Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế quốc tế thì các giao dịch dân sự, thương mại được xem như một công cụ hữu hiệu giúp cho các chủ thể tìm kiếm được lợi ích của mình.Một nền kinh tế năng động luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro và việc nhận biết chúng, khắc phục và ngăn chặn những rủi ro ngay từ chính những giao dịch được kí kết là một vần hết sức quan trọng và cần thiết.Trên thực tế có rất nhiều các giao dịch hay hợp đồng xảy ra tranh chấp liên quan đến việc vay ngân hàng trong đó sẽ có những biện pháp nhất đinh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của. Chính vì vậy, chúng em xin chọn một tình huống cụ thể để tìm hiểu, tình huống cụ thể như sau: “Tháng 1 năm 2017, do cần tiền để đầu tư sản xuất, kinh doanh, vợ chồng anh Linh, chị Lan đến gặp anh Kiên để vay hoặc nhờ anh vay giúp khoản tiền 1 tỷ đồng thời hạn 6 tháng. Lợi dụng tình trạng của vợ chồng anh chị, anh Kiên nhận lời vay hộ tại Ngân Hàng X nhưng yêu cầu anh, chị phải thế chấp tài sản của mình để bảo lãnh việc sẽ trả nợ ngân hàng khi đến hạn. Đồng ý yêu cầu của anh Kiên, vợ, chồng anh chị Linh không ngần ngại ký tất cả các loại giấy tờ khi anh Kiên đưa ra. Tháng 102017, vợ, chồng anh, chị nhận được tống đạt giấy tờ của Tòa án Quận Y về việc ngân hàng X khởi kiện do vi phạm hợp đồng bảo lãnh cho anh Kiên vay số tiền 3 tỷ đồng. Do đến nay anh Kiên đã biệt tích khỏi nơi cư trú nên ngân hàng yêu cầu anh, chị phải trả khoản tiền nói trên thay cho anh Kiên. Ngân hàng có xuất trình được toàn bộ giấy tờ minh chứng cho việc anh Linh, chị Lan đã thế chấp toàn bộ nhà đất của mình để bảo lãnh cho khoản nợ của anh Kiên, đồng thời đã thông báo việc phát sinh nghĩa vụ trả nợ này cho anh, chị trong một thời hạn nhất định nhưng anh, chị không đồng ý trả nợ. Câu hỏi: 1. Hãy cho biết có bao nhiêu hợp đồng được xác lập trong tình huống trên? Đặt tên gọi cho các hợp đồng đó, nêu căn cứ pháp lý điều chỉnh các hợp đồng đó? 2. Giải thích quy định của khoản 3 Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015 và liên hệ với tình huống trên. 3. Anh Linh, chị Lan có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ 3 tỷ đồng mà anh Kiên đã vay không? Tại sao? 4. Giải quyết tính huống trên?”
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế quốc tế thì các giao dịch dân sự, thương mại được xem như một công cụ hữu hiệu giúp cho các chủ thể tìm kiếm được lợi ích của mình.Một nền kinh tế năng động luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro và việc nhận biết chúng, khắc phục và ngăn chặn những rủi ro ngay từ chính những giao dịch được kí kết là một vần hết sức quan trọng và cần thiết.Trên thực tế có rất nhiều các giao dịch hay hợp đồng xảy ra tranh chấp liên quan đến việc vay ngân hàng trong đó sẽ có những biện pháp nhất đinh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chính vì vậy, chúng em
xin chọn một tình huống cụ thể để tìm hiểu, tình huống cụ thể như sau: “Tháng 1 năm 2017, do cần tiền để đầu tư sản xuất, kinh doanh, vợ chồng anh Linh, chị Lan đến gặp anh Kiên để vay hoặc nhờ anh vay giúp khoản tiền 1 tỷ đồng thời hạn 6 tháng Lợi dụng tình trạng của vợ chồng anh chị, anh Kiên nhận lời vay
hộ tại Ngân Hàng X nhưng yêu cầu anh, chị phải thế chấp tài sản của mình để bảo lãnh việc sẽ trả nợ ngân hàng khi đến hạn Đồng ý yêu cầu của anh Kiên,
vợ, chồng anh chị Linh không ngần ngại ký tất cả các loại giấy tờ khi anh Kiên đưa ra Tháng 10/2017, vợ, chồng anh, chị nhận được tống đạt giấy tờ của Tòa
án Quận Y về việc ngân hàng X khởi kiện do vi phạm hợp đồng bảo lãnh cho anh Kiên vay số tiền 3 tỷ đồng Do đến nay anh Kiên đã biệt tích khỏi nơi cư trú nên ngân hàng yêu cầu anh, chị phải trả khoản tiền nói trên thay cho anh Kiên Ngân hàng có xuất trình được toàn bộ giấy tờ minh chứng cho việc anh Linh, chị Lan đã thế chấp toàn bộ nhà đất của mình để bảo lãnh cho khoản nợ của anh Kiên, đồng thời đã thông báo việc phát sinh nghĩa vụ trả nợ này cho anh, chị trong một thời hạn nhất định nhưng anh, chị không đồng ý trả nợ Câu hỏi:
1 Hãy cho biết có bao nhiêu hợp đồng được xác lập trong tình huống trên? Đặt tên gọi cho các hợp đồng đó, nêu căn cứ pháp lý điều chỉnh các hợp đồng đó?
Trang 22 Giải thích quy định của khoản 3 Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015 và liên hệ với tình huống trên
3 Anh Linh, chị Lan có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ 3 tỷ đồng mà anh Kiên đã vay không? Tại sao?
4 Giải quyết tính huống trên?”
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Hãy cho biết có bao nhiêu hợp đồng được xác lập trong tình huống trên, đặt tên cho các hợp đồng đó và nêu căn cứ pháp lý điều chỉnh các hợp đồng đó?
1.1 Các hợp đồng được xác lập trong tình huống trên
Theo dữ liệu của đề bài nêu ra, có 2 hợp đồng được xác lập như sau:
Thứ nhất, do cần tiền để đầu tư sản xuất kinh doanh, vợ chồng anh Linh chị Lan đến gặp anh Kiên để vay hoặc nhờ anh vay giúp khonar tiền 1 tỉ đồng thời hạn
6 tháng Anh Kiên nhận lời vay họ tại Ngân hàng X với điều kiện vợ chồng anh Linh chị Lan phải thế chấp tài sản của mình để bảo lãnh việc trả nợ ngân hàng khi đến hạn Đồng ý với yêu cầu của anh Kiên, vợ chồng Linh Lan đã kí tất cả các giấy
tờ Số tiền 1 tỉ đồng anh Kiên vay ngân hàng X tuy là vay hộ vợ chồng anh Linh nhưng hợp đồng được xác lập ở đây là giữa anh Kiên và Ngân hàng X Vì vậy, hợp đồng của anh Kiên với Ngân hàng X là hợp đồng vay
Thứ hai, hợp đồng bảo lãnh giữa vợ chồng anh Linh (bên bảo lãnh), Ngân hàng X (bên nhận bảo lãnh) và anh Kiên (bên được bảo lãnh): Theo đề bài, vợ chồng anh Linh dùng tài sản của mình để bảo lãnh cho nghĩa vụ thanh toán của anh Kiên với Ngân hàng X Như vậy, hợp đồng được xác lập giữa vợ chồng anh Linh, anh Kiên và Ngân hàng X là hợp đồng bảo lãnh Hợp đồng này nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho hợp đồng vay
1.2 Căn cứ pháp lý điều chỉnh các hợp đồng trên
Trang 3+ Đối với hợp đồng vay:
Điều 463 Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Điều 464 Quyền sở hữu đối với tài sản vay
Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó.
Điều 465 Nghĩa vụ của bên cho vay
1 Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm
và địa điểm đã thỏa thuận.
2 Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.
3 Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
Điều 466 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1 Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2 Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3 Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trang 44 Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5 Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 467 Sử dụng tài sản vay
Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay Bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích.
Điều 468 Lãi suất
1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ,
Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trang 52 Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định
rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Điều 470 Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn
1 Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp
lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.
2 Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
+ Đối với hợp đồng bảo lãnh:
Điều 335 Bảo lãnh
1 Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa
vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Điều 336 Phạm vi bảo lãnh
1 Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.
2 Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trang 63 Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
4 Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.
Điều 337 Thù lao
Bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thỏa thuận.
Điều 342 Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh
1 Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2 Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm
và bồi thường thiệt hại.
Điều 343 Chấm dứt bảo lãnh
Bảo lãnh chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1 Nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt.
2 Việc bảo lãnh được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
3 Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
4 Theo thỏa thuận của các bên.
2 Giải thích quy định của khoản 3 Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015 và liên
hệ với tình huống trên.
Phạm vi bảo lãnh có thể là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ Nếu không có thỏa thuận gì khác thì người bảo lãnh phải bảo lãnh cả tiền lãi trên nợ gốc trong phạm vi bảo lãnh; đồng thời phải bảo lãnh cả khoản tiền phạt cũng như tiền bồi
Trang 7thường thiệt hại Như vậy, phạm vi bảo lãnh gồm bao nhiêu phần so với tổng giá trị của nghĩa vụ chính tùy thuộc vào sự cam kết, xác định của người bảo lãnh
Trong đó tại khoản 3, điều 336 (phạm vi bảo lãnh) BLDS:
“3 Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”
Biện pháp bảo lãnh thường được xác lập khi bên được bảo lãnh không có tài sản để bảo đảm nghĩa vụ Mặt khác, bên được bảo lãnh không thể dùng tài sản của người khác để bảo đảm nghĩa vụ, vì tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải buộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, cho nên trong quan hệ bảo lãnh cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh Tuy nhiên nếu bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ và bên bảo lãnh cũng cố ý không thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có thể bị thiệt hại Cho nên bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh phải cầm cố, thế chấp tài sản của mình.”
* Liên hệ tình huống trên :
Bên được bảo lãnh là anh Kiên và bên nhận bảo lãnh là vợ chồng anh Linh, chị Lan Bên nhận bảo lãnh là anh Linh, chị Lan bảo lãnh cho anh Kiên bằng việc lấy tài sản của mình thế chấp cho việc vay nợ ngân hàng của anh Kiên
Trong trường hợp ngân hàng X có đầy đủ giấy tờ chứng minh cho việc anh Linh, chị Lan đã thế chấp toàn bộ nhà đất của mình để bảo lãnh cho khoản nợ của anh Kiên, đồng thời báo nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng anh Linh Như vậy trong tình huống này vợ chồng anh Linh đã dùng tài sản của mình thế chấp cho Ngân hàng X và cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho anh Kiên (bên được bảo lãnh) Anh Kiên không thực hiện nghĩa vụ và đẩy hết trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ này cho bên vợ chồng anh Linh Nhưng vợ chồng anh Linh cũng cố ý không thực hiện nghĩa vụ thay cho nên việc này đã gây bất lợi cho vợ chồng anh Linh
3 Anh Linh, chị Lan có phải chịu trách nhiệm về khoản nợ 3 tỷ đồng mà anh Kiên đã vay không? Tại sao?
Bảo lãnh là một giao dịch giữa người thứ ba (bên bảo lãnh) với người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính (bên nhận bảo lãnh) và người có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) Bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo
Trang 8lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Như vậy, nghĩa vụ mà bên bảo lãnh sẽ thực hiện thay có thể là nghĩa vụ trả tiền hoặc nghĩa vụ làm một công việc Nếu nghĩa vụ là một công việc phải làm thì bên bảo lãnh phải có khả năng thực hiện công việc đó mà không thể nhờ người khác thực hiện thay Cho nên khi xác lập bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh cần phải kiểm tra bên bảo lãnh có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh hay không Điều
335 BLDS 2015
Khi thoả thuận bảo lãnh được xác lập, người bảo lãnh (bên bảo lãnh) có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu có một trong những căn cứ sau:
- Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh;
- Bên được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ đó, nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;
- Bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ
Điều 47 Nghị định 11/2012/NĐ-CP quy định về xử lý tài sản bảo lãnh như sau:
“Điều 47 Xử lý tài sản của bên bảo lãnh
Việc xử lý tài sản của bên bảo lãnh theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Dân sự được thực hiện như sau:
Trang 91 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theo quy định tại Chương IV của Nghị định này.
2 Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận bảo lãnh xử lý theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu bên bảo lãnh không giao tài sản thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.
3 Tại thời điểm xử lý tài sản của bên bảo lãnh nếu bên bảo lãnh không có tài sản để xử lý hoặc khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo lãnh thì trong phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải giao tài sản có được sau thời điểm xử lý cho mình để tiếp tục xử lý.”
Trường hợp đề bài đưa ra, Ngân hàng X có đầy đủ giấy tờ chứng minh vợ chồng anh Linh, chị Lan đã thế chấp toàn bộ nhà đất của mình để bảo lãnh cho anh Kiên Và hợp đồng vay và hợp đồng bảo lãnh mà Kiên đã ký với Ngân hàng trước
đó là hoàn toàn hợp pháp Trong hợp đồng bảo lãnh này, anh Kiên là bên được bảo lãnh, vợ chồng anh Linh, chị Lan với là bên bảo lãnh, dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện cho việc trả nợ của anh Kiên với ngân hàng là bên nhận bảo lãnh Điều 342 BLDS 2015 quy định trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh:
“1 Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2 Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán gia trị nghĩa vụ vi phạm
và bồi thường thiệt hại.”
Trang 10Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa
vụ, thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ này Trường hợp này nghĩa vụ chính được chuyển cho bên bảo lãnh, vì vậy buộc bên bảo lãnh phải thực hiện đúng nghĩa
vụ
Nghĩa vụ của bên được bảo lãnh có thể là một công việc, trả tiền, trả tài sản Khi người mới được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện thay Nếu bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đó thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ phải thực hiện và bồi thường thiệt hại nếu có Trong trường hợp này, bên nhận bảo lãnh không có quyền xử lý tài sản của bên bảo lãnh Quy định này phù hợp với bản chất “đối nhân” của biện pháp bảo lãnh được định nghĩa tại Điều 335 của Bộ luật này Theo đó, bảo lãnh chỉ là cam kết của bên bảo lãnh với bên có quyền về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ
Căn cứ theo Điều 340 Bộ luật dân sự 2015, “Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu
bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì bên bảo lãnh phải thực hiện thay nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh Vì vậy, sau khi bên bảo lãnh đã thực hiện thay cho bên được bảo lãnh, thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh phải hoàn trả cho mình toàn bộ nghĩa vụ hoặc phần nghĩa vụ đã thực hiện thay
Trong tình huống trên, lợi dụng tình trạng của vợ chồng anh chị, anh Kiên nhận lời vay hộ tại Ngân Hàng X nhưng yêu cầu anh, chị phải thế chấp tài sản của mình để bảo lãnh việc sẽ trả nợ ngân hàng khi đến hạn Đồng ý yêu cầu của anh Kiên, vợ, chồng anh chị Linh không ngần ngại ký tất cả các loại giấy tờ khi anh Kiên đưa ra Tháng 10/2017, vợ, chồng anh, chị nhận được tống đạt giấy tờ của