1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá công tác lập kế hoạch sử dụng đất năm 2017 huyện sìn hồ, tỉnh lai châu

61 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 545,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau thời gian nghiên cứu và học tập tại khoa Quản lý tài nguyên trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè em đã hoàn th

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Quản lý tài nguyên Khóa học : 2013 – 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành/ngành : Địa chính môi trường

Khóa học : 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Lợi

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian nghiên cứu và học tập tại khoa Quản lý tài nguyên trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo,

cô giáo và bạn bè em đã hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với đề tài

“Đánh giá công tác lập kế hoạch sử dụng đất của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2017”

Hoàn thành bài báo cáo này cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn tới cô Nguyễn Thị Lợi đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành bài báo cáo này, đồng thời em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Quản lý tài nguyên đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Sìn Hồ

đã cho phép em được thực tập tại đơn vị

Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên mặc dù bản thân em

đã cố gắng hết sức nhưng không tránh khỏi những thiếu xót Vì vậy em rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các

bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2016 30 Bảng 4.2: Kết quả thực hiện chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất năm 2016 32 Bảng 4.3 : Kết quả thu hồi đất của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2016 33 Bảng 4.4 : Kết quả chuyển mục đích sử dụng đất của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai

Châu năm 2016 33 Bảng 4.5 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất cho các công trình 34 Bảng 4.6 Kế hoạch sử dụng đất huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2017 40 Bảng 4.7 Kết quả thu hồi đất của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2017 41 Bảng 4.8 Kết quả chuyển mục đích sử dụng đất của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai

Châu năm 2017 42 Bảng 4.9 Danh mục các công trình chuyển tiếp sang năm 2017 45

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường

DTTN : Diện tích tự nhiên MTQG : Môi trường quốc gia

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.2.3 Yêu cầu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài; 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở pháp lý của đê tài 4

2.2 Một số nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nước 4

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17

3.2 Nội dung nghiên cứu 17

3.2.1 Đánh giá thuận lợi, khó khăn và giải pháp 17

3.2.2.Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất 2016 của huyện Sìn Hồ 17

3.2.3 Điều tra đánh giá, xây dựng và lập kế hoạch các chỉ tiêu sử dụng đất trong năm 2017 cho huyện Sìn Hồ 17

3.3 Phương pháp nghiên cứu 17

Trang 7

3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 17

3.3.2 Phương pháp điều tra thực địa 18

3.3.3 Phương pháp chuyên gia 18

3.3.4 Phân tích, thống kê, xử lý số liệu, viết báo cáo 18

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 19

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 19

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21

4.1.3 Các nguồn tài nguyên 25

4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu 28

4.1.5 Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2016 29

4.2 Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 31

4.2.1 Tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 31

4.2.2 Kết quả thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất năm 2016 33

4.2.3 Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 về mặt thực hiện các công trình dự án 34

4.2.4 Đánh giá những tồn tại trong thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 38

4.2.5 Đánh giá nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 39

4.3 Kết quả điều tra, xây dựng và lập kế hoạch sử dụng đất 2017 cho huyện Sìn Hồ 40

4.3.1 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu năm 2017 40

Trang 8

4.3.2 Kết quả chuyển mục đích và thu hồi đất của huyện Sìn Hồ, tỉnh

Lai Châu năm 2017 41

4.3.3 Chỉ tiêu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất (Xác định nhu cầu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất năm 2016 chưa thực hiện hết chuyển tiếp sang kế hoạch sử dụng đất năm 2017 trên địa bàn huyện) 45

4.3.4 Những tồn tại chủ yếu trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, nguyên nhân và giải pháp khắc phục 46

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 9

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình phát triển kinh tế của một địa phương luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong một thời kì nhất định, trong đó quy hoạc

sử dung đất là một nội dung quan trọng không thể thiếu Việc sử dụng đất liên quan chặt chẽ đến mọi hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của người dân cũng như vận mệnh của

cả quốc gia Vì vậy quy hoạch sử dụng đất là một yêu cầu đặc biệt quan trọng

để sắp xếp quỹ đất cho các lĩnh vực và đối tượng sử dụng hợp lý, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng- an ninh tránh sự chồng chéo gây lãng phí trong việc sử dụng đất, phá vỡ môi trường sinh thái, không chỉ cho trước mắt mà còn cả lâu dài, Chính vì vậy Đảnh và Nhà nước

ta luôn coi đây là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu , một nội dung quan trọng để quản lý nhà nước về đất đai Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước

có quyền định đoạt về đất đai và điều tiết các nguồn lợi từ việc sử dụng đất Theo điều 3, Luật đất đai năm 2013 “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân

bố và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định” Luật đất đai năm 2013 tại điều 22 khoản 4 quy định “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai” Công tác lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên phạm vi cả nước luôn được quan tâm triển khai rộng

Trang 10

khắp và đã đạt được một số kết quả nhất định trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Luật Đất Đai năm 2003, Luật Đất Đai năm 2013 đi vào cuộc sống Tuy nhiên, tại mỗi địa phương quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn nhiều bất cập Việc lập quy hoạch

sử dụng đất năm 2020, Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kì đầu (2011-2015) được thực hiện theo các quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013 quy định không thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã Ngoài ra, việc lập quy hoạch sử dụng đất đối với các dự án công trình xây dựng ở các cấp thiếu đồng bộ , chưa thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, giữa quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết

Trong khuôn khổ một bản luận văn tốt nghiệp, với hi vọng giúp địa phương phân tích đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của huyển và của tỉnh, được sự nhất trí, đồng ý của Trường Đại Học

Nông Lâm dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Lợi, tôi tiến hành nghiên

Trang 11

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

1 Đáng giá sơ lược điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình quản

lý nhà nước về đất đai của huyện Sìn Hồ

2 Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất 2016 của huyện Sìn Hồ

3 Điều tra đánh giá, xây dựng và lập kế hoạch các chỉ tiêu sử dụng đất trong năm 2017 cho huyện Sìn Hồ

4 Đánh giá những thuận lợi thuận lợi khó khăn và đề xuất giải pháp

1.2.3 Yêu cầu nghiên cứu của đề tài

- Các nghiên cứu, số liệu đưa ra phải chính xác, khoa học và khách quan

- Nắm vững các chính sách Nhà nước trong công tác lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Phản ánh được chính xác những nội dung phương án quy hoạch đã thực hiện, chưa thực hiện về vị trí, diện tích , thời gian

- Đánh giá một cách khách quan và đưa ra được các giải pháp hợp lý giúp địa phương thực hiện tốt việc điều chỉnh phương án quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở đầy đủ khoa học và thực tiễn

1.3 Ý nghĩa của đề tài;

Đề tài có ý nghĩa lớn về mặt khoa học và thực tiễn, là cơ sở cho công tác thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai được tốt hơn Đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho việc sử dụng đất một các tiết kiệm và hiệu quả

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở pháp lý của đê tài

Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;

Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11 tháng 05 năm 2013 của chính phủ

về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;

Thông tư số 29/2014/TT-BVMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quyết định số 1085/QĐ-UBND ngày 3/6/2016 của UBND tỉnh Lai Châu về việc phê duyệt phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Sìn Hồ; Nghị quyết số 54/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Lai Châu về việc thông qua Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020;

Quyết định 883/QĐ/UBND ngày 06/4/2007của UBND tỉnh Lai Châu về việc phê duyệt đồ án quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Lai Châu;

Căn cứ Công văn số 2783/UBND-NVKT ngày 19 tháng 8 năm 2009 của UBND tỉnh Lai Châu, về việc triển khai lập quy hoạch đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) tỉnh Lai Châu;

Công văn số 2229/UBND-NNTN ngày 09 tháng 8 năm 2012 của UBND tỉnh Lai Châu về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh

2.2 Một số nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nước

* Nhật Bản trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị tăng đã đặt ra nhu cầu sử dụng đất ngày một lớn cho tiến trình

Trang 13

phát triển kinh tế - xã hội, sự cạnh tranh về mục đích sử dụng đất diễn ra không chỉ ở trong khu vực đô thị mà còn ở hầu hết trên lãnh thổ đất nước

“Trong những thập kỷ vừa qua cơ cấu sử dụng đất đã có sự thay đổi, bình quân mỗi năm chuyển đổi khoảng 30.000 ha đất sản xuất nông nghiệp sang các mục đích khác

* Tiến sĩ Azizi Bin Haji Muda cho rằng “cơ sở của sự phát triển nôngthôn là cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của dân cư nông thôn Quá trình phát triển kinh tế (hiện đại hoá nền kinh tế thông qua phát triển công nghiệp) ở Malaysia là nguyên nhân của những thay đổi sử dụng đất; Kết quả

là nhiều đất nông thôn màu mỡ được chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp đặc biệt dành cho các ngành công nghiệp sản xuất, nhà ở và các hoạt động thương mại khác”

* Quá trình phát triển xã hội Đài Loan trước đây cũng giống với hiện trạng phát triển giai đoạn hiện nay của Việt Nam, tức là xã hội nông nghiệp là chính Những năm 40 trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc

độ nhanh, giới công thương đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan, cũng là sức mạnh căn bản của đất nước Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đã phát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu

* Các nước thuộc Liên Xô (cũ) có bước đi tương tự nhau; trước hết là lập sơ

đồ tổng thể phát triển lực lượng sản xuất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết các ngành, trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất của các ngành để tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, việc phân bổ các khu chức năng để bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Một nguyên tắc cơ bản của các nước này là bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất, đặc biệt là đất canh tác Tại các nước này quy hoạch tổng thể phát triển lực lượng sản xuất do ủy Ban kế hoạch Nhà nước (tương đương Bộ

Trang 14

Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam) đảm trách; quy hoạch đô thị do ngành xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai do cơ quan quản lý đất đai thực thi

* Đức, điển hình là thành phố Berlin, hệ thống quy hoạch sử dụng đất đã được xây dựng từ rất sớm Chỉ vài năm sau khi có sự thống nhất toàn lãnh thổ của đất nước, năm 1994, hệ thống quy hoạch sử dụng đất được xây dựng với bản đồ tỷ lệ 1:50.000 Sau đó, việc điều chỉnh và cập nhật những biến động đất đai cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và mục tiêu của Chính phủ được tiến hành thường xuyên Do đó, hệ thống quy hoạch sử dụng đất của thành phố Berlin nói riêng và của Đức nói chung có hiệu quả cao, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm và bền vững, tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế

Nói tóm lại: bước đi, cách làm và tổ chức bộ máy tiến hành của các nước

có khác nhau nhưng tất cả đề có nguyên tắc chung là sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, bảo vệ được tài nguyên rừng hiện có, duy trì và bảo vệ các khu phố cổ, đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống cho hiện tại và thế hệ mai sau

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quy định pháp luật về công tác quy hoạch nhằm tổ chức lập và thực hiện quy hoạch tốt hơn nâng cao chất lượng quy hoạch, nâng cao tính hiệu quả và tính khả thi của các loại quy hoạch Tuy nhiên, xét một cách tổng quat, quá trình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất được thực hiện như sau:

* Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960

Ở giai đoạn 1930 - 1945, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻv ở một số đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền như cao su, cà phê theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp Từ năm 1946 đến 1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng” (Hội nghị Trung

Trang 15

ương lần thứ 5 tháng 11 năm 1953) Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953 Mục đích cải cách ruộng đất là tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến Phương châm cải cách ruộng đất là đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật tự, có lãnh đạo chặt chẽ “Những ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua chia hẳn cho nông dân, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất đó, theo nguyên tắc xã làm đơn vị, trên cơ sở nguyên canh, theo số lượng, chất lượng, vị trí gần hay xa của ruộng đất, dùng cách điều chỉnh nhiều bù ít, tốt bù xấu, gần bù xa mà chia; cần chiếu

cố những nông dân trước đã cày trên những ruộng đất ấy Làm đầy đủ những nội dung như vậy thì thực chất là đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai, nhất

là trong lĩnh vực nông nghiệp

Ở Miền Nam có những đề án thiết lập quy hoạch sử dụng đất đai về xây dựng các đồn điền, các khu công nghiệp nhỏ lẻ, các khu vực dân cư đô thị và nông thôn, các khu vực bến xe, bến cảng phục vụ mục đích quân sự Một ví

dụ về Quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ giáo dân khá tiêu biểu là đồ án Quy hoạch sử dụng đất đai khu vực xung quanh Toà Thánh Tây Ninh tiến hành năm 1952 Từ sau khi hoà bình lập lại, ở Miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh, tập trung vào việc hoàn thành cải cách ruộng đất tiếp đến là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh; trong đó khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp Trên toàn Miền Bắc về căn bản đã giải quyết xong vấn đề người cày có ruộng và hình thành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn

bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài Đây là thời kỳ quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, tự túc, khôi phục

và kế thừa truyền thống cây trồng, vật nuôi, phong tục tập quán sinh hoạt cộng đồng với nhiều biểu hiện tính tập thể của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trang 16

* Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975

Đến cuối năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay từ những năm 1960 này Do đó có thể nói “Quy hoạch sử dụng đất đai cũng đồng thời được đặt ra” Các Bộ, ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ” Trong bối cảnh cả nước có chiến tranh cho tới khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó Mặc dù vậy với tư cách là một phần nội dung của các phương án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất Nó là một yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản lý sản xuất nông nghiệp ngay

cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này

* Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993

Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra

cơ bản trên phạm vi cả nước “Vào cuối năm 1978 lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt” Trong các tài liệu

Trang 17

này đều đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành Cùng với lĩnh vực nông nghiệp, các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông cũng được nghiên cứu xem xét để cải tạo và xây mới Thực

tế lúc bấy giờ cho thấy các thông tin, số liệu, tư liệu đo đạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung và cho quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại vừa khập khiễng, làm cho độ tin cậy về quy mô diện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính toán trong các phương án này không được bảo đảm Rất nhiều phương án tính toán diện tích cây trồng chủ lực như cao su, cà phê, chè, dứa, lạc, đay, đậu đỗ Trong cùng một địa bàn

cụ thể có sự chồng chéo, thiếu tính khả thi Đây cũng là một trong những yếu

tố thúc đẩy việc Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số 548/NQ/QH ngày 24/5/1979 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội

về thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất; Nghị định số 404/CP ngày 09/11/1979 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất)

Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọng nhằm “làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp (9/1979); xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (10/1979); thông báo về “khoán” sản xuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng (1980) Đặc biệt là Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã” mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là quy hoạch sử dụng đất đai

Trang 18

Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ V (1982) đã quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ

đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)” Trong chương trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986 - 2000 này có 5 vấn đề bao gồm 32 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có vấn đề về tài nguyên thiên nhiên đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai; coi đất đai vừa là nguồn lực sản xuất trực tiếp quan trọng như là vốn, lao động và vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá Hơn nữa, cũng trong thời kỳ này, Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được ví như 500 “pháo đài” làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước hết sức sôi động

Như vậy đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai

mà thực chất là quy hoạch sử dụng đất đai Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của Tổng sơ dồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hóa

và các vùng sản xuất trọng điểm cả lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của nông nghiệp , xây dựng, giao thông, thủy lợi, cơ sở hạ và tầng đô thị

Luật Đất đai 1987 ra đời, đánh dấu một bước mới nữa về quy hoạch sử dụng đất đai vì nó được quy định rõ ở Điều 9 và Điều 11 tức là quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý và là 1 nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch nói chung

và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng nhưng thực tế nền kinh tế đất nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu cùng với nhiều vấn đề trước mắt thường nhật phải giải

Trang 19

quyết làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng Thực

tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ra Thông tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15/4/1991 hướng dẫn về quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung như sau:

- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;

- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;

- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;

- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai

Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc quản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng Căn

cứ theo Thông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đai cho hàng trăm xã (tới một nửa số xã trong toàn tỉnh) Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức, phương pháp, nội dung thống nhất nên các quy hoạch này bộc lộ nhiều hạn chế Đại đa số đều chỉ mới chú trọng tới việc giãn dân là chủ yếu Vấn đề này có mặt được nhưng có nhiều mặt không được vì phải cấp đất làm nhà ở với số lượng lớn mà chủ yếu lấn vào đất ruộng, với những định mức sử dụng đất rất khác nhau, tạo nên nhiều bất cập phải tiếp tục giải quyết sau này nhất là ở các khu vực ven đô thị”

* Giai đoạn từ khi có Luật đất đai năm 2013 đến nay

Luật đất đai năm 1993 ra đời, tạo được cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai tương đối đầy đủ hơn Năm 1994, Tổng cục Địa Chính được thành lập và tới tháng 4 năm 1995, lần đầu tiên tổ chức được một hội

Trang 20

nghị tập huấn về công tác Quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất đau cho Giám đốc Sở Địa Chính của tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của cả nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh , từ ngày 03 – 08/04/1995 Sau hội nghị này công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản hơn ở cả 4 cấp là : quốc gia, tỉnh, huyện, xã Một số dự án quy hoạch sử dụng đất đai vừa triển khai vừa rút kinh nhiệm thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện đại diện cho các vùng của cả nước đã được Tổng Cục Địa Chính chỉ đạo và tổ chức thực hiện Riêng các huyển điểm đã được tổng kế rút kinh nhiệm kịp thời tại Hội nghị Bắc Thái từ ngày 12 - -16/9/1995 Trên cơ sở đúc rút kinh nhiệm của mấy chục năm trước đây, đặc biệt là thực tế công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất thời kì này, Tổng Cục Địa Chính đã cho nghiên cứu, soạn thảo và ban hành(tạm thời) Quyết định số 657/QĐ-ĐC ngày 28/10/1995 về quy trình, định ức và đơn giá điều tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trung phạm vu cả nước Từ đó các địa phương trên cơ sở để tổ chức triển khai để thực hiện các dự án quy hoạch

sử dụng đất đai theo nội dung và quy trình tương đối thống nhất, đẩy nhanh tiến

độ công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai

Với những kết quả khả quan thu được, báo các “Quy hoạc, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010” đã được Chính phủ trình Quốc hội khóa

IX tại kì họp thứ 10(15/10-12/11/1996) và kì họp thứ 11(02/4-10/05/1997); Quốc hội đã ban hành nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông qua

kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2000 của cả nước Căn cứ Nghị quyết này, công tác quy hoạch sử dụng đất đai tiếp tục được đẩy mạnh Tiếp theo đó, trong các ngày từ 22 – 26/10/1998, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Hội nghị tập huấn về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước nhằm thúc đẩy công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai nhanh, manh hơn nữa

để đáo ứng yêu cầu nội dun, tiến độ đề ra theo các nghị quyết của Quốc hội tuy vậy cũng phải sau 7 năm tức là phải đến năm 2004, tại kì họp thứ 5

Trang 21

Quốc hội khóa XI, Quốc hội mới ra nghị quyết số 29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005; Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An tiến hành công tác rà soát quy hoạc sử dụng đất an ninh, quốc phòng và đã được chính phủ phê duyệt

Khi luật đất đai năm 2003 ra đời, nội dung, phương pháp trình tự lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp đã có các quy định cụ thể, ro ràng và mang tính pháp lý: Luật đất đai quy định tại mục II chưng II(gồm 10 Điều, từ Điều 21 đến Điều 30 ) Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai quy định tại Chưng II(gồm 18 Điều, từ Điều 12 đến Điều 29); Thông tư số 20/2004/TT-BTNMT ngày 1/11/2004, của

Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định và thẩm định quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai; Quyết định số 04/QĐ-BTNMT ngày 30/6/2005 của Bộ Tài Nguyên Môi Trường về ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Ngoài ra, đơn giá điều tra, lập quy hoạch kế hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp

Ngày 01/7/2014 luật đất đai nă 2013 có hiệu lực thi hành, Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài Nguyên Môi Trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

là cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất năm 2016 điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020

• Các kết quả nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất trong và ngoài nước

- Trong nước

Sau khi công bố Luật Đất đại 1987, công tác quy hoạch sử dụng đất bắt đầu được vận hành một cách chính thức theo những tinh thần đã nêu ra trên đây, và đến nay, qua hơn 20 năm vận hành, nhìn lại một cách tổng quát có thể

đi đến mấy nhận xét chủ yếu sau:

Trang 22

1 Công tác quy hoạch sử dụng đất của các cấp, các ngành đã bước đầu

đi vào nền nếp, trở thành cơ sở quan trọng để định hướng cho phát triển thống nhất và đồng bộ; trở thành công cụ để quản lý, và cũng trở thành phương tiện

để đảm bảo sự đồng thuận xã hội

Ở cấp toàn quốc, Quốc hội đã thông qua :”Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005” (Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15.6.2004);” kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006-2010” (Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29.6.2006)

Toàn bộ 63 tỉnh, thành phố đều đã tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đều đã được chính phủ phê duyệt

Trong tổng số 681 đơn vị hành chính cấp huyện thì đã có 531 đơn vị (chiếm 78%) hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm

2010, số còn lại là đang triển khai (14%) hoặc chưa triển khai (8%)

Đã có 7.576 đơn vị cấp xã trong tổng số 11.074 đơn vị của cả nước hoàn thành việc lập quy hoạch, kế họach sử dụng đất đến 2010 (đạt 68%)

Tuy nhiên, mới chỉ có 7 tỉnh được xem là đã cơ bản hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 ở cả 3 cấp tỉnh - huyện - xã Quá trình triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp đã hình thành được một hệ thống quy trình và định mức trong hoạt động của lĩnh vực này, đảm bảo tiến hành một cách thống nhất, liên thông với chi phí hợp lý, phù hợp với những điều kiện về nhân lực và cơ sở hạ tầng hiện có

2 Quy hoạch sử dụng đất đã tích cực hỗ trợ cho phát triển kinh tế được cân đối nhất là trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu dân cư mới, khu đô thị mới trên phạm vi cả nước; có tác dụng tích cực trong việc điều tiết thị trường, góp phần ổn định giá đất, tạo cơ sở thực tế cho các cuộc giao dịch về đất đai và tổ chức các cuộc đấu giá quyền sử dụng đất

Trang 23

Chỉ tiêu đất nông nghiệp đến năm 2010 mà Quốc Hội đã duyệt là 26,22 triệu ha, ước thực hiện là 25,8 triệu ha (đạt 98%), nhưng đất sản xuất nông nghiệp vượt 0,36 triệu ha và đất trồng lúa ước đạt 3,882 triệu ha, cao hơn 21.000 ha so với mức Quốc Hội đã phê duyệt

Đất phi nông nghiệp Quốc Hội duyệt cho đến năm 2010 là 4,02 triệu ha, ước thực hiện được 3,64 triệu ha (đạt 90,06%), trong đó đất khu công nghiệp đạt 96,2%, đất giao thông đạt 71,7%, đất thủy lợi đạt 66,7%, đất cơ sở y tế đạt 50,0%, đất cơ sở giáo dục đào tạo đạt 93,3% chỉ tiêu kế hoạch mà Quốc Hội

đã phê duyệt

3 Quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch cũng là dịp sinh hoạt dân chủ ở

cơ sở, nhờ đó mà công dân tham gia cụ thể vào sự nghiệp chung có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích thiết thân của mình, trật tự xã hội được đảm bảo, củng cố lòng tin của nhân dân vào chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh

- Ngoài nước

Ở Hàn Quốc, việc lập quy hoạch sử dụng đất thực hiện theo các cấp:

quốc gia, cấp tỉnh, vùng thủ đô; cấp huyện, vùng đô thị cơ bản Theo đó, quy hoạch sử dụng đất được thực hiện từ tổng thể tới chi tiết Quy hoạch cấp tỉnh, vùng thủ đô phải căn cứ trên cơ sở quy hoạch cấp quốc gia; quy hoạch cấp

huyện, vùng đô thị phải căn cứ vào quy hoạch cấp tỉnh

Ở Canada, là một nước liên bang nên quy hoạch sử dụng đất có những

điểm riêng biệt Theo đó, chính quyền Trung ương không có vai trò trong việc lập quy hoạch sử dụng đất Thẩm quyền này thuộc về các tỉnh (bang) Mỗi bang có quyền tự trị riêng về đất đai và tài nguyên, do đó đều có hệ thống quy hoạch riêng Tại mỗi bang, chính quyền địa phương lập quy hoạch theo 2 cấp:

Kế hoạch phát triển (như quy hoạch tổng thể) và quy hoạch vùng Chính quyền cấp tỉnh xây dựng khuôn khổ pháp lý cho việc lập quy hoạch, kế hoạch

Trang 24

sử dụng đất; quyết định trực tiếp một số vấn đề quan trọng liên quan đến đất đai (như bảo vệ đất nông nghiệp); hoạch định chính sách, giám sát và kiểm

soát trực tiếp việc phân chia đất đai

Ở Trung Quốc, việc lập quy hoạch sử dụng đất phải bảo đảm tuân thủ

triệt để nhiều nguyên tắc, như: sử dụng đất phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả sử dụng cao nhất; bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích sử dụng đất của các ngành kinh tế, xã hội và các địa phương; tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên nhằm duy trì và nâng cao chất lượng sống cho người dân của cả nước… Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng nhất là bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác Điều này được thể hiện rõ và xuyên suốt trong hệ thống pháp luật về đất đai của Trung Quốc Theo đó, trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80% tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì Hàng năm, căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất được duyệt, Chính phủ giao chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích khác cho từng tỉnh Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân bổ cụ thể cho từng đơn vị hành chính cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ kế hoạch sử dụng đất đến từng đơn vị xã để thực hiện Việc chuyển mục đích sử dụng đất canh tác sang sử dụng vào các mục đích khác phi nông nghiệp phải được phê duyệt tại cấp tỉnh và Chính phủ Trường hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bị vi phạm thì tùy mức độ vi phạm mà người đứng đầu địa phương sẽ bị xử lý hành chính hoặc sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đất bị vi phạm sẽ bị thu hồi (kể cả trường hợp đã đầu tư)

Trang 25

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Sìn Hồ

• Các chỉ tiêu sử dụng đất cho các mục đích trong năm 2017 của huyện Sìn Hồ

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đánh giá kết quả lập kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Đánh giá thuận lợi, khó khăn và giải pháp

3.2.2.Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất 2016 của huyện Sìn

Hồ

3.2.3 Điều tra đánh giá, xây dựng và lập kế hoạch các chỉ tiêu sử dụng đất trong năm 2017 cho huyện Sìn Hồ

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp

Việc thu thập các tài liệu, số liệu điều tra phục vụ nhu cầu nghiên cứu đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra, thu thập các số liệu thứ cấp: thu thập và xử lý các tài liệu, số liệu sẵn có của địa bàn nghiên cứu tại cơ quan chức năng tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Văn phòng HĐND và UBND huyện Phòng Tài Nguyên Môi Trường Huyện, Chi cục Thống kê Các tài liệu,

số liệu thu thập bao gồm:

+ Chỉ tiêu phân bổ kế hoạch sử dụng đất tỉnh Lai Châu cho các xã trên địa bàn huyện Sìn Hồ, năm 2017;

Trang 26

+ Tài liệu, số liệu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện

Sìn Hồ, có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất

+ Các quy định của Nhà nước, của tỉnh Lai Châu và huyện Sìn Hồ, có

liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất + Tài liệu, số liệu, bản đồ về hiện trạng sử dụng đất và thực trạng công

tác – lập, thực hiện quy hoạch sử dụng đất

+ Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất và các số liệu khác có liên

quan đến đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Sìn Hồ

3.3.2 Phương pháp điều tra thực địa

Tiến hành điều tra, khảo sát đánh giá tình hình sử dụng đất theo kế hoạch 2016

được phê duyệt trên địa bàn 22 đơn vị xã, thị trấn Nhằm mục đích đánh giá được

tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016 so với kế hoạch đã được phê

duyệt

Khảo sát khoanh vẽ các danh mục dự án công trình đã được phê duyệt thực

hiện trong năm 2017 trên nên bản đồ hiện trạng của 22 đơn vị xã, thị trấn Làm cơ

sở cho việc biên tập bản đồ kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của huyện Sìn Hồ tỉnh

Lai Châu

3.3.3 Phương pháp chuyên gia

Tham vấn ý kiến của những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực

lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quản lý quy hoạch và giám sát quy hoạch để

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quy hoạch sử dụng đất

theo hướng hiệu quả, bền vững

3.3.4 Phân tích, thống kê, xử lý số liệu, viết báo cáo

Các thông tin, số liệu về tình hình sử dụng đất thu thập được qua các

năm được sử lý tính toán bằng phần mềm Excel, các phần mềm phân tích xử

lý số liệu phản ánh thông tin qua các bảng thống kê, đồ thị để so sánh, đánh

giá và rút ra kết luận cần thiết

Trang 27

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

* V ị trí địa lý

Sìn Hồ là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu có 12,14 km đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc Diện tích tự nhiên của huyện là 152.700,29 ha chiếm 16,8% diện tích của tỉnh Lai Châu, đứng thứ 2/8 huyện, thành phố về diện tích Có toạ độ địa lý trong khoảng từ 22002' đến 22037' vĩ

độ Bắc và từ 102056’ đến 103024’ kinh độ Đông Địa giới hành chính của huyện được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp Trung Quốc và huyện Phong Thổ;

- Phía Nam giáp huyện Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La) và huyện Tủa Chùa (tỉnh Điện Biên);

- Phía Tây giáp huyện Nậm Nhùn và thị xã Mường Lay (tỉnh Điện Biên);

- Phía Đông giáp TP Lai Châu, huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên Toàn huyện có 22 đơn vị hành chính (01 thị trấn và 21 xã) Huyện có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biên giới Quốc gia, đến tuyến phòng thủ phía Bắc của đất nước Điều kiện phát triển kinh tế của huyện còn nhiều khó khăn, hạn chế so với các huyện khác trong tỉnh và vùng miền núi phía Tây Bắc

Trang 28

nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 16,70C Độ ẩm không khí trung bình tương đối cao khoảng 84,2%, lượng mưa bình quân từ 2.600-2.700mm/năm và phân

bố không đều trong năm, thường tập trung vào các tháng 6,7,8 về mùa đông thường xuất hiện mây mù và sương muối

+ Khu vực 11 xã vùng thấp có khí hậu nhiệt đới, khí hậu trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9), mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) tháng 4 và tháng 10 là thời gian chuyển giao giữa 2 mùa Nhiệt

độ bình quân năm là 25oC, lượng mưa trung bình khoảng 2.500 mm/năm, phân

bố không đều trong năm, độ ẩm không khí trung bình khoảng 82%

- Huyện Sìn Hồ có lượng mưa bình quân năm ở mức tương đối cao khoảng 2.604 mm/năm và phân bố không đồng đều giữa các vùng và các tháng trong năm Lượng mưa của các xã vùng cao ở mức 2.600-2.700 mm/năm, lượng mưa

ở các xã vùng thấp và 02 xã dọc sông Nậm Na ở mức 2.480-2.750mm/năm Lượng mưa cao nhất là vào tháng 6 và tháng 7 hàng năm chiếm tới 70% lượng mưa trung bình của cả năm, các tháng còn lại chỉ chiếm khoảng 30%

- Độ ẩm trung bình trong năm từ 80- 86 %, tháng cao nhất là tháng 7 dao động từ 85-90%, tháng thấp nhất vào tháng 3 dao động từ 70-80% Tổng số giờ nắng trong năm tính trung bình từ 1850-1900 giờ

* Thủy văn

- Huyện Sìn Hồ là huyện có mật độ sông, suối cao ở tỉnh Lai Châu Trên địa bàn huyện có hệ thống sông suối lớn như sông Nậm Na (bắt nguồn từ Trung Quốc chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam qua các xã Pa Tần, Nậm Ban, Chăn Nưa và đổ vào sông Đà) lưu lượng nước mùa mưa khoảng 3.300 m3/s, mùa khô khoảng 39 m3/s Suối Nậm Mạ (bắt nguồn từ Phìn Hồ chảy theo hướng Đông - Nam qua các xã Ma Quai, Nậm Tăm, Lùng Thàng, Nậm Cha

đổ vào sông Đà) lưu lượng mùa mưa khoảng 687m3/s, mùa khô khoảng 2,02

m3/s, ven lưu vực con suối này phân bố phần lớn diện tích ruộng lúa nước của Sìn Hồ

Trang 29

- Hệ thống suối trên địa bàn các xã vùng cao chủ yếu là các suối nhỏ, lượng nước ít nên chỉ đủ cho sản xuất và sinh hoạt vào mùa mưa Vào mùa khô hầu hết các xã vùng cao thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt

- Hệ thống sông suối trên địa bàn các xã dọc sông Nậm Na và vùng thấp khá phong phú, bao gồm, sông Nậm Na, suối Nậm Mạ, suối Nậm Múng, suối Nậm Tăm, suối Phiêng Ớt… Ngoài ra còn rất nhiều suối nhỏ Đây là những nguồn nước chính để xây dựng các công trình thủy điện; thủy lợi và nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất

- Hồ thủy điện Sơn La năm trên địa phận huyện Sìn Hồ có diện tích 4.632,8 ha, đây là ranh giới tự nhiên giữa huyện Sìn Hồ và huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Điều kiệnvề kinh tế

Theo báo cáo tổng kết phát triển kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2016, ước kết quả thực hiện 6 tháng cuối năm 2016, kinh tế của huyện Sìn Hồ có những bước chuyển biến tích cực Cụ thể thực trạng tình hình phát triển các ngành kinh tế như sau:

Trang 30

cung cấp thực phẩm sạch cho Nhân dân, đồng thời tuyên truyền các biện pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm Triển khai tiêm phòng Vác xin cho gia súc tại 22/22 xã, thị trấn

- Tổng đàn gia súc trên địa bàn huyện 63.641 con Trong đó: Trâu: 21.831 con, Bò: 1.911 con, Lợn: 39.898 con Tổng đàn gia cầm: 265.000 con Tốc độ tăng trưởng đàn gia súc đạt 4,5%

- Công tác Khuyến nông: Triển khai Mô hình "Thâm canh tăng vụ lúa Đông xuân" tại 03 xã Phìn Hồ, Tả Ngảo, Làng Mô với quy mô 20 ha, năng xuất đạt 56 tạ/ha

- Triển khai thực hiện dự án "Phát triển vùng chè gắn với xây dựng nhà máy chế biến tại xã Xà Dề Phìn" với quy mô 150 ha (Nhà nước hỗ trợ người dân trồng 130 ha, Công ty Chè Tam Đường đầu tư 20 ha) Dự án được Nhân dân đồng tình ủng hộ triển khai thực hiện, đến nay đã làm đất được 76 ha, dự

kiến triển khai trồng trong tháng 9/2016

* Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Thành lập Ban Chỉ đạo và ban hành quy chế hoạt động của BCĐ 389 huyện về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn huyện; Thành lập tổ kiểm tra liên ngành kiểm tra, rà soát thị trường trước, trong dịp tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016 Tình hình thị trường, cung cầu hàng hoá 6 tháng đầu năm được duy trì ổn định; hàng hóa đảm bảo chất lượng, cơ bản đáp ứng về số lượng, chất lượng phục vụ Nhân dân trên địa bàn toàn huyện Doanh thu dịch vụ thương mại ước đạt 282.931 triệu đồng Giá trị

sản xuất công nghiệp ước đạt 16.862 triệu đồng

* Thương mại, dịch vụ:

Thành lập đoàn liên ngành kiểm tra tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, không để xảy ra hiện tượng ép giá, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, Nhìn chung các mặt hàng thiết

Ngày đăng: 24/11/2017, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. TS. Lương Văn Hinh, TS. Nguy ễn Ngọc Nông, ThS. Nguyễn Đình Thi – Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai - Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên 6. HĐND tỉnh Lai Châu - Nghị quyết số 54/NQ-HĐND về việc thông quaQuy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai
1. Báo cáo kế hoạch sử dụng đất năm 2016, 2017 của huy ện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu 2. Bộ Tài Nguyên và Môi Trường - Thông tư số 29/2014/TT-BVMT ngày 02tháng 6 năm 2014 của quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Khác
3. Chính phủ - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai Khác
4. Chính phủ - Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11 tháng 05 năm 2013 của chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa Khác
8. Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), Giáo trinh quản lý nhà nước về đất đai, NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
9. UBND tỉnh Lai Châu - Quyết định số 1085/QĐ-UBND ngày 3/6/2016 của về việc phê duyệt phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Sìn Hồ Khác
10. UBND tỉnh Lai Châu - Quyết định 883/QĐ/UBND ngày 06/4/2007 về việc phê duyệt đồ án quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Lai Châu Khác
11. UBND tỉnh Lai Châu - Công văn số 2783/UBND-NVKT ngày 19 tháng 8 năm 2009 về việc triển khai lập quy hoạch đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) tỉnh Lai Châu Khác
12. UBND tỉnh Lai Châu - Công văn số 2229/UBND-NNTN ngày 09 tháng 8 năm 2012 của về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w