1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật từ thực tiễn tỉnh Bình Thuận

85 250 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 919,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật xác định chính sách và quản lý của Nhà nước về PBGDPL, quy định quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nguyên tắc nội dung, hình

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS LÊ NGỌC HÙNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cơ sở Học viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, các khoa, phòng và quý thầy, cô giáo, người lao động của Học viện đã tận tâm truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm thiết thực và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Học viện

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Hùng – người thầy trách nhiệm, tâm huyết đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bình Thuận, lãnh đạo các cấp đã tin tưởng, tạo điều kiện để tôi tham gia khóa học Tôi xin cảm ơn Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận đã hỗ trợ, cung cấp số liệu, thông tin và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Cuối cùng, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp nơi tôi công tác, bạn bè, gia đình đã luôn tạo điều kiện, hỗ trợ, đồng hành và chia sẻ những khó khăn trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Bình Thuận, tháng 8 năm 2017

Học viên

Đỗ Văn Tín

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu, số liệu trong luận văn Thạc sĩ

Chính sách công “Thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật từ thực tiễn tỉnh Bình Thuận” là hoàn toàn trung thực, khách quan Những nội dung trong luận

văn có trích dẫn tài liệu tham khảo đều được dẫn nguồn đầy đủ Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác có liên quan với nội dung của luận văn

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn theo quy định của pháp luật

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Tín

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 7

1.1 Khái quát về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 7 1.2 Khái niệm, vị trí, vai trò của việc thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 22 1.3 Nội dung thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật 22 1.4 Quy trình thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 23 1.5 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 27

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TẠI TỈNH BÌNH THUẬN 30

2.1 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 30 2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 41 2.3 Kết quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 47

Chương 3: TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TẠI TỈNH BÌNH THUẬN 63

3.1 Quan điểm, mục tiêu tăng cường thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 63 3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật 64

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật 17 Hình 2.1: Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh Bình Thuận 30 Bảng 2.1: Số lượng Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh tại các sở, ban, ngành, đoàn thể

cấp tỉnh từ năm 2014 đến năm 2016 35

Bảng 2.2: Số lượng Báo cáo viên pháp luật cấp huyện trên địa bàn tỉnh từ năm 2014

đến năm 2016 35

Bảng 2.3: Số lượng Tuyên truyền viên pháp luật cấp xã trên địa bàn tỉnh Bình

Thuận từ năm 2014 đến năm 2016 36

Bảng 2.4: Kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh

Bình Thuận từ năm 2014 đến năm 2016 Phụ lục

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay của đất nước ta thì chính sách, pháp luật được ban hành ngày càng nhiều, nội dung đa dạng, phức tạp, điều chỉnh nhiều loại hình quan hệ xã hội Điều này dẫn đến việc để đảm bảo quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và hoàn thiện hệ thống pháp luật, số lượng vật mang chính sách – các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) mới liên tục ra đời Bên cạnh đó, việc sửa đổi, bổ sung để các văn bản này ngày càng phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội đã đặt công tác tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) trước những yêu cầu và thách thức mới trong điều kiện hiện nay

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đánh giá: “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành và sửa đổi Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội”[9, tr 166-167] Tuy nhiên, theo Võ Khánh Vinh thì: “Nghiên cứu thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta thời gian qua, cũng như trong toàn bộ đời sống xã hội hiện nay cho thấy, hoạt động xây dựng pháp luật nước ta chưa có sự tiên định mang tính khoa học, các mục tiêu đặt ra chưa thật rõ ràng, thiếu việc đánh giá khách quan các kết quả đạt được” [36, tr.5]

Tại tỉnh Bình Thuận, trong những năm qua công tác PBGDPL nhìn chung đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm, đạt được nhiều kết quả quan trọng, hầu hết các văn bản QPPL được phổ biến bằng nhiều hình thức phong phú, phù hợp với từng đối tượng và địa bàn, từng bước đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của đông đảo cán bộ và nhân dân Từ đó, hiểu biết pháp luật và ý thức

Trang 9

chấp hành pháp luật của CBCC, viên chức và nhân dân từng bước được nâng lên Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách PBGDPL trên địa bàn tỉnh Bình Thuận vẫn còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế ở nhiều mặt như về nhận thức, về nhân lực, về kinh phí, về hình thức, nội dung, phương pháp thực hiện… Những khó khăn, hạn chế trong triển khai thực hiện chính sách này đang đặt các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp và đội ngũ những người làm công tác PBGDPL trước những boăn khoăn, trăn trở và mong muốn tìm ra nguyên nhân cũng như những giải

pháp hiệu quả, đồng bộ để thực hiện tốt hơn công tác này trong thời gian tới

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước nói chung và tại Bình Thuận nói riêng, yêu cầu tăng cường, phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI và phát huy dân chủ XHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đòi hỏi công tác PBGDPL phải thực sự có chuyển biến căn bản, toàn diện Chất lượng và hiệu quả thực hiện công tác PBGDPL chỉ được cải thiện

và tạo được sự chuyển biến khi công tác này được nhìn nhận và giải quyết một cách khoa học từ thực tiễn và mang tính hệ thống, qua đó góp phần ngày càng hoàn thiện

chính sách PBGDPL Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật từ thực tiễn tỉnh Bình Thuận” làm luận văn

thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Với vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tăng cường pháp chế XHCN, công tác PBGDPL luôn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu, tiếp cận công tác PBGDPL dưới góc độ Luật học như:

- Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai, Bàn về giáo dục pháp luật [10] Tài

liệu cung cấp các khái niệm cơ bản liên quan đến giáo dục pháp luật như các yếu tố cấu thành, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật

- Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp Luật

[34] tại mục V, chương IX trình bày về giáo dục pháp luật, qua đó mục đích của

Trang 10

giáo dục pháp luật là nhằm nâng cao nhận thức, khơi dậy niềm tin vào pháp luật và hình thành thói quen ứng xử theo pháp luật cho đối tượng được giáo dục

- Dương Thành Trung, Giáo dục pháp luật cho đồng bào Khme ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam [33] Luận án trình bày các vấn đề về lý luận giáo dục

pháp luật, kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế trong công tác giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khme Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù (đồng bào Khme) tại vùng đồng bằng sông Cửu Long

- Dương Thị Thu Hiền, Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thực trạng và giải pháp [12] Luận văn đánh giá

thực trạng thực hiện PBGDPL, đồng thời đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng hoạt động PBGDPL tại địa phương

- Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật (tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa,

bổ sung) [16] Tác giả đề xuất giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật, bồi dưỡng

kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ CBCC nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật ở nước ta hiện nay

- Nguyễn Thị Kim Ngân, Phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội [15] Luận văn nghiên cứu hoạt động PBGDPL ở cấp cơ sở là các

xã, phường, thị trấn trên địa bàn thủ đô Hà Nội, đáng chú ý là tác giả phân tích yêu cầu khách quan phải nâng cao chất lượng công tác PBGDPL tại cấp cơ sở

- Nguyễn Quốc Sửu, Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [22] Luận án trình bày khái niệm, vai trò và các đặc trưng của giáo dục pháp

luật cho đội ngũ CBCC hành chính Qua đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật, tác giả đưa ra các quan điểm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội ngũ CBCC hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của luận văn

Trang 11

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách công, luận văn tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách PBGDPL tại tỉnh

Bình Thuận, từ đó đề xuất các quan điểm, mục tiêu và các giải pháp tăng cường

thực hiện chính sách PBGDPL nói chung và tại tỉnh Bình Thuận nói riêng

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Thứ nhất, hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận, pháp lý về thực hiện chính

sách PBGDPL

Thứ hai, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách

PBGDPL tại tỉnh Bình Thuận nhằm tìm ra những kết quả đạt được, những mặt hạn chế, cũng như những kết luận về thực trạng thực hiện chính sách PBGDPL

Thứ ba, đề xuất một số quan điểm, kiến nghị các giải pháp cơ bản góp phần

tăng cường thực hiện chính sách PBGDPL

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách PBGDPL thực tiễn tại tỉnh Bình Thuận

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu việc tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL tại tỉnh Bình Thuận từ năm 2014 đến năm 2016 (Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 và đây là giai đoạn Luật này thật sự bắt đầu

đi vào cuộc sống)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về PBGDPL

Trang 12

Luận văn sử dụng các phương pháp tiếp cận liên ngành của khoa học chính sách công cũng như kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, phương pháp tổng hợp và phân tích, thống kê, hệ thống hóa, khái quát hóa và một số phương pháp phân tích văn bản học, nghiên cứu tài liệu của Đảng và Nhà nước có liên quan đến chính sách PBGDPL Phương pháp thu thập thông tin sẵn có liên quan đến đề tài nghiên cứu gồm các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, báo cáo và tài liệu của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương về PBGDPL Số liệu được sử dụng trong luận văn là số liệu thứ cấp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn vận dụng lý thuyết khoa học về thực hiện chính sách công, làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung và tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL nói riêng Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ, bổ sung thêm những tư liệu nghiên cứu, kết quả khảo sát thực tế tại tỉnh Bình Thuận, qua đó làm phong phú thêm luận cứ khoa học cho hệ thống lý luận, pháp lý về thực hiện chính sách PBGDPL

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn chỉ ra những mặt đạt được cũng như những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện chính sách PBGDPL Các giải pháp, đề xuất trong luận văn góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn hiện nay trong việc tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL tại tỉnh Bình Thuận, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành, tham mưu và triển khai thực hiện công tác PBGDPL Luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu về chính sách công nói chung và chính sách PBGDPL nói riêng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cơ cấu thành 3 chương, gồm:

Trang 13

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách PBGDPL

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách PBGDPL tại tỉnh Bình Thuận Chương 3: Tăng cường thực hiện chính sách PBGDPL

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 1.1 Khái quát về chính sách PBGDPL

PBGDPL là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật, là cầu nối chuyển tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Với vai trò, ý nghĩa quan trọng như vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước

ta luôn quan tâm, xác định PBGDPL là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam [1] và chính sách này đã đề cập trong rất nhiều văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Ngày 20 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật PBGDPL và có hiệu lực kể từ ngày

01 tháng 01 năm 2013 Luật PBGDPL ra đời là nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về hoạt động PBGDPL gắn với tạo cơ sở pháp lý mạnh, đồng bộ, thống nhất cho công tác PBGDPL, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này Luật xác định chính sách và quản lý của Nhà nước về PBGDPL, quy định quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nguyên tắc nội dung, hình thức PBGDPL, nhất là đối với một số đối tượng đặc thù và trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng phối hợp PBGDPL; tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện đảm bảo về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện và bảo đảm kinh phí cho công tác PBGDPL

1.1.1 Khái niệm chính sách PBGDPL

Trước khi làm rõ khái niệm chính sách PBGDPL, đề tài cần làm rõ các khái niệm trung gian như: chính sách, chính sách công, phổ biến, giáo dục pháp luật và thực hiện chính sách PBGDPL

Trang 15

1.1.1.1 Khái niệm về chính sách

Theo James Anderson (2003): “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề mà họ quan tâm”

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể

để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,

mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [8]

Như vậy, có thể hiểu chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hoặc quản lý đề ra để giải quyết một hoặc một số vấn đề nào đó thuộc thẩm quyền Tác giả đồng tình với khái niệm về chính sách của Vũ Cao Đàm

1.1.1.2 Khái niệm chính sách công

Khái niệm chính sách công là một trong những đối tượng nghiên cứu của khoa học chính sách công Tuy nhiên, do bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm của thể chế chính trị và hình thái nhà nước khác nhau nên cho đến nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công Có thể nêu ra một số quan niệm sau: Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971)

Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978)

Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas

R Dye, 1984)

Trang 16

Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter, 1990) Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992)

Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran and Eloise F Malone, 1995)

Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999)

Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E Cochran, et

al, 1999)

Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004)

Ở Việt Nam những năm gần đây, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng với nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về chính sách công ở nước ta vẫn còn khá khiêm tốn; nhiều vấn đề liên quan đến chính sách công cần phải tiếp tục được làm rõ cả về lý luận và thực tiễn Có thể nêu ra một số quan niệm sau:

Theo Võ Khánh Vinh: “Chính sách công là những đường hướng ứng xử cơ bản của Nhà nước với những vấn đề chính sách phát sinh trong đời sống cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý xã hội”[36]

Trang 17

Theo Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị

có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”[36]

Theo Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) cho rằng: “Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi” và “chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết các vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau” Đồng thời, Lê Chi Mai còn đưa ra khái niệm “chính sách tư” là các chính sách do các cơ quan, tổ

chức ban hành nhằm giải quyết những vấn đề nội bộ cơ quan, tổ chức và không có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan, tổ chức

Từ các quan niệm trên, chính sách công được Đặng Ngọc Lợi nhìn nhận trong bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số tháng 01 năm 2002) như sau: Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch

vụ công cộng cho nền kinh tế Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để: Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị,

xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước Như vậy, bản

Trang 18

chất của chính sách công là công cụ để Nhà nước thực hiện các hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát triển

“làm cho mọi người đều biết đến” Như vậy, phổ biến pháp luật có đối tượng tác

động rộng rãi, nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế

Giáo dục pháp luật: Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã khá thống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật như sau: “là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành”

Như vậy, có thể hiểu PBGDPL theo nghĩa rộng: “là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện PBGDPL (xây dựng chương trình, kế hoạch; triển khai chương trình, kế hoạch thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch) Hiểu theo nghĩa hẹp là: “truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành”[13]

1.1.1.4 Khái niệm chính sách PBGDPL

Từ những khái niệm trung gian trên, chính sách PBGDPL có thể được hiểu:

“là chính sách công, tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn

đề về PBGDPL theo các mục tiêu đã xác định” Chính sách gồm nhiều bộ phận cấu

Trang 19

thành như: chính sách đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL; chính sách nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác PBDGPL; chính sách xã hội hóa công tác PBGDPL; chính sách PBGDPL cho một số đối tượng đặc thù và chính sách hỗ trợ đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện PBGDPL

Lịch sử hình thành chính sách PBGDPL:

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dân là chủ và dân làm chủ Cán

bộ là đầy tớ của nhân dân, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, toàn thể cán bộ và nhân dân sống, học tập và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” Ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức rõ tầm

quan trọng của pháp luật đối với quản lý nhà nước và xã hội, được Người khái quát một cách độc đáo, bình dị nhưng không kém phần thiêng liêng, tôn quý trong bài

“Việt Nam yêu cầu ca”: “ Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền ” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Việc công bố đạo luật chưa phải đã xong mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài đến mọi người dân thì mới thực hiện tốt được”

Qua các thời kỳ, công tác PBGDPL luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm nhưng do nhiều nguyên nhân và bối cảnh lịch sử, văn bản QPPL về PBGDPL còn tản mác, chưa đồng bộ, chưa có tính hệ thống, hiệu lực pháp lý chưa cao, chủ yếu mới chỉ dừng ở các văn bản dùng để chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc thực hiện PBGDPL, chưa có hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng nên việc triển khai PBGDPL gặp nhiều khó khăn, nhất là thiếu cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp, huy động nguồn lực có hiệu quả giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp

và tư pháp cũng như các tổ chức chính trị - xã hội trong PBGDPL, chưa có cơ chế pháp lý để thực hiện xã hội hóa hiệu quả công tác này theo quan điểm, chủ trương của Đảng

Cùng với quá trình phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, thể chế chính sách và pháp luật về công tác này như Chỉ thị số

02/1998/CT-TTg “về việc tăng cường công tác PBGDPL trong giai đoạn hiện

Trang 20

nay” và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg, ngày 07 tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ “về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác PBGDPL từ năm

1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL” Tiếp đó,

ngày 17 tháng 01 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2003- 2007 Để tiếp tục đưa công tác PBGDPL lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09 tháng 12 năm

2003 “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” (Chỉ thị số 32-CT/TW) Chỉ thị

thể hiện sự đổi mới về nhận thức của Đảng ta đối với công tác PBGDPL và yêu

cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, các ngành phải “xác định rõ PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và công tác PBGDPL cần được tăng cường thường xuyên, liên tục” [1]

Để triển khai thực hiện Chỉ thị này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP, ngày 07 tháng 12 năm 2007 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW; Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia PBGDPL và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm

2005 đến năm 2010 Đến ngày 12 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm

2008 đến năm 2012, trong đó có 04 đề án về PBGDPL tạo nguồn lực quan trọng cho công tác này Tiếp đó, ngày 26 tháng 11 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2160/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án tăng cường công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 – 2015 Sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI ban hành Kết luận số 04-KL/TW, ngày

19 tháng 4 năm 2011 (Kết luận 04-KL/TW) về kết quả thực hiện Chỉ thị số CT/TW, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 409/QĐ-TTg, ngày 09 tháng 4 năm

Trang 21

32-2012, ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW của Ban

Bí thư Trung ương Đảng khóa XI, trong đó có nhiều đề án về PBGDPL Nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về hoạt động PBGDPL gắn với tạo cơ sở pháp lý mạnh, đồng bộ, thống nhất cho công tác PBGDPL, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, ngày 20 tháng 6 năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật PBGDPL và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 Bên cạnh đó, các

Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ, phân cấp quản lý và tình hình cụ thể đã ban hành nhiều văn bản QPPL về công tác này và chủ động xây dựng các kế hoạch thực hiện PBGDPL hàng năm, dài hạn và

kế hoạch triển khai ở từng thời gian cụ thể, từng đợt cao điểm kết hợp ban hành và

tổ chức triển khai nhiều đề án về PBGDPL để triển khai phổ biến các văn bản QPPL của Trung ương, của HĐND, UBND địa phương phù hợp với nhu cầu từng đối tượng, địa bàn

Đây là những văn bản có ý nghĩa quan trọng, khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh thực hiện chính sách PBGDPL, làm chuyển biến nhận thức, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần tăng cường pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật trong thời kỳ đổi mới

Quy trình thực hiện hoạt động PBGDPL:

Một chính sách sau khi được thể chế hóa thành luật, sẽ chuyển đến các cơ quan hành pháp để huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực triển khai thực hiện Đây là một giai đoạn quan trọng mà chính sách công được đưa vào thực tiễn, thực

sự tác động đến đời sống xã hội nhằm đạt được các mục tiêu nhà nước đã đề ra

Chính sách PBGDPL sau khi được thể chế hóa thành Luật PBGDPL, được chuyển đến các cơ quan hành pháp từ Trung ương đến địa phương (Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ban, ngành Trung ương có liên quan; HĐND, UBND, các sở, phòng, ban các cấp) huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực triển khai thực hiện Theo

đó, quy trình thực hiện chính sách PBGDPL gồm những khâu sau: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; phổ biến, tuyên truyền chính sách; phân công phối hợp

Trang 22

thực hiện chính sách; duy trì chính sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách và cuối cùng là đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách

1.1.2 Vấn đề của chính sách PBGDPL

Theo Đỗ Phú Hải thì: “Việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn đề, đó là cảm nhận về các trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế, xã hội, tăng trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chính sách” [11]

Trước yêu cầu ngày càng cao và phức tạp của quản lý nhà nước và phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã đặt hoạt động thực thi chính sách công nói chung và thực thi chính sách PBGDPL nói riêng trước nhiều vấn đề

cần phải được giải quyết Vấn đề của chính sách PBGDPL trong tổ chức thực thi

chính sách PBGDPL là còn bộc lộ những hạn chế, bất cập chủ yếu về tính kịp thời, đồng bộ, nhất quán trong tổ chức thực hiện Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục, vận động nhằm định hướng dư luận trong quá trình thực hiện chính sách chậm được đổi mới về hình thức, phương pháp, nội dung; còn nhiều biểu hiện hình thức, hiệu quả không đạt như mong muốn Công tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra chưa kịp thời, thường xuyên và thiếu thực chất Công tác tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm cho hoạch định và thực thi chính sách chưa được coi trọng, chưa làm thường xuyên, kịp thời Trong một thời gian dài, hoạt động này chưa thật sự được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quan tâm, coi trọng do sự bất cập trong tư duy làm chính sách Bên cạnh đó, việc huy động nguồn lực cho công tác PBGDPL chưa được tiến hành một cách đồng bộ và rộng khắp Tổ chức, nhân lực làm công tác PBGDPL còn hạn chế Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện dành cho công tác này còn rất hạn hẹp, nhất là ở cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa

1.1.3 Mục tiêu của chính sách PBGDPL

Mục tiêu của chính sách PBGDPL là bảo đảm sự công khai, minh bạch của các chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và

Trang 23

doanh nghiệp đều có quyền và được tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận thông tin về pháp luật, qua đó nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, hạn chế những hành vi

vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đây chính là sự cụ thể hóa quan

điểm của Đảng: “Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của người dân trong hoàn thiện

và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế xã hội Bảo đảm quyền con người, quyền công dân” và “Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân” [9, tr.270]

1.1.4 Các nhóm giải pháp chính sách PBGDPL

Giải pháp về tổ chức và cán bộ làm công tác PBGDPL: Căn cứ nhu cầu công

tác PBGDPL, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập tổ chức làm công tác PBGDPL trực thuộc Vụ Pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ Ngoài việc thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 38 Luật PBGDPL, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp có trách nhiệm bố trí đủ công chức làm công tác PBGDPL cho các đối tượng đặc thù thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý; chỉ đạo các trường, cơ sở dạy nghề thuộc phạm vi quản lý bố trí đủ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật [6]

Giải pháp bảo đảm kinh phí PBGDPL: Kinh phí PBGDPL của các cơ quan,

tổ chức thụ hưởng ngân sách và Hội đồng phối hợp PBGDPL do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định tại Khoản 1, Điều 39 Luật PBGDPL Việc lập dự toán kinh phí được thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 39 Luật PBGDPL Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác PBGDPL; quy định cụ thể về chế độ của BCV, TTV pháp luật, người được mời tham gia PBGDPL và người làm công tác PBGDPL cho các đối tượng đặc thù phù hợp với từng thời kỳ

Trang 24

1.1.5 Chủ thể chính sách PBGDPL

Chủ thể của chính sách PBGDPL ở Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoạch định và thực thi chính sách này

Cơ quan quản lý nhà nước về PBGDPL bao gồm:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về PBGDPL Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL; chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn về PBGDPL; chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật Bộ, cơ quan ngang

bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ

Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước PBGDPL, UBND các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL tại địa phương (Khoản 2, Điều 6, Luật PBGDPL)

Hội đồng phối hợp PBGDPL: được thành lập ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, UBND cấp tỉnh, cấp huyện về công tác PBGDPL và huy động nguồn lực cho công tác PBGDPL Cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL của Chính phủ là Bộ Tư pháp, của UBND cấp tỉnh là Sở Tư pháp, của UBND cấp huyện là Phòng Tư pháp (Khoản 1, 2, Điều 7, Luật PBGDPL)

Bảng 1.1 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về PBGDPL

Trung ương Chính phủ

Thống nhất quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật

Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban

Trang 25

Bộ Tư pháp hành chương trình, kế hoạch dài hạn,

trung hạn về phổ biến, giáo dục pháp luật; chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

Các bộ, cơ quan ngang bộ

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với

Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật

Địa phương Ủy ban nhân dân

UBND các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương

Nguồn: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13, ngày 20/6/2012

Các cá nhân có trách nhiệm về công tác PBGDPL bao gồm:

Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp thực hiện PBGDPL cho nhân dân thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri; giám sát việc thực hiện pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình (Điều 33, Luật PBGDPL)

CBCC, viên chức và cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân phải tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; tham gia các khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật; gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật Chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc PBGDPL thông qua các hoạt động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ Hỗ trợ, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác PBGDPL liên quan đến lĩnh vực công tác (Điều 34, Luật PBGDPL)

Báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận để kiêm nhiệm thực hiện hoạt động PBGDPL (Điều 35, Luật PBGDPL)

Tuyên truyền viên pháp luật và những người được mời tham gia PBGDPL ở

cơ sở là những người có uy tín, kiến thức, am hiểu về pháp luật được xem xét để

Trang 26

công nhận là TTV pháp luật ở xã, phường, thị trấn hoặc được mời tham gia PBGDPL ở cơ sở (Điều 37, Luật PBGDPL)

1.1.6 Thể chế chính sách PBGDPL

Để công tác PBGDPL đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, ngày 09 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW Chỉ thị này đã khẳng định PBGDPL là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các cơ quan Đảng, chính quyền, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, đồng thời xác định công tác PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và qua đó thể hiện sự đổi mới về nhận thức của Đảng ta đối với công tác PBGDPL

Để triển khai thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, Chính phủ ban hành Quyết

định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 phê duyệt “Chương trình hành động quốc gia PBGDPL và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010” và Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP, ngày 07 tháng 12 năm 2007, “về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW” Tiếp đó, ngày 12 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình PBGDPL từ năm 2008 đến năm 2012”, trong đó có 04 đề án về PBGDPL tạo nguồn lực quan trọng cho

công tác này Ngày 26 tháng 11 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết

định số 2160/QĐ-TTg, phê duyệt “Đề án tăng cường công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 – 2015” Đến ngày

19 tháng 4 năm 2011, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số

04-KL/TW “về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư (Khóa IX) về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016 Để triển khai thực hiện

Kết luận này, ngày 09 tháng 4 năm 2012, Thủ tướng có Quyết định số 409/QĐ-TTg,

ban hành “Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW”, trong đó có

nhiều đề án về PBGDPL

Trang 27

Nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về hoạt động PBGDPL gắn với tạo cơ sở pháp lý mạnh, đồng bộ, thống nhất cho công tác PBGDPL, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, ngày 20 tháng 6 năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật PBGDPL và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm

2013 Sau khi Luật PBGDPL ra đời, Chính phủ, các Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương đã ban hành các nghị định, liên tịch ban hành một số thông tư, thông tư liên tịch tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL

và các địa phương đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch PBGDPL

Nhìn chung, các văn bản được ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác PBGDPL ngày càng thường xuyên và kịp thời hơn, đã chú trọng bám sát mục tiêu, yêu cầu, mục đích phổ biến, tuyên truyền pháp luật của các chương trình

và gắn công tác PBGDPL với nhiệm vụ chính trị cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương, đặc điểm của đối tượng và đặc thù của địa bàn Đặc biệt, từ khi có Chỉ thị

số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng thì nhiều cấp uỷ đảng đã ban hành chỉ thị, thông tri hoặc đưa nội dung PBGDPL vào Nghị quyết của Đảng để lãnh đạo,

chỉ đạo thực hiện công tác PBGDPL

1.1.7 Yếu tố tác động đến chính sách PBGDPL

1.1.7.1 Yếu tố khách quan

Thứ nhất, Môi trường thực hiện chính sách có thể được hiểu là toàn bộ các

yếu tố vật chất và phi vật chất tham gia vào quá trình thực hiện chính sách Nếu sự vận động của các yếu tố này phù hợp với năng lực, trình độ tổ chức điều hành của chủ thể thực hiện chính sách, phù hợp với các cơ chế chính sách đang tồn tại sẽ có tác động tích cực đến quá trình thực hiện chính sách và ngược lại Môi trường thực hiện chính sách PBGDPL là tổng hợp các yếu tố về điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, tình hình an ninh trật tự tác động đến quá trình thực hiện chính sách PBGDPL Các hoạt động này mang tính quy luật trong điều kiện cụ thể và độc lập với quá trình thực hiện chính sách PBGDPL

Thứ hai, Mối quan hệ giữa các chủ thể có liên quan trong tổ chức thực hiện

chính sách về cơ bản là sự phân công, phối hợp và thống nhất về mặt nhận thức

Trang 28

trong tổ chức thực hiện chính sách Mối quan hệ giữa các chủ thể có liên quan trong thực hiện chính sách PBGDPL, giữa cơ quan nhà nước cấp trên và cấp dưới với nhau và với đối tượng thụ hưởng chính sách dựa trên sự chỉ đạo, điều hành, phân công, phân nhiệm, phân phối nguồn lực hợp lý và việc chấp hành để đảm không xảy ra xung đột, nhất là về mặt lợi ích Việc thực hiện chính sách một cách công bằng, khách quan sẽ tạo nền tảng để xây dựng mối quan hệ giữa các chủ thể và đối tượng liên quan trong tổ chức và thực hiện chính sách, đảm bảo chính sách được thực hiện và vận hành nhịp nhàng, qua đó góp phần đạt được mục tiêu chính sách

Thứ ba, Tiềm lực là những khả năng đối tượng của chính sách có thể có như

trình độ, nhận thức, điều kiện kinh tế Mỗi nhóm đối tượng cũng có những đặc tính khác nhau Vì vậy, việc phân tích tiềm lực, đặc tính của các nhóm đối tượng chính sách là rất cần thiết, giúp lập kế hoạch, huy động nguồn lực, công tác tuyên truyền

sẽ sát hơn với yêu cầu thực tế

1.1.7.2 Yếu tố chủ quan

Thứ nhất, Việc thực hiện đúng, đầy đủ các khâu trong tổ chức thực hiện

chính sách Quy trình tổ chức thực hiện chính sách gồm bảy bước, mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, vai trò quan trọng và là bộ phận cấu thành không thể thiếu để tạo ra một chỉnh thể trong thực hiện chính sách Mỗi bước đều có đặc trưng riêng, mang tính độc lập nhất định trong mối quan hệ hữu cơ và có mối quan hệ nhân quả giữa bước trước với bước sau, tạo nên quy trình thực hiện chính sách Thực hiện tốt bước này sẽ tạo tiền đề, thuận lợi trong thực hiện các bước kế tiếp

Thứ hai, Năng lực thực hiện chính sách PBGDPL của các chủ thể Đây là

yếu tố mang tính quyết định việc đạt hay không đạt được mục tiêu chính sách Một chính sách tốt nhưng năng lực của chủ thể thực hiện chính sách không đáp ứng yêu cầu để triển khai chính sách trong thực tế thì chính sách cũng không thể phát huy hiệu quả cũng như không đạt mục tiêu chính sách Bên cạnh đó, kể cả khi các khâu trong quy trình thực hiện chính sách có thiếu sót nhưng nếu năng lực của các chủ thể tốt vẫn có thể sáng tạo, linh hoạt khắc phục và kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách

Trang 29

Thứ ba, Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách PBGDPL

Điều kiện vật chất có thể là các nguồn lực tài chính, các trang thiết bị, phương tiện,

cơ sở vật chất kèm theo cho quá trình thực hiện chính sách PBGDPL Điều kiện vật chất giữ vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách Nếu các điều kiện về vật chất kỹ thuật được đảm bảo thì quá trình thực hiện chính sách PBGDPL đã thuận lợi ngay từ khâu xây dựng kế hoạch thực hiện đến các khâu khác như tuyên truyền, phân công, phối hợp, duy trì, điều chỉnh cho đến tổng kết, đánh giá chính sách PBGDPL

1.2 Khái niệm, vị trí, vai trò của việc thực hiện chính sách PBGDPL

1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách PBGDPL

Thực hiện Chính sách PBGDPL có thể được hiểu: “tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một hệ thống hoàn chỉnh nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”

1.2.2 Vị trí, vai trò của việc thực hiện chính sách PBGDPL

Công tác PBGDPL có vị trí và vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội Qua PBGDPL, các đối tượng hình thành lòng tin vào pháp luật, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng và góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội

1.3 Nội dung thực hiện PBGDPL

Nội dung PBGDPL bao gồm: Quy định của Hiến pháp và văn bản QPPL, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và

Trang 30

gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y

tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, CBCC, các văn bản QPPL mới được ban hành Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật (Điều 10, Luật PBGDPL)

1.4 Quy trình thực hiện chính sách PBGDPL

Thực thi chính sách đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chu trình chính sách công Nếu hoạch định chính sách công đã làm tốt rồi thì việc tiếp theo là phải làm tốt giai đoạn thực thi chính sách mới góp phần làm cho chính sách đạt kết quả Điều này không chỉ làm gia tăng uy tín cho chủ thể hoạch định và ban hành chính sách, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn góp phần đạt được mục tiêu chính sách Để làm tốt thực thi chính sách PBGDPL đòi hỏi phải tuân thủ các bước sau đây:

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai/thực hiện chính sách

Tổ chức thực thi chính sách công nói chung và tổ chức thực thi chính sách công nới chung và chính sách PBGDPL là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế mọi công việc cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động Kế hoạch triển khai thực thi chính sách PBGDPL được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống

Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau:

Kế hoạch tổ chức, điều hành gồm những dự kiến về hệ thống tất cả các chủ

thể, cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện; số lượng và chất lượng nguồn nhân lực để tham gia thực thi; những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản

Trang 31

lý và công chức thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách PBGDPL

Kế hoạch dự kiến các nguồn lực gồm dự kiến về các cơ sở vật chất, máy móc,

xe cộ, phương tiện, tài liệu, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật; các nguồn lực tài

chính, các vật tư, văn phòng phẩm v.v… phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách

PBGDPL

Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện gồm dự kiến về thời gian duy trì

chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian

dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu Có thể dự kiến mỗi bước cho phù hợp với một

chương trình cụ thể của chính sách PBGDPL

Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách công gồm những dự kiến về

tiến độ, hình thức, phương thức kiểm tra giám sát tổ chức thực thi chính sách; dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành hệ thống tham gia thực thi chính sách; dự kiến về trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của CBCC và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; dự kiến về các biện pháp khen thưởng,

kỷ luật cá nhân, tập thể trong thực thi chính sách; dự kiến kế hoạch thực thi ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem thông qua Sau khi được thông qua, kế hoạch thực thi chính sách mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Sau khi kế hoạch thực thi được thông qua, các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là truyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách

Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và tính khả thi

Trang 32

của chính sách Đồng thời còn giúp cho mỗi CBCC có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao

1.4.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách

Công đoạn kế tiếp là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL theo kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Chính sách PBGDPL được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn, số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước, CBCC, các đối tượng tác động của chính sách Bên cạnh đó, nhiều hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách PBGDPL diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian Chúng đan xen nhau, thúc đẩy và có quan hệ nhân quả với nhau

Vì vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách PBGDPL có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách

1.4.4 Duy trì chính sách

Duy trì chính sách PBGDPL là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội Các chính sách của Chính phủ đã bước đầu phát huy hiệu quả song vẫn chưa tạo được chuyển biến rõ rệt, do thiếu quyết liệt hoặc được ban hành chậm so với yêu cầu Chính sách PBGDPL có đặc điểm, chủ thể, đối tượng và mục tiêu gắn liền với sự vận động và phát triển của đất nước, do đó sẽ được duy trì trong một thời gian lâu dài gắn liền vai trò của Nhà nước đối với xã hội và công dân

Đối với cơ quan nhà nước với vai trò là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL phải thường xuyên tuyên truyền, vận động cả hệ thống chính trị và các giai tầng trong xã hội tham gia thực hiện chính sách, kịp thời nắm bắt những biến

Trang 33

động của môi trường thực hiện chính sách để kịp thời thay đổi, bổ sung các biện pháp, công cụ thậm chí điều chỉnh chính sách nếu cần thiết Đối với đối tượng của chính sách cần có trách nhiệm, tự giác thực hiện và tuân thủ các yêu cầu, quy định của Nhà nước nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách PBGDPL

1.4.5 Điều chỉnh chính sách

Điều chỉnh chính sách PBGDPL được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương để chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước, việc phân bổ các nguồn lực và tình hình thực tế Việc điều chỉnh chính sách phải đảm bảo nguyên tắc không làm thay đổi mục tiêu chính sách Việc điều chỉnh này chủ yếu là điều chỉnh các biện pháp, cơ chế triển khai thực hiện chính sách PBGDPL

Trong trường hợp cần bổ sung, hoàn thiện chính sách theo tình hình thực tế thì cơ quan cấp dưới có thể chủ động đề xuất với cơ quan cấp trên có thẩm quyền thực hiện Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải được thực hiện kịp thời, chính xác, hợp lý và đúng phân cấp quản lý, phân nhiệm thực hiện nếu không sẽ dẫn đến tình trạng biến dạng, sai lệch và chệch mục tiêu chính sách hoặc làm cho chính sách kém hiệu quả và các hệ lụy khác Để hoạt động điều chỉnh chính sách đáp ứng yêu cầu, chủ thể chính sách PBGDPL phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm mới kịp thời phát hiện những vấn đề cần bổ sung, điều chỉnh

1.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Thực hiện chính sách PBGDPL diễn ra trên một phạm vi không gian rộng với các đặc điểm về tự nhiên và xã hội khác nhau trong một thời gian dài với nhiều chủ thể tham gia có năng lực thực hiện khác nhau và các đối tượng khác nhau Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền triển khai thực hiện chính sách phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách một cách chặt chẽ Từ đó kịp thời có biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong triển khai thực hiện chính sách và nhắc nhở các chủ thể tham gia thực hiện chính sách tuân thủ các nguyên tắc và thứ tự ưu

Trang 34

tiên trong triển khai thực hiện Qua theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách sẽ giúp chủ thể quản lý nắm chắc tình hình thực hiện chính sách, có cách nhìn khách quan, toàn diện những mặt đạt được cũng như những hạn chế, khó khăn trong thực hiện chính sách Đồng thời, giúp các chủ thể thực hiện chính sách nhận thức đúng và nâng cao năng lực thực hiện chính sách

Như vậy, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách là hoạt động hết sức cần thiết của cơ quan có thẩm quyền triển khai thực hiện chính sách và chủ thể quản lý nhằm kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách và chấn chỉnh việc triển khai thực hiện chính sách Qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong triển khai thực hiện chính sách cũng như đạt được mục tiêu chính sách

1.4.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm

Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách PBGDPL được hiểu là việc xem xét, kết luận về công tác chỉ đạo, điều hành của chủ thể có thẩm quyền thực hiện chính sách, chủ thể quản lý và việc chấp hành của các đối tượng thực hiện chính sách Việc đánh giá có thể được thực hiện từng phần hoặc toàn bộ các khâu trong thực hiện chính sách PBGDPL theo từng năm hoặc từng giai đoạn cụ thể

Việc đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành của chủ thể có thẩm quyền thực hiện chính sách, chủ thể quản lý là đánh giá các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong tham gia thực hiện chính sách PBGDPL Cơ sở đánh giá là việc ban hành các văn bản QPPL phục vụ chỉ đạo, quản lý, phối hợp, phân công,

phân nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện chính sách như các kế hoạch,

quyết định, quy chế, quy định Bên cạnh đó, đánh giá việc thực hiện chính sách đối với các đối tượng thụ hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp cũng có ý nghĩa rất quan trọng

Cơ sở để đánh giá là tinh thần hưởng ứng chính sách, ý thức chấp hành các quy định, cơ chế, biện pháp thực hiện chính sách PBGDPL

1.5 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách PBGDPL

Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách nói chung, chính sách PBGDPL nói riêng luôn phải chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan làm ảnh hưởng đến tiến độ, nguồn lực và thời gian đạt được mục tiêu chính sách đã

Trang 35

đề ra Việc nghiên cứu và tìm hiểu các yếu tố này ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách sẽ giúp các cơ quan nhà nước nắm và dự báo trước các yếu tố tác động trong triển khai thực hiện chính sách PBGDPL, chủ thể thực hiện chính sách

sẽ có các phương án, biện pháp chủ động để ngăn chặn những tác động tiêu cực cũng như tạo lập môi trường thuận lợi để triển khai thực hiện chính sách

1.5.1 Yếu tố khách quan

Thứ nhất, Môi trường thực hiện chính sách PBGDPL là tổng hợp các yếu tố

về điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, tình hình an ninh trật tự tác động đến quá trình thực hiện chính sách PBGDPL Các hoạt động này mang tính quy luật trong điều kiện cụ thể và độc lập với quá trình thực hiện chính sách PBGDPL

Thứ hai, Mối quan hệ giữa các chủ thể có liên quan trong tổ chức thực hiện

chính sách về cơ bản là sự phân công, phối hợp và thống nhất về mặt nhận thức

trong tổ chức thực hiện chính sách Mối quan hệ giữa các chủ thể có liên quan trong thực hiện chính sách PBGDPL, giữa cơ quan nhà nước cấp trên và cấp dưới với nhau và với đối tượng thụ hưởng chính sách dựa trên sự chỉ đạo, điều hành, phân công, phân nhiệm, phân phối nguồn lực hợp lý và việc chấp hành các quy định, nội quy, quy chế

Thứ ba, Tiềm lực, đặc tính của các nhóm đối tượng chính sách Mỗi nhóm

đối tượng cũng có những tiềm lực, đặc tính khác nhau Vì vậy, việc phân tích tiềm lực, đặc tính của các nhóm đối tượng chính sách là rất cần thiết, giúp lập kế hoạch, huy động nguồn lực, công tác tuyên truyền sẽ sát hơn với yêu cầu thực tế

1.5.2 Yếu tố chủ quan

Thứ nhất, Việc tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ các khâu trong tổ chức

thực hiện chính sách Quy trình tổ chức thực hiện chính sách gồm bảy bước, mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, vai trò quan trọng và là bộ phận cấu thành không thể thiếu để tạo ra một chỉnh thể trong thực hiện chính sách PBGDPL

Trang 36

Thứ hai, Năng lực thực hiện chính sách PBGDPL của các chủ thể Đây là

yếu tố mang tính quyết định việc đạt hay không đạt được kết quả tổ chức thực hiện nói riêng và đạt mục tiêu chính sách nói chung

Thứ ba, Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách PBGDPL

Điều kiện vật chất có thể là các nguồn lực tài chính, các trang thiết bị, phương tiện,

cơ sở vật chất kèm theo cho quá trình thực hiện chính sách PBGDPL

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN,

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TẠI TỈNH BÌNH THUẬN 2.1 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách PBGDPL

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với đường bờ biển dài 192 km Ngoài khơi có huyện đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết 120 km Trung tâm tỉnh cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách thành phố Nha Trang 250 km, có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước, quốc lộ 28 nối liền thành phố Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên, quốc lộ 55 nối với trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu Ngoài ra, các tuyến đường đến các trung tâm huyện, xã, vùng núi và các vùng kinh

tế quan trọng khác cũng đang được chính quyền địa phương huy động các nguồn vốn để đầu tư nâng cấp, mở rộng và kéo dài thêm đảm bảo cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân Với vị trí địa lý thuận lợi, bên cạnh mối quan hệ kinh tế truyền thống với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Thuận sẽ có điều kiện mở rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên

và cả nước

Hình 2.1: Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh Bình Thuận

Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Thuận

Trang 38

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận có 01 thành phố, 01 thị xã và 08 huyện với tổng số 127 xã, phường, thị trấn (gồm 19 phường, 12 thị trấn và 96 xã); diện tích 7,813 km2 (trong

đó, tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm đến 86.71%); dân số hơn 1,2 triệu người, với 35 dân tộc anh em cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 7% tổng dân

số toàn tỉnh

Trong những năm gần đây, Bình Thuận đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, từ đó đã giúp Bình Thuận phát triển tương đối ổn định, tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) tăng trưởng bình quân 9% năm (tính từ 2010 đến 2015) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tỷ trọng các khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng qua các năm; các chính sách giảm tỷ lệ hộ nghèo được quan tâm thực hiện tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 đã giảm còn 1.6% so với năm

2010 tỷ lệ hộ nghèo là 3.9% Với những kết quả đạt được về phát triển kinh tế - xã hội trong những năm gần đây, đời sống kinh tế của người dân được cải thiện qua từng năm Theo báo cáo của UBND tỉnh Bình Thuận về tình hình phát triển kinh tế

- xã hội 5 năm 2011 – 2015 thì thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 1,676 USD (tăng 1.72 lần so với năm 2010 là 970 USD) Kết quả này còn khá thấp so với chỉ tiêu đề ra đến năm 2015 là 2,220 USD và cũng thấp hơn so với thu nhập bình quân của cả nước (theo Tổng Cục Thống kê thì thu nhập bình quân đầu người năm

2015 của Việt Nam là 2,109 USD) Kinh tế - xã hội miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục chuyển biến khá toàn diện; hiệu quả sản xuất ngày càng nâng lên Hạ tầng điện, đường, trường, trạm, các thiết chế văn hóa được đầu tư khá căn bản; công tác giáo dục, các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao tiếp tục được đẩy mạnh Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có cải thiện; bình quân mỗi năm giảm 753 hộ nghèo, tương ứng với 2.68%, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 22.95% (năm 2011) xuống còn 9.55% (năm 2015) Tuy nhiên, nhìn chung đời sống một bộ phận gia đình chính sách và nhân dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số, vùng bãi ngang ven biển; lao động thiếu việc làm và việc làm không ổn định còn nhiều; giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo ở một số

Trang 39

địa bàn còn cao Kinh tế biển được phát huy ngày càng tốt hơn, cả về du lịch và thủy sản Riêng đảo Phú Quý đã đầu tư nhà máy điện gió, đang tiếp tục triển khai đầu tư kè chống xâm thực, hệ thống giao thông Các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ ngư dân được thực hiện khá tốt Hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, các trục đường chính cơ bản được nhựa hóa, hệ thống cung cấp điện, nước và thoát nước được đầu tư nâng cấp Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; một số danh mục, công trình trọng điểm thực hiện còn chậm Kinh tế nông nghiệp phát triển, các công trình thủy lợi được quan tâm đầu tư, nâng cấp, các loại cây trồng có lợi thế như thanh long, cao su tiếp tục phát triển, hình thành các vùng chuyên canh; đặc biệt cây thanh long phát triển nhanh Giá trị gia tăng của ngành kinh tế thủy sản tăng bình quân 7,2%/năm, cơ cấu thuyền nghề chuyển mạnh theo hướng tăng tàu thuyền có công suất lớn, đánh bắt xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần trên biển Đến năm 2016, toàn tỉnh hiện có 7.477 chiếc tàu thuyền, với tổng công suất 842 ngàn CV, bình quân 112.66 CV/chiếc (năm 2010: 74.6 CV/chiếc); trong đó, tàu có công suất từ 90 CV trở lên

có 2.305 chiếc (năm 2010: 1,705 chiếc) Sản lượng hải sản khai thác tăng qua từng năm, nuôi trồng thủy sản cả nước mặn, ngọt và nước lợ phát triển ổn định Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai tích cực, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn; đến cuối 2015 có 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 26.04% tổng số

xã của tỉnh Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện khá tốt, đẩy mạnh chương trình giảm nghèo bằng nhiều giải pháp thiết thực, thực hiện khá tốt chính sách bảo trợ xã hội, bảo hiểm y tế cho người nghèo Trong 5 năm (2011-2015) giảm 18.713

hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm 3.742 hộ, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 9.09% đầu năm

2011, giảm còn 1.6% cuối năm 2015; giảm bình quân 1.5%/năm (chỉ tiêu đề ra là 1.5-1.7%/năm) Hoạt động du lịch tiếp tục tăng trưởng, số lượng du khách tăng bình quân 10.29%/năm, doanh thu du lịch tăng bình quân 24.65%/năm Đến năm 2015, toàn tỉnh có 436 dự án du lịch được chấp thuận đầu tư còn hiệu lực, với vốn đăng ký đầu tư 63.738 tỷ đồng; đã có 145 dự án đi vào hoạt động, trong đó có 32 dự án đầu

tư nước ngoài Có 172 cơ sở lưu trú được xếp hạng sao (3 cơ sở 5 sao, 25 cơ sở 4

Trang 40

sao, 11 cơ sở 3 sao) Tuy nhiên, tiềm năng du lịch vẫn còn chưa được khai thác hiệu quả, sản phẩm du lịch chưa phong phú, chất lượng dịch vụ còn thấp; công tác quảng

bá, xúc tiến du lịch chưa mạnh Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng dần chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được quan tâm; lao động đang làm việc tại các ngành, lĩnh vực được đào tạo và đào tạo lại tăng dần qua các năm Tỷ lệ lao động qua đào tạo bằng các hình thức từ 28% (năm 2010) tăng lên 55% (năm 2015), góp phần nâng chất lượng nguồn nhân lực Đến cuối năm 2015, toàn tỉnh hiện có 22 cơ sở dạy nghề; trong 5 năm (2011-2015) đã đào tạo nghề cho 69.588 người (bình quân 13.918 người/năm), trong đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn 52.894 người (bình quân 11.192 người/năm) Giải quyết việc làm 5 năm (2011-2015) là 120.000 lao động, bình quân hàng năm giải quyết việc làm 24.000 lao động Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp và tăng nhanh lao động khu vực dịch vụ, công nghiệp Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung chưa đáp ứng kịp yêu cầu thực tế, lao động chưa qua đào tạo còn nhiều; chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề chưa cao, việc đào tạo chưa gắn với nhu cầu thực tế Tổng sản phẩm nội tỉnh năm 2015 đạt 32,018 tỷ đồng, tăng bình quân 6.72%/năm Đến năm 2015, tỷ trọng nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng 36.64% (năm 2010 chiếm 34.07%); Dịch vụ 45.92% (năm 2010 chiếm 43.71%); Nông - lâm - thuỷ sản 17.44% (năm 2010 chiếm 22.22%) Huy động GRDP vào ngân sách (không kể các khoản thu từ dầu khí và thuế xuất nhập khẩu) bình quân đạt 9.65%/năm; chi đầu tư phát triển 5 năm 2011 - 2015 là 11.686 tỷ đồng, chiếm 35.03% tổng chi ngân sách địa phương

Những đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên đều có tác động mạnh mẽ và chi phối đến các lĩnh vực hoạt động tại địa bàn tỉnh Bình Thuận, trong đó có thực hiện chính sách PBGDPL

2.1.3 Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách

Thực hiện chính sách về PBGDPL và quy định của Luật PBGDPL; Quyết định số 1063/QĐ-BTP, ngày 09 tháng 5 năm 2013 của Bộ Tư pháp; Thông tư số 21/2013/TT-BTP, ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tư pháp quy định trình tự,

Ngày đăng: 24/11/2017, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX (2003), Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX
Năm: 2003
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2007), Báo cáo sơ kết ba năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết ba năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2007
3. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2011), Kết luận số 04-KL/TW, ngày 19/4/2011 về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư (Khóa IX) về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 04-KL/TW, ngày 19/4/2011 về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư (Khóa IX) về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2011
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Chính phủ (2007), Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP, ngày 07/12/2007 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP, ngày 07/12/2007 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
6. Chính phủ (2013), Nghị định số 28/2013/NĐ-CP, ngày 04/4/2013 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2013/NĐ-CP, ngày 04/4/2013 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
7. Vũ Cao Đàm (1999), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (xuất bản lần thứ năm có chỉnh lý và bổ sung), Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (xuất bản lần thứ năm có chỉnh lý và bổ sung)
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
8. Vũ Cao Đàm (2011), Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, NXb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2011
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 2016
10. Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai (1995), Bàn về pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về pháp luật
Tác giả: Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
11. Đỗ Phú Hải (2014), Xây dựng chính sách công, vấn đề, giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng, Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia (số 5), Tr.5-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chính sách công, vấn đề, giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2014
12. Dương Thị Thu Hiền, (2013), Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thực trạng và giải pháp
Tác giả: Dương Thị Thu Hiền
Năm: 2013
13. Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ, (2012), Đặc san Tuyên truyền pháp luật số 08/2012, chủ đề Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san Tuyên truyền pháp luật số 08/2012
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL của Chính phủ
Năm: 2012
14. Nguyễn Hữu Minh, (2016), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Nguyễn Hữu Minh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2016
15. Nguyễn Thị Kim Ngân, (2013), Phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Ngân
Năm: 2013
16. Ngọ Văn Nhân (2012), Xã hội học pháp luật (tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bổ sung), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học pháp luật (tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bổ sung)
Tác giả: Ngọ Văn Nhân
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2012
18. Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên) (2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
22. Nguyễn Quốc Sửu, (2011), Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Sửu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
23. Thủ tướng Chính phủ (1998), Chỉ thị 02/1998/CT-TTg, ngày 07/01/1998 về việc tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 02/1998/CT-TTg, ngày 07/01/1998 về việc tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1998
24. Thủ tướng Chính phủ (1998), Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg, ngày 07/01/1998 về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg, ngày 07/01/1998 về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm