1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)

88 285 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 592,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIÊN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS ĐỖ HOÀI NAM

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng bản thân tôi Tất cả các số liệu trong đề tài nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên

Trương Ngọc Huy

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM 11

1.1 Một số cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa 11 1.2 Chính sách hiện hành về xã hội hóa ngành y tế ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ TỈNH QUẢNG NGÃI 40

2.2 Kết quả thực thi chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi 45

2.3 Đánh giá việc thực thi chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi 53

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGHÀNH Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 63

3.1 Nhu cầu, mục tiêu định hướng hoàn thiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 63 3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 64

KÊT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu cơ sở hành nghề y tế ngoài công lập trên

địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

40

Bảng 2.2 Phát triển mạng lưới y tế ngoài công lập trên địa bàn tỉnh

Quảng Ngãi đến năm 2015

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở bối cảnh khi nguồn lực và ngân sách của quốc gia có hạn, việc đa dạng hóa các hình thức thu hút nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển xã hội là đòi hỏi tất yếu khách quan Xã hội hóa y tế (XHHYT) là hình thức huy động các nguồn lực trong xã hội với chủ trương là để phát triển dịch vụ và nâng cao chất lượng y tế nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) của người dân Thực hiện chủ trương này, ở nhiều năm qua Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách xã hội hóa đối với khuyến khích các hoạt động giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể

thao, môi trường mà khởi đầu là Nghị quyết số 90/CP ngày 21-8-1997 Về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19-8-1999 Về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao cho đến các chính sách gần đây mà điển hình là: Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008

Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ- CP ngày 16/6/2014 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30-5-2008 của Chính phủ; và Nghị quyết 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ Về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện chính sách khuyến khích Xã hội hóa ngành Y tế, tại Hội nghị “Đẩy mạnh xã hội hóa và kết hợp công tư trong hoạt động khám chữa bệnh theo Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ” do Bộ Y tế tổ chức ngày 16/9/2014, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhấn mạnh [16]: Mặc dù đã

có sự quan tâm của Nhà nước, nỗ lực cố gắng của ngành Y tế và toàn xã hội nhưng

cơ sở hạ tầng của ngành Y tế hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Tỷ lệ giường bệnh trên vạn dân còn thấp, hiện mới đạt 24 giường/10 vạn dân trong khi theo khuyến nghị của các tổ chức quốc tế phải là 39 giường/10 vạn dân… Số giường bệnh nhiều chuyên khoa như tim mạch, ung bướu,

Trang 6

chấn thương, sản nhi, còn thấp so với nhu cầu và cơ cấu bệnh tật Cơ sở vật chất

Y tế tuyến cơ sở xuống cấp, trang thiết bị Y tế thiếu, lạc hậu, không đồng bộ, gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế Vì thế, trong điều kiện nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hạn chế, việc phát huy vai trò của xã hội hóa ngành Y tế được kỳ vọng khả quan ở tính hiệu quả và góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội Trong thực tiễn, việc xã hội hóa ngành Y tế đã khuyến khích đầu tư các cơ sở y tế như các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa trên cả nước được đầu tư mới, nâng cấp, cải tạo các trang thiết bị hiện đại Hiện cả nước có 171 bệnh viện tư nhân với gần 11.000 giường bệnh Các hoạt động vay vốn, hợp tác để xây dựng cơ sở hạ tầng trong bệnh viện công bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực, giúp hoàn thành, đưa vào s dụng sớm nhiều cơ sở Y tế… góp phần nâng cao hiệu quả s dụng ngân sách và giảm áp lực quá tải bệnh viện ở các tuyến Việc liên doanh, liên kết đã đạt một số kết quả tích cực như: phát triển nhiều k thuật mới k thuật cao, trang bị được nhiều loại thiết bị hiện đại, tiên tiến như hệ thống PET.CT, CT-Scanner các loại, hệ thống cộng hưởng từ, máy gia tốc tuyến tính, các thiết bị tán sỏi ngoài cơ thể, mổ Phaco, siêu âm màu, máy xét nghiệm các loại giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán

và điều trị, phát hiện sớm, chính xác bệnh tật, giảm tỷ lệ t vong Người dân, trong

đó có người ngh o, cận ngh o, tr em, đối tượng chính sách c ng được hưởng lợi

vì được s dụng các dịch vụ này, kể cả các dịch vụ k thuật cao, chi phí lớn và được BHYT thanh toán vì ở nhiều bệnh viện, các trang thiết bị xã hội hóa được dùng chung cho toàn bộ bệnh viện

Tuy vậy, từ thực tiễn Xã hội hóa ngành Y tế thời gian qua c ng đã phát sinh những vấn đề khó khăn:

i/ Dù chỉ có 21,64% (37/171) bệnh viện tư có quy mô trên 100 giường bệnh trở lên, song vẫn chỉ có 5 bệnh viện tư có công suất 100% trở lên, số còn lại chỉ đạt 40-50% công suất, cá biệt có bệnh viện chỉ đạt khoảng 20%;

ii/ Nghị quyết 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ Về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế không ưu tiên cho Y tế tư nhân, cơ chế tài chính khó

khăn, điển hình là giá dịch vụ Y tế trên thực tế mới chỉ tính 3/7 yếu tố chi phí,nên

Trang 7

chưa thực sự thúc đẩy và khuyến khích cơ sở Y tế vay vốn đầu tư, tạo sự bình đẳng giữa trong và ngoài công lập;

iii/ Cơ chế hợp tác quốc tế chưa thu hút nguồn vốn nước ngoài đầu tư phát triển Y tế theo hình thức PPP do thiếu hành lang pháp lý…

Đối với tỉnh Quảng Ngãi, cùng với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội trong nhiều năm qua, ngành Y tế đã đạt được các thành quả đáng kể với hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được từng bước kiện toàn, việc đầu tư nâng cấp mạng lưới khám chữa bệnh thực sự có những tiến bộ mới Hệ thống cung cấp các dịch vụ Y tế được

mở rộng, tỷ lệ người ốm được chăm sóc Y tế đã tăng lên Công tác quản lý đã chấn chỉnh từng bước, góp phần nâng cao trách nhiệm, y đức của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh Tuy nhiên, công tác dự phòng

và khám chữa bệnh c ng như công tác quản lý tài chính trong lĩnh vực Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua gặp nhiều khó khăn, bất cập Chất lượng các dịch vụ Y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân, nguồn nhân lực còn thiếu cả về số lượng c ng như yếu về chất lượng; mặc dù cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở Y tế trên địa bàn đã và đang được đầu tư xây dựng và trang bị, nhưng còn chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, một số còn lạc hậu, chưa đủ khả năng giải quyết hết các bệnh thông thường và một số bệnh chuyên khoa đặc thù trên địa bàn Công tác quản lý, huy động vốn và s dụng các nguồn tài chính ở các

cơ sở Y tế chưa đạt hiệu quả và chưa đúng mục đích Trong bối cảnh của những vấn đề khó khăn chung phát sinh từ thực tiễn xã hội hóa ngành Y tế thời gian qua,

hệ thống Y tế Quảng Ngãi hiện vẫn chưa thích ứng kịp thời với sự phát triển nhanh của nền kinh tế - xã hội và sự phát sinh, biến đổi bất thường của bệnh tật trên địa bàn … Đây chính là mối băn khoăn của người dân và các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ngãi

Như vậy, xã hội hóa ngành Y tế là vấn đề cấp thiết, cần phải triển khai sớm bằng việc hoàn thiện chính sách Bởi sự hoàn thiện chính sách là công cụ quan trọng thực hiện quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát sự tiến triển các hoạt động của hệ thống Y tế một cách hiệu quả và đảm bảo cung ứng dịch vụ Y tế đạt chất

Trang 8

lượng, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho phát triển kinh tế-xã hội Với lý do đó,

em xin đăng ký nghiên cứu đề tài “Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn thạc s chuyên ngành chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong nhiều tác giả nghiên cứu các công trình trước đây cả trong và ngoài

nước liên quan đến lĩnh vực chính sách xã hội hóa nói chung và với ngành y tế nói

riêng, điển hình có thể kể đến:

- Các tác giả Paul A Samuelson và William D, Nordhaus (1997) trong “Kinh

tế học” cho rằng, nhiều dịch vụ y tế là hàng hóa công cộng và thị trường dịch vụ y

tế không cạnh tranh hoàn hảo, nhất là về tình trạng mất đối xứng về thông tin giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cũng như yêu cầu về công bằng trong khám, chữa bệnh, nên nhà nước cần phải can thiệp một cách hợp lý Kiến nghị của các tác giả là áp dụng giải pháp trung dung là duy trì thị trường dịch vụ y tế ở trạng thái cạnh tranh có quản lý [37]

- Joseph E Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng (dịch: Nguyễn Thị Hiên, Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Văn Hưởng), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Trong công trình này, khi nghiên cứu về "chăm sóc sức khỏe" tại Hoa Kỳ, tác giả Joseph E Stiglitz đã chỉ ra bằng chứng cho thấy, "chính phủ liên bang đóng vai trò to lớn trong chi tiêu y tế…để xây dựng và nâng cấp các bệnh viện"; chính phủ rất quan tâm đầu tư phát triển y tế thông qua việc xây dựng hai chương trình "Chăm sóc sức khỏe" và "Hỗ trợ y tế" thể hiện ở "Vai trò ngày càng tăng của chính phủ trong việc cấp kinh phí cho chăm sóc sức khỏe" và chính phủ liên bang đã thúc đẩy các hành động thực tiễn nhằm đảm bảo"hầu hết chi tiêu của liên bang đều dành cho hai chương trình Chăm sóc sức khỏe và Hỗ trợ y tế" [38]

- Phạm Thị Thanh Hương (4/2017), Đổi mới cơ chế quản lý tài chính các bệnh viện công ở Việt Nam, Luận án Tiến s chuyên ngành Tài chính – ngân hàng, Học

viện Tài Chính, Hà Nội Luận án nêu lý luận về nội dung các cơ chế quản lý tài chính bệnh viện công từ cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho bệnh viện công, cơ chế thanh toán BHYT với các bệnh viện công, cơ chế thanh toán dịch vụ y tế trực

Trang 9

tiếp từ người s dụng dịch vụ y tế và cơ chế tự chủ tài chính bệnh viện công; phân tích thực trạng về cơ chế quản lý tài chính các bệnh viện công Từ đó đề xuất các nhóm giải pháp như: Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách y tế theo hướng hỗ trợ cho các đối tượng thụ hưởng và theo phương thức Nhà nước đặt hàng, hoàn thiện cơ chế thanh toán BHYT, Xây dựng giá dịch vụ y tế và minh bạch cơ chế thanh toán trực tiếp từ người s dụng dịch vụ y tế, đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính, Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát…

- Vụ HCSN - Bộ Tài chính (2002), “Đổi mới và hoàn thiện các giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế” Nghiên cứu này chỉ

bàn đến khía cạnh tài chính y tế và đứng trên quan điểm của các cơ quan quản lý Nhà nước để đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính y tế ở các bệnh viện công lập

- Phạm Chí Thanh (2011) với luận án tiến s “Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam”, cho rằng trong cơ chế thị trường, khu

vực sự nghiệp công là một dịch vụ đặc biệt cần được coi như là một doanh nghiệp, được thành lập và hoạt động theo quy định của nhà nước và do Chính phủ hay tư nhân sở hữu; cần được nhà nước giao vốn và bảo toàn phát triển vốn, được quyết định việc s dụng tài sản, huy động vốn, góp vốn liên doanh, liên kết

- Đặng Thị Minh (2015), Chính sách phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam, Luận án Tiến s chuyên ngành Quản lý Hành chính công, Học viện Hành

chính Quốc gia, Hà Nội Luận án lập luận, phân tích những quan điểm phát triển trường đại học tư thục và các nguyên tắc hoàn thiện chính sách phát triển trường đại học tư thục phù hợp với thực tiễn hiện nay, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển đại học tư thục phù hợp xu thế phát triển thế giới

Từ đó đã đề xuất các nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách tài chính, chính sách phát triển đội ng giảng viên, chính sách đảm bảo quyền tự chủ của các trường đại học tư thục và các chính sách khác nhằm phát triển trường ĐHTT trong giai đoạn hiện nay

- Bùi Tiến Hanh (2012) với luận án tiến s “Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm

Trang 10

thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam”, đã nghiên cứu và luận giải cơ chế để thực

hiện xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản lý tài chính công đối với giáo dục công lập,

cơ chế khuyến khích và quản lý đối với hoạt động giáo dục ngoài công lập, cơ chế thu và s dụng học phí,

- Nguyễn Thị Lan Anh (02/2017), Chất lượng dịch vụ y tế công tại Bệnh viên

Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên, Luận án Tiến s chuyên ngành Quản trị công,

Đại học Thái Nguyên Luận án đã chỉ ra được các yếu tố đo lường chất lượng dịch vụ

y tế tại bệnh viện công, tập trung vào chất lượng chức năng liên quan đến cách thức cung ứng dịch vụ y tế của bệnh viện Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tổng hợp nhiều nghiên cứu trước đây về chất lượng dịch vụ, trong đó có dịch vụ y tế Tác giả đã áp dụng mô hình đo lường chất lượng dịch vụ của Parasuraman để đo lường chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (nay

là bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên), xây dựng thang đo chất lượng dịch vụ dựa vào thang đo SERQUAL để tiến hành thu thập số liệu sơ cấp về mong đợi và cảm nhận c ng như sự hài lòng của người bệnh trong quá trình s dụng dịch vụ y tế tại bệnh viện Các yếu tố đưa ra trong khung phân tích của luận án là sự kết hợp hợp lý của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện

Ngoài ra, có một số công trình khác:

- Nguyễn Thị Hồng Minh (2016), Quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công- tư trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam,

Luận án Tiến s chuyên ngành Quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Luận án Dựa trên lý thuyết quản lý hành chính của Fayol, H (2013) trong đó phân tách các yếu tố của quá trình quản lý thành các chức năng tương đối độc lập, luận án xác định được nội dung quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) trong xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ gồm: hoạch định phát triển dự án PPP, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, quy định và pháp luật cho dự án PPP, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với dự án PPP, giám sát và đánh giá dự án PPP Qua đó, tác giả nêu các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với dự án PPP đường bộ, bao gồm: quan điểm về

Trang 11

vai trò của nhà nước, năng lực cán bộ quản lý nhà nước, năng lực thể chế của nhà nước (nhóm các yếu tố thuộc về nhà nước); xu thế phát triển của thế giới, trình độ phát triển kinh tế- xã hội đất nước, môi trường chính trị, pháp lý, trình độ phát triển

và năng lực của khu vực tư nhân (nhóm các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài) Trong các yếu tố trên, tác giả đã phân tích được đặc thù của khu vực tư nhân vừa là đối tượng của quản lý nhà nước, đồng thời có tác động trở lại quản lý nhà nước đối với dự án PPP đường bộ Dựa vào các tiêu chí đánh giá hệ thống quản lý công của S.Chiavo Campo và P.S.A.Sundaram (2007), luận án cụ thể hóa các tiêu chí chung thành tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với dự án PPP đường bộ là: tính hiệu lực (gồm bốn tiêu chí), tính hiệu quả (ba tiêu chí), tính phù hợp (bốn tiêu chí), tính bền vững (bốn tiêu chí)

- Trần Văn Sơn (2016), Quản lý nhà nước về các dự án đầu tư công thuộc Bộ

Y tế, Luận án Tiến s chuyên ngành Quản lý kinh tế, Học viện KHXH - Viện Hàn

lâm KHXH Việt Nam, Hà Nội Luận án hệ thống hóa ký luận về đầu tư công, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về các dự án đầu tư công thuộc Bộ Y tế giai đoạn 2002-2012, qua đó có gợi ý đề xuất giải pháp đổi mới và đa dạng hình thức hợp tác công- tư, xây dựng cơ chế thuê công trình y tế và tổ chức mô hình ban quản lý dự

án khu vực để nâng cao hiệu quả Quản lý nhà nước về các dự án đầu tư công ở lĩnh vực y tế

- Nguyễn Hoàng Chương (2017), Xã hội hóa hoạt động sân khấu Kịch công

lập ở Việt Nam, Luận án Tiến s chuyên ngành Quản lý văn hóa, Viện Văn hóa

Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Hà Nội

Đối với các tác giả nghiên cứu công trình liên quan đến địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, có:

- Đoàn Thị Xuân M (2011), “Phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn Thạc s chuyên ngành quản lý kinh tế, Đại học Đà

Nẵng Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phát triển dịch vụ y tế và phân tích thực trạng, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển dịch vụ y tế tại các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi Từ đó luận văn

Trang 12

đã đưa ra một số giải pháp phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

- Bùi Thị Yến Linh (2014), Tổ chức công tác kế toán tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Quảng Ngãi, Luận án Tiến s chuyên ngành Tài chính, Học viện Tài chính,

Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Vân (2007),“Tổ chức công tác kế toán thu, chi hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Quảng Ngãi”, Luận văn

Thạc s ngành Tài chính, Học viện Tài chính, Hà Nội Công trình này chỉ nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán thu, chi hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp nói chung của tỉnh Quảng Ngãi Từ đó, đưa ra giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao công tác kế toán thu, chi hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Tóm lại, dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về xã hội hóa nói chung và lĩnh vực sự nghiệp công nói riêng ít nhiều có liên quan đến lĩnh vực y tế có giá trị tham khảo, song nó c ng cho thấy lĩnh vực xã hội hóa ngành Y tế nghiên cứu ở góc nhìn chính sách công hiện đang là khoảng trống hoặc quan tâm chưa đúng tầm Vì

vậy, hiện chưa có đề tài nào trùng lặp với chủ đề em lựa chọn “Chính sách xã hội hóa ngành y tế từ thực tiển tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn thạc s chuyên ngành

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận về chính sách xã hội

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách xã hội hóa trong ngành Y tế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với mốc thời gian để đánh giá thực trạng từ năm

2009 đến nay và đề xuất giải pháp đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu và vận dụng cách tiếp cận liên ngành và thực tiễn; vận dụng phương pháp luận và lý thuyết về chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả s dụng các phương pháp cụ thể:

- Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp phân tích và tổng hợp, thống

kê và so sánh được s dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, sở ngành, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở nước ta nói chung và thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua

- Phương pháp thực địa: Khảo sát tình hình thực tế hoạt động Y tế và thực

hiện chính sách Xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chính sách công về xã hội hóa ngành Y tế

để làm cơ sở định hình cho việc đề xuất các giải pháp về chính sách xã hội hóa ngành Y tế

Trang 14

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu cung cấp những vấn đề có tính thực tiễn trên cơ sở xem xét giữa mục tiêu dự kiến và thực hiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Góp phần cung cấp, tư vấn thêm những cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách, chính quyền, các cơ quan, ban ngành hoàn thiện chính sách xã hội ngành Y tế những năm tiếp theo

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu với 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa ngành y tế ở Việt Nam, một

số kinh nghiệm thế giới

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh

Quảng Ngãi

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách xã hội hóa ngành Y tế hiện nay

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM

1.1 Một số cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa

1.1.1 Một số khái niệm công cụ

* Xã hội hóa

Xã hội hóa (XHH) nói chung hay XHH y tế nói riêng là những thuật ngữ được

đưa ra với nhiều luồng quan điểm khác nhau

Xã hội hóa ở góc độ xã hội học, thì “Xã hội hóa là một cụm từ gồm ba hoạt động chính sau đây: Đó là việc chuyển sở hữu tư thành sở hữu xã hội (Sở hữu công,

sở hữu nhà nước); Đó là chuyển từ ý thức cá thể thành một ý thức XHCN; Đó là một quá trình chuyển biến từ con người tự nhiên thành con người xã hội”

Xã hội hóa là thuật ngữ dùng để chỉ việc tăng cường sự quan tâm, tham gia rộng rãi của xã hội về cả vật chất và tinh thần vào một số hoạt động mà trước đó chỉ được một đơn vị, một bộ phận hay một ngành chức năng nhất định thực hiện

Dưới góc độ chính sách pháp luật có thể hiểu: Xã hội hóa y tế là hoạt động có

sự tham gia bằng các hoạt động và sự đóng góp theo khả năng của mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề, cá nhân và tổ chức xã hội vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm đạt kết quả cao nhất, công bằng và hiệu quả

Xã hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục y tế văn hóa ở mỗi địa phương Đây là cộng đồng trách nhiệm của đảng bộ, hội đồng nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân Xã hội hóa các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa là vận động và tổ chức

sự tham gia rộng rãi của nhân dân của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp

đó nhằm từng bước nâng cao mức thụ hưởng về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất, tinh thần cuả nhân dân [4]

Như vậy, xã hội hóa các hoạt động y tế là vận động và tổ chức sự tham gia

Trang 16

rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp y tế nhằm từng bước nâng cao mức thụ hưởng về chất lượng dịch vụ y tế trong sự phát triển chung Xã hội hóa y tế là quá trình huy động sự tham gia dưới các hình thức khác nhau của các chủ thể và cộng đồng xã hội, đồng thời tăng cường vai trò của Nhà nước đối với y tế nhằm nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ và mở rộng đối tượng thực hiện, bảo đảm công bằng xã hội trong đóng góp và thụ hưởng các dịch

vụ y tế

* Chính sách xã hội hóa

Chính sách (chính sách công) là tập hợp các quyết định quản lý có liên hệ mật thiết với nhau, do các cơ quan có chức năng thẩm quyền xây dựng và ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhất định, nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội Chính sách là tập hợp các quyết định chính trị của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp hành động để giải quyết các vấn đề của xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể đã xác định

Xét trên giác độ của Nhà nước với tư cách là cơ quan ban hành, chính sách là công cụ thể chế hóa hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng cầm quyền, mà

qua đó Nhà nước s dụng nó làm phương thức điều tiết các nguồn lực của các tổ

chức và cá nhân trong xã hội đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội để đạt được các mục tiêu nhất định Chính sách là sản phẩm một quá trình thực thi quyền lực chính trị mà cốt lõi là tập trung thực thi quyền lực nhà nước Chính sách thường tập trung giải quyết các vấn đề cụ thể đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu nhất định Và do đó, mục đích căn bản của chính sách công là đưa ra những quyết định hành động (bao hàm hành vi thực tiễn về những gì được thực sự thi hành, chứ không chỉ là những tuyên bố bằng văn bản) và tăng khả năng hiện thực hóa xã hội bằng kết quả thực tế

Như vậy, chính sách xã hội hóa là công cụ thể chế hóa hệ thống những quan

điểm, đường lối của Đảng cầm quyền để Nhà nước s dụng nó làm phương thức

quản lý điều tiết các nguồn lực của các tổ chức và cá nhân đối với các lĩnh vực kinh

Trang 17

tế - xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội để đạt được các mục tiêu và phương hướng đã định sẵn, làm cho xã hội ổn định và trật tự, tạo tiền đề để nhà nước thực hiện các nhiệm vụ và chức năng khác tốt hơn

Đối với lĩnh vực y tế, chính sách xã hội hóa ngành y tế là công cụ thể chế hóa

hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe

nhân dân để Nhà nước s dụng nó làm phương thức điều tiết các nguồn lực của các

tổ chức và cá nhân trong xã hội đối với các lĩnh vực y tế để đạt được các mục tiêu

đề ra nhất định

* Thực hiện chính sách xã hội hóa

Thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế để thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích [35]

Tổ chức thực thi (thực hiện) chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng [14]

Như vậy, thực hiện chính sách xã hội hóa (thực thi chính sách) là quá trình biến các chính sách xã hội hóa thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của bộ máy Nhà nước và các bên tham gia nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách xã hội hóa về các lĩnh vực đã đề ra

Đối với thực hiện chính sách xã hội hóa ngành y tế là quá trình biến các chính sách xã hội hóa ngành y tế thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của bộ máy Nhà nước và các bên tham gia nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách xã hội hóa về lĩnh vực y tế đã đề ra

1.1.2 Mục tiêu chính sách xã hội hóa

Nhà nước thông qua chính sách xã hội hóa để kích hoạt với mục tiêu là: định hướng sự phát triển xã hội bền vững thông qua mạng lưới các chế độ nhờ xã hội hóa nhằm đảm bảo sự hài lòng của mọi thành viên trong xã hội được tiếp cận các cơ hội

Trang 18

và thụ hưởng dịch vụ xã hội, mà không có sự loại trừ về giới tính, tuổi tác, thành phần dân tộc, địa vị xã hội, tôn giáo, v.v… vì sự phân biệt Điểm đáng lưu ý, mục tiêu của việc nhà nước thực hiện chính sách xã hội hóa để thống nhất quản lý các lĩnh vực được xã hội hóa nhằm đáp ứng nhu cầu cho mọi công dân, song c ng không đồng nghĩa là nhà nước chia đều theo chủ nghĩa bình quân, mà còn phải đảm bảo sự công bằng (không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tượng thụ hưởng) và phát triển bền vững của xã hội với sự tham gia của cả xã hội

Mục tiêu hàng đầu của chính sách xã hội hóa là tất cả vì con người, lấy cộng đồng người dân được thụ hưởng làm trung tâm của chính sách Trong đó, mục tiêu xây dựng chính quyền địa phương để phát huy tối ưu về năng lực, hiệu lực và hiệu quả của nó nhằm nâng cao tính chủ động, năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu đời sống xã hội và lợi ích của cộng đồng người dân

Điều kiện để đạt được các mục tiêu mà chính sách xã hội hóa cần hướng đến, đòi hỏi phải tuân thủ và thực hiện nhất quán các nguyên tắc cơ bản của quản lý: thượng tôn luật pháp; công khai và minh bạch, không đặc quyền đặc lợi; dân chủ, công bằng, danh dự và trách nhiệm cá nhân; huy động mọi nguồn lực

1.1.3 Vấn đề chính sách xã hội hóa

Quy trình thiết lập – thực thi chính sách thường trải qua các bước chủ yếu: (i) nhận diện vấn đề chính sách; (ii) thiết lập chính sách; (iii) thông qua chính sách; (iv) thực thi chính sách; (v) đánh giá chính sách Trong đó, việc nhận diện vấn đề chính sách xã hội hóa thường xuất phát từ những kẽ hở, tồn tại của chính sách đã có hoặc

từ những vấn đề mới mà chính sách trước đây chưa quy định

Chính sách xã hội hóa vốn dĩ: chịu sự chi phối từ quan điểm chính trị của nhà cầm quyền; phụ thuộc vào mức độ chất lượng và hiệu lực của hệ thống pháp luật về tổng thể và hành lang pháp lý liên quan lĩnh vực được xã hội hóa; cam kết của giới chức về cải cách hành chính ( thể chế hoá chính sách huy động nguồn vốn, xác lập

cơ chế hợp tác công - tư, cải thiện cơ chế cấp phép đầu tư phát triển…); phụ thuộc vào tính hợp lý của cơ cấu nội tại của chính quyền từ tổ chức bộ máy cho đến vấn

Trang 19

đề phân cấp - phân quyền - phối hợp giữa các bộ phận trong bộ máy điều hành quản

lý, năng lực quản lý điều hành của chính quyền và chất lượng nguồn nhân lực cán

bộ công chức và đội ng chuyên môn về lĩnh vực được xã hội hóa, tính đồng bộ và mức độ hiện đại hoá cơ sở hạ tầng k thuật - xã hội (hành chính, kinh tế, văn hoá, dịch vụ, an ninh…)

Hơn nữa, việc thiết kế chính sách xã hội hóa đòi hỏi phải dựa theo nguyên tắc chủ thể quản lý phải phù hợp với khách thể (đối tượng quản lý) nhằm đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, phù hợp với cơ chế thị trường vận hành và xu hướng hội nhập quốc tế Do vậy, những vấn đề chính sách xã hội hóa thường được biểu hiện ở mâu thuẫn hoặc nhu cầu thay đổi hiện trạng xuất hiện trong đời sống kinh tế – xã hội ở địa phương luôn đặt ra các cấp chính quyền nhà nước phải đối mặt Chính những vấn đề chính sách này cùng với việc xác định được các nguyên nhân của nó, yêu cầu đòi hỏi chính quyền nhà nước phải s dụng quyền lực công thông qua các công cụ điều hành bao gồm cả chính sách xã hội hóa để giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn xã hội đặt ra một cách hiệu quả

1.1.4 Những giải pháp chính sách xã hội hóa

Chức năng cơ bản của chính sách xã hội hóa là phòng tránh và khắc phục các thiệt thòi, rủi ro gặp phải trong cuộc sống bằng các biện pháp khác nhau Nhà nước

phải xây dựng và thực thi chính sách xã hội hóa ổn định c ng như đảm bảo sự bền

vững về tài chính, ổn định về tổ chức trong thực hiện chính sách, nhất quán và "bao phủ" Ở đó, phương thức tác động chủ yếu của chính sách xã hội hóa là thiết lập các văn bản pháp luật ở các lĩnh vực, các ưu đãi trong từng giai đoạn phát triển nhất định Việc chú trọng hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của các văn bản pháp luật là giải pháp ưu tiên hàng đầu của chính sách, nó sẽ quyết định quá trình áp dụng chính sách xã hội hóa chẵng những ổn định trong trật tự1, mà còn quan trong hơn là giúp điều tiết việc s dụng hợp lý nguồn ngân sách Nhà nước có hạn mà vẫn đáp ứng đầy

đủ nhu cầu xã hội và đảm bảo công bằng xã hội trong thụ hưởng

1Hiệu lực và hiệu quả quản lý c ng như kiểm soát tốt mọi hoạt động phát triển ổn định hay không phụ thuộc

rất lớn vào tính nghiêm minh của luật lệ trên tinh thần thượng tôn pháp luật

Trang 20

Nhà nước phải hình thành bộ máy chuyên nghiệp với một đội ng cán bộ, công chức có năng lực và gia tăng tính trách nhiệm - giải trình của chính quyền nhà nước, nhất là người đứng đầu là tất yếu khách quan để tạo dựng niềm tin – uy tín để huy động được các nguồn lực, tổ chức phối hợp thực hiện chính sách xã hội hóa và các chính sách khác có liên quan nhằm đảm bảo chính sách xã hội hóa sẽ được triển khai theo những phương hướng, mục tiêu chung, thống nhất và nhanh chóng trên toàn xã hội, đảm bảo được phân bổ nguồn lực thực hiện chính sách xã hội hóa cân đối và hợp lý trong đầu tư từng địa phương, vùng, miền

S dụng công cụ tuyên truyền, vận động, giáo dục thuyết phục, phương tiện thông tin truyền thông

Thanh tra, kiểm tra, giám sát ngoài việc phát hiện các sai phạm x lý kịp thời trong quá trình thực hiện chính sách xã hội hóa để x lý kịp thời, thì còn giúp Nhà nước phát hiện, đánh giá tính đúng đắn, những bất cập, chưa phù hợp của chính sách để có những điều chỉnh, nhằm nâng cao hiệu quả tác động của chính sách trong thực tế

Nhà nước phải có cơ chế chính sách huy động sự tham gia của các chủ thể khác vào quá trình quản lý và thực hiện xã hội hóa theo chức năng, nhiệm vụ đã phân cấp và pháp luật quy định Trong lĩnh vực huy động vốn và kích cầu đầu tư cho các lĩnh vực cần xã hội hóa để khuyến khích phát triển, giải pháp căn bản của chính sách xã hội hóa là giảm thuế và gia tăng các ưu đãi (như đất đai, tín dụng…) Việc tìm kiếm và huy động mọi nguồn lực cho việc thực hiện các chính sách xã hội hóa: từ trung ương, từ tỉnh, tài trợ của các tổ chức CT-XH, tổ chức kinh tế trong và ngoài địa phương, thiết lập các cơ chế để mở rộng và thu hút nguồn vốn vay ưu đãi, đồng thời, s dụng nhiều cách làm khác nhau để thu hút nguồn lực trong nhân dân như: hiến đất làm đường, xây trường học, nhượng đất ở, đất sản xuất cho người ngh o, đóng góp, hỗ trợ kinh phí, vốn vay và công sức để hỗ trợ người ngh o làm nhà ở, hướng dẫn cách thức sản xuất kinh doanh để cải thiện cuộc sống…

Đối với mỗi chính sách xã hội hóa, chính quyền địa phương tìm kiếm phương thức hỗ trợ khác nhau để triển khai nhằm đạt hiệu quả cao nhất Chẳng hạn,

Trang 21

chính sách phát triển giáo dục: hỗ trợ học bổng, xây dựng trường học, miễn giảm học phí và trợ cấp sách giáo khoa, vở, viết chính sách; Chính sách hỗ trợ có điều kiện về phát triển sản xuất, đào tạo nghề, tạo việc làm: người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ưu tiên người ngh o, người đồng bào DTTS, chính sách c tuyển, phát triển mô hình đào tạo nghề khu vực nông thôn, hỗ trợ đất sản xuất đối với hộ chưa hỗ trợ hoặc thiếu đất sản xuất; Chính sách khám chữa bệnh: tập trung

ưu tiên hộ gia đình ngh o, đồng bào DTTS, điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho chăm sóc sức kh e, phát th BHYT miễn phí cho hộ gia đình ngh o, chương trình khám, tư vấn và phát thuốc miễn phí…

1.1.5 Các chủ thể chính sách xã hội hóa

Để đảm bảo gia tăng khả năng tiếp cận với dịch vụ xã hội cần thiết, thì đòi hỏi

sự tham gia của các bên phải đa dạng, toàn diện… bảo đảm bền vững, công bằng Qua đó, có thể xác định các bên tham gia thực thi chính sách xã hội hóa phải đa dạng và nhiều thành phần, tiêu biểu có thể kể đến:

- Nhà nước: Nhà nước là chủ thể hoạch định chính sách xã hội hóa và đồng

thời c ng là chủ thể quyết định triển khai thực hiện chính sách

Chính sách xã hội hóa được ban hành bởi cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất để đảm bảo tính pháp lý cao trong quá trình thực hiện Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm cao nhất và c ng là cuối cùng trong việc xây dựng, hoàn thiện và triển khai tổ chức thực hiện chính sách xã hội hóa trên thực tế

Không chỉ có chức năng nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng và hoạch định

chính sách xã hội hóa, Nhà nước còn phải s dụng quyền lực về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp do nhân dân ủy thác để thực hiện chính sách xã hội hóa Với ưu thế

về quyền lực, bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nguồn lực và đội ng cán

bộ, công chức , nhà nước giữ vai trò nòng cốt và chỉ có nhà nước mới có khả năng quyết định mọi vấn đề trên quy mô toàn xã hội trong việc thực hiện, kiểm tra, giám sát chính sách xã hội hóa thống nhất trong cả nước Vì vậy, bản thân cơ quan nhà nước c ng phải tuân thủ pháp luật về các lĩnh vực cần xã hội hóa và s dụng pháp luật với tư cách là một phương tiện thống nhất để thực hiện có hiệu quả các mục

Trang 22

tiêu của chính sách xã hội hóa, cho nên, nhà nước cần phải nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về các lĩnh vực cần xã hội hóa để đảm bảo tính nghiêm minh và công bằng của chính sách trong thực tiễn

Đồng thời, Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm chính, nhà nước phải tìm kiếm các cách thức để huy động sự tham gia đóng góp nguồn lực của doanh nghiệp, cộng đồng xã hội nhằm chia s trách nhiệm và gánh nặng ngân sách đối với nhà nước Nhà nước còn nắm giữ vai trò chủ đạo trong điều phối và tạo điều kiện, môi trường để các chủ thể khác: tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, nhà đầu tư,

cá nhân,… với mong muốn, mục đích khác nhau cùng tham gia thực hiện chính sách xã hội hóa nhưng phải hướng đến và đạt được mục tiêu chung

Các cơ quan hành chính nhà nước trong bộ máy nhà nước triển khai thực hiện

chính sách xã hội hóa ngành Y tế, bao gồm: i/ Chính phủ: Với vai trò là cơ quan

hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ đồng thời là cơ quan ban hành chính sách và có trách nhiệm tổ

chức thực hiện chính sách ở cấp trung ương; ii/ Các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực

hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công trong phạm vi cả nước, quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Do vậy, Bộ và cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm thực thi các chính sách do Quốc hội và Chính phủ ban hành có liên

quan đến ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách; iii/ Chính quyền địa phương: bao gồm

HĐND và UBND các cấp

Để thực hiện chức năng quản lý của mình trong quá trình tham gia vào thực thi chính sách xã hội hóa đối với các lĩnh vực xã hội, các cơ quan nhà nước theo thẩm quyền được phân công sẽ tiến hành hoạt động động quản lý của mình ở các nội dung chủ yếu:

i/ Xác định cụ thể các đầu mối tham gia vào quá trình triển khai thực thi chính sách để hình thành nên hệ thống cơ quan thực hiện chính sách với chức năng, nhiệm

vụ và trách nhiệm được xác định cụ thể;

ii/ Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong thực thi chính sách;

iii/ Xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính trong thực hiện, tìm kiếm và huy

Trang 23

động các nguồn lực trong triển khai chính sách và là đấu mối điều phối thực thi chính sách xã hội hóa theo kế hoạch đã phê duyệt;

iv/ Thiết lập cơ chế xã hội hóa và chia s trách nhiệm xã hội, khuyến khích sự tham gia của nhiều bên không chỉ trong lĩnh vực huy động vốn mà ngay cả trong việc lấy ý kiến tham gia chính sách và phản biện chính sách

v/ Thực hiện hoạt động giám sát, kiểm tra, đôn đốc và điều chỉnh kịp thời việc thực hiện chính sách

- Các chủ thể là hiệp hội nghề nghiệp - xã hội ở trung ương và địa phương, các

tổ chức phi Chính phủ, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, người dân Các chủ thể này cùng với sự hiểu biết, kinh nghiệm sẽ tư vấn, đưa ra các kịch bản

mà các chính sách xã hội hóa sẽ gặp phải trên thực tế để giúp nhà nước đưa ra được các sáng kiến, giải pháp phù hợp nhằm rút ngắn được thời gian triển khai thực hiện các chính sách trong thực tế Đồng thời, họ còn đề xuất những ý kiến phản biện giúp xây dựng chính sách hoàn chỉnh hơn c ng như tham gia vào việc tìm kiếm và hỗ trợ góp phần giải quyết bài toán về nguồn lực để triển khai thực hiện chính sách xã hội hóa các lĩnh vực xã hội Sự đồng tình, ủng hộ của các chủ thể này là nhân tố quan trọng, có tác động mạnh mẽ quyết định đến sự thành công trong thực thi chính sách

xã hội hóa

- Đối tượng thụ hưởng là các cá nhân, nhóm, tổ chức và người dân với tư cách

là khách hàng s dụng dịch vụ xã hội ấy được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ

sự can thiệp chính sách Đối tượng thụ hưởng trực tiếp là cá nhân, nhóm, hoặc tổ chức trực tiếp s dụng “đầu ra” của chính sách Động cơ và lợi ích của đối tượng thụ hưởng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực thi chính sách xã hội hóa, theo đó mọi đối tượng thụ hưởng đều cố gắng cải thiện mức độ phúc lợi của họ và tối thiểu hóa những thiệt hại của họ thông qua việc khẳng định vai trò của họ trong quá trình thực thi chính sách

1.1.6 Thể chế chính sách xã hội hóa

Thể chế bao gồm cả luật, các văn bản dưới luật (hay lệ) xuất phát từ Nhà nước, thông lệ và các quy tắc ứng xử được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng, doanh nghiêp, và nhân dân không do nhà nước quy định [36] Thể chế là những

Trang 24

quy tắc, chuẩn mực về hành vi, về cơ chế vận hành các tổ chức để dựa vào đó các tác nhân tương tác với nhau nhằm thực hiện các quy tắc và quy phạm pháp luật, đạo đức nhằm đạt được mục tiêu nhất định Theo ý nghĩa đó, thể chế được thiết lập là để đảm bảo sự liên kết hợp tác giữa các tổ chức, cá nhân có hiệu quả mở đường cho việc hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra Và trong thực tiễn, việc lựa chọn mô hình tổ chức quản lý phụ thuộc nhiều vào hệ thống giám sát có hiệu quả hay không mà thể chế thiết lập ấy mang lại

Như vậy, đối với thể chế chính sách xã hội hóa của nhà nước hướng vào thiết lập mối quan hệ giữa các chủ thể vận hành chính sách theo cơ chế "xã hội hoá" thiết lập để chia sẽ trách nhiệm xã hội (chia sẽ trách nhiệm giữa nhà nước với các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng) trong thực hiện chính sách Nếu một khi vì lý do nào đó

mà các bên và đối tượng thụ hưởng không thể tiếp cận được với chính sách xã hội hoá, từ chối tiếp nhận hoặc không tham gia nhiệt tình vào quá trình vận hành chính sách này thì coi như chính sách đó đã thất bại hoặc khó có thể đạt đến mục tiêu

1.1.7 Những nhân tố tác động đến chính sách xã hội hóa

Các yếu tố như: môi trường, điều kiện tài chính, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể ban hành là cấp quốc gia và địa phương, giữa chủ thể ban hành và các đối tượng

có liên quan

* Nhóm yếu tố khách quan

- Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách xã hội

hóa Tính chất của vấn đề chính sách nó tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn

đề bằng chính sách: Nếu vấn đề chính sách là đơn giản, liên quan đến ít đối tượng chính sách thì công tác tổ chức thực thi sẽ thuận lợi hơn các vấn đề phức tạp có quan hệ lợi ích với nhiều đối tượng chính sách trong xã hội

- Môi trường thực thi chính sách xã hội hóa là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc tế Các hoạt động này diễn ra theo qui luật trong các điều kiện cụ thể và nó c ng

độc lập với quá trình thực thi chính sách Môi trường thực thi chính sách chứa đựng toàn bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội, các điều kiện vật chất k thuật của

Trang 25

nền kinh tế, bầu không khí chính trị, văn hóa, xã hội, quan hệ quốc tế rộng mở

- Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách thể hiện mức độ thống nhất về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách xã hội hóa Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách xã hội hóa

không mâu thuẫn với nhau và với đối tượng thụ hưởng thì chính sách được triển khai thực hiện thuận chiều; và ngược lại, lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách mâu thuẫn với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính sách sẽ trở ngại, thậm chí còn thất bại

Ngoài ra, nhu cầu và sự đồng tình ủng hộ của người dân là rất quan trọng, là

cơ sở hạch toán liệu việc đề ra và thực thi chính sách xã hội hóa lĩnh vực xã hội ấy

có cần thiết hay không Việc thực hiện các mục tiêu chính sách không chỉ do các cơ quan nhà nước làm, mà phải có sự tham gia của cộng đồng người dân Bởi họ chẳng

những là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách xã hội hóa, mà

còn là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại Đây được xem là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách Do vậy, một chính sách xã hội hóa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân và xã hội về mục tiêu và biện pháp thực hiện thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện; và ngược lại không phù hợp sẽ bị

chối bỏ

* Nhóm yếu tố chủ quan

Các yếu tố thuộc về cơ quan công quyền, cán bộ, công chức chủ động chi phối quá trình thực thi chính sách xã hội hóa Những yếu tố chủ quan gồm:

- Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong qui trình tổ chức thực thi chính sách

Mỗi bước trong qui trình đều có vị trí, ý nghĩa nhất định đối với quá trình thực thi chính sách Việc làm này được thực hiện tốt sẽ củng cố thêm lòng tin của người dân

vào chính sách xã hội hóa của nhà nước

- Năng lực thực thi chính sách của CBCC trong bộ máy quản lý nhà nước là

yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách xã hội hóa Năng lực thực thi của CBCC là thước đo bao hàm nhiều tiêu chí phản ánh về

Trang 26

đạo đức công vụ, năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó đối với các tình huống phát sinh trong tương lai, v.v… Đạo đức công vụ và năng lực tổ chức thực tiễn của CBCC còn được thể hiện ở khả năng minh bạch hóa khi thực hiện các qui trình và thủ tục hành chính để giải quyết các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong xã hội có liên quan đến thực thi chính sách xã hội hóa

- Các nguồn lực vật chất phục vụ quá trình thực thi chính sách xã hội hóa là

yếu tố tối thiểu để cùng đội ng CBCC và các yếu tố khác thực hiện thành công chính sách của nhà nước Trên thực tế, nếu chỉ thiếu các điều kiện vật chất, k thuật phục vụ công tác tuyên truyền phổ biến chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách xã hội hóa đến với chủ thể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên Để thực hiện chính sách trong nền kinh tế thị trường hội nhập hiện nay, nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất và đội ng CBCC cả về số lượng và chất lượng

Tất cả những điều kiện cần và đủ từ yếu tố nêu trên cần phải được hạch toán vào trong quá trình chính sách công nói chung và chính sách xã hội hóa nói riêng

1.2 Chính sách hiện hành về xã hội hóa ngành y tế ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi

1.2.1 Tổng quan hệ thống văn bản pháp luật chính sách xã hội hóa ngành

y tế ở Việt Nam

Năm 1996, Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Các vấn đề chính sách xã

hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mọi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội [30]

Mặc dù đây là lần đầu tiên thuật ngữ “xã hội hoá” được ghi trong văn kiện của Đảng, nhưng ngay từ năm 1986, cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, việc thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực y tế và các lĩnh vực văn hoá, xã hội khác đã trở thành một định hướng lớn để đổi mới trong các lĩnh vực này Đại hội VI của Đảng

đã nêu phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và khẳng định vấn đề chăm

Trang 27

sóc, bảo vệ sức kho là trách nhiệm và lợi ích thiết thân của mỗi công dân Tiếp

theo là các chủ trương “Phát triển các hoạt động y tế bằng khả năng của Nhà nước

và của nhân dân”[31]; “đa dạng hoá các hình thức tổ chức chăm sóc sức kho , trong đó y tế nhà nước là chủ đạo” Để chỉ đạo thực hiện chủ trương xã hội hoá ở linh vực y tế, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng [4], khẳng định hai

mục tiêu lớn của xã hội hoá là: (i) Huy động các nguồn lực của xã hội; (ii) Tạo điều kiện để toàn xã hội được thụ hưởng thành quả y tế ngày càng cao

Theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, xã hội hóa trong lĩnh vực y tế là chủ trương về sự chuyển đổi cơ chế quản lý có nội dung đa dạng: (1) Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho y tế, trong đó bảo đảm ngân sách cho y tế công cộng, chăm sóc sức kho cơ bản cho các đối tượng chính sách, người ngh o và tr em dưới 6 tuổi Ưu tiên đầu tư cho hệ thống y tế dự phòng, y tế cơ sở, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, các bệnh viện nhi, khoa nhi, các chuyên khoa ít có khả năng thu hút đầu tư Triển khai đề án đào tạo bác sĩ, dược sĩ đại học cho vùng núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông C u Long Ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu dược và sản xuất thuốc trong nước; (2) Tăng cường các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức kho nhân dân Vận động mọi người tham gia chăm sóc và bảo vệ sức kho cho bản thân, gia đình và cộng đồng Khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài hoạt động từ thiện, cung cấp, hỗ trợ các thiết bị y tế và hỗ trợ khám chữa bệnh; (3) Đẩy nhanh tiến độ phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế; củng cố và mở rộng bảo hiểm y tế bắt buộc theo hướng đa dạng hoá các loại hình bảo hiểm y tế đáp ứng nhu cầu của nhân dân; phát triển mạnh bảo hiểm y

tế cộng đồng dựa chủ yếu vào sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm, có sự trợ giúp của Nhà nước và các nguồn tài trợ khác; khuyến khích các loại hình bảo hiểm

y tế tự nguyện Mở rộng diện các cơ sở y tế đăng ký khám chữa bệnh theo bảo hiểm

y tế Từng bước thực hiện người đóng bảo hiểm y tế tự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh phù hợp Nhà nước quy định chế độ thanh toán bảo hiểm y tế, đồng thời có chính sách ưu đãi đối với các đối tượng chính sách, tr em dưới 6 tuổi, trợ giúp người ngh o, đồng bào dân tộc ít người, vùng khó khăn; (4) Đổi mới chế độ viện

Trang 28

phí trên cơ sở từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp phục vụ bệnh nhân Từng bước chuyển đổi việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các cơ sở khám chữa bệnh sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế do Nhà nước cung cấp thông qua hình thức bảo hiểm y tế; (5) Khuyến khích mở bệnh viện, phòng khám tư nhân, bác sĩ gia đình; (6) Huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước (NĐ43-2006)

Quyết định số 2194/QĐ-BYT ngày 21/6/2005 của Bộ Y tế phê duyệt đề án phát triển xã hội hóa bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã đề ra giải pháp huy động nguồn lực dưới hai hình thức chủ yếu là liên doanh, liên kết đầu tư thiết bị y tế tại các bệnh viện công và phát triển các dịch vụ theo yêu cầu tại các bệnh viện công để đầu tư phát triển hệ thống y tế công lập, trong đó khuyến khích các cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, hợp tác và liên kết với các doanh nghiệp, cá nhân để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị và cung cấp các dịch vụ y tế phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt

Việc khuyến khích phát triển cơ sở y tế tư nhân được quy định cụ thể trong một số luật, pháp lệnh và nghị quyết của Quốc hội (năm 2007) Các hình thức thực hiện liên doanh, liên kết được quy định tại Thông tư 15/2007/TT-BYT ngày 12/12/2007 của Bộ Y tế gồm: i/ Đối tác và cơ sở y tế s dụng tài sản là trang thiết

bị, nhà c a, cơ sở hạ tầng để liên doanh, liên kết tổ chức các hoạt động dịch vụ, hạch toán riêng các chi phí và phân chia thu nhập theo tỷ lệ góp vốn, mức độ tham gia của các bên; ii/ Cơ sở y tế công lập và đối tác liên doanh cùng góp vốn bằng tiền hoặc huy động vốn của cán bộ, viên chức, vay vốn ngân hàng phát triển, qu kích cầu để mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ; iii/ Phổ biến nhất là đối tác đầu tư lắp đặt trang thiết bị, cơ sở y tế công lập tổ chức hoạt động cung cấp dịch

vụ, trả phía đối tác theo số lượng dịch vụ đã thực hiện (thuê thiết bị và trả chi phí thuê theo dịch vụ)

Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội Về đẩy mạnh thực

Trang 29

hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, giao cho Chính phủ thực hiện một số vấn đề về xã hội hóa y tế như: Tổ

chức thực hiện ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế theo quy định của pháp luật nhằm khuyến khích, huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển và mở rộng các cơ sở y tế

tư nhân; Huy động nguồn lực xã hội để đa dạng hóa các loại hình đào tạo và mở rộng quy mô đào tạo nhân lực y tế…

Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban

hành Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; và Quyết định số 693/QĐ-TTg ngày 06/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường ban hành kèm theo Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời

nằm trong quy hoạch mạng lưới phát triển ngành, lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường, giám định tư pháp và phù hợp với quy hoạch s dụng đất dành cho các lĩnh vực xã hội hóa được cấp có thẩm quyền phê duyệt thi được hưởng các chính sách khuyến khích phát triển xã hội hóa theo Quy định này

Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y

tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường

Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23/11/2009 của Quốc hội,

trong đó chính sách của Nhà nước hướng vào đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

Trang 30

Nghị quyết 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ Về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế Trong đó, xác định đẩy mạnh xã hội hóa và thúc đẩy hợp

tác công - tư nhằm phát triển các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: liên doanh, liên kết (góp vốn bằng: tiền; cơ sở vật chất; năng lực, chất lượng, uy tín của đơn vị) với các nhà đầu tư để đầu tư xây dựng, thành lập mới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động theo mô hình doanh nghiệp Thực hiện cơ chế về vốn, tín dụng đầu tư đối với

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập: vay vốn của tổ chức tín dụng; vốn góp, vốn vay của các tổ chức, cá nhân; vốn góp bằng giá trị năng lực, chất lượng và uy tín của đơn vị…

Ngoài ra, Nhà nước c ng đã ban hành và đang thực thi chính sách về giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các bệnh viện công lập nhằm nâng cao năng lực của hệ thống y tế công lập thông qua việc điều chỉnh các Nghị định: Nghị định

10/2002/NĐ-CP về việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu được thay thế bằng Nghị định 43/2006/NĐ-CP về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; và gần đây nhất là ban hành có hiệu lực Nghị định

số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ Về việc quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập để thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP

1.2.2 Chính sách hiện hành về xã hội hóa ngành Y tế ở tỉnh Quảng Ngãi

* Mục tiêu chính sách

Để lĩnh vực y tế ngày càng phát triển, đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh cho người dân tốt nhất, chính sách xã hội hóa ngành y tế cần phải được đẩy mạnh, thiết lập và xác định mức độ tham gia của từng chủ thể trong thực hiện chính sách

xã hội hóa ngành y tế bằng cơ chế pháp lý thống nhất để đảm bảo các nội dung của mục tiêu chính sách: nhằm vừa nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vừa phát huy được tính nhân văn trong toàn xã hội, đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư tư nhân nhằm khuyến khích khu vực tư tham gia đầu tư vào lĩnh vực y tế, giảm thiểu tối đa những khó khăn cho nhà nước c ng như giảm một phần gánh nặng ngân sách và để tập trung phân bổ ngân sách hợp lý hơn, đồng thời hạn chế được tâm lý ỷ lại của nhà

Trang 31

nước, xác lập được lợi ích và công bằng của người dân trong thụ hưởng dịch vụ y

tế, hài hòa lợi ích của người bệnh, nhất là người ngh o hoặc bản thân đối tượng thụ hưởng chính sách

* Vấn đề chính sách

Việc thực thi chính sách xã hội hóa ngành y tế ở nước ta trong đó bao gồm cả Quảng Ngãi tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức kho nhân dân và đến nay đã có những thành tựu nhất định Song dù vậy, không phải mọi người đều được thụ hưởng những thành quả về chăm sóc sức kho là như nhau Nhất là kể từ khi đất nước trong bối cảnh chuyển sang cơ chế mới – cơ chế thị trường, vấn đề xã hội hóa được đặt ra, tuy nhiên c ng từ đây tư nhân đầu tư len lỏi vào khắp hệ thống y tế, nhất là ở tuyến trên về vấn đề giường dịch vụ, tiêu cực trong chẩn đoán, KCB, đặt máy, giữa công và tư rất bức xúc2

Các cơ sở y tế hiện có trên địa bàn tỉnh về tổng thể vẫn chưa đáp ứng tốt nhu

cầu ngày càng cao trong khám, chữa bệnh Theo ước tính, mỗi ngày có khoảng 300 người dân ở Quảng Ngãi đi khám, chữa bệnh ở ngoài tỉnh Chi phí khám, chữa bệnh của người dân ở ngoài tỉnh ước tính trên 100 tỷ đồng/năm [16]

Sự khác biệt rất lớn giữa các vùng địa lý và giữa các vùng kinh tế xã hội, nhất

là giữa khu vực vùng núi nơi các tộc người thiểu số sinh sống và hải đảo so với khu vực đồng bằng còn là một thực tế khoảng cách lớn Một trong các minh chứng rõ

rệt: tính đến cuối năm 2015, toàn tỉnh Quảng Ngãi còn 28.836 hộ nghèo chiếm 8,44% thì riêng khu vực miền núi có mức chênh lệch lớn với tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 28,53% [29]; cuối năm 2016 xét theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ

hộ nghèo toàn tỉnh chiếm 13,12%, thì riêng khu vực miền núi có mức chênh lệch lớn với tỷ lệ hộ nghèo lên đến 42,2% [28]… Năng lực kinh tế của gia đình, trình độ học

vấn, ngôn ngữ c ng ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, thái độ và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức kho của người dân tộc thiểu số Kiến thức, hiểu biết của phụ

nữ dân tộc thiểu số khu vực các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi về chăm sóc

2Điều này c ng được nhắc lại trong Hội nghị Chính phủ với các địa phương diễn ra cuối năm 2016, Phó Thủ tướng Chính phủ V Đức Đam đã chỉ ra một trong những vấn đề gây nhiều bức xúc trong lĩnh vực y tế là hệ lụy từ đầu tư xã hội hóa

Trang 32

sức kho trước, trong và sau sinh còn rất hạn chế, mơ hồ Mô hình hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức kho còn mang tính bị động Ở đây còn tồn tại nhiều phong tục tập quán, thói quen có ảnh hưởng xấu đến hành vi chăm sóc sức kho , coi việc sinh nở là chuyện kín đáo, cúng bái, tin vào các bà đỡ Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng như chồng, người thân đối với hoạt động chăm sóc sức kho bà mẹ, chưa khuyến khích được phụ nữ tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế Biểu thị khá rõ

là ở: Tỷ lệ t vong của các bà mẹ ở khu vực huyện miền núi cao hơn nhiều lần so với những khu vực huyện thị đồng bằng Tiếp cận dịch vụ y tế còn rất khó khăn cho các vùng núi và các vùng h o lánh, vì thế ở một số xã, huyện còn chiếm tỷ lệ đáng

kể về số bà mẹ sinh nở tại nhà dẫn đến hậu quả là tỷ lệ tai biến sản khoa, tỷ lệ t vong mẹ và t vong sơ sinh rất cao trong các khu vực này…

Một thống kê sơ bộ ở các địa phương và cả Quảng Ngãi cho thấy, nhiều đơn vị chưa làm đúng quy trình xây dựng đề án xã hội hóa, đề án còn chưa đáp ứng yêu

cầu, chưa báo cáo cơ quan chủ quản Có những đơn vị chưa xây dựng phương án giá, quyết định giá dịch vụ chưa theo đúng quy định; hoặc không điều chỉnh kịp thời hợp đồng liên doanh liên kết đã ký trong trường hợp số lượng người sử dụng dịch vụ cao hơn nhiều so với dự kiến nên thời gian thu hồi vốn nhanh hơn hợp đồng

đã ký [22] Điều này dẫn đến: i/ Tình trạng một số bệnh viện có xu hướng chỉ quan

tâm đến khoa, lĩnh vực có thu hoặc tập trung kinh phí và nhân lực vốn dĩ đã hạn hẹp

để phát triển dịch vụ theo yêu cầu; ii/ Đầu tư trang thiết bị k thuật cao nhưng năng lực, trình độ chuyên môn lại không tương xứng, nhu cầu s dụng dịch vụ chưa đủ lớn, vì vậy vô hình chung được khuyến khích các bác sĩ tăng cường chỉ định các dịch vụ k thuật để tăng nguồn thu cho bệnh viện; iii/ Lạm dụng các dịch vụ, k thuật từ các trang thiết bị xã hội hóa để tận thu, gây thiệt hại cho người bệnh, hình thành lợi ích nhóm do hình thức này không được tách thành pháp nhân độc lập, không hạch toán độc lập Một số bệnh viện mở ra khoa khám chữa bệnh tự nguyện

có trang thiết bị, cơ sở vật chất tốt hơn song chi phí rất cao trong khi dịch vụ không được cải thiện nhiều, mặc dù có sự huy động tham gia của tư nhân nhưng lại chưa đồng bộ, phải dựa vào hạ tầng sẵn có của bệnh viện

Trang 33

Mô hình liên kết công - tư lĩnh vực y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn chưa

có cơ chế, mà đúng hơn là chưa bắt đầu

* Thể chế chính sách

Trước nhu cầu KCB của người dân ngày một tăng cao và đa dạng; khoa học

k thuật về y tế phát triển mạnh, đòi hỏi nhu cầu đầu tư cho y tế ngày một lớn, trong điều kiện ngân sách có hạn, chính quyền tỉnh Quãng Ngãi đã ban hành nhiều văn

bản pháp quy nhằm huy động các nguồn vốn xã hội đầu tư vào y tế

Quyết định số 82/2005/QĐ-UBND ngày 30/6/2005 của UBND tỉnh về việc

ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị” về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới” của tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2006-2010

Quyết định số 283/QĐ-UBND ngày 27/10/2009 của UBND tỉnh Phê duyệt Đề

án xã hội hoá hoạt động y tế của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2009-2015

Quyết định số 42/2009/QĐ-UBND ngày 28/8/2009 của UBND tỉnh v/v Ban hành quy định về một số chính sách khuyến khích thực hiện xã hội hóa thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao và môi trường của tỉnh Quảng Ngãi

Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 21/6/2010 của UBND tỉnh về việc Phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư về “Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Quyết định số 283/QĐ-UBND ngày 11/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Ngãi

Phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống y tế và mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Kế hoạch 1471/KH-UBND ngày 22/4/2014 của UBND tỉnh về việc thực hiện Quyết định 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 26- CT/TU ngày 14/11/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2014-2020

Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 27/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Ngãi

Ban hành quy định về một số chính sách khuyến khích thực hiện xã hội hoá thuộc

Trang 34

lĩnh vực giáo dục-đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường của tỉnh

Quảng Ngãi Quyết định này đã được UBND tỉnh quy định cụ thể chính sách ưu đãi

đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa: Về cho thuê nhà, xây dựng cơ sở vật chất; hỗ trợ chi phí đầu tư xây dựng; giao đất, cho thuê đất; ưu đãi về thuế, lệ phí trước bạ và tín dụng,

Quyết định số 1167/QĐ-UBND ngày 23/8/2013 phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Đề án “Phát triển y tế biển, đảo Việt Nam đến năm 2020” của tỉnh Quảng Ngãi Theo đó từ năm 2014, 100% người dân sinh sống trên địa bàn đảo Lý Sơn đều được cấp th BHYT

Chương trình hành động số 35-CTr/TU ngày 01/03/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013-2015 và 2020; Kế hoạch số 3559/KH-UBND ngày 10/9/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020 trên địa bàn; Quyết định 577/QĐ-UBND ngày 18/4/2014 thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện “Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân

giai đoạn 2012-2015 vào 2020” của tỉnh Quảng Ngãi

Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch s dụng đất dành cho các lĩnh vực xã hội hoá của tỉnh giai đoạn 2015-2020 tại Quyết định số 99/QĐ-UBND ngày 26/01/2015

Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐND ngày 22/4/2015 của HĐND tỉnh Quảng

Ngãi quy định một số chính sách khuyến khích thực hiện xã hội hóa thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường và giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 24/8/2015 của UBND tỉnh Quảng Ngãi Ban hành quy định về một số chính sách khuyến khích thực hiện xã hội hoá thuộc lĩnh vực giáo dục-đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, môi trường và giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Nguyên tắc thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa được thành lập, cấp phép trên địa bàn tỉnh:

Trang 35

i/ hoạt động theo nguyên tắc tự đảm bảo kinh phí; phải đảm bảo theo quy hoạch và đáp ứng các điều kiện được hưởng chính sách khuyến khích phát triển xã hội hóa;

ii/ được coi trọng và đối x bình đẳng trong hoạt động c ng như đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở thực hiện xã hội hóa như cơ sở công lập;

iii/ được liên doanh, liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật, nhằm huy động vốn, nhân lực và công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ…

Nội dung của các chính sách, đó là:

+ Chính sách cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất: được ưu tiên thuê cơ sở hạ

tầng, công trình xã hội hóa hoặc s dụng qu nhà, cơ sở hạ tầng hiện có thuộc phạm

vi quản lý nhằm cho các cơ sở thực hiện xã hội hóa thuê có thời hạn (tối thiểu không dưới 10 năm; hết thời hạn này, nếu còn có nhu cầu s dụng thì được ưu tiên tiếp tục gia hạn thuê với thời gian gia hạn tối thiểu không dưới 05 năm/đợt) để cung cấp các sản phẩm dịch vụ trong lĩnh vực xã hội hóa; Căn cứ vào từng khu vực, lĩnh vực khuyến khích xã hội hóa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; sau khi thỏa thuận với cơ sở thực hiện xã hội hóa và tính đến các yếu tố khuyến khích xã hội hóa, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định mức giá cho thuê cụ thể đối với cơ sở hạ tầng, công trình xã hội hóa thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại điểm 3 Khoản 2 Điều

1 Thông tư số 156/2014/TT-BTC ngày 23/10/2014 của Bộ Tài chính

+ Chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng: được nhà nước hỗ trợ một

phần (%) kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng phải nộp hoặc kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng (theo dự án được duyệt và đã quyết toán) của dự án xã hội hóa theo từng địa bàn (các phường thuộc thành phố Quảng Ngãi 40%; các xã thuộc thành phố Quảng Ngãi và thị trấn các huyện đồng bằng, kể cả thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành 50%; thị trấn các huyện miền núi 55%; các xã thuộc huyện đồng bằng, kể cả các xã của huyện Nghĩa Hành 70%; các xã thuộc huyện miền núi và huyện Lý Sơn 75% )

+ Chính sách cho thuê đất: Thực hiện theo quy định tại Nghị định

số 69/2008/NĐ-CP Nghị định số 59/2014/NĐ-CP Thông tư số

Trang 36

135/2008/TT-BTC và Thông tư số 156/2014/TT-135/2008/TT-BTC Đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa s dụng đất tại các đô thị, việc miễn, giảm tiền thuê đất cho cả thời gian thuê được thực theo quy định riêng của UBND tỉnh

+ Chính sách ưu đãi về tín dụng: được vay vốn tín dụng ưu đãi đầu tư hoặc hỗ

trợ sau đầu tư theo quy định về tín dụng đầu tư của Nhà nước Về ưu đãi miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, phí bảo vệ môi trường, lệ phí trước

bạ thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành về thuế, phí và lệ phí có liên quan…

S dụng việc thiết kế tổ chức bộ máy từ cấp trung ương đến cấp địa phương tỉnh Quảng Ngãi, mà chủ yếu là tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở cấp tỉnh đến cấp xã của địa phương mình

S dụng lực lượng nòng cốt là đội ng cán bộ công chức hành chính nhà nước được trao thẩm quyền nhất định trong việc s dụng các công cụ quản lý nhà nước như: quyền lực nhà nước, được ban hành các chính sách, các kế hoạch, xây dựng và thẩm định, phê duyệt các đề án, dự án,… để điều tiết, định hướng các hoạt động y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nhằm đảm bảo chính sách đi đúng mục tiêu đã định Các chính sách về tổ chức, s dụng và thu hút đội ng y – bác sĩ

Giải pháp về cách thức huy động nguồn lực nhà nước dựa trên cơ sở tính toán phân bổ hợp lý và hài hòa cho từng chính sách cụ thể, có cơ chế kiểm tra, giám sát việc s dụng nguồn tài chính đảm bảo thực hiện đúng mục đích, đúng đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế,… Chính quyền các cấp ở tỉnh Quãng Ngãi có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và điều chỉnh kịp thời theo hướng tích cực nhất khi chính sách xã hội hóa ngành y tế chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong đời sống KT - XH

Trang 37

* Chủ thể chính sách

- Nhà nước là chủ thể hoạch định chính sách và đồng thời c ng là chủ thể triển khai thực thi chính sách Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, là chủ thể xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược và các chương trình quốc gia về phát triển y tế; huy động, quản lý và phân phối các nguồn lực phục vụ phát triển y

tế Về nguyên tắc, việc bảo đảm cung cấp dịch vụ CSSK cho xã hội là trách nhiệm của Nhà nước Ngay cả khi thực hiện xã hội hóa, giao cho các chủ thể, cá nhân phi nhà nước thực hiện thì Nhà nước vẫn là chủ thể chịu trách nhiệm cho việc cung cấp dịch vụ công một cách đầy đủ

Trách nhiệm của Nhà nước [20], đó là: i/ Nhà nước chăm lo bảo vệ và tăng

cường sức kho nhân dân; đưa công tác bảo vệ sức kho nhân dân vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước; quyết định những chế độ chính sách, biện pháp để bảo vệ và tăng cường sức kho nhân dân; ii/ Bộ y tế có trách nhiệm quản lý, hoàn thiện, nâng cao chất lượng và phát triển hệ thống phòng bệnh, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, lưu thông thuốc và thiết bị y tế, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chuyên môn nghiệp vụ y, dược; iii/ HĐND các cấp dành tỷ lệ ngân sách thích đáng cho công tác bảo vệ sức kho nhân dân ở địa phương; thường xuyên giám sát, kiểm tra việc tuân theo pháp luật về bảo vệ sức kho nhân dân của UBND cùng cấp, của các cơ quan, các tổ chức xã hội, cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân trong địa phương UBND các cấp có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo đảm vệ sinh ăn, ở, sinh hoạt, vệ sinh công cộng cho nhân dân trong địa phương; lãnh đạo các cơ quan

y tế trực thuộc, chỉ đạo sự phối hợp giữa các ngành, các tổ chức xã hội trong địa phương để thực hiện những quy định của pháp luật về bảo vệ sức kho nhân dân.Nhà nước là chủ thể chính trong việc đảm bảo sự công bằng trong chăm sóc sức kho nhân dân, nhà nước phải phát huy vai trò của mình trong việc xây dựng và thực hiện chính sách xã hội hóa ngành y tế, động viên nguồn lực từ khu vực tư nhân vào việc xây dựng hệ thống mạng lưới y tế để phục vụ cho cuộc sống cộng đồng người dân

- Bảo vệ sức kho là sự nghiệp của toàn dân Đối với các cơ sở y tế ngoài công

Trang 38

lập và các cá nhân có trách nhiệm trực tiếp chăm lo, bảo vệ sức kho c ng như đóng góp tiền của, công sức theo khả năng cho công tác bảo vệ sức kho nhân dân Tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về bảo

vệ sức kho nhân dân để giữ gìn sức kho cho mình và cho mọi người

* Tính hai mặt của hoạt động xã hội hóa ngành y tế ở Việt Nam

Nhiều năm trước đây, trước thực tế hàng loạt nhu cầu đầu tư mới hoặc đầu tư thêm trang thiết bị cho các bệnh viện công lập không được đáp ứng do không có nguồn vốn, đây là nhu cầu tất yếu sự ra đời của chủ trương xã hội hóa y tế Mục đích của xã hội hóa y tế là nhằm huy động nguồn lực tiềm tàng trong xã hội, tham gia tích cực vào công tác khám chữa bệnh Xuất phát từ ban đầu, các gói kích cầu được Nhà nước đưa ra song mới chỉ giải quyết được một phần những nhu cầu đó

Do vậy, các hình thức xã hội hóa y tế khác, như: liên kết với các cá nhân hoặc các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được áp dụng để giải quyết vốn cho trang thiết

bị y tế, và gần đây áp dụng cho cả lĩnh vực xây dựng cơ bản trong y tế Trong tình hình kinh tế - xã hội và đặc điểm hoạt động ngành y ở thời điểm đó, xã hội hóa y tế

đã giúp triển khai áp dụng nhiều k thuật mới phục vụ khám, chữa bệnh cho người dân Và nếu không có các hình thức này sẽ thiếu nguồn vốn để phát triển các k thuật cao phục vụ người bệnh Xã hội hóa trong lĩnh vực y tế là một trong những giải pháp giúp người dân được hưởng những dịch vụ khám, chữa bệnh chất lượng tốt hơn

Tuy nhiên, xã hội hóa y tế công lập c ng dẫn đến nhiều mặt trái đáng kể, như: việc áp dụng nhiều chuẩn mực chuyên môn cho người bệnh trong cùng một môi trường, và hẩu hết đều xác định tiêu chuẩn để áp dụng các chuẩn mực lại là

“tiền” Không ít trường hợp, nhiều khi hai người bệnh nằm kề nhau, cùng bị một loại bệnh như nhau, nhưng chỉ vì khả năng chi trả mà mỗi người được điều trị theo một cách khác nhau, với sự khác biệt rất lớn về nguy cơ tai biến hoặc hiệu quả Xã hội hóa y tế công bắt buộc phải thu hồi vốn và có lời lãi, do vậy, nó chỉ có thể mang lại lợi ích cho những người bệnh có khả năng chi trả

Xã hội hóa y tế công còn là tiền đề cho một sự bất công khác Theo cách phân tuyến hiện nay, các bệnh viện tuyến dưới không được phép làm nhiều k thuật

Trang 39

tiên tiến, hiện đại Từ đó, các nhà đầu tư sẽ tập trung vào các bệnh viện tuyến trên, tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tuyến trên và tuyến dưới, làm cho người bệnh đổ dồn lên các tuyến trên, gây ra sự quá tải ở tuyến trên Sự quá tải này lại là

“có lợi” cho nhà đầu tư, nên nó ít nhiều ảnh hưởng đến quyết tâm giảm tải của các bệnh viện tuyến trên Xã hội hóa y tế công còn được nói đến như một yếu tố gây ra tiêu cực ở các bệnh viện công, như sự lạm dụng các k thuật chẩn đoán và điều trị,

c ng như dẫn đến những “chiêu thức” bất minh của một số lãnh đạo cơ sở y tế, cấu kết với nhà đầu tư tư nhân để thu lợi bất chính, làm cho người bệnh phải chi trả nhiều hơn giá trị thực tế

Ở một góc độ khác, các cơ sở vật chất và các tiện ích dành cho mọi người trở thành phương tiện phục vụ cho một số người có khả năng chi trả Ngoài việc gây thiệt thòi quyền lợi cho những người bệnh ngh o, sự lạm dụng này dẫn đến những xáo trộn xã hội do bất công mang lại

Nhìn chung, những tiêu cực hiện nay trong xã hội hóa y tế đều xuất phát từ việc lẫn lộn công - tư trong y tế

1.3 Một số kinh nghiệm thế giới về xã hội hóa y tế

Sự phát triển khoa học k thuật y học đã làm cho giá thành KCB lên cao khiến cho kinh phí đơn thuần của Nhà nước không đủ bảo đảm, nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều s dụng các phương thức để xã hội hóa y tế

* Kinh nghiệm về huy động tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ y tế

Y tế tư nhân tại các nước tư bản phát triển được chia thành hai nhóm, một nhóm bao gồm các cơ sở y tế tư nhân hoạt động không vì lợi nhuận (chiếm đa số)

và nhóm còn lại là các cơ sở y tế tư nhân kinh doanh vì lợi nhuận (chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ hệ thống cung ứng dịch vụ y tế) Có nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng hệ thống cung ứng dịch vụ KCB tư nhân kinh doanh vì lợi nhuận không đáp ứng được mục tiêu xây dựng một hệ thống y tế theo định hướng công bằng và hiệu quả

Ở M , Chính phủ hàng năm chỉ đảm bảo khoảng 40% tổng chi phí CSSK, phần còn lại là huy động từ các nguồn kinh phí của tư nhân, của các tổ chức, các doanh

Trang 40

nghiệp hoặc từ tiền bảo hiểm Nên hệ thống y tế nước này chủ yếu dựa trên cung cấp

tư nhân, còn nhà nước chỉ có trách nhiệm chăm sóc cho người ngh o (Medicaid) và cho người già (Medicare) Tuy nhiên, M là quốc gia hiện có chi phí y tế bình quân đầu người trên 7.000 USD/năm, nên với 45 triệu người M (15% dân số) đang rất khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế do không có bảo hiểm y tế Các nhà lãnh đạo M ngày càng nhận thấy sự bất cập của hệ thống y tế chủ yếu dựa vào khu vực tư nhân và theo Cựu Tổng thống Obama, cần cải cách hệ thống y tế của nước M để không thể phó mặc cho thị trường mà thay vào đó là cần phải can thiệp mạnh hơn nữa của Chính phủ, ông viết: “thị trường tự nó không giải quyết được các vấn đề y tế của chúng ta – một phần vì thị trường đã bất lực trong việc tạo ra một sân chơi đủ lớn để giảm mức phí bảo hiểm tới mức mọi người dân có thể chịu đựng được, một phần chăm sóc sức khỏe không như những sản phẩm hoặc dịch vụ khác, khi con của bạn bị

ốm, bạn không thể đi lòng vòng để mặc cả chọn lấy giá hời nhất”

Tại Indonesia, do ngân sách hạn chế và sự thiếu linh hoạt của hệ thống tài chính công, chính phủ cho phép phát triển khá mạnh khu vực y tế tư nhân trong khi BHYT còn hạn chế nên các chi trả cho dịch vụ KCB chủ yếu từ tiền túi người dân Nhận thấy nhiều tác động bất lợi của cơ chế tài chính y tế này đối với người ngh o,

từ năm 1994 tất cả các gia đình ngh o đều được cấp th khám bệnh, với th này họ được hưởng miễn phí các dịch vụ y tế cơ bản tại các cơ sở y tế công cộng

* Kinh nghiệm về phát triển bệnh viện tự chủ cung cấp dịch vụ y tế theo yêu cầu và liên doanh liên kết

Tại Indonesia, do ngân sách hạn chế và sự thiếu linh hoạt của hệ thống tài chính công, chính phủ đã áp dụng chương trình bệnh viện tự quản từ năm 1998 và người bệnh phải nộp phí KCB Kết quả là khoảng 70% chi phí y tế hiện nay ở Indonesia là từ tiền túi người dân, gây ra những vấn đề như bất công bằng trong KCB, chất lượng KCB thấp, khó khăn khi tiếp cận với các dịch vụ CSSK… Phương

án cung ứng dịch vụ y tế theo yêu cầu về bản chất và tác động tương tự như phương

án viện phí Trường hợp Trung quốc, ở một số bệnh viện có nguồn vốn góp được cho bệnh viện là từ nhân viên; và ở Indonesia, các bệnh viện đôi khi thuê trang thiết

Ngày đăng: 24/11/2017, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế - Ban Tuyên giáo Trung ương (2015), Hội thảo tham vấn báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 và Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo tham vấn báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 và Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị
Tác giả: Bộ Y tế - Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2015
3. Bộ Y tế - Ngân hàng Thế giới, (2011), Phân tích việc thực hiện Chính sách tự chủ bệnh viện trên thế giới và thực tế ở Việt Nam: Những vấn đề được phát hiện từ các nghiên cứu quốc tế và khảo sát về tự chủ bệnh viện tại 18 bệnh viện công của Bộ Y tế Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích việc thực hiện Chính sách tự chủ bệnh viện trên thế giới và thực tế ở Việt Nam: Những vấn đề được phát hiện từ các nghiên cứu quốc tế và khảo sát về tự chủ bệnh viện tại 18 bệnh viện công của Bộ Y tế Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế - Ngân hàng Thế giới
Năm: 2011
10. Đoàn Viết Cương (2005), Tiến tới thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đoàn Viết Cương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Cao Thu Hằng (chủ biên), 2016, Chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
13. Lê Bạch Hồng, (2010), Vai trò của chính sách BHXH; BHYT đối với ASXH của đất nước, tạp chí Cộng sản, số 7/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của chính sách BHXH; BHYT đối với ASXH của đất nước
Tác giả: Lê Bạch Hồng
Năm: 2010
14. Lê Chi Mai (2008), Chính sách công, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 4, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công
Tác giả: Lê Chi Mai
Năm: 2008
15. Nguyễn Văn Mạnh (2011), Vai trò của Nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. K.Ngân - H.Anh, Xã hội hóa đầu tư phát triển y tế: Kỳ vọng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nguồn http://baoquangngai.vn cập nhật ngày 19/06/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa đầu tư phát triển y tế: Kỳ vọng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
18. Quốc hội, (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2015
19. Quốc hội, (2009), Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23/11/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
20. Quốc hội, (1989), Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân số 21/LCT/HĐNN8 ngày 11/7/1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1989
21. Võ Xuân Sơn, Tính hai mặt của xã hội hóa y tế công, nguồn http://www.thesaigontimes.vn cập nhật 28/2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính hai mặt của xã hội hóa y tế công
23. Việt Thắng, Nhiều bức xúc từ xã hội hóa y tế, nguồn http://baodauthau.vn cập nhật ngày 30/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều bức xúc từ xã hội hóa y tế
30. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
32. Viện Chính trị học (1999), Tìm hiểu khoa học về chính sách công (Lưu hành nội bộ), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khoa học về chính sách công
Tác giả: Viện Chính trị học
Năm: 1999
33. Viện Nghiên cứu Châu M (chủ trì) (2010), Hội thảo “Chính sách cải cách Y tế của Tổng thống Obama sẽ ảnh hưởng như thế nào trên nước Mỹ?”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách cải cách Y tế của Tổng thống Obama sẽ ảnh hưởng như thế nào trên nước Mỹ?”
Tác giả: Viện Nghiên cứu Châu M (chủ trì)
Năm: 2010
35. Millicent Addo (2011), Externally Assisted Development Projects in Africa: Implementation and Public Policy, Dissertation for the Degree of Doctor of Philosophy in Nelson Mandela School of Public Policy and Urban Affairs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Externally Assisted Development Projects in Africa: "Implementation and Public Policy
Tác giả: Millicent Addo
Năm: 2011
36. North C.Douglass. Institutions (1994), Institutional Change and Economic Performance. 2nd ed. Cambridge, New York: Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Institutional Change and Economic Performance
Tác giả: North C.Douglass. Institutions
Năm: 1994
37. Paul A. Samuelson, William D. Nordhaus (1997), Kinh Tế Học Tập 1 (Dịch: V Cương, Đinh Xuân Hà, Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Đình Toàn), NXB Chính Trị quốc gia, Hà Nội, tr.605-613 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tế Học Tập 1
Tác giả: Paul A. Samuelson, William D. Nordhaus
Nhà XB: NXB Chính Trị quốc gia
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm