NGUYỄN HỒNG NHUNG Tên đề tài: TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM KHỚP DO VI KHUẨN STREPTOCOCCUS SUIS GÂY RA Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ KHÓA LU
Trang 1NGUYỄN HỒNG NHUNG
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM KHỚP
DO VI KHUẨN STREPTOCOCCUS SUIS GÂY RA
Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khoá học : 2013 - 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2NGUYỄN HỒNG NHUNG
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM KHỚP
DO VI KHUẨN STREPTOCOCCUS SUIS GÂY RA
Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Lớp : N04 - CNTY- K45 Khoá học : 2013 - 2017
Giảng viên HD : TS Trần Thị Hoan
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu nhà trường, toàn thể các thầy
cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là cô giáo TS Trần Thị Hoan và thầy giáo Th.S Nguyễn Mạnh Cường
đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Viện khoa học
sự sống- Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình
thực hiện đề tài
Để góp phần cho việc hoàn thành khoá luận đạt kết quả tốt, em luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Hồng Nhung
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3 1: Tiêu chuẩn của nhà cung cấp giấy tẩm kháng sinh 38 Bảng 4.1: Tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 40 Bảng 4.2: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp qua các tháng 41 Bảng 4.3: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp ở các lứa tuổi 43 Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp ở các phương thức chăn nuôi 44 Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc và chết do viêm khớp theo tình trạng vệ sinh 45 Bảng 4.6: Kết quả phân lập vi khuẩn S suis phân lập từ lợn mắc bệnh 46 Bảng 4.7: Kết quả xác định một số đặc điểm sinh vật, hóa học 47 Bảng 4.8: Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 48 Bảng 4.9: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc viêm khớp 49
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình phân lập vi khuẩn S suis 33
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp 41
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ lợn mắc và chết qua các tháng 42
Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp ở các lứa tuổi 44
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn ở các giai đoạn 4
2.1.2 Hiểu biết về vi khuẩn S suis 6
2.1.3 Hiểu biết về bệnh viêm khớp do vi khuẩn Streptococcus Suis gây ra 9
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.3.1 Điều tra tình hình lợn mắc viêm khớp tại huyện Đại Từ , Thái Nguyên 27 3.3.2 Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của chủng S suis phân lập được 27
Trang 83.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 28
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm 30
3.4.3 Quy trình phân lập S suis 32
3.4.4 Phương pháp xác định đặc tính sinh học của vi khuẩn S suis 34
3.4.5 Phương pháp xác định độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn S suis lập được 37
3.4.6 Xây dựng phác đồ điều trị lợn mắc bệnh viêm khớp 38
3.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 39
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh tại địa điểm nghiên cứu 40
4.1.1 Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc bệnh do vi khuẩn Streptococcus Suis tại Huyện Đại Từ
4.1.2 Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp qua các tháng tại huyện Đại Từ, Thái Nguyên 41
4.1.3 Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp ở các lứa tuổi 42
4.1.4 Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp ở các phương thức chăn nuôi 44
4.1.5 Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp theo tình trạng vệ sinh 45
4.2 Kết quả phân lập và xác định một số đặc tính sinh vật học của S suis phân lập được từ lợn mắc viêm khớp 46
4.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn S suis từ mẫu bệnh phẩm lợn mắc viêm khớp 46
4.2.2 Kết quả xác định một số đặc điểm sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 47
Trang 94.2.3 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các
chủng vi khuẩn S suis phân lập được 48
4.3 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc bệnh viêm khớp 49
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
I TIẾNG VIỆT 55
II TIẾNG ANH 56
PHỤ LỤC
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề
Nước ta hiện nay ngành chăn nuôi đang giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là nguồn thực phẩm lớn đáp ứng nhu cầu cho toàn xã hội Sản phẩm của ngành chăn nuôi như thịt, trứng, sữa, là nguồn dinh dưỡng
mà cơ thể con người không thể thiếu được Ngoài ra ngành chăn nuôi còn cung cấp sức cầy kéo, phân bón cho ngành trồng trọt, những nguyên liệu như lông, da, sừng cho ngành công nghiệp nhẹ và các chế biến khác đồng thơi tập trung sử dụng triệt để các phế phụ phẩm trong sản xuất công nghiệp
Ngành chăn nuôi đang từng bước phát triển mạnh mẽ và toàn diện, rất nhiều chương trình chăn nuôi áp dụng khoa học kĩ thuật được Đảng và Nhà nước đưa ra áp dụng và lai hóa như lai hóa đàn bò, lai hóa đàn lợn, chăn nuôi
gà công nghiệp, gà thả vườn, vịt siêu trứng
Song song với việc phát triển ngành chăn nuôi công tác phòng bệnh cũng được chú trọng nhằm đưa năng suất và hiệu quả của ngành chăn nuôi ngày một cao hơn Nhiều hộ gia đình cũng vượt nghèo bớt khó, làm giàu nhờ chăn nuôi Do vậy có thể nói ngành chăn nuôi có vị trí rất quan trọng trong ngành công nghiệp nước ta
Tình hình dịch bệnh ở ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng cũng đang ngày càng trở nên phức tạp, đã và đang gây nên những thiệt hại to lớn, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm vật
nuôi Và bệnh do vi khuẩn Streptococcus Suis gây ra làm cho lợn mắc bệnh
và lây lan cho đàn, nguy hiểm Bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi; đồng thời bệnh làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa
trong đàn.Vi khuẩn Streptococcus Suis (S.Suis) gây ra bệnh ở lợn và có khả
Trang 11năng lây lan sang người Bệnh do vi khuẩn Streptococcus Suis gây ra ở lợn
diễn biến đột ngột, nhanh chóng, lợn bệnh có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời
Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho nghành chăn nuôi lợn trong nước ngày càng
phát triển, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về vi khuẩn S suis và khả năng
gây bệnh của chúng là một vấn đề cần thiết và cấp bách Các kết quả có được
từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò gây bệnh của vi khuẩn này, từ đó giúp các nhà chăn nuôi chủ động được các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu
quả Vì vậy, chúng em tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm khớp do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Streptococcus
Suis gây bệnh viêm khớp ở lợn nuôi tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Xây dựng một số phác đồ điều trị bệnh do vi khuẩn Streptococcus Suis
gây bệnh viêm khớp ở lợn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
- Cung cấp các dữ liệu khoa học về vi khuẩn Streptococcus Suis gây bệnh
viêm khớp ở lợn
Trang 12- Đề tài là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề
- Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với
thực tiễn sản xuất, xác định được một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S
suis gây bệnh đặc biệt là bệnh viêm khớp ở lợn nuôi tại huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên
- Kết quả của đề tài góp phần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn
sản xuất, đồng thời cung cấp các dữ liệu khoa học về vi khuẩn S suis gây
bệnh viêm khớp ở lợn
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đề xuất và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh, bệnh do vi khuẩn
Streptococcus Suis gây bệnh viêm khớp ở lợn cho hiệu quả cao
- Đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn về phòng trị bệnh viêm khớp ở lợn
- Xác lập cơ sở khoa học cho những nghiên cứu khác về bệnh viêm khớp
ở lợn của Việt Nam góp phần trong công tác phòng và trị bệnh của lợn nuôi tại các địa bàn khác trên cả nước
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn ở các giai đoạn
Theo Trần Đình Miên và cs (1975) [3] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục và sự tích luỹ về chất
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu
là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định
Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn
Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật:
- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi
- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia
ra làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai
+ Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày
Trang 14Trong thực tế sản xuất người ta chia ra lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi thụ thai đến 84 ngày Lợn chửa kỳ II từ 84 ngày đến trước khi đẻ 1 tuần, giai đoạn này rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II
Theo Trương Lăng (1995)[2]bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần Nếu lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh dù nuôi dưỡng tốt, lợn con vẫn chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng xuất chuồng
+ Giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ) gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi
Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày Hiện nay một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ.Tuy nhiên muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn ta phải bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả
Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm và quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, có thể trong một mức độ nào đó chúng ta tạo điều kiện cho con vật phát triển tốt ngay lúc còn là bào thai, nâng cao sức sản xuất và phẩm chất giống sau này
- Dựa vào đặc điểm sinh lý, quy luật sinh trưởng của lợn thịt mà chia quá trình nuôi lợn thịt ra 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 (giai đoạn sau cai sữa) 2 - 3 tháng tuổi (1 - 2 tháng nuôi):
Đặc điểm giai đoạn này: Lợn chuyển từ sống theo mẹ, bằng sữa mẹ sang sống tự lập, chịu sự nuôi dưỡng, chăm sóc của con người Lợn có tốc độ phát
Trang 15triển nhanh (đặc biệt là tổ chức cơ bắp và xương cốt) Bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn thiện, khả năng tiêu hoá thức ăn còn hạn chế Vì vậy thức ăn giai đoạn này đòi hỏi phải có phẩm chất tốt, tránh thức ăn ôi mốc, lên men Tỷ lệ thức ăn tinh chiếm 80 - 90%, thức ăn giàu đạm 15 - 18% trong khẩu phần thức
ăn Dùng đạm động vật để bổ sung Tỷ lệ xơ thô trong khẩu phần thấp (4 - 5%), khoáng và vitamin cao (bổ sung chúng dưới dạng premix khoáng, vitamin 0,5 - 1% trong thức ăn tinh) Có thể bổ sung thức ăn đậm đặc, kháng sinh thô trong khẩu phần để kích thích sinh trưởng và phòng bệnh cho lợn Ngoài ra, thức ăn giai đoạn này phải chế biến tốt để lợn dễ tiêu hoá, hấp thu dinh dưỡng và tránh ỉa chảy Giai đoạn này lợn cần phải được vận động, tắm nắng tự do
+ Giai đoạn lợn choai 4 - 7 tháng tuổi (3 - 5 tháng nuôi):
Giai đoạn này lợn phát triển rất mạnh về xương, cơ bắp Bộ máy tiêu hoá
đã phát triển hoàn thiện nên lợn có khả năng tiêu hoá, hấp thu tốt các loại thức
ăn Khả năng thích nghi tốt với điều kiện sống Vì vậy trong giai đoạn này ta
có thể tiết kiệm thức ăn tinh, tăng thức ăn thô xanh để tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ở nước ta Tỷ lệ thức ăn xanh có thể chiếm 30 - 40% (tính theo giá trị dinh dưỡng khẩu phần) Song để lợn phát triển tốt ngoại hình, tầm vóc, chú ý phải cung cấp đủ protein, khoáng, vitamin và cho vận động, tắm nắng nhiều
+ Giai đoạn nuôi kết thúc 8 - 9 tháng tuổi (6 - 7 tháng nuôi):
Giai đoạn này lợn đã phát triển hoàn thiện, tích mỡ là chính Để thúc đẩy nhanh quá trình vỗ béo, cần tập trung thức ăn tinh, thức ăn giàu bột đường (tỷ lệ thức ăn tinh giai đoạn này nên chiếm 85 - 90% trong khẩu phần), tiết kiệm thức ăn giàu đạm (tỷ lệ thức ăn giàu đạm nên khoảng 10 - 12% trong khẩu phần), giảm thức ăn thô xanh (chỉ khoảng 10 - 15% trong khẩu phần) Đồng thời hạn chế vận động, tạo bóng tối, yên tĩnh cho lợn nghỉ ngơi, ngủ nhiều, chóng béo
2.1.2 Hiểu biết về vi khuẩn S suis
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ
Lactobaccillales
Trang 16 Đặc điểm hình thái:
Streptococcus là vi khuẩn gram dương, hình cầu hoặc hình trứng đường
kính nhỏ hơn 1m, chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi xếp như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Chiều dài của chuỗi tùy thuộc vào điều kiện môi trường Vi khuẩn bắt màu dễ dàng với một
số loại thuốc nhuộm thông thường, thuộc nhóm vi khuẩn gram dương, yếm khí tùy tiện và không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp mô Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy
có chứa huyết thanh
Vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu có dạng hình cầu, kích thước 0,5-1m, đứng thành dạng chuỗi 5-10 tế bào.Trong canh trùng gà, sau 30 giờ nuôi cấy, vi khuẩn có thể thay đổi tính chất bắt màu, chuỗi cũng thấy dài hơn Đặc biệt, khi nuôi cấy trong môi trường dạng lỏng, hình thái các chuỗi được nhìn thấy rõ nhất
Đặc điểm nuôi cấy:
S suis là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, mọc tốt ở tất cả các môi
Trang 17giờ vào môi trường nước thịt có bổ sung huyết thanh trước khi cấy sang môi trường đặc hoặc thạch máu Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên môi trường có bổ xung dinh dưỡng
- Trên môi trường thạch máu: sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành khuẩn lạc nhỏ, hơi vồng và sáng trắng và mịn Có thể quan sát thấy các kiểu dung huyết gồm: + Dung huyết kiểu : vùng dung huyết xung quanh khuẩn lạc thường có màu xanh (dung huyết từng phần hay dung huyết không hoàn toàn)
+ Dung huyết kiểu : bao quanh khuẩn lạc là một vùng tan máu hoàn toàn trong suốt, có bờ rõ ràng do hemoglobin được phân hủy hoàn toàn
+ Dung huyết kiểu (hay còn gọi là không dung huyết): không làm biến đổi thạch máu
- Trên môi trường MacConkey: vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim
Đặc tính sinh hóa:
Vi khuẩn có khả năng lên men đường glocose, lactose, succrose, inulin, trehaloza, maltoza, fructoza, không lên men các loại đường ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose
Phản ứng Catalaza âm tính, Oxidase âm tính
Phản ứng sinh hóa thường được sử dụng để giám định vi khuẩn S suis
phân lập được là phản ứng Voges Proskauer (VP) âm tính
Sức đề kháng:
- Vi khuẩn S suis có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hóa chất:
+ Trong phân ở nhiệt độ 00C vi khuẩn có thể sống 104 ngày, ở 90
C vi khuẩn sống được 10 ngày, ở 22 - 250C vi khuẩn có thể sống được 8 ngày Ở
700C vi khuẩn chết trong 35 - 40 phút, ở 1000C vi khuẩn chết trong 1 phút
Vi khuẩn sống trong bụi 25 ngày ở 90C nhưng không phân lập được vi khuẩn ở bụi trong nhiệt độ phòng (18 - 2000C)/ 24 giờ
Trang 18Vi khuẩn bị diệt dưới ánh sáng mặt trời sau 40 - 60 phút, có sức đề kháng trong môi trường acid
Vi khuẩn tồn tại lâu trong đờm, chất bài xuất có protein
+ Vi khuẩn dễ bị diệt bởi nhiều chất sát trùng như phenol, iod, hypochlorid, acid phenic 3 - 5% diệt vi khuẩn trong vòng 3 - 15 phút, fomol 1% diệt vi khuẩn trong vòng 60 phút, cồn nguyên chất không có tác dụng với
vi khuẩn, vi khuẩn bị diệt bởi cồn 700
trong vòng 30 phút
2.1.3 Hiểu biết về bệnh viêm khớp do vi khuẩn Streptococcus Suis gây ra
Viêm khớp là yếu tố gây què ở lợn Các yếu tố khác gây què ở lợn gồm liên quan đến mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất, những tổn thương ở chân do chấn thương, hình thành không đúng và thoái hóa xương và các thay đổi khớp Bệnh viêm khớp do nhiễm trùng khớp và các mô bao quanh bởi vi
khuẩn (S suis, E coli, Staphylococcus…) và Mycoplasma Bệnh làm ảnh
hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, đồng thời bệnh làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn
2.1.3.1 Nguyên nhân
S suis là vi khuẩn gram (+), S suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở
mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như một phần của hội chứng “yếu khớp” kết hợp với viêm rốn
S suis là các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể theo đường miệng, cuống
rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm răng, bấm tai, các vết thương trên chân, da, đầu gối khi chúng chà sát trên nền chuồng cứng, thô ráp hoặc qua vết thiến Một nguyên nhân khác là do lợn con sau khi sinh không được bú sữa đầu từ lợn mẹ đầy đủ, nhất là ở những lợn bị mất mẹ…
S suis nhiễm phổ biến ở lợn con một vài tuần tuổi đến sau cai sữa vài
tuần Đặc trưng lâm sàng của bệnh là nhiễm trùng huyết, viêm màng não,
Trang 19viêm khớp và viêm phế quản phổi và thường gây chết đột ngột Ngoài ra vi khuẩn còn có thể phân lập được trong các trường hợp lợn bị teo mũi và sảy
thai Vi khuẩn S suis gồm có 2 type 1 và type 2 có thể gây bệnh cho người
Vi khuẩn S suis type 1 thường gây bệnh cho lợn đang theo mẹ (1 - 3
tuần tuổi), có khi 6 tuần tuổi và thường ở thể bại huyết hoặc các nhiễm trùng tại chỗ như viêm màng não, viêm não, viêm khớp, viêm nội tâm mạc, đặc biệt
là lợn con từ 1 - 7 ngày tuổi (Cook và cs, 1988)[15] Đôi khi nhóm vi khuẩn thuộc type 2 cũng gây bệnh cho lứa tuồi này nhưng thường ít gặp hơn
Trong khi đó, các chủng thuộc S suis type 2 thường gây ra bệnh cho lợn
ở giai đoạn sau cai sữa và vỗ béo (4 - 16) tuần tuổi với rất nhiều thể bệnh như viêm não, viêm nội tâm mạc, ngoại tâm mạc, cơ tim hoại tử, viêm phổi, viêm khớp, và bại huyết (Gogolewski và cs, 1990) [19]
2.1.3.2 Dịch tễ
Theo Higgins và cs (2002) [24] cho biết tỷ lệ mang trùng của S.Suis ở
lợn khỏe mạnh có thể tới 100%, nhưng tỷ lệ mắc có thể thay đổi theo từng thời gian khác nhau, thường là dưới 5% Lứa tuổi của lợn mắc bệnh thường là
5 - 10 tuần tuổi (Clifton – Hadley và cs, 1984) [14]
Từ lâu, vi khuẩn S suis serotype 2 đã được thông báo là loại thường gặp
nhất gây bệnh cho lợn và người ở hầu hết các nước trên thế giới Còn sự phân
bố của các serotype khác và các thể bệnh do chúng gây ra ở lợn ở các nước là
có sự khác nhau Ở các nước Scandinavia, serotype 7 chiếm ưu thế trong những năm 80, nhưng sau đó, số chủng thuộc serotype 2 lại vượt trội Tại Nhật, serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (28%), tiếp đến là serotype 7 (11%), serotype 9 là loại phổ biến nhất ở Australia, trong đó ở Anh serotype 14 chiếm ưu thế (25%), chỉ sau serotype 2 (62%) (Higgins và cs, 2002)[24]
Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận rằng các chủng vi khuẩn gây bệnh cho lợn chủ yếu thuộc về một nhóm serotype nhất định có kí hiệu từ 1 -
8 (Higgins và cs, 1996) [25] Trong khi đó, có một vài serotype ít phổ biến
Trang 20hơn là serotype 17, 18, 19 và 21 chủ yếu chỉ được tìm thấy ở lợn khỏe mạnh
và không có triệu chứng lâm sàng (Gottschalk và cs, 1989) [22]
Vi khuẩn S suis serotype 2 cũng được phân lập từ lợn khỏe mạnh bình
thường nhưng với tỷ lệ thấp Nghiên cứu của (Clifton – Hadley và cs, 1984) [14] khi tiến hành điều tra tỷ lệ mang trùng ở 4 đàn lợn khỏe mạnh ở Anh cho thấy 2 đàn không có serotype 2, 1 đàn có mang serotype 2 với tỷ lệ 1,5% và đàn lợn còn lại với tỷ lệ 20% Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác được tiến hành tại Canada như: nghiên cứu của (Brisebois và cs, 1990)
[12] đã xác định được vi khuẩn S suis serotype 2 có trong 12% đàn không có
triệu trứng lâm sàng và trong 4% số lợn của đàn này
Gần đây, trong một ổ dịch do S suis serotype 9 gây ra tại Canada đã
quan sát và thấy rằng 100% lợn chết có biểu hiện viêm khớp, 91% có viêm não, 73% có viêm phổi kẽ, 42% có viêm nội tâm mạc Các tác giả cũng đã nhận xét rằng sự phân bố của các bệnh tích này ở lợn bệnh là hoàn toàn khác
so với bệnh do serotype 2 gây ra Như vậy, nhiều khả năng là một vài serotype nhất định có các đặc điểm độc lực và đặc tính gây bệnh riêng Chính điều này đã giải thích cho các trường hợp viêm phổi rất nghiêm trọng do serorype 14 ở Anh và chính serotype này cũng đã gây ra một ca bệnh ở người (Gottschalk và cs, 1989) [22]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của (Nguyễn Thị Nội và cs, 1993) [6] về vai
trò của vi khuẩn S suis trong hội trứng ho thở truyền nhiễm ở lợn tỷ lệ phân lập được S suis là 74% (Khương Thị Bích Ngọc, 1996) [4] nghiên cứu bệnh cầu khuẩn ở một số cơ sở chăn nuôi lợn tập trung đã phân lập được S suis với
tỷ lệ là 60% Tại báo cáo khoa học Viện Thú y 1998 về kết quả phân lập vi
khuẩn S suis gây bệnh đường hô hấp của lợn một số tỉnh phía Bắc tỷ lệ phân
lập ở phổi, hạch phổi 72%, dịch ngoáy mũi 43% (Cù Hữu Phú và cs, 1998) [8] Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở bước phân lập và giám định các
Trang 21đặc tính sinh hóa của các chủng vi khuẩn phân lập được, nhưng vẫn chưa xác định được chính xác serotype của chúng nên thông tin về mức độ lưu hành của các serotype thông thường gây bệnh cho lợn tại Việt Nam là chưa được biết đến một cách rõ ràng
a Sự xuất hiện bệnh
Bệnh gây ra do S.Suis xảy ra ở những nơi nuôi lợn trên khắp thế giới
Lợn con sơ sinh đến 22 tuần tuổi có thể bị mắc Nhiều trường hợp xảy ra sau khi cai sữa liên quan đến yếu tố stress như vận chuyển, xáo trộn đàn, mật độ
quá cao, không đủ thông gió S suis type 2 gây ra nhiều ổ dịch viêm màng
não lợn con 10 - 14 ngày sau cai sữa Gần đây, bệnh hay xảy ra ở lợn sau cai sữa chăn nuôi tập trung với mật độ cao
Vi khuẩn còn phân lập được ở bò, dê, cừu, ngựa khi viêm màng não
b Sự lưu hành vi khuẩn
Bằng nhiều phương pháp khác nhau người ta đã xác định được sự lưu hành của vi khuẩn trong đàn lợn như nuôi cấy phát hiện vi khuẩn từ các mô lấy từ lò giết mổ, từ lợn con theo mẹ các lứa tuổi và phản ứng huyết thanh học
đối với lợn lớn S.Suis type 2 được phát hiện ở hầu hết các nước có chăn nuôi
lợn Một nghiên cứu ở lò mổ lợn của Úc và Niu-di-lân cho thấy ở hạch
amidan đã phát hiện thấy 54% số mẫu nhiễm S suis type 1, 73% nhiễm với S
suis type 2 và 3% phát hiện thấy vi khuẩn này trong máu lợn khi giết mổ Có
thể phân lập được vi khuẩn ở nhiều mô khác nhau, trong đó có cả ở đường sinh dục con cái, nhưng không thấy ở con đực Vi khuẩn có thể phân lập từ
âm đạo con nái điều này làm cho con non bị nhiễm trong khi sinh Nhiễm từ môi trường bên ngoài cũng chiếm tỷ lệ cao
Năm 1990, đã xác định có ít nhất 23 serotype Ở Canada phân lập được
tất cả 23 type, trong đó type 2 chiếm tỷ lệ cao nhất với 32% S suis type 2 lưu
hành phổ biến ở các nước Trong một nghiên cứu điều tra ở Quebec đối với lợn con khoẻ mạnh về lâm sàng 4 - 8 tuần tuổi cho kết quả 94% số lợn phân
Trang 22lập được vi khuẩn và 98% số trại bị nhiễm Những serotype thường thấy theo thứ tự giảm dần là 3, 4, 8 và 2, có 32% số lợn con phát hiện nhiễm 2 serotype phân biệt, nhiễm 3 serotype là 1% Serotype 1 và 2 phân lập từ lợn con viêm màng não và viêm phổi hoá mủ Ở Đan Mạch serotype 7 phát hiện nhiều hơn các serotype khác, chiếm 75% Ở Phần Lan, phân lập từ lợn chết thấy nhiều nhất là serotype 7 sau đó là 3 và 2, thường phân lập từ lợn viêm phổi Ở Hà
Lan, S suis type 2 phân lập phổ biến nhất ở lợn viêm màng não Xét nghiệm
từ hạch amidan lợn ở lò mổ (lợn khoẻ mạnh) ở vùng trước đó có nhiễm liên cầu type 2 thấy 45% số mẫu dương tính, ở vùng không có bệnh là 38% Ở Úc liên cầu type 9 và type 2 cho là nguyên nhân gây ra nhiễm trùng huyết và viêm màng não ở lợn cai sữa Ở Canada trong số lợn bệnh phát hiện thấy
nhiều nhất là S suis type 2 sau đó là type 3, 5 và 7
c Loài vật mắc bệnh
Vi khuẩn S suis thường kí sinh ở niêm mạc đường hô hấp trên, đặc biệt là
hạch amidan và xoang mũi, đường tiêu hóa và đường sinh dục của lợn khỏe
Tỷ lệ nhiễm có những đàn là 100%, tỷ lệ mắc thay đổi tùy từng giai đoạn, thường dưới 5%, tỷ lệ chết có thể lên đến 20%
Lứa tuổi mắc bệnh: mọi lứa tuổi có thể mắc bệnh, trong hầu hết các trường hợp, lợn từ 5 - 10 tuần tuổi thường hay mắc bệnh, tuy nhiên cũng có thông báo cho thấy lợn 32 tuần tuổi hoặc lợn mới sinh ra được một vài giờ
mắc bệnh Bệnh viêm màng não do S suis serotype 2 thường xảy ra ở lợn cai sữa và lợn vỗ béo (cai sữa - 6 tháng) và S suis serotype 1 gây viêm màng não,
viêm khớp, viêm phổi, bại huyết ở lợn 2 - 4 tuần tuổi
Bệnh có khả năng lây sang người (do serotype 2 gây ra) Những người có nguy cơ dễ nhiễm bệnh từ lợn gồm: người làm việc ở trại chăn nuôi lợn, giết
mổ gia súc, cán bộ thú y, người ăn tiết canh lợn hoặc ăn thịt lợn ốm chết
d Phương thức truyền lây
Trang 23Bệnh lây lan trong đàn do dự tiếp xúc giữa lợn khỏe và lợn bệnh Lợn mẹ
bị bệnh truyền sang con Bệnh còn có thể lây qua đường hô hấp, đây là đường truyền lây có ý nghĩa quan trọng do số lượng vi khuẩn trong môi trường rất lớn Ngoài ra bệnh có thể truyền lây qua dụng cụ chăn nuôi và một số nhân tố trung gian như ruồi, một số loại chim và vật mang khác
e Cơ chế sinh bệnh
Vi khuẩn khu trú ở các hốc của hạch amidan, sau đó xâm nhập vào hệ tuần hoàn gây ra bệnh ở một số lợn Lợn con thường bị chết do nhiễm trùng máu cấp tính, lợn lớn hơn vi khuẩn có thể khu trú ở các xoang hoạt dịch, nội tâm mạc, mắt, màng não Thời gian nhiễm khuẩn huyết là pha quan trọng trong quá trình
phát sinh viêm màng não do S suis type 2 Những mẫu vi khuẩn S suis type 2
gây bệnh phân lập được là loại có vỏ bọc và đề kháng khá cao với thực bào Chúng có thể sống và nhân lên trong đại thực bào, vi khuẩn có thể xâm nhập vào dịch não tuỷ thông qua bạch cầu đơn nhân di chuyển qua lưới mao mạch Bệnh
có thể gây thực nghiệm ở lợn bằng cách tiêm ven, nhỏ mũi
g Tỷ lệ mắc và chết
Tỷ lệ mắc có biểu hiện lâm sàng từ 0 đến 15% Điều tra tại một trại giống trong 2 năm cho thấy tỷ lệ mắc liên cầu type 2 là 3,8%, tỷ lệ chết là 9,1% Ở Anh, tỷ lệ mắc bệnh tăng đáng kể trong những năm gần đây
h Yếu tố nguy cơ
Yếu tố vật chủ: làm cho lợn mắc bệnh lâm sàng còn chưa biết Người ta
cho rằng các chủng S suis type 2 có khác nhau về khả năng gây bệnh, đồng
thời sự xuất hiện bệnh phụ thuộc vào sự phơi nhiễm với chủng gây bệnh và những tác nhân bội nhiễm còn chưa xác định Lứa tuổi mắc cao nhất từ 5 đến
10 tuần tuổi, như vậy có thể các tác nhân stress của cai sữa đã làm cho tính mẫn cảm với bệnh tăng lên
Tác nhân môi trường: tỷ lệ mắc bệnh lâm sàng phụ thuộc vào tác nhân
môi trường như không đủ thông thoáng, mật độ đàn cao và các stress khác
Trang 24Việc xáo trộn và vận chuyển lợn cũng hay làm bệnh phát ra Sự lây lan được truyền trực tiếp từ con mẹ mang trùng cho lợn con, từ lợn con này lại truyền cho lợn con mẫn cảm khác
Yếu tố mầm bệnh: hiện được biết có ít nhất 28 serotype S suis Vi khuẩn
được chia ra thành các nhóm serotype đặc trưng bởi kháng nguyên vỏ bọc polysaccharide Ở Canada, 94% lợn con 4 - 8 tuần tuổi khoẻ mạnh về lâm sàng có chứa vi khuẩn ở xoang mũi
S suis type 2 có thể sống trong phân ở nhiệt độ 0oC tới 104 ngày, 10 ngày ở 9oC, 8 ngày ở 22o
C - 25oC, có thể sống ở bụi 25 ngày ở 9oC, nhưng không phân lập được ở bụi nhiệt độ trong phòng (18o
có thể là nguồn lây nhiễm cho con người
Có sự khác nhau về khả năng gây bệnh giữa các serotype Ở Anh, khả năng gây bệnh của type 1 và 2 khác nhau, type 1 gây bệnh ít trầm trọng ở lợn con, trong khi đó type 2 gây bệnh nặng hơn và gây bệnh cấp tính ở lợn lớn
hơn và lợn nuôi vỗ béo Sự phân biệt giữa các chủng của S suis type 2 là về
khả năng gây viêm màng não
Yếu tố độc lực của vi khuẩn bao gồm cấu trúc các protein hoạt hoá men muramidasa và thành phần mặt ngoài màng tế bào vi khuẩn Sự phân biệt độc lực giữa các chủng của cùng serotype dựa trên có hay không protein hoạt hoá men muramidase Chất liệu vỏ bọc của vi khuẩn tạo ra sự khác biệt giữa các serotype về hình thái học Một số chủng có đặc tính ngưng kết hồng cầu Liên cầu type 2 có yếu tố bám dính phát hiện ở phổi lợn Kỹ thuật phân tích nhân
sử dụng để xác định cấu trúc gen vi khuẩn
Yếu tố độc lực của vi khuẩn S suis type 2 được xác định là do protein có
trọng lượng phân tử 44 kDa, sự có mặt của kháng thể chống lại protein này có thể bảo vệ con vật chống lại bệnh
Trang 252.1.3.3 Triệu chứng
Theo Clifton – Hadley (1983) [13] nghiên cứu ở lợn gây bệnh thực nghiệm và quan sát lợn trong các ổ dịch tự nhiên thấy: lợn từ 1 - 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm não và viêm màng não với các triệu chứng như: ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông khô, dựng đứng, sốt, da mẩn đỏ Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế bơi chèo, tê liệt Biểu hiện viêm não chính là căn cứ chính để chẩn đoán
bệnh vì triệu chứng này ít gặp hơn ở lợn trưởng thành Vi khuẩn S suis
serotype 1 thường gây ra các thể bệnh cho lợn ở lứa tuổi này Thể viêm khớp thường xảy ra ở lợn cai sữa và lợn trưởng thành Lợn mắc bệnh có hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, đầu gối khoặc khớp bàn chân Các tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp, màng khớp xung huyết, dịch khớp đục Bệnh có thể tiến triển nặng hơn với hiện tượng xơ hóa và
áp xe các tổ chức trong khớp, khớp bị thoái hóa, viêm khớp có mủ ở lợn con Bệnh xảy ra đối với hệ thống xương thường là thoái hóa ở các đốt sụn Sau 15 -
30 ngày mắc bệnh, có thể thấy các đốt sụn bị hoại tử Ngoài ra, các triệu chứng như viêm não, viêm phổi, bại huyết, viêm nội tâm mạc, viêm teo mũi, sảy thai, viêm âm đạo cũng có thể quan sát thấy, tùy thuộc vào serotype của chủng vi khuẩn gây bệnh Lợn mắc bệnh có thể chết do khó thở, tím tái hoặc kiệt sức
Các serotype khác nhau của S suis đều có thể gây bệnh cho lợn ở lứa tuổi này
Theo Lê Văn Tạo (2007) [10] để gây bệnh vi khuẩn sau khi vào cơ thể sẽ nhân lên tại hạch hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 0
C - 41,7 0C huyết, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết
Trong bệnh áp xe hạch lympho hầu hoặc viêm hạch dưới hàm ở lợn do
Streptococcus nhóm E gây ra, có thể sờ thấy áp xe hạch ở hầu, ở cổ rất rõ
Hạch dưới hàm sưng sớm nhất và sau 15 ngày mới thành áp xe, mổ khám
Trang 26thấy những ổ áp xe nhỏ hoặc to ăn sâu vào hạch Đa số các ổ áp xe ở hầu và
bị ảnh hưởng ít nhiều
Triệu chứng, bệnh tích và các thể bệnh thường thấy:
- Thể nhiễm trùng huyết: lợn bệnh sốt rất cao 410C - 420C, chảy nước mắt, ly bì, nằm bệt, niêm mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng, lợn bệnh chết trong khoảng
1 - 3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 100% Bệch tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết và xuất huyết ở một số phủ tạng (lách, thận, hạch lâm ba)
- Thể viêm não tủy: sốt cao, bỏ ăn, siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa,
hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa, lợn từ 2 -
3 tháng tuổi Tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục
- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi: sốt cao, chảy nước mắt, dịch
mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh, da tụ huyết từng mảng Thường thấy ở lợn con đang theo mẹ và sau cai sữa Tỷ lệ chết 60-70% Bệnh tích: họng và amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểu phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí, hạch phổi sưng thũng, tụ huyết,với lợn bị bệnh thể phổi thì bệnh tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khác nhau từ viêm phổi-màng phổi dạng nhục hóa đến viêm phổi dạng fibrin có mủ
- Thể viêm hạch: sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thũng, sau
thành áp xe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8
Trang 27ngày, tỷ lệ chết 20-30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng
tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu
Triệu chứng ở người:
Thời gian nung bệnh từ 1 - 3 ngày, có thể kéo dài đến 10 ngày Vi khuẩn liên cầu lợn tấn công người sẽ gây biểu hiện ban đầu là sốt rất cao (lạnh, tay, chân run rồi lên cơn sốt rất cao, trên 390C), đau đầu dữ dội, đau cứng cổ gáy sau đó tri giác lơ mơ, li bì, hôn mê sau đó sốc và tụt huyết áp, suy hô hấp, xuất hiện các ban hoại tử trên da (xuất huyết rất to mà xám đen, bong tróc, hay lốm đốm) Một số bệnh nhân có dấu hiệu phát ban trên da, sau 5 ngày ban không những không lặn mà càng ngày càng rõ, kèm theo mệt mỏi Tiếp đó, bệnh nhân có thể bị viêm màng não như nhức đầu, buồn nôn, nôn vọt, cứng
cổ, sốt cao…viêm phổi, suy gan, suy đa phủ tạng Ngoài ra có thể có biểu hiện nhiễm trùng huyết, sốt cao, da xanh, mệt mỏi, phờ phạc, môi khô, lưỡi bẩn, hơi thở hôi…,sốc do nhiễm độc,xuất huyết dưới da…
Nếu được phát hiện sớm, việc điều trị sẽ khả quan, nhưng nếu phát hiện muộn bệnh nhân có thể bị phù não, để lại các di chứng nặng như động kinh và
có thể tử vong Đặc biệt, người bị nhiễm khuẩn liên cầu lợn thường có biểu hiện giống nhiều bệnh khác như nhiễm khuẩn huyết, sốt xuất huyết, viêm màng não mủ,…nên dễ gây chẩn đoán nhầm, dẫn đến bệnh nhân bị điều trị sai
và muộn
2.1.3.4 Phòng và trị bệnh:
Phòng bệnh:
Streptococcus được đưa vào các đàn mới từ những con lợn khỏe mạnh bị
bệnh viêm màng não sau vài tháng đã mang mầm bệnh trong amidan Việc nhập các con lợn khỏe mạnh mang mầm bệnh hoặc lợn sinh ra ở những đàn
đã bị bệnh sẽ làm lây truyền Streptococcus cho lợn con Lợn con mang mầm
bệnh này sau khi tách mẹ bổ sung vào chuồng sẽ làm nhiễm bệnh cho các lợn
Trang 28khác Streptococcus gây bệnh cho lợn ở mọi lứa tuổi nhưng hầu hết các
trường hợp xảy ra đều ở lợn 3 - 12 tuần tuổi và lợn sau cai sữa được nhốt chung với nhau Vì vậy để phòng bệnh cần áp dụng các biện pháp sau đây:
- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý: Trong chăn nuôi lợn việc chia đàn, phân ở chuồng theo từng loại lợn là rất cần thiết Với lợn con sau cai sữa, cần chia thành các ô nhỏ để đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa vì khả năng lây truyền bệnh khi nuôi nhốt với mật độ cao là rất lớn Ngoài ra các biện pháp nhập nên thực hiện để phòng bệnh do vi khuẩn gây ra là:
+ Với nhân tố trung gian truyền bệnh (ruồi, muỗi): Cần phải thường xuyên phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồn mang mầm bệnh vào chuồng trại
+ Thường xuyên quét dọn rác, phân, chất độn chuồng, nước thải, phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như: NaOH, Iodine, Benkocid…
+ Cần chú trọng công tác nuôi dưỡng và quản lý đàn
+ Xác định và loại thải những lợn nái mang mầm bệnh, tách riêng điều trị, hoặc loại thải
+ Cần bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khỏe mang trùng + Lợn con sau khi sinh cần được bú đầy đủ sữa đầu của mẹ để có đủ kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn đầu - là giai đoạn dễ cảm nhiễm với bệnh nhất
+ Cần hạn chế những tổn thương gây ra ở chân và bàn chân Trong quá trình sinh sản, phải kiểm tra thường xuyên các khớp chân của lợn Tránh các yếu tố bất lợi cho lợn con
+ Loại bỏ những lợn mang trùng và có hướng điều trị kịp thời lợn mắc bệnh + Không được vận chuyển lợn từ vùng có dịch sang vùng khác Đối với các vùng chăn nuôi tập trung và các trang trại, biện pháp tốt nhất là tự sản
Trang 29xuất lấy con giống Trong trường hợp cần phải nhập con giống từ nơi khác về thì nhất thiết phải tiến hành kiểm dịch, cán bộ chuyên môn phải đến tận nơi có lợn bán kiểm tra việc tiêm phòng cho đàn lợn trước khi đưa về Khi nhập lợn
về phải nuôi cách ly tại khu vực nuôi cách ly ít nhất 15 ngày Sau đó kiểm tra thấy lợn khỏe mạnh bình thường và không có dấu hiệu gì về bệnh thì mới tiến hành cho nhập đàn
+ Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách
ly để tránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải nhằm mục đích thu hẹp và thanh toán được đàn lợn bị bệnh Trong quá trình theo dõi, phải cách ly tuyệt đối không được nhập đàn mới vào, phải tiến hành thường xuyên phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các thuốc sát trùng
- Biện pháp phòng bệnh đối với người:
+ Phối hợp với ngành thú y kiểm soát bệnh trên lợn, kiểm soát chăn nuôi
và giết mổ lợn
+ Người có vết thương ở chân, tay không được tham gia giết mổ lợn + Sau khi tham gia giết mổ lợn phải rửa sạch tay bằng các loại dung dịch sát khuẩn
+ Không tiếp xúc trực tiếp với lợn ốm hoặc lợn chết
+ Khi xử lý lợn ốm, lợn chết phải sử dụng trang bị phòng hộ: găng tay, ủng, khẩu trang…
+ Không chế biến để ăn thịt lợn ốm, thịt lợn chết và thịt lợn không rõ nguồn gốc
+ Không ăn thịt lợn chưa nấu chín như thịt thủ luộc tái, lòng lợn và nội tạng trần, tiết canh, nem chua, nem chạo,…
+ Hiện chưa có vaccine phòng bệnh cho người Không có chỉ định dùng kháng sinh dự phòng
- Phòng bệnh bằng vaccine:
Trang 30Hiện nay các loại vaccine được sử dụng để phòng bệnh do S suis gây ra
cho lợn chủ yếu là các vaccine chuồng (autugenous vaccine) và hiệu quả bảo
hộ của các loại vaccine này cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Có thể liệt kê ra một số nguyên nhân của hiện tượng này như: sự thoái hóa của kháng nguyên bảo hộ hoặc vi khuẩn bị mất tính kháng nguyên do quá trình xử
lý bằng nhiệt hoặc formalin, do tính miễn dịch yếu của giáp mô của vi khuẩn,
do sự sản sinh kháng thể đối với các kháng nguyên mà không có liên quan đến độc lực của vi khuẩn và sự thiếu hụt của các chủng hay serotype liên quan đến quá trình sinh bệnh học (Higgins và cs, 2002) [24]
Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và đưa vào chế tạo thử nghiệm nhiều loại vaccine khác nhau như: vaccine sống nhược độc, vaccine tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành tế bào, protein là các yếu tố độc lực),…Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loại vaccine này cũng rất thất thường và không ổn định
Trong một số trường hợp khẩn cấp, việc lựa chọn dùng vaccine vẫn là phương thức tối ưu nhất để bảo vệ sức khỏe đàn lợn Tại Trung Quốc, năm
1994 đã dùng vaccine chế từ chủng nhược độc của vi khuẩn S suis chủng
ST.171, đông khô tiêm cho lợn từ cai sữa đến trưởng thành và nái có chửa thời kỳ đầu Khi sử dụng cho thêm nước muối sinh lý có bổ trợ keo phèn 20% hòa thành huyễn dịch tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với liều 1ml/con Sau khi tiêm 7 ngày đã sinh miễn dịch, miễn dịch cao nhất sau 14 ngày và thời gian miễn dịch kéo dài được 6 tháng Sau đó, năm 2005 chính Trung Quốc cũng đã
kiểm soát dịch bệnh do S suis gây ra ở lợn bằng vaccine vô hoạt chế từ các chủng S.Suis serotype 2 (Lê Văn Tạo, 2005) [9]
Tại Việt Nam, từ các kết quả nghiên cứu về bệnh cầu khuẩn ở lợn, (Khương Thị Bích Ngọc, 1996) [4] đã chế tạo vaccine cầu khuẩn chết có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt hiệu quả bảo hộ tương đối cao Tuy
Trang 31nhiên, hiện nay việc sử dụng vaccine cầu khuẩn để tiêm phòng cho đàn lợn ở nước ta chưa được phổ biến rộng rãi, bệnh liên cầu khuẩn vẫn thường xuyên xảy ra ở lợn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi
- Phòng bệnh bằng kháng sinh:
Vi khuẩn S suis mẫn cảm với nhiều loại kháng sinh, nhưng cũng rất dễ
kháng lại với các loại kháng sinh này Vì vậy trong quá trình sử dụng kháng sinh để phòng và điều trị bệnh phải hết sức cẩn trọng
Có thể phòng bệnh bằng cách bổ sung kháng sinh vào thức ăn, nước uống hoặc tiêm cho lợn Khi sử dụng cần phải chú ý đến hiệu lực, đường đi của thuốc, sự cạnh tranh của các loại thuốc khi dùng đồng thời nhiều loại
kháng sinh và nồng độ thuốc trong huyết thanh để diệt vi khuẩn S suis
Vi khuẩn S suis rất mẫn cảm với Penicillin, vì vậy bổ sung penicillin vào
trong thức ăn sẽ giảm bớt lượng lớn vi khuẩn gây bệnh viêm màng não trong phạm vi loài Nhưng Penicillin bị phân hủy nhanh trong thức ăn, vì vậy tác dụng phòng bệnh bị hạn chế Khi sử dụng penicillin cần chú ý đến những đặc điểm cơ bản sau: tiêm cho tất cả những lợn khi chúng được phân đàm và tiêm cho những trường hợp có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
Điều trị:
- Điều trị bằng kháng sinh:
Chẩn đoán phát hiện sớm bệnh do vi khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng
kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn lợn Với lợn con trước cai sữa và ở giai đoạn đầu của bệnh nếu sử dụng Penicillin
và Dexametlasone sẽ mang lại hiệu quả rất cao Trong thực tế, khi sử dụng
Penicillin điều trị bệnh do S suis gây ra, điều trị từng cá thể kết hợp với chăm
sóc và nuôi dưỡng tốt có thể khỏi bệnh hoàn toàn, tránh được tử vong Tới 80
- 95% số chủng Streptococcus suis mẫn cảm với Penicillin G Theo Trịnh Phú
Ngọc (2002) [7] khi tiến hành thử mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi
Trang 32khuẩn Streptococcus phân lập được, thấy số chủng mẫn cảm với Penicillin G
biến động từ 59,09 - 63,63%
Theo Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (1994) [5] khi điều trị bệnh đường hô hấp trong chăn nuôi lợn tập trung đã dùng Tylosin để điều trị Dùng kháng sinh tiêm kết hợp với vaccine tiêm phòng được chế từ các chủng vi khuẩn gây bệnh phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm đường hô hấp trong đó có các
chủng Streptococcus đã thu được kết quả rất tốt
Theo Trương Quang Hải và cs (2012) [1] xác định khả năng mẫn cảm
với kháng sinh của 25 chủng vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang cho kết quả: các chủng vi khuẩn S.Suis mẫn cảm
cao với Ceftiofur (92,0%), Florfenicol (88,0%), Amoxicillin (88,0%), Ofloxaclin (72,0%), Amikacin (72,0%) và kháng lại một số kháng sinh như Streptomycin (72,0%), Neomycin (64,0%), Colistin (60,0%), Tetracyline (56,0%) và Penicillin G (48,0%)
Trong thực tế, khi sử dụng kháng sinh có độ mẫn cảm cao để điều trị cho
lợn mắc bệnh di vi khuẩn S suis gây ra đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, sử
dụng kháng sinh để điều trị phải dùng sớm và chỉ có hiệu quả tốt khi con vật chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nặng hay chưa có biểu hiện quá ủ rũ,
bỏ ăn Điều trị muộn thì hiệu quả sẽ rất kém hoặc không có hiệu quả
- Điều trị bằng huyết thanh:
Ngoài việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh do S suis gây ra, nhiều
nước trên thế giới đã sử dụng huyết thanh đặc hiệu để điều trị bệnh và mang lại kết quả tốt Các nhà nghiên cứu Tiệp Khắc (cũ) đã chế tạo thành công huyết thanh đặc hiệu dùng điều trị bệnh cho lợn và bò Huyết thanh được lấy
từ những con bò được miễn dịch bằng kháng nguyên Streptococcus gây bệnh
và được cố định bằng phenol, dùng để điều trị bệnh, hoặc được dùng phối hợp
với vaccine để chống lại sự cảm nhiễm vi khuẩn Streptococcus đối với những
Trang 33động vật tiếp xúc với mầm bệnh Điều trị cho lợn lớn với liều 2ml/kg thể trọng (TT) (sau khi tiêm huyết thanh được 3 tuần thì tiêm tiếp vaccine tụ cầu với liều 2ml/con) Khi sử dụng huyết thanh đặc hiệu để điều trị bệnh thường giá thành rất cao, vì vậy trong thực tế ít sử dụng Chỉ sử dụng huyết thanh đặc hiệu để điều trị trong những trường hợp cần thiết và với những động vật quý hiếm có giá trị kinh tế cao (Trịnh Phú Ngọc, 2002) [7]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu của (Khương Thị Bích Ngọc, 1996) [4] cho biết bệnh cầu khuẩn xảy ra ở hầu khắp các trại chăn nuôi tập trung trong những năm 70, 80 đã cho thấy vi khuẩn thuộc nhóm cầu khuẩn bao gồm
Staphylococcus aureus, S suis và Diplococcus là nguyên nhân chính gây ra “
bệnh cầu khuẩn ở lợn” có các triệu chứng như con vật bỏ ăn, sốt cao, chết đột ngột, khớp sưng to, liệt chân Bệnh tích mổ khám bao gồm: Toàn bộ phủ tạng xuất huyết, phổi viêm hóa mủ, dính với lồng ngực và hoành cách mô, tim nhão, cơ tim xuất huyết, xoang bụng tích đầy nước vàng, toàn bộ ruột bị viêm kết dính, khớp viêm sưng to, thịt nhão và có mùi hôi thối Kết quả phân lập vi
khuẩn từ phủ tạng lợn bệnh cũng đã cho thấy vi khuẩn S suis chiếm tỉ lệ cao
nhất 60%, tiếp đến là Diplococcus 33% và Staphylococcus aureus 7%
Nghiên cứu của (Nguyễn Thị Nội và cs, 1993) [6] về vai trò của vi khuẩn S
suis trong hội trứng ho thở truyền nhiễm ở lợn tỷ lệ phân lập được S suis là
74%.Tại báo cáo khoa học Viện Thú y 1998 về kết quả phân lập vi khuẩn S suis
gây bệnh đường hô hấp của lợn một số tỉnh phía Bắc tỷ lệ phân lập ở phổi, hạch phổi 72%, dịch ngoáy mũi 43% (Cù Hữu Phú và cs, 1998) [8] Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở bước phân lập và giám định các đặc tính sinh hóa của các chủng vi khuẩn phân lập được, nhưng vẫn chưa xác định được chính xác serotype
Trang 34của chúng nên thông tin về mức độ lưu hành của các serotype thông thường gây bệnh cho lợn tại Việt Nam là chưa được biết đến một cách rõ ràng
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Vi khuẩn S suis là một trong số các tác nhân gây bệnh quan trọng và gây
ra những thiệt hại đáng kể trong chăn nuôi lợn công nghiệp Các thông báo
đầu tiên về bệnh do S suis gây ra ở lợn đã được chính thức xác nhận lần đầu
tiên ở Hà Lan vào năm 1951 và ở Anh vào năm 1954 (Field và cs, 1954) [17]
Kể từ đó, bệnh đã được thông báo là xảy ở hầu khắp các nước trên thế giới - nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển (Higgins và cs, 2002) [24]
Ở Anh, bệnh do S suis type 2 chủ yếu là gây ra các triệu chứng như bại
huyết và viêm não ở lợn cai sữa Trong khi đó, ở các nước Bắc Mỹ, các báo
cáo đều chỉ ra rằng S suis là vi khuẩn chủ yếu phân lập được từ những lợn bị
viêm phổi (Erickson và cs, 1984) [16]
Các chủng S suis thuộc các serotype khác (không phải type 2) cũng đã
phân lập được từ lợn bị viêm phổi - màng phổi tại Bỉ, Australia, Canada (Gottschalk và cs, 1991) [21]
Năm 1990, đã xác định có ít nhất 23 serotype Ở Canada phân lập được
tất cả 23 type, trong đó type 2 chiếm tỷ lệ cao nhất với 32% S suis type 2 lưu
hành phổ biến ở các nước Trong một nghiên cứu điều tra ở Quebec đối với lợn con khoẻ mạnh về lâm sàng 4 - 8 tuần tuổi cho kết quả 94% số lợn phân lập được vi khuẩn và 98% số trại bị nhiễm Những serotype thường thấy theo thứ tự giảm dần là 3, 4, 8 và 2, có 32% số lợn con phát hiện nhiễm 2 serotype phân biệt, nhiễm 3 serotype là 1% Serotype 1 và 2 phân lập từ lợn con viêm màng não và viêm phổi hoá mủ Ở Đan Mạch serotype 7 phát hiện nhiều hơn các serotype khác, chiếm 75% Ở Phần Lan, phân lập từ lợn chết thấy nhiều nhất là serotype 7 sau đó là 3 và 2, thường phân lập từ lợn viêm phổi Ở Hà
Lan, S suis type 2 phân lập phổ biến nhất ở lợn viêm màng não Xét nghiệm
từ hạch amidan lợn ở lò mổ (lợn khoẻ mạnh) ở vùng trước đó có nhiễm liên