1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam (LA tiến sĩ)

178 404 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt NamQuản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ VĂN ĐIỆU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG THÔNG TIN TRONG XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Hà Nội – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ VĂN ĐIỆU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG THÔNG TIN TRONG XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 62 34 04 03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1: PGS.TS Lưu Kiếm Thanh 2: PGS.TS Bế Trung Anh

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tác giả với sự hướng dẫn, cố vấn của người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Kiếm Thanh và PGS.TS Bế Trung Anh Các số liệu, dữ liệu sử dụng trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Văn Điệu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận án Tiến sĩ, tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện cho tôi có môi trường học tập, nghiên cứu tốt nhất trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Khoa Sau đại học, các khoa liên quan của Học viện Hành chính Quốc gia, các thầy cô tham gia quản lý và giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô trong Học viện Hành chính Quốc gia, các Hội đồng khoa học, đặc biệt là các Thầy giáo: PGS.TS Lưu Kiếm Thanh và PGS.TS Bế Trung Anh, đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Luận án Tiến sĩ

Kính mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để công trình nghiên cứu của tôi được hoàn thiện tốt hơn

Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Văn Điệu

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án 7

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án 7

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 9

6 Những đóng góp mới của luận án 10

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 11

8 Kết cấu của luận án 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 13

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

1.1.1 Nhóm nghiên cứu về chủ trương, cơ chế chính sách đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử 13

1.1.2 Nhóm nghiên cứu về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực cho lĩnh vực tin học hóa và xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam 21

1.1.3 Nhóm nghiên cứu về tài chính đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử 23

1.1.4 Nhóm các công trình nghiên cứu khác liên quan đến cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng phát triển Chính phủ điện tử 24

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26

1.3 Đánh giá chung về tổng quan tình hình nghiên cứu 39

1.3.1 Những nội dung nghiên cứu mà luận án có thể kế thừa 39

Trang 6

1.3.2 Những khoảng trống và giả thuyết tập trung nghiên cứu 39

1.4 Kết luận chương 1 41

CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG THÔNG TIN TRONG XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 42

2.1 Các khái niệm 42

2.1.1 Chính phủ điện tử 42

2.1.2 Cơ sở hạ tầng thông tin 47

2.1.3 An toàn thông tin đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện 50

2.2 Quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam 53

2.2.1 Cơ sở lý luận về quản lý 53

2.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử 61

2.2.3 Vai trò cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam 69

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử 71

2.3 Một số kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở một số quốc gia 75

2.3.1 Quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử của Mỹ 76

2.3.2 Quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử của Nhật Bản 79

2.3.3 Thể chế chính sách đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử của Hàn Quốc 83

2.3.4 Thể chế chính sách đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử của Trung Quốc 85

Trang 7

2.3.5 Bài học kinh nghiệm và các giá trị tham khảo 87

2.4 Kết luận chương 2 89 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

CƠ SỞ HẠ TẦNG THÔNG TIN TRONG XÂY DỰNG

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 91 3.1 Thực trạng về thể chế, chính sách 91

3.1.1 Khái quát chung về thể chế, chính sách đối với cơ sở hạ tầng

thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử 91 3.1.2 Đánh giá chung về thể chế, chính sách đối với cơ sở hạ tầng

thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử 103

3.2 Thực trạng về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 103

3.2.1 Khái quát chung về thực trạng về tổ chức bộ máy đối với

cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở

Việt Nam 103 3.2.2 Khái quát chung về thực trạng về nguồn nhân lực đối với

cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở

Việt Nam 110

3.3 Thực trạng về tài chính 118

3.3.1 Khái quát chung về chủ trương chính sách về tài chính

đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử 118 3.3.2 Các nguồn vốn 119

3.4 Thực trạng về cơ sở hạ tầng kỹ thuật mạng, công nghệ

liên quan đến cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ

điện tử ở Việt Nam 124

3.4.1 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan

nhà nước 124 3.4.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các

doanh nghiệp 126

Trang 8

3.5 Đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng

thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam 128

3.5.1 Kết quả đạt được 128

3.5.2 Hạn chế tồn tại 130

3.5.3 Nguyên nhân hạn chế tồn tại 134

3.6 Kết luận chương 3 137

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG THÔNG TIN TRONG XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 138

4.1 Phương hướng hoàn thiện về công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay 138

4.1.1 Về phương hướng 138

4.1.2 Về thể chế 139

4.1.3 Về tổ chức bộ máy 140

4.1.4 Về nguồn nhân lực 141

4.1.5 Về tài chính 142

4.1.6 Về công nghệ 142

4.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay 143

4.2.1 Các giải pháp chung 143

4.2.2 Một số giải pháp cụ thể 146

4.3 Kết luận chương 4 153

KẾT LUẬN 155

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ ĐÃ THỰC HIỆN CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 160

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

CNTT-TT Công nghệ thông tin truyền thông CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Chính phủ điện tử

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mạng ARPA-Net thời kỳ đầu, năm 1971 tại Mỹ 27 Hình 2.1: Bốn giai đoạn phát triển dịch vụ trực tuyến 47 Hình 2.2: Sơ đồ chủ thể quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng thông tin 62 Hình 2.3: Mô hình hạ tầng kỹ thuật mạng chuyên dùng Chính phủ

Nhật Bản 81 Hình 2.4: Các bước phát triển CNTT của Chính tử điện tử Hàn Quốc 83 Hình 2.5: Mô hình hạ tầng thông tin chia sẻ của Hàn Quốc với đặc trưng

là 2 Trung tâm dữ liệu quốc gia 84 Hình 3.1: Sơ đồ tổng thể Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam 97 Hình 3.2: Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử cấp Bộ/Chính quyền điện tử cấp tỉnh 98 Hình 3.3: Minh họa Khung kiến trúc Chính quyền điện tử cấp huyện 100

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, hầu hết các nước phát triển trên thế giới đều có nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả dựa trên nền tảng Chính phủ điện tử, do vậy đã đạt được nhiều thành quả lớn trong quản lý hành chính nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, việc xây dựng Chính phủ điện tử

là yêu cầu cấp thiết Chính phủ điện tử ở Việt Nam không chỉ đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa, rút ngắn không gian, tiết kiệm thời gian và tạo khả năng kiểm soát các rủi ro một cách hiệu quả mà còn giúp Chính phủ thực hiện vai trò quản lý nhà nước đạt hiệu quả tối ưu, mang lại lợi ích thiết thực cho mọi thành viên trong xã hội, thực hiện nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Ngày 24 tháng 4 năm 2000 tại Singapore, trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4, Chính phủ Việt Nam đã quyết định tham gia và ký kết Hiệp định khung ASEAN điện tử (E-ASEAN), trong đó Việt Nam cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử Đây là sự khởi đầu của tiến trình phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam là một phần trong chiến lược cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ và chính quyền các cấp, góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phục vụ nhân dân, doanh nghiệp được thuận tiện, nhanh chóng, tiết kiệm và hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý nhà nước

Về mặt kiến trúc, nền tảng của Chính phủ điện tử là cơ sở hạ tầng thông

Trang 12

tin với các thành phần chính gồm hệ thống máy tính; mạng nội bộ của các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp; hệ thống mạng thông tin liên lạc quốc gia và hệ thống cơ sở dữ liệu

Nghị quyết số 13-NQ/TƯ ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” đã khẳng định: “Hạ tầng thông tin là một trong những hạ tầng thiết yếu, cần ưu tiên đầu tư, để xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”

Nghị quyết trên cho thấy, cơ sở hạ tầng thông tin thực sự đóng vai trò quan trọng trong phát triển Chính phủ điện tử Do vậy, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin sẽ có tác động tích cực đến phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Về quản lý nhà nước, việc ban hành Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật An toàn thông tin mạng, Nghị định số 64/2007/NĐ-

CP về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị quyết số 36a/NQ-CP về “Chính phủ điện tử” đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trong những năm qua, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin: Quyết định 1605/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của

cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 đã xác định nhiệm vụ: “Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, phát triển và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm cho các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng an toàn, hiệu quả”; Quyết định số 32/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Trang 13

phê duyệt quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia đến năm 2020; Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục các cơ sở dữ liệu quốc gia cần được ưu tiên triển khai

Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước cũng được hình thành và chức năng nhiệm vụ từng bước hoàn thiện: Bộ Bưu chính - Viễn thông (nay là: Bộ Thông tin và Truyền thông) ở cấp Trung ương, các Sở Thông tin và Truyền thông ở các địa phương đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành; Cục Bưu điện Trung ương quản lý mạng truyền số liệu chuyên dùng cho các cơ quan Đảng và Nhà nước; một số bộ được giao quản lý về cơ

sở dữ liệu quốc gia,

Nguồn nhân lực cũng được đào tạo phục vụ cho công tác quản lý, vận hành và bảo đảm an toàn an ninh hệ thống

Kết quả là cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia từng bước được cải thiện, chất lượng bảo đảm, nhờ đó, thông tin liên lạc luôn được bảo đảm thông suốt

từ Trung ương đến các tỉnh, huyện, xã trên cả nước, đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nước trên thế giới Hạ tầng viễn thông và internet được đầu tư với công nghệ hiện đại, có độ bao phủ rộng khắp trên cả nước, cung cấp được nhiều loại hình dịch vụ Bên cạnh đó, mạng di động phủ sóng rộng khắp cả nước Mạng truyền dẫn, phát sóng phát thanh truyền hình cũng được mở rộng vùng phủ sóng Hiện hầu hết số xã trên cả nước thu được tín hiệu phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam Mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ các cơ quan đảng, nhà nước

đã chính thức đi vào hoạt động Đây là mạng truyền dẫn tốc độ cao, công nghệ hiện đại, kết nối đến tất cả các cơ quan sở, ban, ngành, quận, huyện thuộc 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, bảo đảm thông tin liên lạc cho các cơ quan Đảng và Nhà nước

Các cơ sở dữ liệu quốc gia quan trọng đang tập trung xây dựng như cơ

sở dữ liệu về dân cư, về tài nguyên và môi trường, về kinh tế - công nghiệp và

Trang 14

thương mại, , trong đó đã có một số cơ sở dữ liệu quốc gia được đưa vào phục vụ rất hiệu quả như cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, cơ sở

dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Các hệ thống thông tin liên ngành quan trọng như quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc tới cơ quan nhà nước các cấp, hệ thống hải quan một cửa quốc gia, hệ thống khai báo thuế điện tử, hệ thống giao ban điện tử đa phương tiện giữa Thủ tướng Chính phủ với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đạt hiệu quả cao

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cơ sở hạ tầng thông tin vẫn chưa đáp ứng yêu cầu Nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng thông tin nhìn chung vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, chưa huy động được nhiều nguồn lực ngoài nhà nước Phân bổ nguồn lực dàn trải, chưa tập trung vào các công trình hạ tầng thông tin trọng điểm thiết yếu; chi phí đầu tư còn cao, hiệu quả thấp; nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu

Những hạn chế nêu trên bắt nguồn từ hạn chế, yếu kém của công tác quản lý nhà nước Cụ thể là:

Thứ nhất, lý luận quản lý công đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây

dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam còn nhiều điều chưa được giải đáp, vì vậy nghiên cứu vấn đề này làm sâu sắc thêm lý luận về quản lý công đối với

cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Thứ hai, công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn bất cập: mặc dù

mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước đã được đầu tư xây dựng từ năm 2004, nhưng cho đến nay mới kết nối được tới các cơ quan cấp huyện, còn cấp xã phường hiện chưa thực hiện được do chưa có quy hoạch cụ thể; hầu hết các trung tâm dữ liệu ở các bộ ngành, địa phương đều không có dữ liệu đầy đủ, đồng thời cũng chưa có trung tâm dữ liệu quốc gia phục vụ công tác quản lý nhà nước do chưa có quy hoạch về cơ sở dữ liệu

Trang 15

quốc gia cũng như cơ sở dữ liệu của các bộ ngành, địa phương

Thứ ba, tổ chức bộ máy cho công tác quản lý nhà nước cơ sở hạ tầng

thông tin còn chồng chéo, chưa phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các Sở Thông tin và Truyền thông và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật mạng và trung tâm dữ liệu của địa phương

Thứ tư, công tác quản lý nhà nước về nguồn nhân lực cho cơ sở hạ tầng

thông tin chưa đáp ứng yêu cầu Hiện tại các cơ quan nhà nước thiếu đội ngũ cán bộ có đủ trình độ để quản lý, vận hành các hệ thống thông tin lớn, đặc biệt

là quản trị, vận hành các hệ thống mạng; giám sát và bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống, làm cho hàng loạt hệ thống thông tin bị tấn công tê liệt hoạt

động như của các sân bay thời gian vừa qua

Thứ năm, cơ chế chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông tin

trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam chưa đầy đủ và chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi

Để quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ phát triển Chính phủ điện tử được hoàn thiện và hiệu quả đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải

đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện

tử ở Việt Nam” là yêu cầu, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nhằm đạt được các mục đích dưới đây:

- Làm sâu sắc thêm lý luận về quản lý công đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Làm rõ được bản chất của phương thức quản lý theo kết quả, quy trình

và nội dung của quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam;

- Làm rõ được bản chất của cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử, những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đối với cơ sở hạ

Trang 16

tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam;

- Đánh giá được thực trạng, cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam hiện nay;

- Xác định được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ

cơ bản sau:

Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong nước

và ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án để xác định những vấn đề đã được quan tâm giải quyết, những vấn đề còn chưa được làm rõ đồng thời chỉ

ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Thứ hai, hệ thống hóa những lý luận cơ bản liên quan đến quản lý nhà

nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam nhằm làm rõ khái niệm, nội dung, vai trò và những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với Chính phủ

điện tử nói chung và cơ sở hạ tầng thông tin nói riêng ở một số nước trong khu vực và trên thế giới để rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam

Thứ tư, phân tích, đánh giá thực trạng và mức độ ảnh hưởng của quản lý

nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, để rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Thứ năm, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước

đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trang 17

trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở

hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung, luận án tập trung vào các vấn đề chính sau đây trong quản

lý nhà nước: cơ chế chính sách; tổ chức bộ máy; nguồn nhân lực và tài chính cho cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Về không gian, các cơ quan quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử tại một số bộ, địa phương và kinh nghiệm phát triển Chính phủ điện tử của một số nước trong khu vực và trên thế giới

- Về thời gian, từ thời điểm Chính phủ ký kết Hiệp định khung ASEAN (ASEAN điện tử) tại Hội nghị cấp cao không chính thức lần thứ 4 tại Singapore (ngày 24 tháng 4 năm 2000) trong đó Việt Nam cam kết thực hiện

E-mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử, đến nay (năm 2017)

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước, hoàn thiện pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thông qua việc phân tích, tổng hợp,

hệ thống hóa và khái quát các tri thức đã thu thập được về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử; nghiên cứu các công trình có liên quan để đưa ra các luận cứ của vấn đề nghiên cứu

Trang 18

- Phương pháp đánh giá, tổng kết thực tiễn: nghiên cứu hiện trạng và thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam thông qua các báo cáo tổng kết, các khảo sát đánh giá để làm rõ hiện trạng, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế để nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh và dự báo: phương pháp này được luận án sử dụng giúp cho việc nhận diện chuẩn xác về những điểm tương đồng và khác biệt trong hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam trong những năm qua; sự đồng hành hay bất cập giữa cơ sở lý luận với thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam Trên cơ sở đó, luận án xác định những thiếu hụt cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, trong xu thế vận động và phát triển để dự báo

và chọn lọc những tri thức khoa học từ thực tiễn quản lý nhà nước đối với cơ

sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt làm cơ sở cho việc đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận án Thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp này hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam; phân tích làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ

sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam để chỉ ra

Trang 19

các kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của thực trạng này Trên cơ sở đó, luận án phân tích phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Ngoài ra, luận án còn sử dụng linh hoạt một số phương pháp bổ trợ khác như: phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, v.v

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, luận án sẽ tập trung làm rõ các câu hỏi sau:

- Khái niệm về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử?

- Nội dung quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử?

- Vai trò của quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử?

- Yếu tố tác động đối với quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử?

- Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam là gì?

- Chủ thể quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam là những cơ quan tổ chức nào?

- Thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam như thế nào? Những kết quả đạt được, những vấn đề còn hạn chế, nguyên nhân của những kết quả đạt được và của những hạn chế là gì?

- Những giải pháp nào để góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam?

Trang 20

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Cơ sở hạ tầng thông tin là một trong những hạ tầng thiết yếu trong chiến lược phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập

- Chiến lược, quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam chưa đầy đủ

- Cơ chế, chính sách cho đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam còn nhiều hạn chế

- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam chưa phù hợp

- Nguồn nhân lực cho quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu

6 Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có

hệ thống về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Dưới góc độ tiếp cận của quản lý công, luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2025, cụ thể là:

- Đề xuất giải pháp mới về cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Đề xuất mới về quy hoạch phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia, hạ tầng mạng dùng riêng cho cơ quan nhà nước, làm cơ sở cho việc quản lý, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Đề xuất giải pháp kiện toàn mô hình tổ chức và bộ máy quản lý cơ sở

hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trang 21

- Đề xuất giải pháp đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý

cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

- Đề xuất mới các quy chế, quy định quản lý nhằm đảm về an toàn, an ninh đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam Các đề xuất, kiến nghị của luận án sẽ góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện các quy định và hướng dẫn về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, cũng như là một tài liệu tham khảo có giá trị mới đối với những người làm công tác liên quan

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những kết luận và đề xuất, kiến nghị của luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu hoàn thiện các qui định của pháp luật hiện hành, cơ chế, chính sách góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với

cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

hạ tầng thông tin, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của chúng để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

7.2 Về thực tiễn

- Luận án phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những ưu điểm, tồn tại hạn chế và nguyên nhân tồn tại hạn chế về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam trên những nội dung quản lý nhà nước của khoa học quản lý công

- Luận án đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong

Trang 22

xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, đồng thời cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cho các cơ quan, đơn vị và cá nhân hoạt động công

tác trong lĩnh vực có liên quan

Nghiên cứu sinh sẽ có điều kiện để ứng dụng kết quả nghiên cứu của mình vào hoạt động thực tiễn tham mưu, xây dựng chủ trương chính sách và hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

8 Kết cấu của luận án

Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Danh mục công trình nghiên cứu, Danh mục tài liệu tham khảo; nội dung của luận án sẽ được kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng

thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử

Chương 3: Thực trạng về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông

tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối

với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trang 23

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam từng bước được quan tâm và đã đạt được một số kết quả Môi trường pháp lý và thể chế phát triển

cơ sở hạ tầng thông tin, cũng như tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và tài chính đang dần được hoàn thiện; đồng thời qua đó cũng khẳng định cơ sở hạ tầng thông tin đóng vai trò quan trọng cho phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng một Chính phủ kiến tạo, hành động và phục

vụ Do đó, việc nghiên cứu, tiếp cận vấn đề đặt ra trong luận án một cách tổng thể dưới góc độ của khoa học quản lý công và ở một cấp độ quy mô lớn hơn

so với các nghiên cứu trước đây

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1 Nhóm nghiên cứu về chủ trương, cơ chế chính sách đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử

Tiếp cận nghiên cứu bắt đầu từ Nghị quyết số 13-NQ/TƯ ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [3], Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về “Chính phủ điện tử” [15]

Ngay từ năm 2005, các nghiên cứu về xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, phát triển Chính phủ điện tử đã chỉ ra rằng, Việt Nam cần phải đẩy mạnh ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu quả thông tin và tri thức trong tất cả các ngành Xây dựng và

phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, Chính phủ điện tử, doanh

nghiệp điện tử, giao dịch và thương mại điện tử để Việt Nam đạt trình độ khá trong khu vực ASEAN Hình thành xã hội thông tin

Trang 24

Để tạo nền tảng vững chắc cho Chính phủ điện tử ở Việt Nam, đòi hỏi

phải xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin đáp ứng yêu cầu trao đổi thông tin của

toàn xã hội Cơ sở hạ tầng thông tin, viễn thông và Internet Việt Nam cần đi thẳng vào công nghệ hiện đại, phát triển nhanh, đa dạng hoá, cung cấp cho người sừ dụng các dich vụ chất lượng cao, đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật Tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tề tham gia cung cấp dich vụ viễn thông và Internet Các bộ, ngành, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và huyện được kết nối Internet băng rộng và kết nối với mạng diện rộng của Chính phủ

Những nội dung nêu trên đã trở thành nội dung cốt lõi trong Quyết định

số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ

về “Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, [59]

Trước đó, các nghiên cứu phục vụ việc xây dựng Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 và định hướng đến năm

2010 cũng đã chỉ ra vai trò của cơ sở hạ tầng thông tin trong cải cách hành chính, hiện đại hóa công sở các cơ quan hành chính nhà nước:

Thứ nhất, cần phải xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin,

triển khai tới các bộ, ngành và địa phương để tạo ảnh hưởng trong xã hội về tin học hóa và có những đề xuất giải pháp bước đầu cần có các văn bản hướng dẫn, quy chế, quy trình, quy chuẩn cơ sở hạ tầng thông tin áp dụng thống nhất trong các cơ quan nhà nước;

Thứ hai, đưa ra được một hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin và cơ sở dữ

liệu dùng chung để xây dựng, khai thác, sử dụng có hiệu quả và thiết thực Sau khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 (nằm trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2001 - 2010), các bộ, ngành và địa phương đã triển khai xây dựng cơ sở hạ

Trang 25

tầng kỹ thuật cho việc tin học hoá quản lý nhà nước và ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý chuyên ngành

Trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật này, các cơ quan hành chính nhà nước đã từng bước triển khai các hệ thống thông tin, các kho dữ liệu điện tử phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và các cơ quan chính quyền các cấp Vào thời điểm đó, hệ thống mạng tin học cục bộ tại 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã được thiết lập Hệ thống này bao gồm cả các hệ thông tin tác nghiệp, quản lý hồ sơ công việc và các kho dữ liệu phục vụ nghiên cứu, trợ giúp quá trình ra quyết định điều hành

Mạng tin học diện rộng của Chính phủ được thiết lập để liên kết mạng tin học trung tâm của 61 tỉnh, thành phố và gần 40 cơ quan chủ chốt của Chính phủ với quy mô 2.500 máy trạm, 180 máy chủ trên phạm vi toàn quốc

và 50 chương trình ứng dụng khác nhau Với mạng tin học diện rộng của Chính phủ, các cơ quan hành chính nhà nước đã thực hiện việc truyền, nhận thông tin đa chiều, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống báo cáo định kỳ, đột xuất và thư tín điện tử , bảo đảm nhanh chóng, an toàn, phục vụ có hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước

Cùng với việc xây dựng mạng tin học diện rộng của Chính phủ, các cơ

sở dữ liệu quốc gia đã được triển khai, gồm: cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, thống kê kinh tế - xã hội, pháp luật, tài nguyên đất và dân cư

Công tác đào tạo tin học đã được tiến hành đồng bộ với việc xây dựng

hệ thống tin học trong các cơ quan hành chính nhà nước Hàng vạn lượt chuyên viên, cán bộ đã được đào tạo qua các lớp tin học cơ bản và trên thực tế

đã sử dụng được máy tính ở các mức độ khác nhau vào công việc chuyên môn của mình; đặc biệt trong số đó, một tỷ lệ tương đối lớn đã sử dụng có hiệu quả công cụ tin học để truy nhập, trao đổi thông tin trên mạng, phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trang 26

Các nghiên cứu phục vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách nhằm thúc đẩy đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đã được các cơ quan có thẩm quyền thông qua như: Luật Công nghệ thông tin, Luật Viễn thông; Nghị định số 64/2007/NĐ-CP, của Chính phủ về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Thông tư số 23/2011/TT-BTTTT, của Bộ Thông tin và Truyền thông, quy định về việc quản lý, vận hành, sử dụng và bảo đảm an toàn thông tin trên mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan của Đảng

Cùng với các nghiên cứu phục vụ cho việc ra quyết định, một số nhà khoa học cũng đã công bố kết quả nghiên cứu về lĩnh vực Chính phủ điện tử nói chung và cơ sở hạ tầng thông tin nói riêng

Trong cuốn “Chính phủ điện tử” (NXB Thông tin và Truyền thông), Nguyễn Đăng Hậu và các cộng sự đã nghiên cứu và đưa ra khái quát về tình hình và triển vọng phát triển Chính phủ điện tử trên thế giới; quá trình phát triển Chính phủ điện tử và bài học kinh nghiệm rút ra trong phát triển Chính phủ điện tử ở một số quốc gia phát triển Từ đó, các tác giả có đánh giá về các tiền đề phục vụ việc phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra một số ứng dụng bước đầu của Chính phủ điện tử ở Việt Nam và kế hoạch phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày nay, vai trò của nhà nước ngày càng trở nên quan trọng, đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định các chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Tuy nhiên trên bình diện nghiên cứu, chưa đề cập nhiều về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, [30]

Trong bài “Nghiên cứu xu hướng phát triển mạng xã hội và đề xuất chính sách định hướng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam”, tác giả Đỗ Công Anh đã đề cập và đi sâu phân tích hiện trạng tình hình mạng xã hội và sự phát

Trang 27

triển nhanh chóng của hạ tầng viễn thông, Internet, cũng như các phương tiện truy cập, các trang mạng xã hội đã ngày càng thu hút được đông đảo sự quan tâm của người dùng trên toàn thế giới Thực tế, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng mạng xã hội như một công cụ truyền thông quan trọng, nhất

là đối với việc tuyên truyền về các thảm họa thiên tai Qua nghiên cứu, tác giả

đã nhận định các trang mạng xã hội đã tạo điều kiện cho người dân trên toàn thế giới có thể chứng kiến, chia sẻ và có những biện pháp hỗ trợ kịp thời; qua việc nghiên cứu các đặc điểm, bản chất của mạng xã hội, tác giả đã đề ra các

nhóm các giải pháp bao gồm: (1) Nhóm giải pháp về chính sách, quản lý thị

trường cung ứng các ứng dụng và dịch vụ trên mạng xã hội; quản lý thông tin đăng ký trên mạng xã hội Đề xuất đưa vào dự thảo “Dự thảo nghị định quản

lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và nội dung thông tin trên mạng”; xây dựng chế tài đối với mạng xã hội nước ngoài cung cấp dịch vụ cho người sử

dụng tại Việt Nam ; (2) Nhóm giải pháp về kỹ thuật, nghiên cứu phương án

xây dựng công cụ quản lý, phòng ngừa và cảnh báo; xây dựng công cụ đánh giá truy cập website Tuy nhiên, qua nghiên cứu cũng cho thấy báo cáo chưa tập trung đề cập về công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam Mặt khác, thực tế cho thấy các mạng xã hội cũng có thể tiếp tay cho các cuộc bạo loạn, xung đột, biểu tình, lật

đổ Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý hiện nay là làm thế nào

để quản lý và định hướng được sự phát triển của mạng xã hội đi theo hướng tích cực, phát triển ổn định và phục vụ được các mục tiêu phát triển quốc gia đồng thời hạn chế được các ảnh hưởng tiêu cực do mạng xã hội gây ra thì nghiên cứu chưa đánh giá sâu và chưa nêu được các giải pháp cốt lõi

Trong bài viết “Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Chính phủ điện tử”, tác giả Bế Trung Anh đã trình bày về tầm nhìn Chính phủ điện tử và các tiêu điểm chiến lược; các nghiên cứu tình huống về thực thi Chính phủ điện tử tại Ấn Độ, Hàn Quốc và Singapore Công trình đã chỉ ra các tiêu điểm chiến

Trang 28

lược đối với Chính phủ điện tử; bài học từ thực tế triển khai Chính phủ điện tử của các nước và những kết quả ứng dụng cho Việt Nam; xác định những điểm cần chú trọng đối với triển khai Chính phủ điện tử tại Việt Nam, trong đó, tác giả đã khái quát tầm nhìn Chính phủ điện tử Canada về Chính phủ trực tuyến, hầu như được kết nối với công dân, có khả năng truy cập thông tin và sử dụng các dịch vụ trực tuyến mọi nơi, mọi lúc; với việc sử dụng công nghệ thông tin

và truyền thông đa chức năng, các cơ quan nhà nước sẽ cung cấp các thông tin

và dịch vụ công có hiệu quả hơn (Vương quốc Anh), một chính phủ hiện đại và hiệu quả, gắn với sự phát triển cao của thương mại điện tử và đáp ứng mọi nhu cầu của các công dân; xác lập một môi trường điện tử dân sự; tái thiết các khu vực công nhằm làm cho chúng hiệu quả hơn, có tính phản hồi nhanh hơn; cung cấp các dịch vụ điện tử tích hợp; cung cấp các dịch vụ hướng về doanh nghiệp

và các công dân; cập nhật các quy định của pháp luật cho một xã hội trực tuyến; tính sẵn sàng điện tử của quốc gia Cũng như các công trình nghiên cứu trên thì tác giả chưa nghiên cứu, chưa đề cấp nhiều về quản lý nhà nước đối với

cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, [1]

Lê Văn Điệu, trong bài báo “Ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính phục vụ, hiệu lực, hiệu quả và minh bạch”, đã nêu cách nhìn ở một khía cạnh khác, để thúc đẩy cải cách hành chính, xây dựng được một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, đáp ứng yêu cầu của nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ người dân, doanh nghiệp,

xã hội cần phải hiện đại hóa nền hành chính qua ứng dụng công nghệ thông tin Đồng thời cũng đã có nghiên cứu đề cập cơ chế chính sách và các giải pháp về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam, [27]

Trong bài báo “Công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin” đăng trên Tạp chí Công nghệ thông tin và truyền thông, kỳ 2- tháng 11/2014, tác giả Nguyễn Thanh Hải đã đi sâu nghiên cứu đánh giá, phân tích hiện trạng về

Trang 29

an toàn thông tin trong việc khai thác sử dụng, quản lý các hệ thống thông tin, nghiên cứu xây dựng kiến trúc công nghệ thông tin và truyền thông và các giải pháp công nghệ phù hợp cho việc triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam Tuy nhiên mới chỉ đề cập nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với cơ sở

hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam trên bình diện góc độ nhỏ và hạn chế, [29]

Kết quả Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước

KC01/06-10, “Nghiên cứu xây dựng kiến trúc công nghệ thông tin và truyền thông và các giải pháp công nghệ phù hợp cho việc triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam”- Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Minh Hồng, mới chỉ dừng ở mức độ mô tả hiện trạng, tổng hợp số liệu báo cáo về cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông của Việt Nam và chủ yếu dừng lại ở việc xây dựng kiến trúc công nghệ thông tin và truyền thông và các giải pháp công nghệ, mà chưa làm rõ được vai trò quản lý nhà nước trong thúc đẩy tiến trình đó, [33]

Trên trang http://aita.gov.vn, tác giả Lê Thị Thùy Trang đặt vấn đề phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin được coi là nhiệm vụ trọng tâm, là nền tảng, là công cụ thúc đẩy các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, nền tảng của phát triển Chính phủ điện tử Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin bao gồm mạng truyền dẫn trên quy mô quốc gia, mạng nội bộ và máy tính trong các cơ quan nhà nước Vì vậy, để đảm bảo cho các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước trên môi trường mạng an toàn và hiệu quả thì điều kiện tiên quyết đặt ra

là phải xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng bảo đảm triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản và tạo cơ sở cho việc nâng cấp, mở rộng phục vụ cho các ứng dụng công nghệ thông tin trong tương lai Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, hiện nay, từ người dân đến các doanh nghiệp đã có thể tiếp cận nhanh nhất, trực tiếp và chính xác những văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Trang 30

qua cổng thông tin điện tử Chính phủ Đây là biểu hiện sinh động của việc ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính cũng như thể hiện rõ nét

về sự minh bạch của Chính phủ và tâm thế sẵn sàng hướng tới Chính phủ điện

tử Tuy nhiên báo cáo nghiên cứu cũng chưa đưa ra phân tích cụ thể về các cơ chế chính sách cho công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử, [64]

Trong công trình “Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật xây dựng hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng đến cấp xã, phường phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của Đảng và Nhà nước”, tác giả Trần Hải Nam đã đề xuất các giải pháp

kỹ thuật kết nối, mở rộng mạng truyền số liệu chuyên dùng đến cấp xã, phường, theo đó trước mắt giải pháp truy nhập dựa trên cáp đồng sẽ được lựa chọn Cơ sở hạ tầng thông tin và công nghệ được lựa chọn sẽ là ADSL và SHDSL Thực hiện kết nối từ mạng ADSL vào mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước Tại các trung tâm của mỗi tỉnh, thành phố sử dụng một đường truyền tốc độ FE/GE để kết nối đến nút mạng truy nhập của mạng truyền số liệu chuyên dùng tại tỉnh, thành phố đó Các thiết bị này được đặt tại trung tâm mạng của các đơn vị kể trên và được kết nối đến nút mạng truyền số liệu chuyên dùng của tỉnh, thành phố thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ SHDSL tại địa phương Qua nghiên cứu báo cáo mạng truyền số liệu chuyên dùng của Đảng, đã hình thành một hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin dùng riêng cho hệ thống các cơ quan Đảng, phục vụ cho sự lãnh đạo chỉ đạo, điều hành các cáp Đảng và là một hệ thống mạng dùng riêng với hiệu quả bảo mật cao nhất và bảo đảm tính an toàn trong truyền đưa dữ liệu thông tin Tuy nhiên nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng thông tin, mạng truyền số liệu chuyên dùng, chưa có một hệ thống đồng bộ nhất quán, chưa được nghiên cứu và đề xuất cụ thể trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cơ

sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử, [45]

Trang 31

1.1.2 Nhóm nghiên cứu về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực cho lĩnh vực tin học hóa và xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Để quản lý tốt lĩnh vực tin học hóa, đáp ứng yêu cầu của đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 và định hướng đến năm 2010, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cần thiết phải thiết lập một hệ thống các đơn vị chuyên môn về tin học ở tất cả các bộ, ngành và địa phương; đề xuất đó đã được chấp thuận và trở thành một nội dung trong đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 và định hướng đến năm

2010 Kết quả là tại tất cả các bộ ngành và 63 địa phương đều có Trung tâm Tin học với chức năng quản lý và triển khai các hoạt động tin học hóa của ngành, lĩnh vực và địa phương mình

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị định số 64/2007/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định về hệ thống các đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin tại tất cả các bộ, ngành, địa phương Kết quả là đã có một số Trung tâm tin học ở các bộ được kiện toàn, chuyển đổi thành Cục Công nghệ thông tin Ở cả

63 địa phương đều đã thành lập các Sở Thông tin và Truyền thông, là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực thông tin, truyền thông ở địa phương, [9]

Về đào tạo nguồn nhân lực, các nghiên cứu đề xuất và đã được đưa vào nội dung đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005

và định hướng đến năm 2010; theo đó từ năm 2001 đến 2005, các bộ, ngành,

ủy ban nhân dân các địa phương phải bảo đảm đa số bộ phận cán bộ, công chức được đào tạo về tin học, nắm được kỹ năng làm việc trên mạng máy tính; ưu tiên cho các cán bộ, chuyên viên làm việc trực tiếp tạo nguồn thông tin dữ liệu trên mạng máy tính; Văn phòng Chính phủ xây dựng chương trình đào tạo cán bộ công chức làm việc trong môi trường tin học hoá; đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ sư tin học trong cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm trình

độ cập nhật kịp với tốc độ phát triển công nghệ cao, có khả năng phân tích hệ thống, quản lý triển khai có hiệu quả hệ thống thông tin quản lý

Trang 32

Nhóm các tác giả nghiên cứu đề xuất và đã được đưa vào đề án “Đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông vào

năm 2020” nhấn mạnh:

Thứ nhất, phát triển mạnh nguồn nhân lực công nghệ thông tin, chú

trọng nâng cao chất lượng nhân lực chuyên nghiệp, năng lực nghiên cứu khoa học và phổ cập kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong xã hội nhằm đảm bảo đủ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, hướng tới kinh tế tri thức và xã hội thông tin

Thứ hai, đến năm 2020, Việt Nam trở thành một trong những nước

cung cấp nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao cho các nước trong khu vực và trên thế giới, tỷ lệ người dân sử dụng Internet đạt trên 80%

Qua các nghiên cứu cho thấy, phát triển nguồn nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai Chính phủ điện tử là nhiệm vụ hết sức quan trọng Trong thời gian qua mà Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin Các cơ quan nhà nước đã thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo dài hạn, ngắn hạn về công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức Kết quả là trình độ,

kỹ năng, nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin của các cán bộ công chức được nâng cao

Tuy nhiên, số lượng và trình độ các cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin còn hạn chế, đặc biệt là tại các địa phương, nhiều cán bộ đang làm việc theo hình thức kiêm nhiệm Một trong các khó khăn lớn nhất mà các bộ, ngành, địa phương đưa ra là chưa có chính sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho các cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, nên khó có thể thu hút đủ các cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin có trình độ phù hợp về công tác

Trang 33

1.1.3 Nhóm nghiên cứu về tài chính đối với cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử

Các báo cáo nghiên cứu về các dự án của các bộ ngành như: dự án

“Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng” do Ngân hàng nhà nước chủ trì; dự án “ Hoàn thiện hệ thống thông tin tài chính” do Bộ Tài chính chủ trì; dự án “Hiện đại hoá hệ thống thông tin ngành hải quan” do Tổng cục Hải quan chủ trì; dự

án “Hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thông tin thống kê nhà nước” do Tổng cục Thống kê chủ trì; dự án “Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì; dự án “Xây dựng thí điểm một số hệ thống thông tin giải quyết những vấn đề bức xúc về quản lý đô thị tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh” do Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì,…Qua nghiên cứu

đã nêu cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ và các cơ quan chuyên môn, cùng với sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán bộ công viên chức và nhân dân, phát triển cơ sở hạ tầng thông tin và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam đã bước đầu cho những kết quả khả quan, góp phần tăng hạng chung cho Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Qua nghiên cứu các báo cáo của các địa phương về “Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử”, đã nêu ra việc đầu tư dàn trải thiết bị công nghệ thông tin cho các tỉnh thành, huyện thị, thành phố, đồng bằng và vùng núi cao đã khiến cơ sở hạ tầng thông tin thiếu đồng bộ và hoàn chỉnh Mạng máy tính từ tỉnh đến huyện, sở, ngành còn chưa được kết nối vững chắc và chưa xây dựng được hệ thống bảo mật an toàn, anh ninh thông tin Các địa phương đều rơi vào tình trạng phải đối mặt với những khó khăn thách thức

vì thiếu nguồn lực, thiếu cán bộ có chuyên môn về công nghệ thông tin, vai trò của các CIO chưa hiện diện tại đây, chưa xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh và có khả năng tích hợp, thậm chí, ngay cả những thành phố lớn

Trang 34

như Hà Nội cũng phải thừa nhận là thành phố thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong việc triển khai và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin tổng thể Những khó khăn, hạn chế này đã đặt ra thách thức không nhỏ đối với quá trình xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Trong bài báo “Các hình thức hạn chế đầu tư nước ngoài trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả Đỗ Công Anh đã phân tích yếu tố hội nhập

và toàn cầu hóa kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ

và tích tụ tập trung tư bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh

tế chính trị của các nước nói riêng và của thế giới nói chung Đó là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã

và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh

tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thử thách, thu hút đầu tư nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng, góp phần chuyển dịch cơ cấu, nâng cao trình độ công nghệ, giúp mang lại phương thức kinh doanh mới cho nền kinh tế nhưng cũng tạo ra tranh chấp nguồn lực phát triển gay gắt với các doanh nghiệp trong nước; trong báo cáo nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh về hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng như các chính sách, các lĩnh vực và hình thức hạn chế đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực ứng dụng khoa học công nghệ và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông tin

1.1.4 Nhóm các công trình nghiên cứu khác liên quan đến cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng phát triển Chính phủ điện tử

Đỗ Tiến Thăng trong đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp thông tin tác nghiệp và dịch vụ hành chính công cho các

Trang 35

cơ quan hành chính cấp xã”, mã số: 12-12-KHKT-SP đã chỉ ra: Các cơ quan nhà nước sử dụng nhiều phần mềm ứng dụng và phần mềm chuyên ngành; đã

có trên 1400 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và 2 được cung cấp trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, một số dịch vụ công đã đạt mức độ 3 Đa số các sở, ban, ngành, huyện, thị có trang thông tin điện tử và đang từng bước triển khai

hệ thống cung cấp dịch vụ công một cửa điện tử Những nỗ lực này đã phát huy hiệu quả thiết thực trong công tác hằng ngày tại các đơn vị, nâng cao năng suất, chất lượng công việc, mang nhiều thuận lợi đến cho người dân và

doanh nghiệp [55]

Trong đề tài “Nghiên cứu triển khai thử nghiệm công nghệ wifi offload

và ứng dụng trên mạng MobiFone”, Mã số 07-13-KHKT-SP, tác giả Lê Ngọc Minh chỉ ra rằng: Từ các xu hướng của người dùng, nhà mạng di động, công nghệ và thiết bị kể trên, có thể thấy thị trường Mobile Internet tại Việt Nam đang ẩn chứa nhiều thuận lợi và cả thách thức, những tiềm năng hiện nay như nhu cầu và sự quan tâm của người dùng, việc quản lý về cơ sở hạ tầng thông tin, thuê bao di động, chính sách ưu đãi phát triển của nhà mạng di động, và

xu hướng chung của thế giới sẽ giảm nhiệt nếu như những hạn chế hiện tại về

chất lượng đường truyền, vùng phủ sóng không được khắc phục kịp thời [41]

Các nghiên cứu báo cáo Đề án nghiên cứu xây dựng giải pháp triển khai hệ thống hồ sơ công vụ điện tử tại văn phòng Bộ Thông tin và truyền thông; báo cáo Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Thông tin

và Truyền thông năm 2013, đã nêu quá trình triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, tốc độ phát triển ứng dụng công nghệ thông tin của các tổ chức cơ

quan nhà nước Trên cơ sở hiện trạng và những kinh nghiệm, đã có tổng hợp

và đánh giá những mặt mạnh, những điểm còn tồn tại và đã đưa ra những kiển nghị giải pháp cho lĩnh vực nghiên cứu của mình Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu trên, chưa nghiên cứu thấu đáo về quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đồng thời cũng chưa có những đề xuất kiến giải cho công tác

Trang 36

quản lý nhà nước phục vụ cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam

Tiểu kết tổng quan nghiên cứu trong nước: Trong thời gian qua, kể từ

khi có Luật Công nghệ thông tin, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến cơ chế, chính sách cho ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin và các nghiên cứu về khoa học công nghệ, cung cấp các giải pháp, sản phẩm để ứng dụng vào hoạt động của các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, các nghiên cứu về cơ sở

hạ tầng thông tin trong phát triển Chính phủ điện tử hầu như chưa có, chưa được quan tâm nhiều mặc dù vấn đề này có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển Chính phủ điện tử

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nhiều năm trở lại đây, nhiều quốc gia trên thế giới đều tập trung tiến hành cải cách khu vực hành chính công với mục tiêu xây dựng bộ máy hành chính công năng động, hiệu quả, minh bạch và đặc biệt là hướng nhiều hơn đến cung cấp dịch vụ công cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp Xu hướng này bắt nguồn từ nguyện vọng và đòi hỏi ngày càng cao của người dân trên toàn thế giới về các dịch vụ công do chính phủ cung cấp Có thể cho rằng sự thành công trong hoạt động của bộ máy chính phủ sẽ được đo lường bằng lợi ích, giá trị gia tăng họ mang lại cho các chủ thể như: các cơ quan chính quyền, các tổ chức hoạt động trong khu vực tư nhân, người dân nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung Lợi ích này thể hiện ở chất lượng và hiệu quả hoạt động của chính phủ, trách nhiệm của nhà nước và niềm tin của công chúng và chất lượng dịch vụ công do chính phủ cung cấp

Với ý nghĩa trên đây, Chính phủ điện tử (e-Government) từ lâu đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới như một chiến lược chủ chốt nhất nhằm hướng tới xã hội thông tin tri thức và phục vụ sự phát triển toàn diện chung của xã hội

Trên trang https://vi.wikipedia.org/wiki/Internet cho biết, nghiên cứu khởi

Trang 37

đầu về mạng máy tính, tiền thân của mạng Internet ngày nay - hạ tầng kỹ thuật nền tảng của Chính phủ điện tử, là dự án phát triển mạng kết nối các máy tính mang tên ARPA-Net do Bộ Quốc phòng Mỹ tiến hành vào năm 1969 với sự tham gia của Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên được xây dựng trên thế giới [19]

Trước yêu cầu thực tế về sự kết nối, trao đổi thông tin, mạng Net được mở rộng dần, kết nối với các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, các doanh nghiệp, các tổ chức và các quốc gia trên toàn thế giới

ARPA-Năm 1984, ARPA-Net được chia ra thành hai phần: Phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPA-Net, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là MIL-Net, là mạng dùng riêng cho các mục đích quân sự của Mỹ

Hình 1.1 Mạng ARPA-Net thời kỳ đầu, năm 1971 tại Mỹ

Dựa trên nền tảng công nghệ mạng với giao thức chuyển mạch điều khiển TCP/IP, các quốc gia đã tập trung nghiên cứu xây dựng các mạng cho riêng quốc gia mình, nhằm chủ động trong việc quản lý, phát triển và bảo đảm

an toàn, an ninh thông tin

Trang 38

Theo nghiên cứu của Y N Chen, Đại học Tây Kentucky (Mỹ) và các đồng tác giả H M Chen, Đại học Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc), W Huang, Đại học Kinh doanh, Đại học Ohio (Mỹ), R K H Ching, Đại học bang California, (Mỹ) trong bài “Chiến lược Chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển”, đã chỉ ra điều kiện để phát triển Chính phủ điện

tử và vai trò của cơ hạ tầng thông tin: “Phát triển cơ sở hạ tầng thông tin là điều kiện tiên quyết trước khi Chính phủ xem xét triển khai bất cứ dự án lớn nào có liên quan đến Chính phủ điện tử Người dân cần phải có khả năng tiếp cận với dịch vụ trước khi được hưởng bất cứ lợi ích từ tiết kiệm chi phí do Chính phủ điện tử mang lại ” [66]

Chương trình kiến trúc tổng thể (EA) về Chính phủ điện tử Hoa Kỳ: tháng 9 năm 1999, Hội đồng CIO Liên bang của chính phủ Mỹ công bố

“Khung Kiến trúc tổng thể Liên bang "(FEAF) Phiên bản 1.1 để phát triển một kiến trúc tổng thể (Enterprise Architecture) (EA) bên trong mọi cơ quan Liên bang Mỹ cho một hệ thống vượt qua nhiều ranh giới giữa các cơ quan Tháng 2 năm 2002, theo chỉ đạo của Văn phòng quản lý và ngân sách (OMB), với sự hỗ trợ của Cục quản lý dịch vụ (GSA) và các Giám đốc thông tin (CIO) Liên bang của Mỹ, việc phát triển của một kiến trúc tổng thể Liên bang (FEA) được bắt đầu Mục đích của nỗ lực này là xác định những cơ hội để đơn giản hóa các quy trình và thống nhất làm việc giữa các cơ quan, trong phạm vi dòng nghiệp vụ của chính phủ liên bang Mỹ Khung kiến trúc tổng thể Liên bang trang bị cho OMB và các cơ quan Liên bang một ngôn ngữ và khung công việc chung để mô tả và phân tích đầu tư, tăng cường cộng tác và cuối cùng chuyển đổi chính phủ Liên bang Hoa Kỳ Kết quả của nỗ lực này sẽ

là một chính phủ lấy công dân làm trung tâm, tập trung vào khách hàng nhằm tối đa hóa đầu tư công nghệ để đạt được những kết quả sứ mệnh tốt hơn Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan chính phủ

là một cách tốt đã được chứng minh để cải thiện hiệu quả và năng suất của cơ quan chính phủ trong việc phục vụ công dân Do các chi phí hoạt động hàng

Trang 39

năm và những đầu tư tổng thể trong lĩnh vực công nghệ thông tin là rất lớn và nhiều hệ thống thông tin được xây dựng và triển khai trên toàn quốc, nên có nhiều thách thức đặt ra cần được giải quyết cho bất cứ chính phủ nào:

(1) Sự thiếu hiệu quả tiềm năng và không công hiệu trong hoạt động của cơ quan chính phủ khi nó liên quan đến các quyết định về đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin

(2) Làm thế nào để quản lý tốt đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin để giảm chi tiêu trùng lặp và cải thiện sự cộng tác giữa các cơ quan chính phủ

(3) Làm thế nào để cải thiện thực tiễn trong thiết kế, hiện đại hóa, sử dụng, chia sẻ, và hiệu năng tài nguyên thông tin của chính phủ

(4) Làm thế nào để phát triển từng bước các cơ sở hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử

Trong “Chiến lược cải tiến công nghệ thông tin - truyền thông Nhật Bản”, tác giả Marie Yamakawa đã đề cập đến chiến lược phát triển Chính phủ điện tử của Nhật Bản và trình bày các mô hình cấu trúc cho việc đánh giá và thực hiện chiến lược Nghiên cứu báo cáo nội bộ của Bộ Thông tin và Truyền thông Nhật bản, “Báo cáo về chiến lược cải tiến ICT Nhật bản, 2015”, đã đề cập các nội dung chính trong chiến lược phát triển Chính phủ điện tử của Nhật Bản đến 2015 và giới thiệu các mô hình cấu trúc cho việc đánh giá và thực hiện chiến lược Theo đó Nhật Bản phát triển Chính phủ điện tử trong chiến lược tổng thể “Nhật Bản điện tử” (e-Japan), nhằm sử dụng công nghệ thông tin như công cụ để thực tế hoá một Nhật Bản “Không khoảng cách”, mọi người đều có thể hưởng lợi từ ứng dụng công nghệ thông tin, [28]

Kinh nghiệm xây dựng Chính phủ điện tử tại nhiều quốc gia cho thấy, việc đầu tư xây dựng hạ tầng thông tin cho Chính phủ điện tử được coi là vấn

đề cốt lõi Thực tế tại một số quốc gia trên thế giới, các cơ quan nhà nước đã triển khai hạ tầng thông tin tiên tiến, hiện đại với những đặc trưng riêng nhằm đáp ứng một số nhu cầu đặc biệt riêng của quốc gia mình

Theo nguồn khảo sát Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2012,

Trang 40

qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều tài liệu cung cấp một số mô hình trình bày

về phát triển Chính phủ điện tử thông qua các mức phát triển riêng biệt xuất phát từ quan điểm của người dùng Để trình bày cách phát triển hướng tới các dịch vụ điện tử tích hợp cho công dân hoặc doanh nghiệp, sẽ sử dụng mô hình

mô tả phát triển của Chính phủ điện tử, trên mạng toàn cầu, theo bốn giai đoạn sau:

– Hiện diện của các dịch vụ thông tin - các website chính phủ cung cấp thông tin công khai về chính sách, quản lý chỉ đạo, pháp luật, quy phạm, những tài liệu liên quan và các loại dịch vụ Chúng nối kết tới các bộ, các sở ban ngành và các cấp chính quyền Công dân có thể dễ dàng nhận được thông tin mới nhất từ chính quyền và các bộ và có thể theo các đường nối kết để có được thông tin quan tâm

– Dịch vụ thông tin nâng cao - các website chính phủ cung cấp việc giao tiếp điện tử một chiều được nâng cao hoặc hai chiều đơn giản giữa chính phủ và công dân, chẳng hạn như có thể tải về các biểu mẫu cho các dịch vụ và ứng dụng công Trong các trang web có các trang có khả năng âm thanh, video và nhiều ngôn ngữ

– Dịch vụ giao dịch - các website của chính phủ tham gia vào giao tiếp hai chiều với công dân, bao gồm cả yêu cầu và nhận các đầu vào về chính sách, các chương trình, quy phạm của chính phủ, v.v… Một số biểu mẫu xác thực điện tử danh tính của công dân cần thiết để hoàn thành việc trao đổi Website của chính phủ xử lý các giao dịch phi tài chính, ví dụ như bỏ phiếu điện tử, tải về và tải lên các biểu mẫu, nộp thuế trực tuyến hoặc xin cấp chứng chỉ, cấp phép và giấy phép Chúng cũng xử lý các giao dịch tài chính, ví dụ như chuyển tiền trên một mạng an toàn tới cơ quan chính phủ

– Dịch vụ kết nối - các website của chính phủ thay đổi cách chính phủ giao tiếp với công dân, chủ động phong trong việc yêu cầu thông tin và lấy ý kiến của công dân bằng cách sử dụng Web 2.0 và các công cụ tương tác khác

Ngày đăng: 24/11/2017, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết số 13-NQ/TƯ về “Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2012
4. Bộ Chính trị (khoá VIII) (2000), Chỉ thị số 58/CT-TW về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Bộ Chính trị (khoá VIII)
Năm: 2000
22. Lê Văn Điệu, Mai Thanh Hải (2012), đề án “Thiết lập hệ thống họp trực tuyến từ Trung ương đến tận cấp quận/huyện”, mã số: 70-12-KHKT-RD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết lập hệ thống họp trực tuyến từ Trung ương đến tận cấp quận/huyện
Tác giả: Lê Văn Điệu, Mai Thanh Hải
Năm: 2012
23. Lê Văn Điệu (2012), “Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông và giải pháp đảm bảo an toàn an ninh thông tin, phục vụ hiệu quả cho hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước”, Tạp chí công nghệ thông tin và Truyền thông, kỳ 2 tháng 7-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông và giải pháp đảm bảo an toàn an ninh thông tin, phục vụ hiệu quả cho hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước
Tác giả: Lê Văn Điệu
Năm: 2012
24. Lê Văn Điệu (2016), “Quản lý nhà nước về hạ tầng thông tin đối với cơ sở dữ liệu quốc gia trong xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 244 tháng 5-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về hạ tầng thông tin đối với cơ sở dữ liệu quốc gia trong xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử
Tác giả: Lê Văn Điệu
Năm: 2016
25. Lê Văn Điệu (2016), “Quản lý nhà nước về an toàn thông tin đối với hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 246 tháng 7-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về an toàn thông tin đối với hạ tầng thông tin trong xây dựng Chính phủ điện tử
Tác giả: Lê Văn Điệu
Năm: 2016
26. Lê Văn Điệu, Nguyễn Trong Khánh (2012), “Nghiên cứu Ứng dụng điện toán đám mây vào triển khai trung tâm thông tin dữ liệu điện tử Chính phủ”mã số 72-12-KHKT-RD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Ứng dụng điện toán đám mây vào triển khai trung tâm thông tin dữ liệu điện tử Chính phủ
Tác giả: Lê Văn Điệu, Nguyễn Trong Khánh
Năm: 2012
27. Lê Văn Điệu (2012) “Ứng dụng công nghệ thông tin, động lực cho cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính phục vụ, hiệu lực, hiệu quả và minh bạch”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 197 tháng 6-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin, động lực cho cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính phục vụ, hiệu lực, hiệu quả và minh bạch
29. Nguyễn Thanh Hải (2014) “Công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin”, Tạp chí Công nghệ thông tin và truyền thông, kỳ 2- tháng 11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin
30. Nguyễn Đăng Hậu (2010), “Chính phủ điện tử”, nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ điện tử
Tác giả: Nguyễn Đăng Hậu
Nhà XB: nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
Năm: 2010
36. Nguyễn Đăng Khoa (2011) “Nghiên cứu một số bài toán an toàn thông tin trong hành chính điện tử”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành hệ thống thông tin – Đại học quốc gia Hà Nội – Mã số: 60.48.05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số bài toán an toàn thông tin trong hành chính điện tử
40. Đinh Hoàng Long (2015), “Hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai Chính phủ điện tử”. http://aita.gov.vn/tin-tuc/1419/ ha- tang-ung –dung-cong-nghe-thong-tin-trong-trien-khai-chinh-phu-dien-tu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai Chính phủ điện tử
Tác giả: Đinh Hoàng Long
Năm: 2015
41. Lê Ngọc Minh, “Nghiên cứu triển khai thử nghiệm công nghệ wifi offload và ứng dụng trên mạng MobiFone”, Mã số 07-13-KHKT-SP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu triển khai thử nghiệm công nghệ wifi offload và ứng dụng trên mạng MobiFone
55. Đỗ Tiến Thăng, “Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp thông tin tác nghiệp và dịch vụ hành chính công cho các cơ quan hành chính cấp xã”, mã số: 12-12-KHKT-SP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng phần mềm cung cấp thông tin tác nghiệp và dịch vụ hành chính công cho các cơ quan hành chính cấp xã
68. Viện chiến lược, Bộ Thông tin và Truyền thông (2010) báo cáo trình Chính phủ về nghiên cứu dự thảo Đề án “ Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin vào năm 2020”. Báo cáo Chính phủ, ngày 13 tháng 4 năm 2010.B. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin vào năm 2020
83. United Nations Department of Economic and Social Affairs. "United Nations E-Government Survey 2012". UN. Retrieved 2010-04-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: United Nations E-Government Survey 2012
18. Lệnh Lỗi Dương (2006), Sự cần thiết của kiến trúc thông tin quốc gia. http://www.pcworld.com.vn/articles/kinh-doanh/giai-phap/2006/04/1188844/su-can-thiet-cua-kien-truc-thong-tin-quoc-gia/ Link
19. https://vi.wikipedia.org/wiki/Internet; World Bank, www.worldbank.org 20. Nguyễn Đăng Đào (2011), Gắn kết chặt chẽ bảo đảm an toàn thông tin vớiquá trình triển khai Chính phủ điện tử; http://antoanthongtin.vn Link
31. Phạm Quang Hiếu (2013), Phân tích tình hình triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam. http://aita.gov.vn/tin-tuc/2013/phan-tich-tinh-hinh-trien-khai-chinh-phu-dien-tu-o-viet-nam Link
34. Bùi Quang Hưng (2011), Nghiên cứu kinh nghiệm, lộ trình phát triển Chính phủ điện tử của Nhật Bản. http://aita.gov.vn/tin-tuc/1589/nghien-cuu-kinh-nghiem-lo-trinh-phat-trien-chinh-phu-dien-tu-cua-nhat-ban Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm