Cùng với giá vàng, giá xăng dầu, giá sữa, giá sắt thép,… thì giá thuốc là một trong những vấn đề đang được bàn luận và quan tâm nhất trong thời gian trở lại đây. Một báo cáo gần đây xuất bản trong Med Nam Review cho rằng giá thuốc, bao gồm cả thuốc gốc (không cần bản quyền) là quá đắt đối với đa số người Việt Nam. Cũng theo Ngân hàng Thế giới trong năm 2009, chi phí chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam đứng trong số cao nhất ở Châu Á, xấp xỉ Hàn Quốc và cao hơn các nơi khác ở Đông Nam Á. Chi trên tài khỏan dược phẩm chiếm 10,3% chi tiêu của một gia đình trung bình. Do đâu mà giá thuốc ở Việt Nam lại tăng cao đến vậy? Tôi lựa chọn đề tài: “ những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và vận động của giá thuốc tân duợc trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.” Nhằm nghiên cứu và phân tích các yếu tố cũng như nguyên nhân ảnh hưởng tới sự hình thành và vận động của giá thuốc trên thị trường Việt Nam để từ đó giải thích tại sao giá thuốc tại Việt Nam lại đứng trong số những nuớc có giá thuốc cao nhất Châu Á.
Trang 1Lời nói đầu
Cùng với giá vàng, giá xăng dầu, giá sữa, giá sắt thép,… thì giá thuốc
là một trong những vấn đề đang được bàn luận và quan tâm nhất trong thờigian trở lại đây Một báo cáo gần đây xuất bản trong Med Nam Review chorằng giá thuốc, bao gồm cả thuốc gốc (không cần bản quyền) là quá đắt đốivới đa số người Việt Nam Cũng theo Ngân hàng Thế giới trong năm 2009,chi phí chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam đứng trong số cao nhất ở Châu Á,xấp xỉ Hàn Quốc và cao hơn các nơi khác ở Đông Nam Á Chi trên tàikhỏan dược phẩm chiếm 10,3% chi tiêu của một gia đình trung bình Dođâu mà giá thuốc ở Việt Nam lại tăng cao đến vậy? Tôi lựa chọn đề tài: “
những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và vận động của giá thuốc tân duợc trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.” Nhằm
nghiên cứu và phân tích các yếu tố cũng như nguyên nhân ảnh hưởng tới sựhình thành và vận động của giá thuốc trên thị trường Việt Nam để từ đó giảithích tại sao giá thuốc tại Việt Nam lại đứng trong số những nuớc có giáthuốc cao nhất Châu Á
Trang 21 Khái quát về thị trường dược phẩm
1.1 Phân loại thị trường theo các nhóm thuốc
Có rất nhiều cách thức để phân loại thuốc thành những nhóm điểnhình khác nhau Nhưng để tập trung nghiên cứu sự biến động về giá, thuốcthường đuợc chia thành hai nhóm chính là : thuốc gốc và thuốc mới phátminh
(new APIs) dùng làm thuốc (dạng thành phẩm) lần đầu, được cấp bằngsáng chế độc quyền với thời hạn bảo hộ từ 15-20 năm
hết hạn bảo hộ bằng sáng chế độc quyền Hết thời hạn bảo hộ trên, nhiềunơi có quyền sản xuất, không cần xin phép nơi sở hữu bằng sáng chế độcquyền
sáng chế độc quyền sản xuất nên số lượng hạn chế Doanh nghiệp sở hữu sẽphải đầu tư vào đó rất nhiều chi phí nghiên cứu, tiếp thị, Số tiền này khôngphải nhỏ do đó các sản phẩm này có giá thành tưong đối cao
Bảng chi phí phát minh thuốc mới giai đoạn 1990- 2006
Trong khi đó thuốc gốc có nhiều nguồn sản xuất nên số lượng không
bị hạn chế có lúc vượt quá nhu cầu, dùng yếu tố cạnh tranh để tiêu thụ.Không mất chi phí nghiên cứu, ít chi phí tiếp thị nên thành phẩm có giáthấp hơn Ví dụ vào những năm 80, cefuroxim là thuốc mới phát minh, giá
Trang 31 viên 500mg tính vào khỏang 180.000đ tiền bây giờ nhưng hiện nay thuốcchứa cefuroxim là thuốc gốc, giá 1 viên 500mg chỉ khỏang 8000đ (thấphơn giá cũ 22,5 lần)
Ở Việt Nam, những thuốc mới phát minh có mặt trên thị trường đaphần đều là thuốc nhập khẩu do đó để tiện nghiên cứu sự biến động tronggiá cũng như những yếu tố tác động lên giá thuốc, ta chia thị trường thuốcthành hai nhóm điển hình:
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về thuốc
Nhu cầu về thuốc của một người bệnh phụ thuộc vào bệnh tật và sứckhỏe của họ Còn nhu cầu về thuốc của một cộng đồng nào đó sẽ phụ thuộc
Trang 4đồng trong những điều kiện ngoại cảnh nhất định, ở những khoảng thờigian nhất định được khái quát dưới dạng mô hình bệnh tật Nghiên cứu môhình bệnh tật có thể xác định được xu hướng thay đổi của cơ cấu bệnh tậttrong cộng đồng và xã hội từ đó xác định được xu hướng thay đổi nhu cầu
về thuốc trong cộng đồng
Mô hình bệnh tật trên thế giới: theo nghiên cứu của Ngân Hàng Thế
Giới và Trường Đại Học OXFORD (Mỹ) thì trên thế giới có hai loại môhình bệnh tật có đặc tính riêng biệt, một là của nước phát triển và một làcủa các nước đang phát triển
Bảng mô hình bệnh tật của các nước trên thế giới năm 1990 tính theo tỷ lệ %
Các loại bệnh Mô hình bệnh tật
của các nước đang phát triển
Mô hình bệnh tật của các nứoc phát triển
Mô hình bệnh tật chung tòan thế giới
Mô hình bệnh tật ở Việt Nam.
Việt Nam có một mô hình bệnh tật đặc trưng của quốc gia nhiệt đớiđang phát triển từ năm 1960 đến nay, mô hình bệnh tật đã có nhiều thayđổi ví dụ: các bệnh không nhiễm trùng như bệnh tim mạch, huyết áp, tainạn, chấn thương… đang có xu hướng gia tăng
Trang 5Ở Việt Nam, về mặt mô hình bệnh tật, các bệnh nhiễm khuẩn là những
bệnh phổ biến nhất, kể cả trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai.”
Sau đây là 10 bệnh tật có tỷ lệ có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất năm 1976,
năm 1995 và 2003 tại Việt Nam
Bảng 10 bệnh mắc cao nhất của Việt Nam năm 1976, 1999 và 2003
Viêm phế quản 303 ỉa chảy, viêm dạ
dày, ruột nhiễm khuẩn
237 ỉa chảy, viêm dạ dày,
ruột non có ngùôn gốc nhiễm khuẩn
168
Lỵ, hội chứng lỵ 218 Nạo hút thai 152 Cúm 139
Viêm phổi 109 Sốt rét 116 Tăng huyết áp nguyên
88
[ Nguồn: Niên giám thống kê y tế năm 1995 – 2003]
Từ năm 1976 đến năm 2003, trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất
thì chủ yếu là bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng trong đó có tới 3 bệnh trên
hệ hô hấp là viêm phế quản, viêm phổi và lao phổi Các bệnh không nhiễm
khuẩn với tỷ lệ mắc ngày càng cao như bệnh về tim mạch, bệnh đái đường,
bệnh ung thư, bệnh tâm thần, bệnh tăng huyết áp… theo thống kê của hội
Trang 6tim mạch Việt Nam tính đến năm 2004, có khỏang 8% đến 10% dân số mắcbệnh tăng huyết áp Khi mức sống của ngừoi dân thay đổi thì nhu cầu vềthuốc cũng thay đổi theo, mặt khác môi trường sống ảnh hưởng trực tiếpđến sức khỏe và việc dùng thuốc của ngừoi dân Xã hội hiện đại con ngườicũng có nhiều sức ép trong công việc, cường độ làm việc nhiều hơn nên đãtác động mạnh đến sức khỏe người dân Do biến đổi khí hậu và ô nhiễmmôi trường nên môi trường sống của người dân thay đổi Tại Hà Nội và cácthành phố do phát triển công nghiệp, đô thị hóa nên các bệnh nghề nghiệp,bệnh do môi trường sống bị ô nhiễm đòi hỏi phải có thuốc để điều trị cácbệnh trên.
Người cán bộ y tế cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề lựa chọnthuốc và sử dụng thuốc Kiến thức về y tế của cán bộ y tế quyết định cách
sử dụng thuốc hợp lý, an tòan, hiệu quả trong điều trị bệnh Nhân viên y tếbao gồm nguời kê đơn và người bán thuốc có ảnh hưởng trực tiếp đến nhucầu dùng thuốc trước khi điều trị cho một bệnh nhân, thầy thuốc cần khámbệnh để đưa ra chuẩn đóan Căn cứ vào bệnh được chẩn đóan để xác địnhthuốc đựoc chỉ định cho bệnh nhân Như vậy, việc xác định nhu cầu thuốc
có đúng hay không còn phụ thuộc vào chất lượng chuẩn đóan bệnh vàngược lại chẩn đóan sai bệnh sẽ dẫn đến việc xác định sai nhu cầu thuốc.Người kê đơn đặt lợi ích bệnh nhân lên hàng đầu thì người bệnh đuợc kêđơn thuốc hợp lý và sử dụng an tòan, hiệu quả Nhưng trên thực tế có một
bộ phận bác sĩ đã không thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, bịcác công ty dược dùng vật chất, hoa hồng để khuyến khích kê đơn thuốc cótrường hợp cá biệt người kê đơn không biết thuốc đó có hoạt chất gì mà chỉbiết tên biệt dược người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ nếu được đào tạokiến thức chuyên môn sẽ góp phần vào việc sử dụng thuốc an tòan, hợp lý
Trang 7Trên thực tế, người bán thuốc chủ yếu là dược tá với mục tiêu kinh doanh
để thu lợi nhuận nên cung ứng thuốc đã làm thay đổi nhu cầu thuốc Giớithiệu cho người tiêu dùng các thuốc có lợi nhuận cao khi được tiêu thụ
Thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người bệnhnên chất lượng, hiệu quả điều trị là yêu cầu hàng đầu trong việc lựa chọn và
sử dụng thuốc Thuốc có công nghệ bào chế hiện đại, tiện ích khi sử dụngcũng làm thay đổi nhu cầu thuốc sản phẩm thuốc đạt các tiêu chuẩn vềthực hành tốt như GMP, GLP, GSP, GDP thì giá cũng là một yếu tố ảnhhưởng đến việc sử dụng thuốc trong cộng đồng Do đó các thuốc có chấtlượng, hiệu quả điều trị thấp hơn sẽ bị đào thải và thay thế vào đó là cácloại thuốc mới tốt hơn Vì vậy nhu cầu thuốc có xu hướng biến đổi theotrình độ khoa học kỹ thuật và có xu hướng điều trị
Xét về sự lựa chọn và khả năng kinh tế, ở góc độ này nhu cầu thuốc cólien quan bởi sức mua của người dùng ở mỗi mức giá cả, và giá cả cũng làmột trong các yếu tố, động cơ để quyết định nhu cầu của người bệnh.Người bệnh hoặc thầy thuốc đều có những thói quen, thị hiếu riêng trongkhi thể hiện sức mua thuốc
Ví dụ: thích dùng thuốc uống hơn thuốc tiêm, thích tiêm truyền hơntrong một số trường hợp thích dùng thuốc mang lại tác dụng nhanh chóngmặc dù đôi khi không đúng kĩ thuật điều trị Yếu tố trình độ văn hóa, tầnglớp xã hội cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng
Những người có thu nhập cao đang có những đòi hỏi được chăm sócsức khỏe bằng các dịch vụ tốt nhất có thể, tiết kiệm về thời gian điều trị,
Trang 8phẩm dược có hiệu quả điều trị chữa bệnh nhưng giá thấp Đôi khi ý thức
về thuốc của người dân cũng làm thay đổi nhu cầu sử dụng thuốc, có vùngđịa lý phần lớn thuốc được sử dụng là thuốc ngoại nhập có ngùôn gốc từPháp, có địa phương người dân có thói quen sử dụng thuốc ngoại nhập cóthể nói kiến thức của người dân ảnh hửong trực tiếp đến nhu cầu sử dụngthuốc của cộng đồng
tranh
Với một số thuốc tối cần trong những trường hợp cần thiết, ở nhữngbệnh nhân có khả năng chi trả, thì yếu tố giá thuốc chỉ ảnh hưởng ít nhiềuđến nhu cầu Song với những loại thuốc không phải là thuốc tối cần, vớinhững bệnh nhân mà khả năng kinh tế hạn hẹp thì giá thuốc là một trongnhững yếu tố cân nhắc trước khi quyết định mua hàng hoặc lựa chọn nhómthuốc này thay cho nhóm thuốc khác, lựa chọn thuốc này thay cho thuốckhác trong cùng một nhóm hoạt chất, hoặc có thể không mua nữa
thông tin quảng cáo
Thuốc là loại “hàng hóa đặc biệt”, vì vậy việc khuyến mại để bệnhnhân mua thuốc là không được phép Người ta chỉ cho phép giới thiệu mặthàng và cung cấp thông tin cần thiết về sử dụng thuốc cho bệnh nhân trênnhững phương tiện thông tin quảng cáo đại chúng Tuy nhiên do động cơmuốn chiếm lĩnh thị trường, muốn đạt doanh thu, lợi nhuận cao, nhà sảnxuất hoặc nhà kinh doanh thuốc luôn thực hiện việc khuyến mại và thôngtin quảng cáo thuốc vượt giới hạn cho phép Và thực tế ranh giới giữa việccung cấp thông tin về thuốc với khuyến mại nhằm kích thích người bệnhmua thuốc khó phân biệt và xác định để xử lý
Trang 9Cung ứng thuốc là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngànhdược nhằm thực hiện mục tiêu cung ứng đủ thuốc có chất lượng Thuốccũng là một hàng hóa nên nó cũng tuân theo các quy luật của hàng hóa.Phải nhờ màng lưới cung ứng thuốc tác động trực tiếp tới nhu cầu sử dụngthuốc của một địa phương cũng như một quốc gia nào đó
Màng lưới phân phối thuốc được tạo bởi toàn bộ kênh phân phối kênhphân phối là những con đường đi của thuốc từ nơi sản xuất đến người sửdụng giữa nguời sản xuất với người tiêu dùng có thể có ít hoặc nhiều trunggian xen vào Số lượng trung gian thể hiện chiều dài kênh phân phối
một khâu trung gian nào
tay người tiêu dùng
trung gian( người bán buôn lớn, người bán buôn nhỏ, bán lẻ)
Màng lưới phân phối thuốc có nhiều các kênh phân phối dài sẽ ảnhhuởng nhiều tới giá cả và chất lượng của thuốc
Tổ chức mạng lứoi cung ứng thuốc Việt Nam được tổ chức theo sơ đồsau:
Trang 10Các thành phần làm nhiệm vụ cung ứng đảm bảo nhu cầu thuốc gồm có:
thuốc, các công ty Dược phẩm, các xí nghiệp dựoc phẩm trung ương, địaphương
doanh nước ngòai có bán thuốc
hiệu thuốc đặt tại các xã phường
dược phẩm tại các xã
Các dịch vụ y tế nhà nước, tập thể, tư nhân kết hợp bán thuốc
Trang 117.490 nhà thuốc tư nhân
7.417 đại lý bán lẻ thuốc
7.948 quầy thuốc thuộc trạm Y tế xã
464 quầy thuốc thuộc DN nhà nước
6222 hiệu thuốc thuộc DN nhà nước (đã CP)
Nhìn chung hệ thống lưu thông, phân phối thuốc đã phát triển rộngkhắp, đảm bảo đưa thuốc đến tận tay người dân Trung bình một điểm bán
lẻ phục vụ 2000 người dân.Trong số lượng lớn 29.541 quầy bán lẻ thuốc,thì đây là những quầy nhỏ, số lượng chủng loại thuốc ít và chủ yếu là cácloại thuốc thông thường phục vụ cho người dân Đại đa số các loại quầynày tập trung tại các vùng nông thôn, tỉnh lẻ Tại các thành phố lớn, thì số
Phần còn lại nằm tại các thành phố, thị xã trung tâm các tỉnh Tại các thịtrấn huyện ở các tỉnh có rất ít nhà thuốc, trung bình mỗi thị trấn có khoảng
1 đến 2 nhà thuốc như vậy
So sánh chủng loại và số lượng thuốc, thì tại các nhà thuốc tư nhân có
số lượng, chủng loại nhiều gấp bội so với các quầy thuốc tại các vùng nôngthôn, tỉnh lẻ Các nhà thuốc tư nhân tại thành thị ngoài các mặt hàng thôngthường, thường có thêm một số loại thuốc đặc trị, ngoại nhập mà các quầythuốc ở vùng nông thôn không có bán
Những nhược điểm và tồn tại trong màng lưới cung ứng thuốc:
hưởng nhiều tới giá cả và chất lượng thuốc
Trang 12 Màng lưới lưu thông phân phối thuốc còn chưa đồng đều, vẫn cònnhiều xã ở miền núi còn tình trạng “xã trắng” về y tế, về cung cấp thuốc.
chẽ dẫn đến việc lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc không an toàn, hợp lý
thiếu rất nhiều dược tá bán thuốc ở các địa phương
thuốc phân phối tại nhiều đại phương chưa được quản lý, hướng dẫn vàgiám sát chặt chẽ
hậu, ảnh hưởng nhiều tới chất lượng thuốc cũng như chất lượng phục vụ.1.4 Sự tăng trưởng của thị trường thuốc trong giai đoạn hiện nay.Cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa hoc kĩ thuật nghành dượcphẩm đã nghiên cứu được những thuốc có tác dụng mạnh, nhanh và hiệuquả trong điều trị Các sản phẩm đa dạng và phong phú với 2000 loại hóadược và 100.000 biệt dược khác nhau được sử dụng doanh số bán thuốctrên tòan thế giới có sự tăng trưởng từ 9-10% mỗi năm Doanh số bán thuốctrên thế giới đạt trên 700 tỷ USD, tăng gấp 2 lần so với năm 2001 Doanh
số bán ra ở một số khu vực cũng có sự khác biệt theo ISM health doanh sốthuốc trên thế giới từ năm 2001 đến năm 2007 như sau:
Bảng doanh số bán thuốc trên thế giới từ năm 2001 đến năm 2007
Trang 13Tỷ lệ
%
Năm2006
(Nguồn IMS health)
Năm 2002 chỉ 18% dân số thế giới thuộc các nước phát triển đã sửdụng tới 85% số lượng thuốc được sản xuất Thị trường Bắc Mỹ tiêu thụ tới45% doanh số dược phẩm trên tòan thế giới năm 2006 trong đó Châu Á vàChâu Phi là các khu vực các nước đang phát triển chỉ chiếm 10/3%
Cùng với thế giới, Việt Nam sau 20 năm đổi mới đời sống có nhữngthay đổi nên việc sử dụng thuốc cũng có những chuyển biến theo báo cáocủa Cục Quản Lý Dược – Bộ Y Tế tổng giá trị tiền thuốc sử dụng năm
2007 trên 1,1 tỷ USD tăng 16,5 % so với năm 2006; tăng gấp 2,4 lần năm2001
Bảng tổng giá trị tiền thuốc sử dụng năm 2001 đến năm 2007
Trang 14Từ số liệu trên cho thấy tổng giá trị tiền thuốc sử dụng năm 2007 gấp1,2 lần năm 2006, năm 2007 gấp gần 1,4 lần năm 2005 tuy nhiên việc tiêuthụ thuốc lại chủ yếu là các thuốc nhập khẩu theo báo cáo của Cục Quản
Lý Dược giá trị thuốc nhập khẩu năm 2001 – 2007 như sau:
Do nghành công nghiệp dựợc Việt Nam chưa phát triển, hiện đangtheo hướng sản xuất generic nên vẫn còn nhiều loại thuốc chuyên khoa đặctrị , thuốc mới vẫn phải nhập khẩu từ các nước tiên tiến đặc biệt là thuốcnhập khẩu cho nhu cầu điều trị tại bệnh viện
Nền kinh tế thị trường đã tác động lên nghành dược phẩm, hệ thốngphân phối và bán lẻ phát triển mạnh Mạng lứoi cung ứng thuốc phát triểnrộng khắp đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ đến tận tay người dân Tổng
số cơ sở bán lẻ trên toàn quốc năm 2007 là 39.016 cơ sở, tính trung bình có4,58 cơ sở bán lẻ thuốc/ 1 vạn dân Theo báo cáo của Cục quản lý dược
Trang 15mạng lứoi cung ứng thuốc trong cả nước trong giai đoạn 2005-2007 nhưsau:
Bảng mạng lưới cung ứng thuốc giai đoạn 2005 - 2007
Bảng tiền thuốc bình quân đầu người qua các năm 2000 – 2007.
Trang 16Bên cạnh đó, nền công nghiệp dược phẩm Việt Nam cũng có nhữngbuớc tiến bộ đang dần khẳng định vai trò, vị trí của mình trên thị trường nộiđịa các thuốc sản xuất trong nước ngày càng đáp ứng đựoc nhu cầu điềutrị Trong 1500 hoạt chất có trong các thuốc đã đăng ký, số họat chất trongcác thuốc sản xuất trứoc năm 1999 là 380 hoạt chất đến năm 2006 là 773hoạt chất Cho đến năm 2007 có 8.167 số đăng ký thuốc sản xuất trongnứoc, trong đó số đăng ký thuốc tân dược chiến 6.422 chiếm 78,6% Tronggiai đoạn từ 2001- 2007, về giá trị mức độ đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốctrong nước ngày càng tăng
Từ năm 2005 đến năm 2008 nhờ phát triển các hoạt động sản xuất kinhdoanh thuốc và làm tốt công tác nhập khẩu nên thị trừơng thuốc Việt Namtương đối ổn định Trị giá thuốc sản xuất trong nước tăng trưởng hang năm,năm 2007 trị giá thuốc sản xuất trong nước gấp 1,5 lần năm 2005 (năm
2007 đạt 600 triệu USD, năm 2006 đạt gần 500 triệu USD, năm 2005 đạt