Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu,gây ra những hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới.Nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng,nhất là khi mà chúng ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO.Khủng hoảng đã có những ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống xã hội và các nhà kinh tế học trên thế giới ,chính phủ các nước nói chung cũng như chính phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát khỏi khủng hoảng.Chính phủ Việt Nam đã có nghi quyết số 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế,duy trì tăng trưởng kinh tế,đảm bảo an sinh xã hội.Kích cầu đầu tư và tiêu dùng là một trong những chính sách kinh tế áp dụng cho thời gian suy thoái đó.Gói kích cầu của chính phủ đưa vào thực hiện đã giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách.Đối với sinh viên,là chủ nhân tương lai của đất nước,là tầng lớp trẻ của xã hội thì cuộc khủng hoảng vừa qua là cơ hội để sinh viên có được mối liên hệ giữa thực tế với kiến thức đã học. Là sinh viên đang theo học khối ngành Kinh tế tại khoa Toán kinh tế Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội,với mong muốn được tìm hiểu ,được vận dụng những kiến thức đã học để đi sâu tìm hiểu vấn đề,dưới sự hưỡng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo TS.Nguyễn Thị Minh tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của gói kích cầu tới nền kinh tế Việt Nam”, làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp cuối khóa.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã nhanh chóng lan ratoàn cầu,gây ra những hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới.Nền kinh
tế Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng,nhất là khi mà chúng ta
đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO.Khủng hoảng đã có những ảnh hưởng tớinhiều mặt của đời sống xã hội và các nhà kinh tế học trên thế giới ,chính phủ cácnước nói chung cũng như chính phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức để đưanền kinh tế của quốc gia mình thoát khỏi khủng hoảng.Chính phủ Việt Nam đã cónghi quyết số 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế,duytrì tăng trưởng kinh tế,đảm bảo an sinh xã hội.Kích cầu đầu tư và tiêu dùng là mộttrong những chính sách kinh tế áp dụng cho thời gian suy thoái đó.Gói kích cầu củachính phủ đưa vào thực hiện đã giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách.Đối với sinhviên,là chủ nhân tương lai của đất nước,là tầng lớp trẻ của xã hội thì cuộc khủnghoảng vừa qua là cơ hội để sinh viên có được mối liên hệ giữa thực tế với kiến thức
đã học
Là sinh viên đang theo học khối ngành Kinh tế tại khoa Toán kinh tế Đại họckinh tế quốc dân Hà Nội,với mong muốn được tìm hiểu ,được vận dụng những kiếnthức đã học để đi sâu tìm hiểu vấn đề,dưới sự hưỡng dẫn chỉ bảo tận tình của cô
giáo TS.Nguyễn Thị Minh tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của gói kích cầu tới nền kinh tế Việt Nam”, làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp cuối khóa.
Ngoài các phần như: mở đầu,kết luận,tài liệu tham khảo thì nội dungchuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu chung
Chương 2: Nền kinh tế Việt Nam và chính sách kích thích kinh tế của
chính phủ năm 2008-2009
Chương 3: Áp dụng mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của gói kích
cầu tới nền kinh tế Việt Nam
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Khủng hoảng tài chính
Khái niệm về khủng hoảng tài chính
Có thể nói: ‘‘Khủng hoảng tài chính tiền tệ chính là sự đổ vỡ trầm trọng các
bộ phận của thị trường Tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng
và tổ chức tài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là sự đông cứng và bất lực của thị trường tài chính sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạt động kinh tế’’.
Dấu hiệu của khủng hoảng tài chính
Tùy theo mức độ và phạm vi,khủng hoảng tài chính thể hiện qua các điểm sau đây:
- Sự giảm giá dây chuyền của các đồng tiền
- Tỷ giá hối đoái tăng đột biến và dây chuyền
- Lãi suất tín dụng gia tăng: lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ ,cầu tín dụnggiảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm
- Hệ thống ngân hàng bị tê liệt
- Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng
- Các hoạt động kinh tế bị suy giảm
Một số dạng khủng hoảng đặc thù
Khủng hoảng ngân hàng: rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận
tiền gửi của các thể nhân và pháp nhân để cho vay nên rủi ro dồn cả về mặt sốlượng, thời hạn cũng như chủng loại tiền Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng
do cho vay quá mức và không thu hồi lại được dẫn đến tỉ lệ nợ quá hạn cao làmngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi đến hạn
Khủng hoảng nợ quốc gia:trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài (vay chính
thức, vay thương mại) quá nhiều ,sử dụng không hiệu quả vốn nên không trả được
nợ đúng hạn ,lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ,xóa bỏ thậm chí phảituyên bố vỡ nợ(như trường hợp của CHDCND Triều Tiên)
Trang 3Khủng hoảng tiền tệ:là hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ
đến hạn hay đáp ứng nhu cầu cả thực tế và giả tạo do đầu cơ buộc chính phủ phảidùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giả hối đoái hoặc phá giá nội tệ cho nội tệ mất
uy tín nhanh chóng
Khủng hoảng thị trường chứng khoán:khủng hoảng thị trường chứng khoán xảy ra
khi giá chứng khoán biến động mạnh (‘‘tuột dốc’’ hay ‘‘không thang’’ quá nhanh)ngoài tầm kiểm soát và do hiệu ứng ‘‘bầy đàn’’ làm cho chứng khoán bị ‘‘bán
đổ ,bán tháo’’ hay thị trường bị ‘‘đông cứng’’ vì không có giao dịch tạo ra sự thâmhụt giữa tiền (chứng khoán) vào so với tiền ra thị trường chứng khoán (quỹ chứngkhoán)
Khủng hoảng cán cân thanh toán (cán cân vãng lai),cán cân vốn(còn được gọi là tài khoản) là cấu thành quan trọng nhất của tài khoản quốc gia: khủng hoảng xảy ra khi
cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp
Khủng hoảng khả năng thanh khoản : khủng hoảng tính thanh khoản là sự mất can
đối chủ yếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của ‘‘giống như tiền’’ và một sốloại tài sản đặc thù
Khủng hoảng ngân sách: ngân sách nhà nước thâm hụt nặng và kéo dài trong khi
các nguồn thu bù đắp thâm hụt (in tiền,vay nợ trong và ngoài nước) bị hạn chế haykhông thể lạm dụng hơn nữa nếu muốn trốn tránh hậu quả như vỡ nợ hay bùng nổlạm phát
Hệ quả và hậu quả của khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính, nói chung thường gây ra những tác động lớn đối với
cả xã hội Bởi kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc ổn định trật tự xã hội, nênkhi nền kinh tế bị tác động mạnh,nó sẽ kéo theo những ảnh hưởng( cả tích cực lẫntiêu cực) trong mọi lĩnh vực,mọi khía cạnh của đời sống
Xét về mặt tiêu cực, khủng hoảng tài chính góp phần không nhỏ làm đảo lộntrật tự xã hội Trong tất cả các doanh nghiệp,tài chính luôn là vấn đề cốt lõi nhằmduy trì sự hoạt động của doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động Khi gặpphải khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp khó có khả năng mở rộng đầu tư và
Trang 4phát triển, gây sự đình trệ trong công việc, thậm chí còn có thể phá sản Sự phá sảncủa doanh nghiệp này sẽ tác động tới các doanh nghiệp khác, và cao hơn nữa là tácđộng tới toàn bộ nền kinh tế,theo một hiệu ứng dây chuyền( tùy theo quy mô củadoanh nghiệp) Không những thế khủng hoảng tài chính còn góp phần gây ra nhữngbất ổn về xã hội do lượng người thất nghiệp gia tăng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính cũng có những tác động tíchcực lên nền kinh tế Nó báo hiệu sự chấm dứt thế hệ độc tôn của các ‘‘ông lớn’’ trênthị trường tài chính, góp phần làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế Đồng thời,khủng hoảng tài chính cũng buộc người ta phải xem xét, sửa đổi các nguyên tắc đãquy định lên hệ thống tài chính từ trước đến nay, loại bỏ những nguyên tắc đãkhông còn thích hợp để tạo ra theo kịp những biến đổi trong xã hội,từ đó có cái nhìnđúng đắn hơn và chủ động ứng phó với những cuộc khủng hoảng trong tương lai
Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính
Giá hàng hóa leo thang: Khi giá hàng hóa leo thang một cách chóng mặt ,đặc biệt
là giá vàng và giá dầu sẽ khiến cho khủng hoảng tài chính dễ dàng xảy ra Các ngânhàng trên thế giới đồng loạt thua lỗ,các ngân hàng và các định chế tài chính có thểthua lỗ hàng tỷ đola Mỹ từ cuộc khủng hoảng tín dụng do khủng hoảng nợ phếchuẩn cho vay cầm cố ,do đó các ngân hàng sẽ thực hiện các chính sách thắt chặtviệc cho vay
Thị trường tín dụng bị đóng băng: Các khoản vay thế chấp đã giảm hẳn trong năm 2008,
trong đó khoản vay thế chấp thương mại hoàn toàn bị biến mất trên biểu đồ
Thị trường địa ốc sụp đổ: Thị trường nhà của Mỹ phát triển thành bong bóng từ
năm 2001, người Mỹ đồng loạt đi vay tiền mua nhà ở cho dù năm 2004-2005 lãisuất các khoản vay đã được đẩy lên cao, khi tình hình kinh tế khó khăn thì giá hạxuống mạnh, từ cuối năm 2008 bong bóng nhà ở bắt đầu xẹp hơi, khiến nền kinh tếchao đảo
Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là cácvấn đề liên quan đến thị trường nhà ở địa ốc, thêm vào đó, tình trạng hoảng loạntrên thị trường tài chính thế giới cũng là nguyên nhân quan trọng khiến giá cổ phiếu
Trang 5giảm mạnh và thị trường tín dụng bị thu hẹp Nói cách khác có thể thấy cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu hiện nay là do tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDPvượt quá giá trị có thể đảm bảo một sự phát triển ổn định trong tương lai.
Phương thức chung giải quyết một cuộc khủng hoảng tài chính
Trước hết , chúng ta phải giải tỏa được những hoảng sợ về thanh khoản, vềtính lỏng bằng hai chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phụccác thành viên thị trường họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản củamình để thị trường yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt Người đóng vai trò cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấpthanh khoản cho thị trường và để thị trường tự phân bổ ,điều tiết lượng thanh khoản
đó Khi đó, công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp hữu hiệu giúp NHTW cho vay lànghiệp vụ thị trường mở với các giao dịch mua bán lại các tín phiếu Kho bạc dochính phủ phát hành Ngoài công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp là cho vay trênnghiệp vụ thị trường mở, cho vay trực tiếp với lãi suất phạt NHTW ở tình thế rấtkhó khăn do phải bảo vệ tỷ giá trong khi thị trường cho rằng cuối cùng thì việc bảo
vệ tỷ giá không quan trọng bằng các mục tiêu vĩ mô và đến một lúc nào đó thì đồngtiền sẽ giảm giá
1.2 Kích cầu
Khái niệm
Kích cầu:theo Bách khoa toàn thư mở, Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi
tiêu ròng của chính phủ( hay còn gọi là tiêu dùng công cộng) để làm tăng tổng cầu,kích thích tăng trưởng kinh tế
Quan điểm của Keynes về kích cầu:
Keynes là một nhà kinh tế học người Anh hình thành nên Kinh tế học Keynes,
có ảnh hưởng lớn tới kinh tế học hiện đại và chính trị cũng như các chính sách tàichính của nhiều chính phủ, hầu hết các quan điểm của ông đều trái ngược với cácnhà kinh tế học có điểm nổi bật là sự khác nhau về chi tiêu trong thời kì suy thoáikinh tế
Trang 6Trong khi trường phái cổ điển khuyến khích tiết kiệm và sống cuộc sống tằntiện, họ rất quan tâm vấn đề tích lũy tư bản và bào chữa khuyến khích cho việcthăng bằng thu chi ngân sách bởi vì xuất phát từ quan điểm của Adamsmit chi tiêucủa nhà nước dựa trên cơ sở thu ,và cho rằng chhi tiêu của nhà nước hoàn toàntrung lập với hoạt động kinh tế nhưng Keynes lại khuyến khích tiêu dùng trong thời
kì suy thoái Theo Keynes trong ngắn hạn tất cả các vấn nạn trong nền kinh tế đều
có nguyên nhân từ tổng cầu Và ông cho rằng lượng cung hàng hóa là do lượng cầuquyết định Do đó ,vào những thời kì suy thoái kinh tế ,nếu tăng lượng cầu ,đầu tưhàng hóa công cộng (tăng chi tiêu công cộng) , thì sản xuất và việc làm sẽ tăngtheo ,cần phải thiếu hụt ngân sách trong những thời kì kinh tế suy thoái ,để thúc đẩychi tiêu kinh tế trên cơ sở đó nhanh chóng phục hồi kinh tế
Keynes còn đưa ra mô hình số nhân: số nhân là tỉ số thay đổi trong mức độcân bằng của sản lượng khi có sự thay đổi trong một biến tự định Và ông đã chứngminh được rằng:
∆Yo=[1/(1-MPC)] ∆Io
Theo một báo cáo nghiên cứu của Zandi(2004) đối với gói kích cầu năm 2001của Mỹ thì hiệu quả của gói kích cầu cao nhất chính là trợ cấp thất nghiệp (tức làhướng dẫn tới nhóm người dễ bị tổn thương nhất do suy thoái) Một đô la kích cầutạo ra được 1,73 đô la cầu tiêu dùng Tiếp đó là các biện pháp như miễn giảm thungân sách cho các địa phương ,giảm thuế suất
Trang 7
Bảng 1: Hiệu quả của chính sách kích cầu
Hiệu quả của chính sách kích cầu
Chính sách kích thích
Lượng cầutạo ra trên một
đô la kích cầu
Miễn giảm thu ngân sách cho các địa phương 1,24
Tăng tín dụng thuế đối với gia đình có trẻ em 1,04
Tăng giãn thuế cho các doanh nghiệp nhỏ 0,24Cắt giảm thuế đối với cổ tức và lãi trên vốn 0,09
Những nguyên tắc cơ bản để thực hiện chính sách kích cầu
Nguyên tắc số 1 – Kích cầu phải kịp thời:
Kích cầu phải kịp thời ở đây không phải chỉ là việc kích càu phải được chínhphủ thực hiện một cách nhanh chóng khi xuất hiện có suy thoái, mà kịp thời còn có
Trang 8nghĩa là một khi được chính phủ thực hiện thì những biện pháp này sẽ có hiệu ứngkích thích ngay ,tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế Nếu để tự nền kinh
tế phục hồi thì việc phục hồi sớm muộn cũng sẽ diễn ra,mặc dù việc phục hồi có thểkéo dài ,cho nên mục tiêu của kích cầu là đẩy nhanh việc phục hồi của nền kinh tế
Do đó ,việc kích cầu chỉ có thể được thực hiện một cách có ý nghĩa trong mộtkhoảng thời gian nhất định Các chính sách mất quá nhiều thời gian để thực hiện sẽkhông có tác dụng ,vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có thể phục hồi ,và việc gói kíchcầu lúc đó lại có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóng nền kinh tế dẫnđến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô lớn
Nguyên tắc số 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng:
Gói kích cầu có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào xu hướngchi tiêu và đầu tư của các đối tượng thuộc diện nằm trong gói kích cầu Để kíchthích được cầu đối với hàng hóa và dịch vụ ,thì gói kích cầu phải được nhắm tớinhóm đối tượng sao cho gói kích cầu được sử dụng ngay (chi tiêu ngay), và qua đólàm tăng tổng cầu trong nền kinh tế Những biện pháp kích cầu đúng đối tượng lànhững biện pháp nhắm tới các đối tượng sẽ chi tiêu hầu như toàn bộ lượng kích cầudành cho họ Mục tiêu của gói kích cầu là làm tăng cầu ,nên chìa khóa để thực hiệnđiều này là cấp tiền cho những người (có thể là các cá nhân,hộ gia đình, doanhnghiệp và chính quyền)- sẽ sử dụng những đồng tiền này ,và qua đó đưa thêm tiềnvào nền kinh tế Tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đốitượng này tiến hành các khoản chi tiêu mới ,hoặc hạn chế việc các nhóm này cắtgiảm chi tiêu
Nguyên tắc số 3- Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế đượccải thiện Khi thực hiện các biện pháp kích cầu phải đảm bảo rằng các biện phápgiảm thuế, tăng chi tiêu chính phủ đều chỉ có tính tạm thời và sẽ chấm dứt khi nềnkinh tế đã vượt qua suy thoái Và thông thường sau khi vượt qua suy thoái nên thựchiện các biện pháp để hạn chế và giảm thâm hụt ngân sách Nguyên tắc ngắn hạn cóhai ý nghĩa: (1) Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích
Trang 9cầu; và (2) Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngânsách trong dài hạn.
(1) Tính ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu:
Những chính sách mà vẫn còn hiệu lực sau khi nền kinh tế phục hồi, ví dụ nhưchính sách cắt giảm thuế cố định (permanent tax cuts) là những biện pháp kích cầukém hiệu quả bởi vì những biện pháp kích thích này sẽ trở thành những khoản chiphí của chính phủ hoặc khoản thất thu khi mà thời gian cần kích thích đã kết thúc (2) Ngắn hạn để dảm bảo không làm ảnh hưởng tới ngân sách trong dài hạn:Thông thường khi thực hiện các biện pháp kích thích nền kinh tế bằng việc mởrộng chi tiêu(tạm thời) của chính phủ sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách Trong năm
2009, dự kiến một loạt các nước phát triển sẽ bị thâm hụt ngân sách trầm trọng TạiHoa Kỳ, thâm hụt của năm 2009 sẽ lên tới hơn 1000 tỷ USD, tại Anh con số thâmhụt ngân sách dự kiến sẽ lên tới 181 tỷ USD Do đó một nguyên tắc vô cùng quantrọng là phải đảm bảo rằng các chính sách kích thích nền kinh tế trong ngắn hạnkhông có tác động xấu tới nền kinh tế trong dài hạn hoặc gây khó khăn cho ngânsách trong dài hạn Do đó, các gói kích cầu chỉ được phép mang tính tạm thời, vàtrong ngắn hạn có thể làm tăng thâm hụt ngân sách, nhưng trong dài hạn khôngđược phép làm thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn
Các biện pháp của chính phủ để thực hiện chính sách kích cầu
Chính sách tài khóa: Để duy trì tổng cầu ,Nhà nước phải sử dụng ngân sách để
kích thích đầu tư của tư nhân và Nhà nước thông qua tăng chi tieu của Chính phủ,các đơn đặt hàng của Nhà nước… Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần cải thiện hệthống thuế khóa theo hướng khuyến khích tiêu dùng của cá nhân Để tăng thu nhậpđược quyền sử dụng của các tầng lớp dân cư thì phải giảm các khoản thuế thu nhập
và các khoản đóng góp khác
Như chúng ta thấy, trước sự suy thoái của nền kinh tế, biện pháp mà được hầu hếtcác chính phủ các nước sủ dụng đó là chính sách tài khóa mở rộng: tăng chi, giảmthu với mục tiêu cuối cùng là đưa sản lượng về mức sản lượng tiềm năng
Xét trên mô hình kinh tế, với: AD là đường tổng cầu
Trang 10Y là mức sản lượng
P là mức giá
Mức sản lượng Y1 – tương ứng với đường tổng cầu AD1
Mức sản lượng Y0 – tương ứng với đường tổng cầu AD0 – Đây là mức sản lượngtiềm năng trên thị trường cân bằng, tức là cung = cầu
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp, mức sản lượng trên thịtrường lúc này là Y1 < Y0
Nền kinh tế đang rơi vào tình trạng suy thoái với mức cung < mức cầu, điều nàylàm cho giá cả hàng hóa tăng lên cao dẫn tới áp lực suy thoái đang đe dọa tới nềnkinh tế và nó đòi hỏi chính phủ phải ra tay hành động để làm tăng tổng cầu thôngqua tăng chi tiêu chính phủ, tăng mua sắm hàng hóa, dịch vụ hoặc giảm thuế Nếu
Y
P
P 0
P 1
Trang 11làm được điều này thì đường tổng cầu AD1 sẽ dịch dần lên trên, và khi AD1 tiến đến
AD tức là Y1 dần tới Y*, sản lượng thực tế sẽ bằng sản lượng tiềm năng Lúc nàythị trường ổn định, thất nghiệp sẽ giảm và điều tất nhiên là tỉ lệ thất nghiệp thực tế
sẽ trở về với tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên Như vậy là vấn đề đã được giải quyết
Nhưng trên thực tế, khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng cần lưu ý đó là: Khi
AD1 tiến đến AD thì chính phủ phải dừng thực hiện chính sách này ngay vì nếu tiếptục thực hiện thì đường cầu AD1 sẽ dần tiến tới AD2, khi đó Y1 tiến tới Y2 > Y*.Trong trường hợp này, mức sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng,nền kinh tế bị áp lực cao của lạm phát Biện pháp áp dụng để giải quyết vấn đề màcác chính phủ đã sử dụng đó là: giảm chi tiêu và tăng thuế, nhờ đó mức chi tiêuchung giảm đi, sản lượng sẽ giảm theo và lạm phát chững lại
Trang 12Tác động của chính sách tài khóa:
Khi chính phủ tăng chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ một lượng ∆G, tổng cầu của nềnkinh tế tăng lên làm dịch chuyển đường IS sang phải Kết quả tổng hợp là làm chothu nhập tăng từ Y1 lên Y2 và lãi suất theo đó cũng tăng từ i1 lên i2
Khi chính phủ giảm thuế 1 lượng là ∆T,thay đổi của chính sách này làm tăng tổng cầu.Sự gia tăng AD làm dịch chuyển IS sang phải,kết quả tổng hợp là thu nhập tăng
từ Y1 lên Y2 và lãi suất tăng từ i1 lên i2
Trang 13Chính sách lưu thông tiền tệ,tín dụng ngân hàng: Để kích thích tổng cầu, Chính phủ
nên dùng chính sách tiền tệ mở rộng nhằm giảm lãi suất để kích thích đầu tư và tiêu dùng Lãi suất hạ, nhà đầu tư sẽ có lợi và họ sẽ mở rộng đầu tư, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập gia tăng Lãi suất thấp, người tiêu dùng cũng sẽ mở rộng tiêu dùng vì việc tiêu dùng lúc này có lợi hơn là giữ tiền ở các tài khoản tiết kiệm Như vậy, cần phải thực hiện các giải pháp làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông như:
hạ lãi suất chiết khấu ,giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc,phát hành thêm tiền cho lưu thông
để tăng thu nhập bằng tiền cho xã hội, tung thêm đồng nội tệ để mua ngoại tệ…
Chính sách thương mại: Cải thiện cán cân thương mại theo xu hướng tăng xuất
khẩu và giảm dần nhập khẩu Tăng xuất khẩu có tác động tăng công ăn việc làm,tăng thu nhập,tăng tiêu dùng và kinh tế nội địa sẽ tăng trưởng Đồng thời phải điềuchỉnh tỉ giá hối giá theo hướng khuyến khích xuất khẩu,hạn chế nhập khẩu, bêncạnh đó cũng phải khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa
Trang 14Một số hạn chế của chính sách kích cầu
Có thể nói chính sách kích cầu của Chính phủ là một biện pháp khá hữu hiệu
để đưa nền kinh tế thoát khỏi giai đoạn trì trệ, khủng hoảng Mặc dù vậy, chính sáchkích cầu cũng có 1 số hạn chế nhất định sau:
Thứ nhất,chính sách kích cầu chỉ phát huy tác dụng khi sản lượng còn nằmdưới mức sản lượng tiềm năng.Nếu sản lượng của nền kinh tế đã ở mức sản lượngtiềm năng thì sự gia tăng chi tiêu của các bộ phận trong nền kinh tế không hề làmtăng thêm sản lượng mà chỉ làm tăng giá,dẫn đến lam phát cao gây ảnh hưởng xấucho nền kinh tế
Thứ hai,việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để kích kinh tế cũng cónhiều hạn chế như: trong thực tế rất khó để tính toán việc gia tăng chi tiêu và giảmthuế với liều lượng bao nhiêu là thích hợp; đồng thời độ trễ của chính sách tài khóa
là khá lớn và phụ thuộc vào nhiều các yếu tố chính trị cũng như cơ cấu tổ chức bộmáy
Thứ ba,chính sách giảm lãi suất không hiệu quả trong một số trường hợp,đặcbiệt là trong điều kiện tự do di chuyển tư bản trên phạm vi toàn cầu hiện nay,mộtkhi có nước nào đó giảm lãi suất thì tức thời sẽ xảy ra hiện tượng rút vốn đầu tư ởnước đó di chuyển vào những nước có lãi suất cao hơn nên làm cho đầu tư trongnước không tăng mà lại sụt giảm và ngược lại
Thứ tư,chính sách tăng giá tạo ra lạm phát để giải quyết nan thất nghiệp cũngkhông thành công.Trong một số trường hợp giá cả tăng song song với nạn thấtnghiệp cũng gia tăng
Trang 15
CHƯƠNG 2: NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH KÍCH
THÍCH KINH TẾ NĂM 2008-2009
2.1 Kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam năm 2008-2009
2.1.1 Tình hình kinh tế thế giới năm 2008-2009
Khủng hoảng tài chính 2007-2010 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡhàng loạt hệ thống ngân hàng ,tình trạng đói tín dụng,tình trạng sụt giá chứng khoán
và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới,có nguồn gốc từ khủnghoảng tài chính ở Hoa Kỳ
Bong bong nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đãdẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh
từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mậtthiết của Hoa Kỳ với nhiều nước Cuộc khủng hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ranhiều nước trên thế giới ,dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế ,suy giảmtốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới
Năm 2008, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chỉ đạt 3% thấp hơn nhiều so với mức5,2% của năm 2007 và thấp hơn mức dự đoán là 3,9% Kể từ cuộc đại suy thoáinăm 1029-1930, thì đây có thể xem là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất Đây làmột sự sụt giảm đáng kể đối với nền kinh tế thế giới
Trang 16Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế Thế giới năm 2005- 2009
Cụ thể hơn trong 3 quý đầu năm 2009, GDP của một số nước giảm mạnh so với năm 2008, ta có bảng so sánh sau:
Trang 17Morgan Stanley, Citigroup, AIG,…cũng lâm nạn Tình trạng đói tín dụng xuất hiệnlàm cho khu vực kinh tế thực của Hoa Kỳ cũng rơi vào tình thế khó khăn , điển hình
là cuộc khủng hoảng ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ 2008-2010
Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones lúc đóng cửa ngày 9 tháng 3 năm
2009 là 6.547,05 mức thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997 Chỉ trong vòng 6 tuần lễ,chỉ số này sụt tới 20%
Biểu đồ 2: Chỉ số Dow Jones 2006-2009
Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển ,nhất là các nước ở châu Âu, cũngtham gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa Kỳ Chính vì vậy, bong bóngnhà ở của Hoa Kỳ bị vỡ cũng làm cho các tổ chức tài chính này gặp nguy hiểmtương tự như các tổ chức tài chính của Hoa Kỳ Những nước châu Âu bị rối loạn tàichính nặng nhất là Anh, Iceland, Bỉ và Tây Ban Nha
Ngay từ tháng 9 năm 2007, Northern Rock của Anh bị tình trạng đột biến rúttiền gửi và hậu quả là phải chịu quốc hữu hóa Đột biến rút tiền gửi còn làm căngthẳng các ngân hàng khác của nước này Sang năm 2008, đến lượt Bradford &Bingley của Anh phải chịu chia nhỏ thành hai công ty riêng biệt Các ngân hàng
Trang 18khác phải chịu đổi chủ sở hữu bao gồm Catholic Building Society, Alliance &Leicester London Scottish Bank và Dunfermline Building Soiety phải chịu sự giámsát đặc biệt của Chính phủ Anh.
Khi hệ thống Ngân hàng yếu đi thì việc cho vay sẽ bị hạn chế, thu nợ khó, khiến cho lãi suất cho vay cũng tăng cao, điều này dẫn đến chi phí sản xuất tăng và đương nhiên giá cả hàng hóa cũng tăng cao, khi đó hàng tồn kho của các doanh nghiệp càng nhiều khiến lượng công nhân mất việc làm tăng lên nhanh chóng, lúc này lạm phát và thất nghiệp của các nước cũng sẽ tăng
Biểu đồ 3:Tỷ lệ thất nghiệp năm 1992-2009
Trang 19
Biểu đồ 4: Tỷ lệ lạm phát năm 1987-2008
Cuộc khủng hoảng kinh tế khiến an ninh lương thực toàn cầu bị đe dọa, số người bị đói tăng cao, hơn 30 quốc gia đối mặt với nguy cơ đói lương thực Năm 2008 số người bị đói tăng lên hơn 1 tỷ người, và hơn 30 quốc gia hiện đang phải đối mặt vớinguy cơ thiếu lương thực đáng báo động
Biểu đồ 5: Số người bị suy dinh dưỡng trên thế giới
Trang 20Thị trường chứng khoán
Các thị trường chứng khoán lớn của thế giới ở New York, London, Paris,Frankfurt, Tokyo đều có thời điểm sụt giá lớn lịch sử
Ở châu Âu, chỉ số FTSE 100 từ mức 4789,79 xuống còn 4699,82
Chỉ số DAX hôm 2 tháng 3 năm 2009 chỉ còn 3666,4099 điểm so với8067,3198 hôm 27 tháng 12 năm 2007
Chỉ số CAC 40 hôm 2 tháng 3 năm 2009 cũng xuống mức thấp kỉ lục 2534,45điểm
Nhật Bản có một hệ thống tài chính tương đối vững vàng đã trải qua một thời
kì tái cơ cấu sau khủng hoảng 1966-1997 Tuy nhiên, tác động tiêu cực từ khủnghoảng tài chính Hoa Kỳ vẫn khiến cho thị trường chứng khoán của nước này rốiloạn Chỉ số giá cổ phiếu bình quân Nikkei đã xuống mức thấp lịch sử vào các ngày
8 và 10 tháng 10 năm 2008
Gói kích thích kinh tế của một số nước trên thế giới
Mỹ: Ngân hàng đầu tư lớn thứ tư của Mỹ, Lehman Brothers có 158 năm lịch
sử, có vốn cổ phần khoảng 28 tỉ USD, có 26 ngàn nhân viên, quản lí lượng tài sản
600 tỉ USD, đã chính thức nộp đơn xin bảo hộ phá sản ngày thứ 2, 15/9/2008 ,bêncạnh đó Merill Lynch, ngân hàng đầu tư có gần 100 năm lịch sử, 60 ngàn nhân viên,quản lý tổng tài sản 1,6 ngàn tỉ USD , đã bị Bank of America thâu tóm tránh được
sự phá sản Trước tình hình đó để cứu vãn tình thế tổng thống Mỹ - Barack Obama
đã đătk bút kí duyệt gói kích thích khổng lồ trị giá 787 tỉ USD dành cho các chi tiêuliên bang, cắt giảm thuế và tạo ra hàng triệu việc làm
Trang 21
Cơ cấu gói kích cầu 787 tỷ USD của Mỹ
Nhật : Trước tình hình đó đã tung ra gói kích cầu trị giá 15.400 tỉ Yên (154 tỉ
USD) chủ yếu là trợ giá và giảm thuế, nhằm ngăn chặn cuộc suy thoái nặng nề nhấtcủa nền kinh tế lớn thứ hai thế giớ, trong gói kích cầu 15.400 tỉ yên lần này sẽ có1.900 tỉ yên dành cho việc duy trì việc làm và tái huấn luyện nghề nghiệp cho cáccông nhân bị mất việc, 3000 tỉ yên hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp giữa lúctín dụng ngân hàng bị đóng băng và2000 tỉ yên dành cho các chương trình cải cách
y tế và chăm sóc trẻ em Ngoài ra, Nhật Bản cũng sẽ dành 1.600 tỉ yên cho các côngnghệ than thiện với môi trường, cụ thể là đưa điện mặt trời giá rẻ đến các gia đìnhngười dân và trợ giá 5% cho người mua các loại tivi và thiết bị gia dụng tiêu hao ítnăng lượng
Trang 22
B ng 2: quy mô kích c u c a m t s n ảng 2: quy mô kích cầu của một số nước ầu của một số nước ủa một số nước ột số nước ố nước ước c
Nha 11 0,69% Gruzia 2,2 17%
2.1.2 Ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng tài chính tới kinh tế Việt Nam
Về lao động việc làm: do sản xuất trong nước giảm khiến tỉ lệ thất nghiệp
tăng, năm 2008 tỷ lệ thất nghiệp là 2,38% tính chung theo cả nước; 4.65% đối với khu vực thành thị; 1,53% đối với khu vực nông thôn Tỉ lệ thiếu việc làm năm 2008 tính chung là 5,1%; khu vực thành thị là 2,34%; khu vực nông thôn 6,1% và ta thấy khu vực nông thôn có tỉ lệ thiếu việc làm cao nhất
Sang năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị của Việt Nam năm
2009 là 4,66% Tỷ lệ thiếu việc làm của Việt Nam ở mức 5,1%, khu vực nông thôn lên tới 6,1%, còn khu vực thành thị là 2,3% Theo đánh giá thì ở Việt Nam, tỷ lệ laođộng thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp Trong đó, khu vực nông thôn thường có tỷ lệ thiếu việc làm cao hơn so với thành thị Nhưng nhìn chung cuộc khủng hoảng tài chính đã đẩy cuộc sống của một bộ phận người dân mất việc làm càng ngày càng khó khăn
Trang 23Bảng 3:Tỷ lệ lao động và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ
Về tăng trưởng kinh tế: Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã ảnh hưởng
đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của nước ta trong năm 2008 Dựkiến tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2008 chỉ đạt khoảng 6,7%, thấp hơn chỉtiêu đã được Quốc hội thông qua là 7% Với những tác động ban đầu của khủnghoảng tài chính thế giới đến đầu tư nước ngoài ,thương mại tài chính tiền tệ… trongthời gian vừa qua ,cũng như phạm vi ảnh hưởng của khủng hoảng đến kinh tế thếgiới ,nền kinh tế nước ta cũng sẽ còn gặp khó khăn trong năm 2009 và các năm tiếptheo
Trang 24Biểu đồ 6: Tăng trưởng GDP của Việt Nam (2001-Q2/2009)
Về xuất nhập khẩu: Từ sau giai đoạn mở cửa kinh tế ,thương mại của Việt
Nam tăng lên rất nhanh Năm 2007, thâm hụt thương mại là 14,12 tỷ USD Trong
đó kim ngạch hàng xuất khẩu là 48,57 tỷ USD, kim ngạch hàng nhập khẩu là62,67% Năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 143,3 tỷUSD ,trong đó kim ngạch hàng hóa XK ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% sovới năm 2007, kim ngạch hàng hóa NK ước tính 80,4 tỷ USD , tăng 28,3% so vớinăm 2007 Hết tháng 12 năm 2008, thâm hụt thương mại của Việt Nam là 18,03 tỷUSD đạt con số kỉ lục từ trước đến nay ,tăng 27,7% so với con số 14,12 tỷ USD củanăm 2007 Đối với XK, kim ngạch XK tăng 29,5%, cả nước có 12 nhóm hàng đạttrên 1 tỷ USD, đặc biệt hàng dầu thô đã vượt 10 tỷ USD ,trong đó có 5 hàng XKvượt kế hoạch là gạo,điều, giày dép, hàng hải sản và hàng rau quả Tuy nhiên cónhiều nhóm hàng có kim ngạch cao đã không hoàn thành kế hoạch năm như cà phê,cao su, dầu thô, than đá, chè các loại Một số khác không hoàn thành kế hoạch năm
về kim ngạch như hàng dệt may, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, gỗ vàcác sản phẩm gỗ Về NK, kim ngạch NK tăng 28,3%, cả nước có 12 nhóm hàng có
Trang 25kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó hàng xăng dầu và máy móc thiết bị phụ tùng NKtrên 10 tỷ USD (Theo số liệu thống kê Hải quan VN).
Bảng 4: Cán cân thanh toán của Việt Nam 2006-2009 (tỷ USD)
Trang 26Bảng 5: Chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu năm 2000-2009
Tư liệu sản xuất 120.6 94.7 99.3 116.7 126.6 132.4 114.2 108.7 140.9 71.0
Nguyên, nhiên, vật liệu 121.3 94.5 99.3 117.4 127.8 134.2 115.1 109.4 143.8 68.5 Máy móc, thiết bị, phụ tùng 100.4 100.0 100.3 100.7 97.9 100.5 100.5 105.2 112.1 88.2
CHỈ SỐ GIÁ NHẬP KHẨU CHUNG
Chỉ số chung 103.4 98.3 99.9 103.4 109.6 107.8 103.8 105.1 118.2 88.4
Hàng tiêu dùng 96.5 97.6 97.8 101.1 100.8 102.2 101.3 106.9 110.2 95.3
Lương thực , thực phẩm 99.2 96.9 98.8 103.5 105.9 103.4 104.0 117.5 121.6 90.4 Hàng phi lương thực, thực phẩm 93.8 97.8 97.6 100.6 100.3 102.1 100.8 105.4 108.4 96.1
Tư liệu sản xuất 104.9 98.4 100.2 103.8 112.6 109.5 104.6 104.7 120.5 86.5
Nguyên, nhiên, vật liệu 105.5 97.7 99.9 104.8 114.8 111.6 105.3 106.0 127.1 82.3 Máy móc, thiết bị, phụ tùng 98.5 100.5 101.3 100.4 101.1 101.6 100.8 101.0 103.6 97.4
Trang 28Biểu đồ 7: Chỉ số lạm phát của Việt Nam
Biểu đồ 8: Đồ thị giá thép Việt Nam năm 2008
Trang 29Ngành ngân hàng Việt Nam : bị ảnh hưởng không đáng kể bởi hầu hết các
ngân hàng Việt Nam là NHTM, phục vụ cho vay tiêu dùng, cho vay doanh nghiệp,
độ phân tán rủi ro cao và không có sự liên thông đầu tư với các ngân hàng đầu tưlớn của Mỹ như các nước khác
Đầu tư trực tiếp(FDI): Ở Việt Nam có lẽ cũng không bị ảnh hưởng nhiều từ
cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ Các nhà đầu tư chính ở Việt Nam là Nhật Bản, HànQuốc, Đài Loan… Ngay cả những công ty chế tạo của Mỹ nếu có kế hoạch đầu tưvào Việt Nam cũng sẽ không vì cuộc khủng hoảng này mà đình hoãn kế hoạch đó.Kinh nghiệm của thập niên 1990 cho thấy kinh tế Nhật suy thoái hầu như không ảnhhưởng gì đến FDI của họ ở Trung Quốc và Việt Nam Kinh nghiệm của Intel taiViệt Nam cũng cho thấy công ty này chậm triển khai kế hoạch đầu tư ở nước ta chủyếu vì không đảm bảo được nguồn nhân lực có trình độ cao cần thiết
Biểu đồ 9: Dòng vốn FDI vào Việt Nam
Đối với Bất động sản: Chỉ có FDI vào lĩnh vực khu cao ốc văn phòng, resort
cao cấp là có thể bị ảnh hưởng, tuy nhiên sự suy giảm trong lĩnh vực đầu tư nàykhông phải là điều đáng lo ngại
Đối với Thị trường chứng khoán: thị trường chứng khoán Việt Nam diễn
biến phức tạp Chứng khoán tụt dốc không phanh 10/2007 từ mức 1.090 điểm; đến
Trang 30cuối 12/2008 còn 290 điểm, tức giảm 70%.Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu có tác động tới thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu tháng 9/2008 Cụ thể là sau bốn năm liền tăng trưởng trên 20%, thì lần này VN-Index (VnIndex bao gồm tất cả các cổ phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh) lại mất tới 66% giá trị trong năm 2008: mở đầu năm ở mức 921 điểm nhưng kết thúc ngày 31/12 chỉ còn hơn 315 điểm Chỉ số HaSTC (Hastic Index bao gồm tất cả các cổ phiếu được niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội) cũng mất đi 67,5% Đây là mức độ sụt giảm cao trong khi hầu hết các chỉ số chứng khoán lớn trên thế giới chỉ giảm từ 35%-45%.
Biểu đồ 10: Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008
Trang 31Biểu đồ 11: Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009
Đối với ngành du lịch: Ngành du lịch Việt Nam cũng không bị tác động nhiều vì
khách du lịch vào Việt Nam rất đa dạng chứ không tập trung ở phân khúc khách caocấp
2.2 Một số chính sách kích thích kinh tế của chính phủ Việt Nam 2008-2009
Trong bối cảnh đó, kinh tế thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng sẽtiếp tục khó khăn Vì vậy, chính sách kích thích kinh tế là cần thiết Ngày 11-12-
2008, chính phủ Việt Nam có quyết định số 30 về những giải pháp cấp bách nhằmngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.Nghị quyết số 30 của chính phủ bao gồm những nội dung:
Thực hiện biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng
Về kích cầu đầu tư
Đi đôi với việc tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện và khuyến khích cácthành phần kinh tế tham gia trực tiếp đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, cần tậptrung triển khai thực hiện các giải pháp cấp bách sau: rà soát lại toàn bộ các văn bản