Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.. Một số công trình khoa học nghiên cứu về tác động của một DVNH hay một ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
HUỲNH THỊ HƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 62340201
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Đại học Kinh tế TP HCM Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Huy Hoàng Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM
Thư viện Đại học Kinh tế TP HCM
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
1 Huỳnh Thị Hương Thảo, 2015 Định hướng phát triển dịch vụ
ngân hàng quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, số 14 (431), trang 20-23
2 Huỳnh Thị Hương Thảo, 2015 Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại Việt Nam Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số
159, trang 63-69
3 Huỳnh Thị Hương Thảo, 2016 Ước lượng hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 168, trang 43-48
4 Huỳnh Thị Hương Thảo, 2016 Tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt
Nam Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 123, trang 44-53
5 Huỳnh Thị Hương Thảo, 2017 Ảnh hưởng của dịch vụ ngân
hàng quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam Tạp chí Tài chính, số 651, trang 66-68
6 Huỳnh Thị Hương Thảo, 2017 Tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt
Nam Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, số 7(168), trang
Trang 4CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do nghiên cứu của luận án
Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các ngân hàng thương mại (NHTM) Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng, NHTM với các dịch vụ ngân hàng (DVNH) bao gồm cả DVNH trong nước và dịch vụ ngân hàng quốc tế (DVNHQT) thì vai trò của DVNHQT ngày càng lớn hơn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến HQHĐ của mỗi ngân hàng (NH) Một số công trình khoa học nghiên cứu về tác động của một DVNH hay một chỉ tiêu cụ thể của NH như: nợ xấu, dịch vụ phi tín dụng, mức đa dạng hóa thu nhập NH … đối với HQHĐ của NH nhưng riêng nghiên cứu về DVNHQT tác động đến HQHĐ của các NHTM thì chưa được tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính mới và nhu cầu thực tiễn ở Việt Nam, việc xem xét một cách tổng thể HQHĐ và nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTM là hết sức quan
trọng và có giá trị, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm luận án nghiên cứu
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án
Đề tài nghiên cứu có mục tiêu chung là nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTMVN) Trên cơ sở mục tiêu chung, luận án được thực hiện với hai mục tiêu cụ thể sau đây:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTMVN theo các chỉ số phản ánh khả năng sinh lời: lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (return on assets – ROA) và lợi
Trang 5nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (return on equity – ROE)
Mục tiêu 2: Nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTMVN theo các chỉ số của phương pháp phân tích hiệu quả biên, cụ thể là phương pháp tiếp cận phi tham số bao dữ liệu (Data envelopment analysis - DEA) bao gồm: hiệu quả kỹ thuật (HQKT), hiệu quả kỹ thuật thuần (HQKTT), hiệu quả quy mô (HQQM)
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án phải trả lời được
02 câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: DVNHQT có tác động đến các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các NHTMVN hay không?
Câu hỏi 2: DVNHQT có tác động đến các chỉ tiêu: HQKT, HQKTT và HQQM của các NHTMVN hay không?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chọn đối tượng nghiên cứu là sự tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTMVN Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo thường niên hoặc báo cáo tài chính đã kiểm toán từ 38 NHTMVN bao gồm các NHTM nhà nước và NHTM cổ phần trong khoảng thời gian 2008-2014 Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam như: tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát lấy dữ liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án sử dụng hai chỉ tiêu phổ biến nhất khi đánh giá HQHĐ theo phương pháp sử dụng các chỉ số phản ánh khả năng sinh lời là ROA và ROE Đối với phương pháp đánh giá HQHĐ theo phương pháp phân tích hiệu quả biên, luận án chọn phương pháp DEA làm đại diện với các chỉ tiêu đánh giá về HQHĐ của NH là: HQKT, HQKTT, HQQM DVNHQT nghiên cứu trong luận án không bao gồm các nghiệp vụ đầu tư quốc tế
Trang 61.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở mô hình nghiên cứu của Trujillo-Ponce (2013), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2014), Phạm Hữu Hồng Thái (2014), Lâm Chí Dũng và cộng sự (2015) … để nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTM Ngoài ra, luận án tiếp cận phương pháp phân tích phi tham số theo mô hình bao dữ liệu (DEA) của Avkiran (1999), Ngô Đăng Thành (2010), Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012), Trương Quang Thịnh (2012), Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2013) … để xác định HQKT, HQKTT, HQQM
1.5 Kết cấu của luận án
Ngoài kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, kết cấu của luận
án bao gồm 5 chương chính: Mở đầu; Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm; Phương pháp, dữ liệu và mô hình nghiên cứu; Kết quả
nghiên cứu; Kết luận và hàm ý chính sách
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về DVNHQT và HQHĐ, xác định được các chỉ tiêu phản ánh DVNHQT
để từ đó xác định mô hình về sự tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTM
- Luận án đã định lượng được HQHĐ của các NHTMVN giai đoạn 2008-2014, kết quả nghiên cứu này là một tham khảo mang tính khoa học giúp các nhà quản trị NH đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng HQHĐ của NH
- Luận án đã phân tích các nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực thuộc DVNHQT ảnh hưởng đến HQHĐ của NH, từ đó đề xuất ra một số hàm ý chính sách để phát huy nhân tố tích cực, kiểm soát nhân tố tiêu cực thuộc về DVNHQT nhằm nâng cao HQHĐ
Trang 7CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Dịch vụ ngân hàng quốc tế của NHTM
2.1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng quốc tế
Theo Nguyễn Thị Cẩm Thủy (2012), DVNHQT bao gồm tất
cả các dịch vụ tài chính do khách hàng (KH) yêu cầu có liên quan đến thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, du lịch quốc tế …, hay nói cách khác, đó là việc NH cung ứng các dịch vụ tài chính ngân hàng trên thị trường quốc tế nhằm mục đích sinh lời Theo Trần Huy Hoàng và cộng sự (2006), một NH cung cấp DVNHQT là NH cung ứng các DVNH liên quan đến ngoại hối hoặc người không cư trú Về phạm vi không gian, DVNHQT không chỉ diễn ra giữa các quốc gia với nhau mà còn diễn ra bên trong địa phận của mỗi nước, bất kể đồng tiền của quốc gia đó có được tự do chuyển đổi ra ngoại tệ khác hay không Trên cơ sở kế thừa các khái niệm về DVNHQT và các văn bản pháp lý tại Việt Nam, khái niệm DVNHQT được thống nhất
sử dụng trong nghiên cứu này là các DVNH liên quan đến ngoại tệ
do NH cung cấp
2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ ngân hàng quốc tế
Hai chỉ tiêu: tỷ lệ tài sản nợ ngoại tệ trên tổng nguồn vốn (Trương Quang Thông, 2010) và tỷ lệ cho vay ngoại tệ trên tổng tài sản có ngoại tệ là hai chỉ tiêu phản ảnh tổng quát nhất về DVNHQT nên được đưa vào mô hình nghiên cứu và là biến độc lập, giải thích
về tác động DVNHQT đến HQHĐ của các NH Chỉ tiêu tài sản nợ ngoại tệ trên tổng nguồn vốn phản ánh nghiệp vụ huy động vốn thuộc
về nghiệp vụ nguồn vốn của NHTM trong khi đó, chỉ tiêu cho vay ngoại tệ trên tổng tài sản có ngoại tệ phản ánh nghiệp vụ sử dụng vốn của NHTM
Trang 82.2 Hiệu quả hoạt động của NHTM
2.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của NHTM
Theo Berger và Mester (1997) thì HQHĐ của các NHTM thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí sử dụng các nguồn lực hay chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh
2.2.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM
Theo Berger và Humphrey (1997), Heffernan và Fu (2008), phân tích HQHĐ của NHTM thường sử dụng hai phương pháp chính là: phương pháp sử dụng các chỉ số phản ánh khả năng sinh lời và phương pháp phân tích hiệu quả biên
2.2.2.1 Phương pháp sử dụng chỉ số phản ánh khả năng sinh lời
Để đánh giá HQHĐ bằng chỉ số phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, hai chỉ tiêu thường được sử dụng nhiều nhất là ROA và ROE (Tarawneh, 2006; Zeitun, 2012; Naceur, 2003) Bên cạnh hai chỉ tiêu về hệ số doanh lợi trên, HQHĐ của NH còn được thể hiện qua các chỉ tiêu về tỷ lệ thu nhập cận biên
2.2.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả biên
Nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA, kết quả của DEA bao gồm: HQKT, HQKTT, HQQM (Charnes, Cooper và Rhodes, 1978; Banker, Charnes và Cooper, 1984)
2.3 Mối liên hệ giữa dịch vụ ngân hàng quốc tế và hiệu quả hoạt động của NH
DVNHQT không thể đứng riêng lẻ mà chỉ có thể phát triển tốt trong mối liên hệ ngang dọc với các dịch vụ khác của NH, cùng
hỗ trợ nhau vươn lên và cùng kiểm soát lẫn nhau Xét về bản chất cũng như lịch sử phát triển, DVNHQT luôn luôn là một bộ phận cơ hữu, gắn chặt với DVNH nội địa và tạo ra toàn bộ hoạt động kinh
Trang 9doanh của một NH DVNHQT là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của NH và sự phát triển của DVNHQT chắc chắn sẽ tác động không nhỏ đến HQHĐ của NH Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ là thật sự có ý nghĩa
và vô cùng cần thiết
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm về HQHĐ và DVNHQT
2.4.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về HQHĐ và DVNHQT
Với các nghiên cứu chuyên sâu về DVNHQT tại Việt Nam:
Lê Thành Lân (2004), Trần Huy Hoàng và cộng sự (2006), Nguyễn Thị Cẩm Thủy (2012), các tác giả chỉ mới dừng lại ở phương pháp thống kê mô tả hoặc quy nạp, diễn dịch mà chưa áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để nghiên cứu chuyên sâu về HQHĐ và DVNHQT
Qua các nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008), Trương Quang Thông (2010), Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013), Phạm Hữu Hồng Thái (2014), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2014), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), Lâm Chí Dũng và cộng sự (2015), HQHĐ của NH có thể đánh giá bằng các chỉ số phản ánh khả năng sinh lời như ROA, ROE hoặc bằng các chỉ số HQHĐ của phương pháp phi tham số DEA Mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM hoặc Tobit thường được sử dụng để nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến HQHĐ của NH Đã có một số nghiên cứu riêng về tác động của một DVNH hay một chỉ tiêu cụ thể của NH như: nợ xấu, dịch vụ phi tín dụng, mức đa dạng hóa thu nhập NH … đối với HQHĐ của NH, tuy nhiên đối với nghiên cứu riêng về DVNHQT thì chưa có một nghiên cứu nào trong nước sử dụng phương pháp định lượng để xem xét tác động của DVNHQT đến HQHĐ của NH
Trang 10Bảng 2.4: Thống kê các biến độc lập ảnh hưởng đến HQHĐ của NHTM được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm
+
Tỷ lệ lạm phát
Gul và cộng sự (2011), Sufian (2011) … + Sufian và Chong (2008), Garza-Garcia (2012), Ongore và Kusa (2013), Sanchez
và cộng sự (2013) …
-Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu
Trang 112.4.2 Vấn đề cần nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu này dựa trên những nghiên cứu trước và có những điểm mới dựa trên những cơ sở sau:
(i) Hội nhập kinh tế tạo điều kiện cho hệ thống NH và các DVNH phát triển theo như nghiên cứu của Claessens và Horen (2009), Sufian và Habibullah (2011)
(ii) Đa dạng hóa DVNH trong đó đa dạng hóa các DVNH trong nước và DVNHQT sẽ giúp các NH tối đa hóa lợi nhuận (Chiorazzo và cộng sự, 2008; Gurbuz và cộng sự, 2013; Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai, 2015 …) Một trong những hướng
đi cho các NHTMVN để có thể nhanh chóng đứng vững cùng các NHTM ở trong khu vực và hội nhập quốc tế đó là phát triển và đa dạng các DVNHQT (Trần Thị Vân Anh, 2016)
(iii) Có nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu nhân tố tác động đến HQHĐ của NH và từ các kết quả nghiên cứu đó, các tác giả đã đề xuất các chính sách thích hợp để nâng cao HQHĐ của
NH (Sufian, 2011; Garza-Garcia, 2012; Aremu và cộng sự, 2013; Ayadi, 2014 …) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ xem xét về các DVNH nói chung mà chưa có nghiên cứu cụ thể nào về DVNHQT
Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu này, luận án
có những điểm khác biệt so với các nghiên cứu trước đây về nội dung nghiên cứu và cả mô hình nghiên cứu khi sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM, FGLS để đánh giá DVNHQT tác động đến HQHĐ của các NHTMVN giai đoạn 2008-2014 Qua
đó, đây cũng là cơ sở để hoàn thiện được một khung chính sách phù hợp trong quá trình quản lý hoạt động của các NHTM ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Trang 12CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Để thực hiện nội dung nghiên cứu, tác giả đã thu thập số liệu trên báo cáo tài chính hoặc báo cáo thường niên của 38 NHTMVN giai đoạn 2008 - 2014, dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam như: tốc
độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát được thu thập từ Tổng cục Thống kê Việt Nam Nghiên cứu đã tiến hành phân loại thành 2 nhóm NH dựa trên tiêu chí vốn chủ sở hữu và tổng tài sản trong đó nhóm 1 bao gồm 11 NH (Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Agribank, Sacombank, Militarybank, Techcombank, Eximbank, SCB, ACB, SHB) và nhóm 2 bao gồm 27 NH (PVcombank, Maritimebank, VPbank, HDbank, VIB, Lienvietpostbank, Anbinhbank, SeAbank, DongAbank, Tienphongbank, BacAbank, MDbank, OCB, VietAbank, MHB, Saigonbank, Kienlongbank, PGbank, NamAbank, Vietcapitalbank, NCB, Phuongnambank, Oceanbank, Baovietbank, VNBC, Westernbank, GPbank)
3.2 Mô hình nghiên cứu
Xuất phát từ mô hình nghiên cứu của các tác giả trong nước và ngoài nước về các nhân tố tác động đến HQHĐ của NHTM đều đã sử dụng mô hình hồi quy để nghiên cứu như: Trujillo-Ponce (2013), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2014), Phạm Hữu Hồng Thái (2014), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), Lâm Chí Dũng và cộng
sự (2015) …, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu chung về tác động của DVNHQT đến HQHĐ của NH như sau:
HQHĐi,t = α + βDVNHQTi,t + γCONTROLi,t + εi,t
Trong đó: HQHĐi,t là biến phụ thuộc với các biến đại diện là ROA, ROE, HQKT, HQKTT, HQQM của ngân hàng i trong năm t
Trang 13DVNHQTi,t là biến độc lập về DVNHQT của ngân hàng i trong năm t với hai biến đại diện là CVNT và TSNNT
CONTROLi,t là biến kiểm soát tập hợp các nhân tố nội tại của
NH (VCSH, QMTS, CV, VHDCV) và nhân tố kinh tế vĩ mô (TTKT, LP) tác động đến HQHĐ của ngân hàng i trong năm t; α là hệ số chặn;
β và γ là các tham số ước lượng; ε là sai số ngẫu nhiên
3.3 Mô tả các biến nghiên cứu
3.3.1 Đối với nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động theo các chỉ số ROA, ROE của các NHTMVN
- Biến phụ thuộc: ROA, ROE
- Biến độc lập gồm: biến cho vay ngoại tệ trên tổng tài sản
có ngoại tệ (CVNT) và biến tài sản nợ ngoại tệ trên tổng nguồn vốn (TSNNT)
- Biến kiểm soát gồm: biến tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng (VCSH), biến quy mô tài sản ngân hàng (QMTS), biến tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (CV), biến tỷ lệ vốn huy động trên dư nợ cho vay (VHDCV), biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (TTKT), biến tỷ lệ lạm phát (LP)
Các giả thuyết liên quan đến biến phụ thuộc ROA và ROE: Giả thuyết 1a: Cho vay ngoại tệ trên tổng tài sản có ngoại tệ
có tương quan ngược chiều đến ROA đối với toàn bộ mẫu NH, NH nhóm 1 và NH nhóm 2
Giả thuyết 1b: Cho vay ngoại tệ trên tổng tài sản có ngoại tệ
có tương quan ngược chiều đến ROE đối với toàn bộ mẫu NH, NH nhóm 1 và NH nhóm 2
Giả thuyết 2a: Tài sản nợ ngoại tệ trên tổng nguồn vốn có tương quan cùng chiều đến ROA đối với toàn bộ mẫu NH, NH nhóm