Đề tài: “Một số biện pháp giúp dạy tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 3”A. ĐẶT VẤN ĐỀ1 Lí do chọn đề tài:Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh 4 kĩ năng đó là “ nghe nói đọc viết” trong đó môn Tiếng Việt có các phân môn như: Tập đọc, kể chuyện, chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn, tập viết... trong đó, phân môn luyện từ và câu là phân môn có tính chất tạo lập văn bản, đó là bài nói, bài viết. Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng , thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy chiếm lĩnh tri thức trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống.
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: “Một số biện pháp giúp dạy tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 3”
A ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ Lí do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh
4 kĩ năng đó là “ nghe - nói- đọc - viết” trong đó môn Tiếng Việt có các phân môn như: Tập đọc, kể chuyện, chính tả, luyện từ và câu, tập làm văn, tập viết trong đó, phân môn luyện từ và câu là phân môn có tính chất tạo lập văn bản, đó là bài nói, bài viết Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng , thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy chiếm lĩnh tri thức trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống
Luyện từ và câu là một trong những phân môn có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp từ nhiều phân môn Phân môn Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu , rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thực hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời có khả năng hiểu và sử dụng các kiểu câu của người khác nói ra trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định Vì vậy, Luyện từ và câu được coi là phân môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác Trên cơ sở nội dung, chương trình phân môn luyện từ và câu có rất nhiều đổi mới, nên đòi hỏi tiết dạy luyện từ và câu phải đạt được mục đích cụ thể hơn, rõ ràng hơn Ngoài phương pháp của người giáo viên, học sinh cần có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế Chính vì vậy, việc dạy tốt phân môn Luyện từ và câu không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức mà còn là phương tiện rèn kĩ năng nói, viết, cách thành văn cho học sinh
Để thực hiện việc đổi mới phương pháp có hiệu quả và có sự thống nhất trong nhà trường và trong việc chỉ đạo dạy và học phân môn Luyện từ và câu Giáo viên phải chủ động tổ chức tốt việc thực hiện đổi mới phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học phân môn Luyện từ và câu nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đó là nhằm rèn cho học sinh thực hiện tốt bốn kỹ năng “nghe, nói, đọc, viết”
Ngôn ngữ (nói – viết) giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 3 nói riêng Với đặc thù của môn luyện từ và câu là mang tính khô khan, trừu tượng đối với học sinh, vốn từ ngữ của học sinh còn
Trang 2rất hạn hẹp, học sinh chưa mạnh dạn trong việc nói trước tập thể,các bài tập trong sách giáo khoa nhiều, đa dạng và cấu tạo tương đối khó với học sinh, học sinh gặp khó khăn trong việc giải nghĩa từ, đặt câu chưa hay, chưa đúng so với yêu cầu, chưa phân biệt được nghĩa của từ Đối với gia đình học sinh thì vốn từ ngữ phổ thông đa phần còn hạn chế và chưa có sự nhận thức đúng mức về tập quan trọng của phân môn Luyện từ và câu, bên cạnh đó một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình, còn có quan điểm “ trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô” cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của bộ môn Nên trong thực tế ở Trường tiểu học Ninh Lộc việc giảng dạy phân môn Luyện từ và câu mất nhiều thời gian, đa phần cung cấp kiến thức theo hướng một chiều và việc dạy của một số giáo viên chưa thực sự đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức trong dạy phân môn luyện từ và câu chưa có các biện pháp rèn luyện cụ thể cho các em để từ đó các em học tốt phân môn này, nhằm trang bị cho các em vốn từ phong phú, cách viết câu trong phân môn tập làm văn dẫn đến kết quả đạt được chưa cao Vấn đề đặt ra: Người giáo viên dạy luyện từ và câu ra sao để đạt hiệu quả như mong muốn ?
Bởi những lí do trên nên tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 3”.
II Thực trạng:
Để có những biện pháp dạy – học tốt môn từ ngữ này, chúng ta hãy nhìn lại và đánh giá hiện trạng năm học
1/ Thuận lợi:
* Đối với giáo viên:
- Trang thiết bị, đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ và hiện đại đảm bảo phục vụ cho hoạt động giảng dạy của GV
- GV được tập huấn nắm được nội dung, phương pháp dạy học, biết bám sát mục tiêu để lập kế hoạch bài dạy Một số GV đã tổ chức được các hoạt động dạy- học hiệu quả
* Đối với học sinh:
- Đa số học sinh địa bàn gần trường, các em có ý thức học tập tốt.Học sinh đều chăm ngoan, ham tìm hiểu và có thái độ chủ động tích cực trong học tập
- Đến lớp 3,kỹ năng đọc viết của HS tương đối vững chắc nên việc dạy các kiểu câu trần thuật đơn theo mẫu khá thuận lợi
2/ Khó khăn:
* Đối với giáo viên:
Bên cạnh những thuận lợi vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình dạy học phân môn Luyện từ và câu , đó là những hạn chế nổi bật sau:
Trang 3- GV thiếu nghiên cứu kỹ SGK, dạy bài nào biết bài đó( chưa đặt bài dạy vào hệ thống kiến thức, kỹ năng của môn học, tiết học) nên thiếu củng cố, khắc sâu, mở rộng cho HS)
- Tiết dạy rời rạc, chưa thể hiện được mối liên hệ giữa các bài tập trong cùng một bài học
- Việc lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học còn mang tính hình thức, chiếu lệ chưa phù hợp với yêu cầu, nội dung từng bài
- Không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS
* Đối với học sinh:
- Đối với HS lớp 3 khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn yếu
- Các từ cần giải nghĩa đa số là từ Hán Việt nên học sinh khó hiểu, khó giải nghĩa
- Các từ, các thành ngữ, tục ngữ cần giải nghĩa, cần tìm có nghĩa gần giống nhau, khiến cho học sinh khó phân biệt nghĩa của chúng
- Ranh giới giữa các từ hoặc từ trong tiếng việt không mang tính xác định, không dễ nhận biết nên các em còn thiếu tự tin khi học phân môn này
3 Thực trạng chung của vấn đề:
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế việc dùng từ, đặt câu của học sinh ngay từ đầu năm học Qua khảo sát đầu năm tôi thống kê học sinh còn mắc lỗi về dùng từ, đặt câu rất nhiều, có một số học sinh dùng từ chưa chính xác, chưa hiểu nghĩa từ, đặt câu chưa đúng ngữ pháp, chưa
biết dùng hình ảnh so sánh (đã học ở lớp hai) Cụ thể khảo sát chất lượng môn Luyện
từ và câu đầu năm học 2013-2014, tôi thống kê kết quả như sau:
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1 Cơ sở lý luận:
a Cơ sở khoa học:
Mỗi chúng ta ai cũng tự nhận thấy rằng ngôn ngữ hết sức phong phú và đa
dạng Con người ngay từ khi sinh ra đến tuổi đi học đều hình thành cho mình vốn ngôn từ, quy tắc giao tiếp nhất định Bởi vậy, để tăng nhanh được vốn từ, để chính xác hóa nội dung ngữ nghĩa của từ cũng như thúc đẩy việc hình thành kĩ năng giao tiếp diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi không thể không chú ý đến việc rèn luyện,trau dồi cho các em vốn kiến thức về từ ngữ qua phân môn Luyện từ và câu Phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh: Mở rộng hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu; rèn luyện cho học sinh kĩ năng
Trang 4dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu; bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; rèn luyện ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp
Với mục đích như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức quan trọng trong nhà trường cũng như cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để tìm hiểu và học tốt các môn học khác
b Cơ sở thực tiễn:
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt, nhằm
mở rộng vốn từ, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấu tạo của các từ thông qua vốn từ các em sẵn có các từ mới học Đồng thời rèn kỹ năng nói, viết thành câu, dùng một số dấu câu khi viết, cung cấp những mẫu câu cần thiết đế học sinh vận dụng trong giao tiếp và học tập
Đối với học sinh lớp 3 do vốn sống, vốn từ của các em còn quá ít, mà chúng ta
đã biết từ ngữ, ngữ pháp trong tiếng Việt rất phong phú, như nhiều người thường nói
“ Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Bởi vậy làm cho các em hiểu đúng đắn về từ, câu để có thể phát triển một cách đồng đều về mọi mặt là một việc không dễ
Chính vì nhận thức trên, chúng tôi nghĩ rằng muốn học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu giai đọan đầu ở bậc tiểu học, không gì hơn phải thiết kế và giảng dạy sao cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo được nguyên tắc học sinh là nhân vật trung tâm, phát huy được tính chủ động tích cực của từng học sinh, của tập thể học sinh trong giờ học
II Các giải pháp, biện pháp thực hiện:
Từ thực tế trên, tôi nhận thấy để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho giờ
học Luyện từ và câu trở nên“nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn” theo
hướng dẫn nhiệm vụ dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo Qua quá trình nghiên cứu, tôi thấy để nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện từ và câu và nâng cao chất lượng học của học sinh, người giáo viên cần phải thực hiện tốt những biện pháp sau:
Biện pháp 1: Giáo viên cần nắm vững những nội dung cần dạy học cho học sinh
trong từng tiết học cũng như nội dung của bộ môn xuyên suốt năm học:
Để giúp học sinh lớp 3 học tốt phân môn Luyện từ và câu, giáo viên phải xem xét
hệ thống bài tập, cấu trúc tri thức Tiếng Việt cần hình thành cho học sinh Nguyên tắc phát triển tri thức - vốn từ Tiếng Việt và kiến thức – nguyên tắc ngữ pháp để làm cơ
sở định hướng chọn lọc những phương pháp – phương tiện dạy học thích hợp thực hiện một cách có hệ thống, đạt hiệu quả bài dạy
1/ Các bài tập về từ:
1.1 Loại bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo chủ điểm:
Trang 5Loại bài tập này ngoài tác dụng giúp học sinh mở rộng vốn từ còn có tác dụng hình thành và phát triển cho các em khả năng tư duy có hệ thống về mối quan hệ phương ngữ Về cách dạy loại bài tập tìm từ cùng chủ điểm, giáo viên cần chú ý đến từ mẫu,
đó là điểm tựa có tác dụng gợi ý định hướng cho học sinh trong quá trình tìm từ Đồng thời giáo viên hướng dẫn cho các em xác định đúng yêu câu của bài tập
Ví dụ: Tìm những từ ngữ chỉ gộp những người trong gia đình ( chủ điểm: Mái ấm ) M: Ông bà, chú cháu……
Học sinh tìm: Bố mẹ, anh chị…… ( cùng chủ điểm: Mái ấm)
1.2/ Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ, mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa:
Đối với bài tập này, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập là hiểu nghĩa của từ Do đó, giáo viên cần dựa vào hệ thống câu hỏi để học sinh thực hiện tìm những từ có nghĩa ấy hoặc những từ đó có nghĩa như thế nào Sau đó giáo viên chữa một phần nhỏ của bài tập làm mẫu bằng cách gọi 1 học sinh làm cho cả lớp theo dõi góp ý Giáo viên tiến hành tổ chức cho học sinh cả lớp làm bài tập Cuối cùng giáo viên tổ chức cho học sinh trong lớp trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về kỹ năng và kiến thức: học sinh nắm nghĩa của từ và biết cách vận dụng làm bài tập
Ví dụ: Tìm các từ:
a) Chỉ trẻ em Mẫu : thiếu niên
b) Chỉ tính nết của trẻ em Mẫu : ngoan ngoãn
c) Chỉ tình cảm của người lớn đối vơi trẻ em Mẫu : thương yêu
Loại bài tập này, dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa các từ Nói cách khác là giữa các từ
có mối quan hệ với nhau về nghĩa như: quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa Để tiến hành tìm các từ ngữ có quan hệ với nhau về nghĩa nhằm mở rộng và phát triển vốn từ cho các em, làm phong phú vốn từ Như vậy, giáo viên phải hướng dẫn học sinh nắm nghĩa của từ cho sẵn, để định hướng tìm đúng từ cần tìm theo những từ mà bài tập đã cho Ngoài ra, giáo viên cần hướng dẫn cho các em nắm được quan hệ của
từ như quan hệ đồng nghĩa là gì? ; Gần nghĩa là gì?; Trái nghĩa là gì? Từ đó việc liên hệ tìm từ của học sinh sẽ dễ dàng hơn
Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa với từ: tốt, lười biếng, nhanh…
Tìm từ đồng nghĩa với từ: chăm chỉ, siêng năng…
Tìm từ gần nghĩa với từ: vui vẻ, lo lắng…
Các loại bài tập kiểu này thường có từ cho sẵn gọi là từ mẫu , từ điểm tựa làm cơ
sở Từ đó, học sinh tự liên hệ tìm hiểu mối quan hệ của chúng Đối với trường hợp từ cho sẵn có nghĩa trừu tượng, khó nhận biết, để trợ giúp hoạt động tìm từ cho học sinh, giáo viên có thể giải thích nghĩa của từ cho sẵn và nêu một số ngữ cảnh điển
Trang 6hình trong đó có sử dụng từ cho sẵn ấy để học sinh phát hiện từ Khi đó việc tìm từ của các em sẽ đúng hướng, đúng yêu cầu của bài tập và đơn giản hơn nhiều
Ví dụ: Tìm một số từ có tiếng bóng hoặc có tiếng chạy
1.3/ Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ:
Dạng bài tập này dựa trên quan hệ liên tưởng có tác dụng rất lớn trong việc giúp học sinh mở rộng và phát triển vốn từ Về cách dạy các dạng bài tập này, giáo viên hướng dẫn các em lần lượt tự chọn và ghép với các tiếng còn lại Nếu tạo ra từ ghép quen thuộc hoặc quen dùng thì các em tự ghép được
Ví dụ: Hãy kể các môn thể thao bắt đầu bằng tiếng:
a) Bóng Mẫu: bóng đá, bóng bàn, bóng chuyền
b) Chạy
c) Đua
d) Nhảy
1.4/ Loại bài tập tìm từ ngữ cùng chủ điểm:
Loại bài tập này, ngoài tác dụng giúp học sinh mở rộng vốn từ, còn có tác dụng hình thành và phát triển cho các em khả năng tư duy có hệ thống về mối quan hệ phương ngữ Về cách dạy loại bài tập tìm từ cùng chủ điểm, giáo viên cần chú ý đến từ mẫu, đó là điểm tựa có tác dụng gợi ý định hướng cho học sinh trong quá trình tìm từ Đồng thời giáo viên hướng dẫn cho các em xác định đúng yêu câu của bài tập
Ví dụ: Tìm những từ ngữ chỉ gộp những người trong gia đình ( chủ điểm: Mái
ấm )
M: Ông bà, chú cháu……
Tìm những từ nói về tình cảm yêu thương giữa anh chị em (chủ điểm: Anh em) M: đùm bọc, khuyên bảo, chăm sóc……
1.5/ Loại bài tập cung cấp về từ loại:
Đối với loại bài tập này, ở lớp 3 thường tập trung phát triển vốn từ cho học sinh và lồng ghép trong nhiều dạng bài khác nhau Những từ loại ở đây chỉ là những kiến thức sơ giản về danh từ, động từ, tính từ như cung cấp cho các em nắm được những từ chỉ người, con vật, đồ vật; từ chỉ hoạt động, trạng thái; từ chỉ đặc điểm, tính chất Việc hướng dẫn làm các bài tập này, giáo viên cần chú ý dẫn dắt các em dựa vào kinh nghiệm sống của bản thân là chủ yếu để vận dụng vào làm bài, giáo viên tránh giải thích dài dòng hoặc sa vào lý thuyết Qua việc cung cấp các từ loại, giáo viên cần giúp các em biết dùng các từ loại đó đặt câu cho phù hợp
Ví dụ: Đọc khổ thơ dưới đây và trả lời câu hỏi:
Con mẹ đẹp sao
Những hòn tơ nhỏ
Chạy như lăn tròn
Trang 7Trên sân, trên cỏ.
Tìm các từ chỉ hoạt động trong khổ thơ trên?
Hoạt động chạy của những chú gà con được miêu tả bằng cách?
2/ Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu:
2.1/ Loại bài tập dùng từ đặt câu:
Loại bài sử dụng từ này chủ yếu luyện cho học sinh biết kết hợp các từ ngữ trong câu có tác dụng rèn luyện tư duy hệ thống các từ cho các em Như vậy khi các từ kết hợp với nhau để tạo nên câu thì ở chúng hình thành mối quan hệ về ý nghĩa và quan hệ về ngữ pháp Do đó muốn “dùng từ đặt câu” đúng thì các em phải thiết lập được mối quan hệ về ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các từ phải hợp lý Đối với kiểu bài tập này không chỉ liên quan đến vấn đề ngữ pháp nên yêu cầu giáo viên rèn cho học sinh kỹ năng “lựa chọn từ, kết hợp từ” để tạo thành câu Giáo viên lưu ý đến việc hưỡng dẫn cho các em biết dựa vào đặc điểm của sự vật và hiện tượng để phân loại, phân nhóm từ; mỗi loại và mỗi nhóm từ này là một hệ thống ngữ nghĩa cho việc dùng từ đặt câu chính xác hơn
Ví dụ: Dùng mỗi từ ngữ sau để đặt câu theo mẫu Ai là gì?: bác nông dân, em trai tôi, những chú gà con, đàn cá
2.2/ Loại bài tập “ đặt câu theo các kiểu câu Ai ( cái gì, con gì)? Là gì?( ở đâu, làm gì, bằng gì) Ai thế nào? và những bộ phận chính của các kiểu câu ấy”:
Giúp học sinh biết nhận ra và biết đặt câu theo các kiểu câu đơn, ngay những bài tập đầu tiên ở dạng này, giáo viên cần cho các em nắm rõ yêu cầu của đề bài và bám theo mẫu cho sẵn, tập trung uốn nắn trong quá trình luyện nói cho học sinh để giúp các em biết vận dụng tốt khi làm bài tập
Ví dụ: Đặt câu theo mẫu Ai thế nào? để miêu tả:
Một bác nông dân
Một bông hoa trong vườn
Một buổi sớm mùa đông
Mẫu: Buổi sớm hôm nay lạnh cóng tay
2.3/ Loại bài tập sử dụng dấu câu:
Loại bài tập này giúp các em bước đầu có ý thức và biết đăt dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy vào đúng chỗ Trong quá trình hướng dẫn học sinh làm bài tập, giáo viên cần đảm bảo quy trình sau: Cho các em đọc và xác định đúng yêu cầu của bài tập, học sinh được tham gia giải một phần bài tập yêu cầu các
em nắm được đặc điểm của câu thông qua đọc nhẩm để tư duy tìm và điền dấu câu cho thích hợp ( dựa vào vốn sống của các em, ở mức độ kiến thức lớp 2 không có phần bài học)
Ví dụ: Em hãy chọn dấu chấm hay dấu phẩy để điền vào chỗ trống ( )?
TRÁI ĐẤT VÀ MẶT TRỜI
Trang 8Tuấn lên bảy tuổi ( ) em rất hay hỏi ( ) một lần ( ) em hỏi bố:
Bố ơi, con nghe nĩi trái đất quay xung quanh mặt trời Cĩ đúng thế khơng bố? Đúng đấy ( ) con ạ! – Bố Tuấn đáp
Thế ban đêm khơng cĩ mặt trời thì sao?
2.4/ Loại bài tập đặt câu theo mẫu hoặc tìm bộ phận của câu thơng qua đăt câu hỏi:
Với loại bài tập trên giúp học sinh biết tư duy cĩ hệ thống về ngữ nghĩa và nắm vững hơn về cấu tạo câu để thực hành khi nĩi và viết Giáo viên cần lưu ý đến đối tượng học sinh học yếu và giúp các em bằng cách gợi ý, dẫn dắt hướng làm bài thật
dễ hiểu, cĩ như vậy các em mới làm được
Ví dụ: Dựa theo nội dung các bài tập đọc đã học ở tuần 3, tuần 4, hãy đặt câu theo mẫu Ai là gì? để nĩi về:
Bạn Tuấn trong truyện Chiếc áo len
Bạn nhỏ trong bài thơ Quạt cho em ngủ
Bà mẹ trong truyện Người mẹ
Chú chim sẻ trong truyện Chú sẻ và bơng hoa bằng lăng
Ví dụ: Tìm các bộ phận của câu:
Trả lời câu hỏi “ Ai ( con gì, cái gì)?”
Trả lời câu hỏi “ Làm gì?”
Đàn sếu đang sải cách trên cao
Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về
Các em tới chỗ ơng cụ, lễ phép hỏi
Ví dụ: Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu được in đậm:
Mấy bạn học trị bỡ ngỡ đứng nép bên người thân
Ơng ngoại dẫn tơi đi mua vở, chọn bút
Mẹ tơi âu yếm nắm tay tơi dẫn đi trên con đường làng
3/ Các bài tập về biện pháp tu từ: so sánh và nhân hĩa:
Thơng qua các bài tập về biện pháp tu từ nhằm giúp các em cĩ nhận biết về các biện pháp tu từ như: biết phép so sánh, phép nhân hĩa Qua đĩ, làm cơ sở để các em bước đầu sử dụng biện pháp tu từ vào việc dùng từ, đặt câu Loại bài tập này, địi hỏi mức đợ phát triển tư duy về ngơn ngữ của các em cao hơn nhiều so với các dạng bài tập đã nêu ở trên Do đĩ giáo viên phải cĩ vốn kiến thức vững vàng, biết sử dụng thủ pháp và hình thức dạy học sáng tạo để tạo cho các em hứng thú tìm tịi kiến thức nhờ chủ động làm các bài tập Yêu cầu đặt ra là phải cho học sinh xác đinh đúng trọng tâm yêu cầu của bài tập, phải hướng cho học sinh làm bài tập từ bước dễ làm đến bước phức tạp hơn Giáo viên cĩ thể giúp và cùng học sinh làm một phần bài tập, sau
đĩ hướng dẫn cho cả lớp làm bài tập, trao đổi nhận xét và giáo viên chốt lại kiến thức cần cung cấp ( kiến thức học sinh cần nắm)
Trang 9Ví dụ: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ dưói đây:
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè, hoa nở cùng sao
Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh
* Sự vật được so sánh: quả dừa được so sánh với đàn lợn con
tàu dừa được so sánh với chiếc lược
Ví dụ: Đọc và trả lời câu hỏi:
Đồng làng vương phút heo may
Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim
Hạt mưa mải miết trốn tìm
Cây đào trước cửa lim dim mắt cười
* Sự vật được nhân hóa:
Mầm cây ( tỉnh giấc ), hạt mưa ( mải miết trên cây ), cây đào ( lim dim mắt )
Biện pháp 2: Thường xuyên tạo ra những tình huống có vấn đề trong tiết học,từ
đó gây cho học sinh những bất ngờ thú vị khi học phân môn này.
Ví dụ 1: Khi dạy bài so sánh trang 42,tập 1 tôi đố học sinh câu hỏi Cái dấu hỏi giống
như cái gì? (Học sinh trả lời: Cái dấu hỏi như vành tai nhỏ) Từ đó, tôi giới thiệu cho học sinh biết đây là câu có hình ảnh so sánh bài học hôm nay các em sẽ được học bài
“So sánh”
Ví dụ 2: Khi dạy bài Luyện từ và câu: Bài So sánh - dấu chấm trang 24, tập 1.Trước
khi vào bài tập 3: Đặt dấu chấm thích hợp trong đoạn văn và viết hoa những chữ đầu câu, tôi nói: Trong bài cuộc họp của chữ viết bạn Hoàng không biết dùng dấu chấm câu có đoạn bạn viết thế này : Tôi gắn bảng phụ đoạn văn bạn Hoàng viết trên bảng
và cho học sinh đọc “Chú lính bướcvào đầu chú.đội chiếc mũ sắt dưới chân.Đi đôi đôi giày da trên trán lấm tấm mồ hôi.” Cho học sinh nhận xét đoạn văn bạn Hoàng viết, bạn dùng dấu chấm đúng hay sai? (Học sinh trả lời ‘Sai’) Giáo viên nói : vậy bây giờ chúng ta sẽ giúp bạn Hoàng sửa lại dấu chấm câu cho đúng
Tôi cho học sinh sửa dấu chấm câu cho đúng, học sinh sẽ sửa được và cho học sinh đọc đoạn văn vừa sửa rồi so sánh với đoạn văn chưa sửa
Khi học sinh đã sửa xong, giáo viên hỏi : Nếu dùng dấu chấm không thích hợp thì nghĩa của câu văn thế nào? (Nghĩa của câu văn sẽ khác đi làm cho người đọc cảm thấy buồn cười) Từ đó học sinh sẽ thận trọng đặt dấu câu,dấu chấm câu cho đúng ở các bài tập cùng dạng và vận dụng khi viết văn.Những tiết học như thế sẽ sinh động hơn, học sinh cảm thấy hứng thú học tập hơn.Như vậy tôi đã dùng phương pháp dạy học nêu vấn đề và đòi hỏi học sinh phải giải quyết vấn đề cho những tình huống đặt ra.Tình huống có vấn đề đóng vai trò quan trọng trong dạy học nêu vấn đề.Việc giải quyết vấn đề trong tình huống cụ thể, học sinh nắm tri thức và phát triển tư duy sáng
Trang 10tạo.Phương pháp này nhằm phát huy tính độc lập suy nghĩ và tính sáng tạo của học sinh
Biện pháp 3: Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập mở rộng vốn từ và hệ
thống hoá vốn từ:
Từ tồn tại trong đầu óc con người được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng nhất định Nhờ quy luật này, từ được tích luỹ nhanh chóng hơn Cũng nhờ quy luật
này, từ mới có thể sử dụng được trong lời nói, vì khi sử dụng từ, nhờ hệ thống liên tưởng, học sinh sẽ nhanh chóng huy động, lựa chọn được từ ngữ phù hợp với yêư cầu giao tiếp
Toàn bộ loại bài tập mở rộng, hệ thống hoá vốn từ yêu cầu học sinh tìm những
từ theo một dấu hiệu chung nào đó Ở tiểu học, biện pháp được sử dụng phổ biến nhất
để hệ thống hoá vốn từ là mở rộng vốn từ theo chủ điểm Các chủ điểm này có phạm
vi rộng hẹp rất khác nhau, vì thế các bài tập rất đa dạng, phong phú Nhóm từ theo chủ đlểm bao gồm các từ thuộc nhiều từ loại khác nhau Cái quy định là đề tài nên theo phạm vi liên tưởng rộng, tuỳ thuộc vào các nhân học sinh Giáo viên cần định hướng những từ nhất định, thu hẹp phạm vi liên tưởng lại Cũng có thể liên tưởng theo một dấu hiệu ngữ nghĩa nào đó Để giải các bài tập này, tôi gợi ý cho học sinh tìm trong vốn từ của mình những từ có mang những nét nghĩa phù hợp với chủ điểm Cũng có thể liên tưởng theo các lớp từ vựng: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa Cuối cùng
là tìm các từ có cùng cấu tạo Giải các bài tập mở rộng và hệ thống hoá vốn từ, học sinh sẽ xây dựng được những nhóm từ khác nhau Để hướng dẫn học sinh làm những bài tập này, giáo viên cần có vốn từ cần thiết và biết phân loại các từ Các bài tập mở rộng và hệ thống hóa vốn từ vừa sức với học sinh tiểu học, được các em thực hiện một cách tự nhiên và có hứng thú
Biện pháp 3: Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập giải nghĩa từ:
Tầm quan trọng của việc dạy nghĩa từ cho học sinh đã được thừa nhận từ lâu trong phương pháp dạy Tiếng Việt Nó là nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việc giải nghĩa từ được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở
đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ
Để dạy nghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù
hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh Ở tiểu học, tôi thường sử dụng một số biện pháp giải nghĩa sau:
+ Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật thật, tranh ảnh, sơ đồ v.v…
để giải nghĩa từ
Ví dụ: Tôi đưa ra bức tranh vẽ hình quả na, củ sắn, cho học sinh tôi xem và nói
“Đây là quả mãng cầu dai” “Đây là củ khoai mì” Khi đọc bài “Hạt gạo làng ta”, tôi cho học sinh xem tranh “cái quang” để giúp học sinh nắm nghĩa của từ
Trực quan chiếm vị trí quan trọng trong giải nghĩa từ ở tiểu học vì nó giúp học