hiệu quả kinh tế xã hội

Ngày đăng: 23/07/2013, 13:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Ngô Thắng Lợi, Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Khác
2. TS. Phạm Ngọc Linh, Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Đại học kinh tế quốc dân Khác
3. Báo cáo Hội nghị ban chấp hành lần thứ IV năm 2010 của hiệp hội Làng nghề Việt Nam Khác
4. Dự thảo quy hoạch công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Khác
5. Sở Công Thương Hà Nội, Làng nghề Hà Nội tiềm năng và triển vọng phát triển , NXB Khoa học xã hội Khác
7. Cục Thống kê thành phố Hà Nội, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12/2009 Khác
8. Bộ Công nghiệp( Bộ Công thương), Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2015, tầm nhìn đến năm 2020 Khác
9. UBND Thành phố Hà Nội, Đề án xây dựng nông thôn mới Hà Nội giai đoạn 2010 – 2020, định hướng 2030, tháng 3/2010 Khác
12. Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Phát triển các Làng nghề Thủ công truyền thống Việt Nam (HRPC) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Doanh thu xuất khẩu hàng năm của hàng thủ công mỹ nghệ  (nghìn USD) - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hình 1 Doanh thu xuất khẩu hàng năm của hàng thủ công mỹ nghệ (nghìn USD) (Trang 8)
Hình 2: Doanh thu xuất khẩu năm 2007 theo sản phẩm (nghìn USD) - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hình 2 Doanh thu xuất khẩu năm 2007 theo sản phẩm (nghìn USD) (Trang 8)
Hình 3: Doanh thu xuất khẩu hàng thủ công theo quốc gia (%) - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hình 3 Doanh thu xuất khẩu hàng thủ công theo quốc gia (%) (Trang 8)
Bảng 4: Cơ cấu số hộ gia đình trong làng nghề - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 4 Cơ cấu số hộ gia đình trong làng nghề (Trang 20)
Bảng 6: Tổng số làng nghề UBND Thành phố Hà Nội công nhận đến năm 2010 ST - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 6 Tổng số làng nghề UBND Thành phố Hà Nội công nhận đến năm 2010 ST (Trang 24)
Bảng  7: Số lượng và số hộ sản xuất trong các làng nghề và làng có nghề  giai đoạn 2006-2010 - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
ng 7: Số lượng và số hộ sản xuất trong các làng nghề và làng có nghề giai đoạn 2006-2010 (Trang 27)
Bảng 10: Giá trị xuất khẩu của Thành phố Hà Nội - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 10 Giá trị xuất khẩu của Thành phố Hà Nội (Trang 31)
Bảng 11 : Dự báo dân số Thủ đô Hà Nội - “Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 11 Dự báo dân số Thủ đô Hà Nội (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w