1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và sử dụng nhà tiêu ở người dân tộc dao tại một số xã thuộc huyện nguyên bình, tỉnh cao bằng

118 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tầm quan trọng của việc xử lý phân và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh Nhu cầu bài tiết của con người không thể thiếu được trong sự sống của mình.. Tình trạng quản lý phân người không tốt t

Trang 1

TRẦN NGỌC THÚY

THỰC TRẠNG VÀ SỬ DỤNG NHÀ TIÊU

Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC

HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016

Trang 2

TRẦN NGỌC THÚY

THỰC TRẠNG VÀ SỬ DỤNG NHÀ TIÊU

Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC

HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Chuyên ngành: Y học dự phòng

Mã số: 60.72.01.63

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016

Trang 3

Nguyên, em luôn nhận được sự dạy bảo, hướng dẫn tận tình và sự tạo điều kiện tối đa của các thầy giáo, cô giáo và người thân

Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, bộ phận sau đại học, khoa y tế công cộng trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện từ việc trang bị

kiến thức qua các môn học đến cách thu thập, xử lý số liệu làm luận văn

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Quỳnh Hoa – Phó khoa y tế công cộng, trưởng bộ môn Sức khỏe môi trường, Sức khỏe nghề nghiệp, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên là người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân, trạm y tế các xã Phan Thanh,

Vũ Nông, Ca Thành huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đặc biệt là các ông/ bà chủ tịch ủy ban, các trạm trưởng trạm y tế, nhân viên y tế thôn bản và toàn bộ các hộ gia đình người dân tộc Dao đã hợp tác, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu để hoàn thành luận văn

Và cuối cùng để có được kết quả này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè trong lớp cao học K18 khóa học 2014 – 2016, bố mẹ tôi, chồng con tôi và những người thân trong gia đình đã kịp thời động viên tôi về tinh thần và hỗ trợ về vật chất để giúp tôi hoàn thành khóa học và luận văn này

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả

Trần Ngọc Thúy

Trang 4

tộc Dao tại một số xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” là do tự bản thân

tôi thực hiện Tất cả những số liệu trong đề tài do tôi tham gia thu thập, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tôi xin đảm bảo tính khách quan, trung thực của các số liệu và kết quả xử

lý trong nghiên cứu này

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả

Trần Ngọc Thúy

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.1.1 Khái niệm về môi trường 3

1.1.2 Định nghĩa sức khỏe 3

1.1.3 Khái niệm sức khỏe môi trường 3

1.1.4 Khái niệm về nhà tiêu 3

1.2 Thực trạng sử dụng nhà tiêu hiện nay 4

1.2.1 Tầm quan trọng của việc xử lý phân và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 4

1.2.2 Những quy định của nhà tiêu hợp vệ sinh 6

1.2.2.1.Những quy định chung 6

1.2.2.2.Những quy định về xây dựng, sử dụng và bảo quản đối với các loại nhà tiêu 9

1.2.3 Thực trạng sử dụng nhà tiêu trên thế giới 12

1.2.4 Thực trạng sử dụng nhà tiêu ở Việt Nam 14

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình 1.3.1 Nguồn lực, hoạt động của các cán bộ y tế thực hiện chương trình vệ sinh môi trường 18

1.3.2 Sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể 19

1.3.3 Về phía người dân 20

1.3.3.1.Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân 20

1.3.3.2 Phong tục tập quán, thói quen của cộng đồng người dân tộc Dao 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

Trang 7

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24

2.2.2.1.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24

2.2.2.2.Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính 25

2.3 Các chỉ số nghiên cứu 26

2.3.1 Thực trạng sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình 26

2.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao 26

2.3.2.1 Về phía nguồn lực, hoạt động của cán bộ y tế thực hiện chương trình vệ sinh môi trường 26

2.3.2.2 Về phía các ban ngành đoàn thể của xã 26

2.3.2.3 Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân 26

2.4 Phương pháp thu thập thông tin 27

2.4.1 Phỏng vấn 27

2.4.2 Quan sát 27

2.4.3 Phỏng vấn sâu 27

2.4.4 Thảo luận nhóm 27

2.5 Cách đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành 27

2.5.1 KAP của người dân tộc Dao 27

2.5.2 Cách phân loại nhà tiêu 28

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 28

2.7 Sai số và hạn chế sai số 29

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

Trang 8

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao ở

huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 38

Chương 4: BÀN LUẬN 51

KẾT LUẬN 65

KHUYẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 9

Bảng 3.2 Tỷ lệ các loại nhà tiêu HGĐ đang sử dụng tại huyện Nguyên Bình,

tỉnh Cao Bằng 32 Bảng 3.3 Đánh giá việc sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình tại 3 xã, huyện

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 32 Bảng 3.4 Tỷ lệ loại nhà tiêu hai ngăn HGĐ đang sử dụng tại 3 xã, huyện

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 33 Bảng 3.5 Tỷ lệ loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi HGĐ đang sử dụng tại 3

xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 33 Bảng 3.6 Tỷ lệ loại nhà tiêu thấm dội nước HGĐ đang sử dụng tại 3 xã, huyện

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 34 Bảng 3.7 Tỷ lệ loại nhà tiêu tự hoại HGĐ đang sử dụng tại 3 xã, huyện

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 34 Bảng 3.8 Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan

sát đối với nhà tiêu hai ngăn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 35 Bảng 3.9 Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan

sát đối với nhà tiêu thấm dội nước tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 37 Bảng 3.10 Số lượng cán bộ y tế chuyên trách chương trình vệ sinh môi trường

ở 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 38 Bảng 3.11 Số lượng cán bộ trạm y tế, y tế thôn bản thực hiện chương trình vệ

sinh môi trường ở 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 38

Trang 10

Bảng 3.13 Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia công tác vệ sinh môi trường của xã đã

thực hiện truyền thông về về sinh môi trường 39 Bảng 3.14 Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Phan Thanh,

huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 40 Bảng 3.15 Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Vũ Nông, huyện

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 40 Bảng 3.16 Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Ca Thành,

huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 41 Bảng 3.17 Kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu tại 3 xã, huyện Nguyên

Bình, tỉnh Cao Bằng 45 Bảng 3.18 Thái độ của người dân về vấn đề không có nhà tiêu ảnh hưởng đến

sức khỏe con người và môi trường xung quanh 45 Bảng 3.19 Thái độ của người dân về vấn đề mỗi gia đình cần có nhà tiêu riêng

46

Trang 11

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các hộ gia đình có nhà tiêu tại 3 xã, huyện Nguyên bình,

tỉnh Cao Bằng 31 Biểu đồ 3.3 Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu hai ngăn 46 Biểu đồ 3.4 Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu thấm dội nước 47 Biểu đồ 3.5 Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu tự hoại 47

Trang 12

dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 42 Hộp 3.2 Nhu cầu tập huấn về vệ sinh môi trường để nâng cao hiệu quả truyền

thông nhằm làm tăng tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân 43 Hộp 3.3 Ảnh hưởng của sự quan tâm của ban ngành đoàn thể đến việc sử

dụng nhà tiêu của người dân 44 Hộp 3.4 Ảnh hưởng của kiến thức đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân

48 Hộp 3.5 Ảnh hưởng của phong tục tập quán đến việc sử dụng nhà tiêu của

người dân tộc Dao tại 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 49

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại Bởi lẽ, môi trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con người, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quá trình hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người cũng như với

sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Sự ô nhiễm của môi trường sống đã dẫn đến những hiểm họa sinh thái tiềm tàng, mà hậu quả chưa thể nào lường trước được Vì thế vệ sinh môi trường là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở phạm vi một quốc gia mà đang là vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn thế giới bởi tầm quan trọng của nó đến sức khỏe con người [23]

Vệ sinh môi trường bao gồm rất nhiều vấn đề như vấn đề về nước sạch,

xử lý rác thải, … nhưng vấn đề sử dụng nhà tiêu đặc biệt được quan tâm nhất

là ở những vùng nông thôn Ở đó vệ sinh môi trường còn kém, các công trình

vệ sinh còn đơn sơ, chưa đúng tiêu chuẩn, chất thải của người và gia súc chưa được xử lý đúng cách, chưa đảm bảo vệ sinh, tập quán dùng phân người và gia súc để bón ruộng và hoa màu vẫn còn tồn tại góp phần làm phát tán mầm bệnh ra môi trường xung quanh đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân Bởi phân người từ lâu đã được biết đến là nguồn gây ô nhiễm môi trường, truyền nhiễm bệnh tật cho con người Nếu không được quản lý, xử lý đúng kỹ thuật, phân người sẽ là nguồn lan truyền vi sinh vật gây bệnh và ký sinh trùng đường ruột ra môi trường bên ngoài, lây bệnh nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng [23]

Nhiều nghiên cứu về thực trạng sử dụng nhà tiêu cho thấy số HGĐ có nhà tiêu và số HGĐ sử dụng nhà tiêu HVS còn chiếm tỷ lệ thấp Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn thì tỷ lệ HGĐ người Dao ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên có nhà tiêu chiếm 29,4%, tỷ lệ số HGĐ có nhà tiêu hai ngăn

Trang 14

chiếm 11,4%, nhà tiêu tự hoại 2,0%, nhà tiêu thấm dội nước 0,6% và tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS mới chỉ đạt 16,7% [54]

Nguyên Bình là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Cao Bằng, địa hình chủ yếu là đồi núi chia cắt phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều, nền kinh tế phát triển chậm Tại đây chủ yếu có các dân tộc Tày, Nùng, H’mong, Dao sinh sống, trong đó người Dao chiếm tỉ lệ 60% Theo báo cáo thống kê cho biết tỉ lệ các hộ gia đình có nhà tiêu năm 2013 (29%) và năm 2014 (31%) Các nhà tiêu hầu hết không đảm bảo vệ sinh Phần lớn những hộ gia đình không có nhà tiêu họ thường đi ra ngoài vườn hay bờ suối, bụi cây Kèm theo

đó là trình độ học vấn còn thấp và họ vẫn giữ những phong thục tập quán lạc hậu Chính bởi những phong tục tập quán của cộng đồng người dân tộc nói chung và cộng đồng người dân tộc Dao nói riêng còn nhiều lạc hậu như vậy nên đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng sử dụng nhà tiêu của người dân ở các vùng miền và cũng đã thống kê được tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân

ở các tỉnh thành Nhưng tại sao cho đến nay tỷ lệ sử dụng nhà tiêu HVS vẫn còn thấp Thực trạng sử dụng nhà tiêu của cộng đồng người Dao ở Cao Bằng

cụ thể như thế nào, có khác cộng đồng người Dao ở những nơi khác hay không Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân

tộc Dao Để trả lời những vấn đề đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực

trạng và sử dụng nhà tiêu ở người dân tộc Dao tại một số xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”, với các mục tiêu:

1 Đánh giá thực trạng và sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại 3 xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng năm 2015

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại 3 xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng năm

2015

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm về môi trường

Môi trường là toàn thể hoàn cảnh tự nhiên (đất, nước, không khí, ánh sáng, vi sinh vật…), hoàn cảnh xã hội (phong tục tín ngưỡng, sinh hoạt, văn hóa, nghề nghiệp, gia đình,…) tạo thành những điều kiện sống bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe con người [14]

1.1.2 Định nghĩa về sức khỏe

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là trạng thái thoải mái cả

về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tật.” [14]

1.1.3 Khái niệm sức khỏe môi trường

Sức khỏe môi trường là “Trạng thái sức khỏe của con người liên quan

và chịu tác động của các yếu tố môi trường xung quanh” [14]

1.1.4 Khái niệm về nhà tiêu

- Nhà tiêu là hệ thống thu nhận, xử lý tại chỗ phân và nước tiểu của con người Việc sử dụng nhà tiêu HVS và xử lý phân đúng kỹ thuật sẽ là thay đổi theo chiều hướng tốt mô hình bệnh tật ở nông thôn cũng như cải thiện được môi trường đang ngày một ô nhiễm [14]

- Nguyên tắc xử lý phân: tập trung, cách ly, biến thành vô hại và không làm ô nhiễm môi trường đất – nước- không khí

- Yêu cầu đối với một nhà tiêu HVS [14]:

+ Không làm nhiễm bẩn đất xung quanh

+ Không làm nhiễm bẩn các nguồn nước dùng để ăn uống và sinh hoạt

+ Không có mùi hôi thối, không làm hấp dẫn côn trùng

+ Không để cho ruồi nhặng tiếp xúc với phân

+ Vị trí xử lý phân phải sạch sẽ, dễ thoát nước, kín

Trang 16

+ Dễ sử dụng bảo quản và dễ sửa chữa

+ Phương pháp xử lý đơn giản, giá thành hạ

+ Phù hợp với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán từng địa phương + Được người dân chấp nhận và tham gia

1.2 Thực trạng sử dụng nhà tiêu

1.2.1 Tầm quan trọng của việc xử lý phân và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Nhu cầu bài tiết của con người không thể thiếu được trong sự sống của mình Với lượng phân người hàng ngày thải ra môi trường là hàng chục ngàn tấn đã và đang góp phần làm ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác nhau Việc quản lý, thu gom và xử lý không HVS sẽ là hiểm họa của rất nhiều bệnh tật đối với con người Mặt khác trong phân người chứa rất nhiều mầm bệnh gây nguy hiểm cho sức khỏe của cộng đồng (trên 50 loại vi khuẩn gây bệnh

có trong phân người), nếu không được thu gom và xử lý HVS sẽ gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm thực phẩm, ô nhiễm môi trường xung quanh và gây nên nhiều loại bệnh tật trong đó có bệnh tiêu chảy, giun sán, ngoài da, phụ khoa, mắt và các bệnh khác Trên toàn thế giới hàng năm có gần 2 tỷ người bị lây nhiễm ký sinh trùng đường ruột (giun đũa, giun tóc và giun móc) [51] Chỉ tính riêng bệnh tiêu chảy cũng chiếm 4,1% gánh nặng bệnh tật và gây tử vong cho 1,8 triệu người mỗi năm trên toàn cầu (tính cả bệnh tả) Ước tính, 88% trường hợp này qui cho việc sử dụng nước không an toàn, thiếu nhà tiêu HVS

và hành vi vệ sinh kém [27] Ở Việt Nam, ước tính các bệnh liên quan tới nước và vệ sinh chiếm 7,5% gánh nặng bệnh tật [9]

Môi trường nước là trung gian lây truyền các mầm bệnh, đặc biệt là các bệnh lây truyền theo đường phân - miệng và có thể gây ra những vụ dịch lớn ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Sử dụng nước sinh hoạt và nhà tiêu không HVS làm gia tăng tỷ lệ bệnh tật của người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của cộng đồng Nước bị nhiễm phân được phát hiện qua

Trang 17

việc xét nghiệm nước tìm thấy sự có mặt của các vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là Escherichia Coli Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long việc sử dụng loại cầu tiêu ao cá đã gây ô nhiễm nặng nề cho tất cả các nguồn nước bề mặt

Một trong những yếu tố quan trọng của môi trường sống là đất Các thành phần vật lý, hóa học của đất liên quan trực tiếp đến sức khỏe của con người Đất là nơi trồng trọt, cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm hàng ngày của con người Môi trường đất bị ô nhiễm do quản lý phân người không tốt có thể thông qua nguồn cung cấp thực phẩm hàng ngày, bụi bặm hoặc qua tay của người nhiễm bẩn không rửa để gây bệnh cho con người [23]

Tình trạng quản lý phân người không tốt trong đó có việc sử dụng các loại nhà tiêu không HVS hay không sử dụng nhà tiêu ở một số HGĐ đã gây ô nhiễm đất, nước, không khí, làm cho ruồi nhặng phát triển, phát tán các loại vi sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng

Bên cạnh đó, ở các vùng nông thôn, tập quán sử dụng phân người trong sản xuất nông nghiệp đã có từ xa xưa và cho đến nay ở nhiều vùng vẫn còn

sử dụng Phân người có đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây trồng phát triển

và có thể thay thế được nhiều loại phân bón hóa học khác Sử dụng phân người để làm phân bón cho cây trồng vừa tiết kiệm được đầu tư sản xuất, vừa tránh được thoái hóa đất nông nghiệp Tuy nhiên, việc sử dụng phân người chưa được xử lý đúng lại là một trong những nguồn ô nhiễm nhất là mối nguy hại trực tiếp cho sức khỏe của người nông dân và lan truyền các mầm bệnh nguy hiểm cho cộng đồng Theo kết quả nghiên cứu tại Thái Nguyên của Hoàng Anh Tuấn cho thấy số hộ gia đình có sử dụng phân để bón ruộng và hoa màu là 90,2%, trong đó số HGĐ sử dụng phân ủ chỉ có 17,1% [54] Theo nghiên cứu khác của Hoàng Thị Thu Hà cho thấy số HGĐ sử dụng phân để

Trang 18

bón ruộng chiếm tỉ lệ 49% lại rơi vào những HGĐ không có nhà tiêu hoặc có nhà tiêu nhưng không HVS, còn đối với các HGĐ có nhà tiêu HVS thì 100% không sử dụng phân bón ruộng [54]

Việt Nam là một nước nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn, đặc điểm khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều bất kỳ mùa nào cũng có khả năng làm cho mầm bệnh là trứng giun sán có khả năng phát triển Như vậy ở đất, nước, không khí, thực phẩm đều có mặt của các loại ký sinh trùng gây bệnh đường ruột cho người Điều đó chứng tỏ việc sử dụng nhà tiêu HVS, quản lý và xử lý phân còn nhằm mục đích làm giảm sự ô nhiễm môi trường và giảm sự ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân

Trong thời gian qua Việt Nam đang gặp phải những thách thức rất lớn trong việc khống chế các dịch bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa Để hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường, giảm tỉ lệ mắc bệnh, dịch liên quan đến phân, nước, từng bước cải thiện và nâng cao sức khỏe cộng đồng cần tập trung đẩy mạnh các hành vi vệ sinh cá nhân và đặc biệt là quản lý tốt các nguồn phân thông qua việc xây dựng và sử dụng các loại nhà tiêu HVS cũng như sử dụng phân đúng cách trong sản xuất nông nghiệp

1.2.2 Những quy định của nhà tiêu hợp vệ sinh

Trang 19

a) Cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với người, động vật và côn trùng

b) Có khả năng tiêu diệt được tác nhân gây bệnh có trong phân (vius, vi khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trường xung quanh

Các nội dung, quy định này quy định tình trạng vệ sinh của nhà tiêu Các yêu cầu về thiết kế, vật liệu, kích thước, kĩ thuật xây dựng, độ bền và các khía cạnh khác của nhà tiêu tuân theo hướng dẫn của BYT Quy định này áp dụng để kiểm tra, giám sát, đánh giá và phân loại tình trạng vệ sinh của các loại nhà tiêu HVS được quy định trong quyết định này Một số loại nhà tiêu HVS như:

Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ: là nhà tiêu có hai ngăn kín, ở một thời điểm chỉ sử dụng một trong hai ngăn, có cả phân và tro trong ngăn sử dụng (nước tiểu tách riêng) Khi một trong hai ngăn đầy sẽ được đậy kín để ủ, thường ủ ít nhất 6 tháng trước khi được dùng làm phân bón ruộng

Nhà tiêu tự hoại: là nhà tiêu đảm bảo tốt nhất quá trình thu gom phân,

cô lập và tái sinh phân với các ngăn chứa, ngăn lắng và ngăn lọc Loại nhà tiêu này đảm bảo tốt nhất và không gây ô nhiễm môi trường Các nhà ven sông cần sử dụng loại nhà tiêu này để hạn chế ô nhiễm nguồn nước Tuy nhiên loại này tương đối đắt tiền [11]

Trang 20

Nhà tiêu thấm dội nước: là nhà tiêu đơn giản được sử dụng phổ biến ở vùng nông thôn Nhà tiêu gồm phần nhà xí có tường bao quanh, bệ có hố, ống

xi phông để tạo hút nước và ống dẫn phân Bể chứa phân có một ngăn, trên thành hố có lỗ thấm để cho nước dư thừa từ hố thấm lọc qua lớp đất xung quanh làm sạch chất ô nhiễm Sử dụng loại nhà tiêu này cần phải dội nước cho mỗi lần đi vệ sinh để đưa phân xuống hố và tạo nút nước chống mùi hôi Nhưng không nên dùng loại nhà tiêu này ở vùng trũng, dễ ngập nước hay vùng khan hiếm nước

Nhà tiêu chìm có ống thông hơi: là loại nhà tiêu sử dụng vi khuẩn kị khí

để phân hủy phân Sau khi đi vệ sinh, phân người sẽ rơi xuống hố còn nước tiểu được dẫn ra ngoài bằng rãnh thoát Sau mỗi lần đi phân được ủ bằng chất độn (tro bếp, mùn cưa, vôi bột hoặc đất bột) Chất độn sẽ làm khô phân, tạo môi trường không thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh Ống thông hơi góp phần giảm mùi hôi trong nhà tiêu, thoát nhanh hơi nước trong hố phân và khống chế ruồi nhặng Loại nhà tiêu này có ưu điểm chi phí rẻ, dễ sử dụng và bảo quản đặc biệt thích hơp cho những HGĐ có hạn chế về nước dùng Tuy nhiên

có nhược điểm là vẫn còn mùi khó chịu, có thể làm ô nhiễm nguồn nước và không sử dụng được ở nơi đất chật, người đông, vùng ngập nước

Trang 21

Tiêu chuẩn vệ sinh theo quyết định số 08/2005/QĐ-BYT do BYT ban hành lần đầu tiên ngày 11/3/2005 [11] gồm có bốn loại nhà tiêu HVS là nhà tiêu hai ngăn, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu chìm có ống thông hơi Nhà tiêu Bioga cũng là một dạng của nhà tiêu tự hoại, nên cũng được xếp là nhà tiêu HVS Nhà tiêu bể khí sinh học Bioga dùng để lưu trữ và phân hủy chất thải của con người, vật nuôi đồng thời tạo ra khí sinh học từ quá trình phân hủy kị khí chất thải Loại nhà tiêu này có ưu điểm sạch sẽ, dễ

cọ rửa, không gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra nó còn tạo nguồn nguyên liệu để HGĐ sử dụng thay thế cho chất đốt Tuy nhiên, nó có nhược điểm là chi phí đầu tư ban đầu lớn và đòi hỏi khối lượng phân đầu vào phải đủ ngưỡng và cần bổ sung liên tục nên chỉ có thể thích hợp cho các HGĐ sử dụng chăn nuôi với mô hình lớn

1.2.2.2.Những quy định về xây dựng, sử dụng và bảo quản đối với các loại nhà tiêu [11], [13]

* Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ

Quy định về xây dựng:

a) Tường ngăn chứa phân kín, không bị rò rỉ, thấm nước

b) Cửa lấy mùn phân được trát kín bằng vật liệu không thấm nước

Trang 22

c) Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước tiểu

d) Có nắp đậy hai lỗ tiêu

e) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa

f) Ống thông hơi (đối với nhà tiêu hai ngăn có ống thông hơi) có đường kính ít nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 40cm và có lưới chắn ruồi

Quy định về sử dụng và bảo quản:

a) Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy, rác

b) Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu hoặc cho vào dụng cụ chứa có đậy nắp

c) Không có mùi hôi thối

d) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu

e) Không sử dụng đồng thời hai ngăn

f) Có đủ chất độn và bỏ chất độn vào lỗ tiêu sau mỗi lần đi tiêu

g) Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước (nếu có) và dụng cụ chứa nước tiểu

h) Không lấy phân trong ngăn ủ ra trước 6 tháng

i) Lỗ tiêu ngăn đang sử dụng luôn được đậy kín, ngăn ủ được trát kín

* Nhà tiêu chìm có ống thông hơi [11]

Quy định về xây dựng:

a) Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng

b) Cách nguồn nước ăn uống sinh hoạt từ 10m trở lên

c) Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nươc tiểu

d) Miệng hố phân cao hơn mặt đất xung quanh ít nhất 20cm

e) Có nắp đậy lỗ tiêu

f) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa

g) ống thông hơi có đường kính ít nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 40cm và có lưới chắn ruồi

Trang 23

Quy định về sử dụng và bảo quản:

a) Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy, rác

b) Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu

c) Không có mùi hôi thối

d) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu

e) Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước nước tiểu

f) Lỗ tiêu thường xuyên được đậy kín

* Nhà tiêu thấm dội nước [13]

Quy định về xây dưng:

a) Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng

b) Cách nguồn nước ăn uống sinh hoạt từ 10m trở lên

c) Bể chứa phân không bị lún, sụt, thành bể cao hơn mặt đất ít nhất 20cm d) Nắp bể chứa phân được chát kín, không bị rạn nứt

e) Mặt sàn nhà tiêu phẳng nhẵn, không đọng nước

f) Bệ xí có nút nước

g) Nước từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân không thấm, tràn ra mặt đất

Quy định chung về bảo quản:

a) Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy

b) Không có mùi hôi thối

c) Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy, rác

d) Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy

e) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu

f) Bệ xí sạch, không dính, đọng phân

g) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa

* Nhà tiêu tự hoại [13]

Trang 24

Quy định về xây dưng:

a) Bể xử lý gồm 3 ngăn

b) Bể chứa phân không bị lún, sụt

c) Nắp bể chứa phân được trát kín, không bị rạn nứt

d) Mặt sàn nhà tiêu phẳng nhẵn, không đọng nước

e) Bệ xí có nút nước

f) Có ống thông hơi

Quy định về sử dụng và bảo quản

a) Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy

b) Không có mùi hôi thối

c) Nước từ bể xử lý chảy vào cống hoặc hố thấm, không chảy tự do ra xung quanh

d) Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác

e) Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy

f) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu

g) Bệ xí sạch, không dính, đọng phân

h) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa

1.2.3.Thực trạng sử dụng nhà tiêu trên thế giới

Theo báo cáo đánh giá tỷ lệ bao phủ nhà tiêu HVS của WHO năm 2002 vẫn còn 42% dân số thế giới (2,6 tỷ người) không được tiếp cận với nhà tiêu HVS ở các thành phố của Châu Phi và Châu Đại Dương là thấp nhất, Châu

Mỹ Latinh, vùng Caribe và Châu Á có phạm vi bao phủ cao hơn Châu Âu và Bắc Mỹ có phạm vi bao phủ cao nhất Tại Châu Á, các nước đang phát triển,

tỷ lệ dân số sử dụng nhà tiêu dội nước tăng nhanh hơn so với các khu vực khác (43,5%) Khoảng ½ dân số của các thành phố thuộc Châu Đại Dương sử dụng nhà tiêu tự hoại trong khi tỷ lệ này tại các thành phố lớn của Châu Mỹ

Trang 25

Latinh và vùng Caribê là ¼ Tại Châu Phi nhà tiêu tự hoại rất phổ biến, nhưng

tỷ lệ dân số sử dụng nhà tiêu đào hố (22,4%) hoặc nhà tiêu chìm có ống thông hơi (13,6%) cao hơn Châu Á và Thái Bình Dương [71]

Theo thống kê của Salabh International, một tố chức phi chính phủ chuyên tài chợ cho các chương trình dịch tễ, thì ngay tại Ấn Độ có tới 700 triệu người dân không có nhà tiêu Tình trạng này dẫn đến họ phải “loại bỏ” cặn bã trong cơ thể bừa bãi ngoài môi trường, một điều kiện thuận lợi cho bệnh tật lây lan Phụ nữ phải hứng chịu nhiều bất tiện hơn khi không có nhà tiêu, vì họ phải “đi” vào lúc trước hoặc sau khi mặt trời lặn

Theo chương trình môi trường Liên Hợp Quốc, có tới 2,4 tỷ người trên toàn thế giới không có nhà tiêu Chính vì thế nguồn gây ô nhiễm nước chủ yếu ở các nước đang phát triển là phân người Tình trạng này tạo điều kiện cho vi khuẩn, kí sinh trùng và virus xâm nhập vào nước uống và gây bệnh Ở các con sông lớn tại Châu Á lượng vi khuẩn nguy hiểm có nguồn gốc từ phân người cao gấp 50 lần mức cho phép của WHO Do thiếu nhà tiêu sạch sẽ, trẻ

em tại các vùng nông thôn ở các nước đang phát triển rất dễ bị mắc các bệnh đường tiêu hóa và truyền nhiễm [62]

Để cải thiện tình hình sử dụng nhà tiêu HVS còn thấp trên thế giới, ngày 19 tháng 11 năm 2001, Hội Nhà vệ sinh Thế giới (World Toilet Organization – WTO) đã được thành lập tại Singapore, đất nước sạch nhất hành tinh, với sự tham gia của các tổ chức có liên quan đến vệ sinh từ hơn 20 nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Philipine,… nhằm nâng cao nhận thức và mối quan tâm của các tổ chức và các quốc gia về vệ sinh, cũng như tăng cường hợp tác, giúp đỡ để cải thiện vấn đề vệ sinh toàn cầu [23]

Trang 26

Các chuyên gia cho rằng nhà tiêu nói riêng và điều kiện vệ sinh nói chung là những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển của một dân tộc Trong nhiều trường hợp, chúng còn quan trọng hơn cả vấn đề phát triển kinh

tế

1.2.4 Thực trạng sử dụng nhà tiêu ở Việt Nam

Theo báo cáo kết quả thực hiện chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn số 1377 BC- BNN- TCTL tỷ lệ hộ có nhà tiêu HVS phân bố không đồng đều giữa các vùng, vẫn có những vùng vẫn chưa đạt được tỉ lệ 60% như mục tiêu của chương trình đề ra, thậm chí có những vùng tỉ lệ nhà tiêu HVS chưa đạt đến 50% Khu vực miền núi phía bắc (47%), đồng bằng sông hồng (71%), khu vực bắc trung bộ (52%), vùng duyên hải miền trung (70%), tây nguyên (49%), đông nam bộ (84%), đồng bằng sông cửu long (46%) [9]

Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn tại tỉnh Thái Nguyên năm 2014 thì số HGĐ người dân tộc Dao có nhà tiêu đạt 29,4%, tỷ lệ HGĐ không có nhà tiêu chiếm 70,6% nhưng số nhà tiêu HVS chỉ có 5% Những HGĐ không có nhà tiêu thì đa số họ phóng uế ra rừng, ruộng, vườn (68,1%), thậm chí họ còn đi vệ sinh nhờ nhà hàng xóm (2,5%) [54] Hay một nghiên cứu khác tại xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thì con số đó chỉ là 79,2% và 4% [28]

Theo nghiên cứu của Phạm Sĩ Hưng trên đối tượng là người dân tộc Sán Dìu tại tỉnh Vĩnh Phúc thì tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu đạt 77,9% và tỷ lệ

hộ gia đình không có nhà tiêu là 22,1% Người dân tộc Sán Dìu ở đây không

có nhà tiêu họ thường đi vệ sinh ra vườn (4,3%), đi vệ sinh ra đồng (4,3%), và đặc biệt là họ đi vệ sinh nhờ nhà hàng xóm chiếm tỷ lệ cao (82,7%) [27]

Trang 27

Tại một số vùng núi phía Bắc, không những tỉ lệ nhà tiêu HVS còn thấp hơn so với cả nước mà còn nhiều HGĐ không có nhà tiêu Theo nghiên cứu của Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn tại 4 xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tỉ lệ HGĐ không có nhà tiêu là 33,03%, tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS

là 19% [59] Theo một nghiên cứu năm 2009 của Hoàng Thái Sơn số HGĐ có nhà tiêu ở huyện Phổ Yên – Thái nguyên chiếm tỉ lệ khá cao trong số các HGĐ được điều tra là 97,5% [43] Còn một nghiên cứu khác ở xã Ôn Lương, huyện Phú Lương số HGĐ có nhà tiêu cũng chiếm tỉ lệ tương đương ở huyện Phổ Yên (93,15%) [56] Tuy nhiên nhìn lại tỉ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS thì con

số ấy lại có sự chênh lệch khá lớn giữa hai huyện, tại Phổ Yên là 74,4%, còn

ở xã Ôn Lương, huyện Phú Lương chỉ đạt 13,74% Điều đó có thể cho ta thấy

sự phân bố theo khu vực địa lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi sử dụng nhà tiêu HVS của người dân

Đối với các HGĐ có nhà tiêu thì không hẳn là gia đình nào cũng sử dụng cùng loại nhà tiêu, mỗi gia đình có những lựa chọn riêng phù hợp với hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế và thói quen sinh hoạt Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn thì các loại nhà tiêu mà các độ gia đình người Dao ở Thái Nguyên sử dụng gồm có nhà tiêu một ngăn 11,7%, nhà tiêu hai ngăn 11,4%, nhà tiêu chìm có ống thông hơi 2,6%, nhà tiêu tự hoại 2,0%, nhà tiêu đào 2,6%, các loại nhà tiêu khác như thùng, cầu … (1,1%) [54]

Theo kết quả một nghiên cứu khác của Lê Văn Tuấn, Võ Thị Mai tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên những loại nhà tiêu được sử dụng ở đây gồm nhà tiêu một ngăn 8,5%, nhà tiêu hai ngăn 9,7%, nhà tiêu tự hoại 0,1%, nhà tiêu đào 70,4% [56]

Cũng được thực hiện ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu của Mai Đình Đức và Lê Văn Tuấn cho thấy loại nhà tiêu đang sử dụng

Trang 28

của các HGĐ chủ yếu là nhà tiêu đào 70,29%, còn các loại nhà tiêu khác chiếm tỷ lệ thấp, nhà tiêu một ngăn 11,5%, nhà tiêu hai ngăn 16,61%, nhà tiêu

tự hoại và bán tự hoại 1,60% [17]

Theo khảo sát thực trạng nhà tiêu hợp vệ sinh ở các hộ gia đình tại xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai năm 2011 của Trần Đỗ Hùng cho thấy tỷ lệ hộ gia đình không có nhà tiêu và có nhà tiêu nhưng không hợp

vệ sinh là 25,2% Trong đó tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hai ngăn là 6,8%, nhà tiêu chìm có ống thông hơi là 16,6%, nhà tiêu thấm dội nước 43,1%, nhà tiêu tự hoại 8,3% [26] Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hương tại tỉnh Hải Dương hầu hết các hộ gia đình sử dụng loại nhà tiêu một ngăn 36,2%, nhưng đây không phải loại nhà tiêu hợp vệ sinh Các loại nhà tiêu khác tỷ lệ người dân sử dụng thấp hơn: nhà tiêu hai ngăn 25,6%, nhà tiêu

tự hoại, thấm dội nước 33,1% và cũng có điểm tương đồng so với các nghiên cứu khác đó là những hộ gia đình không có nhà tiêu thì họ đi nhờ nhà hàng xóm chiếm tỷ lệ là 3,3% [29]

Mặc dù có nhiều hộ gia đình đã có nhà tiêu nhưng không phải gia đình nào cũng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đắc Phu tại năm tỉnh miền núi phía bắc thì tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu rất cao 97,3% nhưng tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh chỉ đạt 69,7% Trong đó tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hai ngăn là 10,7%, nhà tiêu thấm dội nước 1,2%, nhà tiêu tự hoại 55,7% [39]

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thanh Huệ tại tỉnh Hưng Yên tỷ

lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu đạt 98,7%, tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh là 23,7% Trong đó tỷ lệ sử dụng nhà tiêu tự hoại là 18,5%, nhà tiêu thấm dội nước 0,5%, nhà tiêu hai ngăn 2,6%, nhà tiêu một ngăn 33,6%, và loại nhà tiêu cầu, thùng 41,4% [25] Qua kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù tỷ lệ hộ gia đình

Trang 29

sử dụng nhà tiêu khá cao nhưng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh lại thấp Những loại nhà tiêu không hợp vệ sinh vẫn có thể gây ra bệnh tật cho người sử dụng Do

đó cần tuyên truyền, vận động người dân để làm tăng tỷ lệ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Như vậy những loại nhà tiêu mà các HGĐ sử dụng rất đa dạng nhưng chủ yếu họ sử dụng những loại nhà tiêu không hợp vệ sinh Theo tiêu chuẩn ngành về nhà tiêu HVS theo quyết định 08/2005/QĐ- BYT ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế (BYT) quy định bốn loại nhà tiêu HVS bao gồm: nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà tiêu thấm dội nước và nhà tiêu tự hoại dùng cho HGĐ thì các kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ HGĐ sử dụng các loại nhà tiêu HVS còn rất thấp, phần lớn những HGĐ có nhà tiêu đều sử dụng những loại nhà tiêu không HVS, điển hình là nhà tiêu đào luôn chiếm tỷ lệ rất cao trong các nghiên cứu Còn những loai nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu hai ngăn hay nhà tiêu chìm có ống thông hơi chiếm tỷ lệ rất thấp Tỷ lệ HGĐ người Dao ở Thái Nguyên có nhà tiêu HVS chỉ đạt 16,7%, trong số đó tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS sử dụng đúng chỉ chiếm 5,0% [54]

Nguyên Bình là một huyện miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng, địa hình chủ yếu là đồi núi chia cắt phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều, nền kinh tế phát triển chậm, dân số 39695 người chủ yếu là người Dao sinh sống Nhìn chung tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu còn rất thấp (29%) So sánh với tỷ lệ HGĐ người Dao có nhà tiêu ở Thái Nguyên (29,4%) thì tỷ lệ HGĐ người Dao có nhà tiêu ở Cao Bằng thấp hơn Mong muốn rằng qua đề tài nghiên cứu này sẽ thể hiện rõ được một bức tranh sinh động về thực trạng sử dụng các loại nhà tiêu của người dân Qua đó trong tương lai sẽ đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm làm thay đổi quan niệm cũng như thói quen sử dụng nhà tiêu của người dân để làm sao cho tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS sẽ ngày càng tăng lên Bởi

Trang 30

chính việc cải tiến vệ sinh và đặc biệt là nhà tiêu là yếu tố ngăn chặn bệnh truyền nhiễm và gia tăng tuổi thọ của người dân Sự gia tăng tuổi thọ của người dân chính là cải tiến môi trường vệ sinh công cộng và nhà tiêu chứ không phải nhờ đến các thiết bị y khoa hiện đại hay thuốc men đắt tiền tăng tuổi thọ và cải tiến chất lượng cuộc sống Do đó chúng ta cần nhận thức rằng nhà tiêu là một phương tiện phòng chống bệnh rất quan trọng ở các nước đang phát triển như nước ta

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình 1.3.1 Nguồn lực, hoạt động của cán bộ y tế thực hiện chương trình vệ sinh môi trường

Ngoài vấn đề khám chữa bệnh cho nhân dân thì các trạm y tế cần lập kế hoạch hoạt động cụ thể về chương trình vệ sinh môi trường Đảm bảo số lượng cán bộ y tế tham gia công tác vệ sinh môi trường, thường xuyên tổ chức những buổi truyền thông cũng như tuyên truyền người dân thực hiện lối sống văn minh, giữ vệ sinh môi trường sạch đẹp Như vậy không những làm đẹp cho quang cảnh xóm bản mà vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo sức khỏe cho nhân dân

Một trong những vấn đề của chương trình vệ sinh môi trường không thể không kể đến việc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân Việc sử dụng các loại nhà tiêu không hợp vệ sinh hay việc không có nhà tiêu là thực trạng đang rất phổ biến tại các vùng nông thôn và đặc biệt là tại các xóm bản người Dao Vậy lúc này vai trò của các cán bộ y tế rất quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động người dân sử dụng các loại nhà tiêu hợp vệ sinh Cán bộ y tế truyền thông đến người dân thông qua các buổi truyền thông trực tiếp hay qua các phương tiện như sách báo, đài, ti vi, loa phát thanh,… Những buổi truyền thông cần có nội dung cụ thể tập trung vào vấn đề sử dụng nhà tiêu của người dân để họ thấy được những lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu đối với sức khỏe

Trang 31

của bản thân, gia đình và cả cộng đồng Từ đó tránh được các loại bệnh tật do

ô nhiễm môi trường nói chung và do việc không sử dụng nhà tiêu nói riêng gây ra Tuy nhiên do cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn, họ còn bận rộn nhiều việc đồng áng, rất khó có thể thường xuyên tham dự các buổi truyền thông Chính vì vậy các cán bộ y tế cần có kế hoạch cụ thể về thời gian

để người dân sắp xếp thời gian và công việc đồng áng để đến tham dự Bên cạnh đó các cán bộ y tế cũng cần được tập huấn để cập nhật cũng như nâng cao kiến thức về vệ sinh môi trường và kĩ năng truyền thông nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác vận động người dân thay đổi thói quen thường ngày gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân cũng như sức khỏe cộng đồng

1.3.2 Sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể

Việc sử dụng nhà tiêu của người dân như thế nào là do nhận thức của từng cá nhân cũng như những thói quen của từng hộ gia đình Việc thay đổi những thói quen đó rất khó, không dễ dàng có thể thay đổi được Do đó vai trò của các ban ngành đoàn thể như UBND, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, trạm y tế, … là rất quan trọng trong việc truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao kiến thức và thái độ của người dân về vệ sinh môi trường nói chung và việc sử dụng nhà tiêu HVS nói riêng Cần tổ chức những buổi nói chuyện về vấn đề sử dụng nhà tiêu HVS và tác hại của việc sử dụng nhà tiêu không HVS gây ra, mà tác hại cần kể đến đầu tiên là tình trạng mắc các bệnh giun đường ruột Ngoài ra việc không sử dụng nhà tiêu còn gây ra nhiều bệnh khác như bệnh tả, lị thương hàn, các bệnh về da, … Đưa ra những hình ảnh, những thông tin về các loại giun, các trường hợp đã nhiễm giun ở những địa phương khác Bên cạnh việc tuyên truyền thì các cấp lãnh đạo cần kết hợp với trạm y tế tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người dân, xét nghiệm xác định mức độ nhiễm giun, cấp phát thuốc tẩy giun định kỳ Sau khi khám sức khỏe biết được mức độ nhiễm giun của bản thân và hiểu được ảnh

Trang 32

hưởng của việc nhiễm giun đến sức khỏe và kết hợp với công tác tuyên truyền thì mới có thể tác động làm thay đổi thói quen của người dân

Tổ chức những buổi nói chuyện hay sinh hoạt tập thể tại các xóm bản người Dao cũng là những cơ hội để lãnh đạo các cấp cũng như các ban ngành đoàn thể được gần với dân hơn, hiểu được tâm tư nguyện vọng người dân, và tìm hiểu lý do tại sao mà tỷ lệ người dân sử dụng nhà tiêu còn thấp Từ đó việc tác động đến từng cá nhân người dân cũng như các hộ gia đình nhằm thay đổi thói quen trước đây liên quan đến việc sử dụng nhà tiêu sẽ trở nên dễ dàng hơn Qua đó sẽ làm tăng tỷ lệ số hộ gia đình sử dụng nhà tiêu

1.3.3 Về phía người dân

1.3.3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân

Sự thiếu hụt về kiến thức vệ sinh là một trở ngại rất lớn đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân Khi người dân có hành vi sức khỏe tốt nghĩa là

họ có kiến thức về vệ sinh Do đó có kiến thức tốt, thái độ tốt thì việc thực hành trong vấn đề sử dụng nhà tiêu sẽ tốt

Đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của người dân

về việc sử dụng nhà tiêu Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn về kiến thức VSMT của người Dao tại Thái Nguyên thì chỉ có 38,1% số người

kể tên được các loại nhà tiêu HVS, 28,6% xây dựng nhà tiêu HVS và chỉ có 16,7% HGĐ có nhà tiêu HVS Và KAP về VSMT của người Dao có kiến thức đúng 59%, thái độ đúng 95%, thực hành đúng 7% [54] Về hành vi sử dụng phân bón ruộng thì có đến 90,2% HGĐ có sử dụng phân bón, số HGĐ sử dụng phân ủ chỉ có 17,1% [54] Còn trong nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng cho thấy kiến thức của người dân về nhà tiêu hợp vệ sinh là: kiến thức không đúng 54,7%, kiến thức đúng 42,6%, [26]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Thắng kiến thức, thái độ, thực hành của người Dao ở xã Hợp Tiến – Thái Nguyên thì KAP của người

Trang 33

dân về quản lý phân là: kiến thức tốt 22,95%, thái độ tốt 18,58%, thực hành tốt 12,02% [49] Cũng thực hiện tại tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu của Phạm Trung Kiên cho thấy KAP của người dân về quản lý phân thấp hơn so với nghiên cứu của Phạm Đình Thắng: kiến thức tốt 20,2%, thái độ tốt 19,2%, thực hành tốt 10,7% [31]

Nghiên cứu của Ngô Thị Nhu cho thấy kiến thức của người dân về tác hại của nhà tiêu không HVS là ảnh hưởng đến môi trường 48,1%, mắc bệnh tiêu chảy 68,7%, mắc các bệnh giun sán 65,5%, các ảnh hưởng khác 3,8%, chỉ có 3,1% người dân không biết tác hại của nhà tiêu không HVS [35]

Nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn về KAP của người dân trong việc quản lý phân cho thấy số người dân có kiến thức tốt về quản lý phân chiếm tỷ

lệ thấp 1,2%, tỷ lệ thái độ tốt cao hơn một chút 35,7% nhưng tỷ lệ thực hành tốt cũng thấp 9,2%, trong khi đó tỷ lệ kiến thức kém chiếm đến 73%, tỷ lệ thực hành kém 27,2%, còn về thái độ đa số người dân có thái độ về quản lý phân ở mức độ trung bình 57,8% [54]

Qua đó ta thấy được thực sự kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về VSMT chưa tốt, thói quen canh tác vẫn còn lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, không những ảnh hưởng đến sức khỏe của từng cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng

1.3.3.2 Phong tục tập quán, thói quen của cộng đồng người dân tộc Dao

Người Dao thường sống ở những nơi thung lũng, đồi thấp hoặc quanh chân núi, dọc khe suối, nơi đầu nguồn nước Họ sống thành từng cụm, từng bản nhỏ riêng và thường tụ tập xung quanh người có thần quyền Có hai loại hình xóm bản người Dao:

- Xóm bản cư trú phân tán: với những nhóm người Dao du canh du cư thường từ 5 – 10 hộ Kiểu xóm bản này cản trở phong trào tổ chức sản xuất, xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa và chăm sóc sức khỏe

Trang 34

- Xóm bản cư trú tập trung: thường ở những nơi đã định canh định cư hoặc

du canh – định cư Mỗi xóm bản có từ 20 – 30 hộ liền kề với nhau, kiểu xóm bản này thuận lợi cho lối làm ăn tập thể nhưng khó đảm bảo vệ sinh chung, dễ mắc dịch bệnh

Những thói quen, phong tục tập quán có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu HVS Ở những vùng nông thôn người dân hầu như không có thói quen sử dụng nhà tiêu HVS, họ cho rằng việc sử dụng những loại nhà tiêu tạm bợ như nhà tiêu đào, hay nhà tiêu cầu là vấn đề bình thường, thậm chí họ còn đi ra ngoài rừng, bụi cây, bờ suối đó là những vùng xa nhà thì

vệ sinh hơn là việc đi vệ sinh trong nhà tiêu Quan niệm và thói quen đóng vai trò quan trọng trong việc chấp nhận sử dụng nhà tiêu hay không Thậm chí có những hộ gia đình mặc dù đã có nhà tiêu nhưng do ảnh hưởng từ thói quen thường ngày mà họ không sử dụng đến nhà tiêu đó mà vẫn lựa chọn cách đi ra những chỗ thoáng mát như bìa rừng Việc thay đổi thói quen và quan niệm của người dân là rất khó khăn Nếu không được truyền thông và hiểu rõ sự nguy hại của việc đi vệ sinh bừa bãi đến sức khỏe bản thân và sức khỏe cộng đồng thì sẽ rất khó để họ chấp nhận thay đổi

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chủ HGĐ người Dao đang sinh sống ở ba xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

- Nhà tiêu của HGĐ có người được phỏng vấn

- Cán bộ trạm y tế xã

- Nhân viên YTTB của các xóm bản của xã nghiên cứu

- Cán bộ chính quyền và các ban ngành đoàn thể của xã

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nguyên Bình là một huyện có nhiều người dân tộc Dao sinh sống nhất trong tất cả các huyện của tỉnh Cao Bằng Đây là huyện miền núi thuộc phía đông bắc tỉnh Cao bằng địa hình chủ yếu là đồi núi chia cắt phức tạp Phía bắc giáp xã Thái học huyện Thông Nông, phía nam giáp xã Pắc Miều huyện Bảo Lạc, phía tây giáp các xóm bản người Nùng Lũng Vài của xã Thể Dục, phía đông là xã Minh Thanh Diện tích đất tự nhiên là 83979 Ha, chủ yếu là đất nông nghiệp và lâm nghiệp, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 63522 Ha chiếm 75,68% Kinh tế chậm phát triển, cuộc sống của nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn Toàn huyện có 13 xã và một thị trấn, trong đó xã Vũ Nông, Phan Thanh, Ca Thành là ba xã có người dân tộc Dao chiếm tỷ lệ cao từ, 58%

- 90% Tại các xã người dân sống lẻ tẻ tại những sườn núi cao nên việc tiếp cận với các thông tin về việc sử dụng nhà tiêu còn nhiều hạn chế Đại bộ phận nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện chủ yếu tham gia sản xuất nông, lâm nghiệp cuộc sống còn gặp rất nhiều khó khăn Ở các xã người dân tộc Dao chiếm tỉ lệ rất lớn, cụ thể:

Trang 36

Xã Vũ Nông là một xã gần trung tâm thị trấn nhất, xã có tổng dân số là

1953 người với 354 hộ gia đình, trong đó có 314 hộ người dân tộc Dao, chiếm

tỉ lệ 90%

Xã Phan Thanh cách trung tâm thị trấn 14km Xã có tổng dân số là

3440 người với 527 hộ gia đình, trong đó có 352 hộ người dân tộc Dao, chiếm

tỉ lệ 72%

Xã Ca Thành là một xã miền núi thuộc diện đặc biệt khó khăn, ở vùng sâu vùng xa Xã có tổng dân số là 3154 người với 518 hộ gia đình, trong đó

có 293 hộ người dân tộc Dao, chiếm tỉ lệ 58%

2.1.3.Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 04 năm 2015 đến tháng 04 năm 2016

2.2.Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

2.2.1.Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu kết hợp

Phương pháp nghiên cứu mô tả thiết kế cắt ngang kết hợp định tính

2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.2.1.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

* Công thức cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính 1 tỉ lệ của quần thể [18], [19]

Trong đó:

p: Tỉ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu, p= 0,347 (theo kết quả tỉ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu là 34,7% trong nghiên cứu của Lê Văn Thái năm 2014 [47]

Z2(1-α/2) : hệ số giới hạn tin cậy, chọn mức tin cậy 95% → Z2(1-α/2) =1,96

d: độ chính xác mong muốn, chọn d= 0,0347

Áp dụng công thức tính:

Trang 37

- Chọn xã: chọn chủ đích 3 xã tại huyện Nguyên Bình theo tiêu chí: xã có tỷ

lệ các hộ gia đình là người dân tộc Dao chiếm tỉ lệ cao Trong tất cả các xã có người Dao sinh sống chọn 3 xã có số người Dao cao nhất

- Chọn HGĐ: chọn chủ đích, chọn tất cả các hộ gia đình người dân tộc Dao ở các xã nghiên cứu

2.2.2.2.Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được tiến hành nhằm tìm hiểu phong tục tập quán của người dân tộc Dao liên quan đến hành vi sử dụng nhà tiêu và xử lý phân

Sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể về vần đề này như thế nào, hoạt động truyền thông của các cán bộ y tế về vấn đề sử dụng nhà tiêu của người dân và những lý do nào làm cho tỷ lệ người dân sử dụng nhà tiêu thấp

- Thảo luận nhóm: tiến hành hai cuộc thảo luận nhóm

+ Nhóm lãnh đạo cộng đồng: chọn mỗi tổ chức đoàn thể một người tham gia nhóm thảo luận, bao gồm lãnh đạo Đảng ủy, UBND, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội nông dân, trạm y tế, số người tham gia thảo luận là 8 người

+ Nhóm người dân đại diện cho cộng đồng người Dao: chọn 8 người Dao là chủ HGĐ hoặc người có vai trò quyết định trong gia đình, trong đó có 4 người trong gia đình họ có nhà tiêu tốt, 4 người mà gia đình họ có nhà tiêu kém vệ sinh hoặc không có nhà tiêu

Trang 38

- Phỏng vấn sâu: tiến hành 3 cuộc phỏng vấn sâu đối với các cán bộ y tế tại các trạm y tế thuộc các xã nghiên cứu Người được chọn phỏng vấn là trạm trưởng trạm y tế

2.3.Các chỉ số nghiên cứu

2.3.1.Thực trạng sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình

- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: tỷ lệ số hộ gia đình người Dao

- Tỷ lệ các loại nhà tiêu HGĐ đang sử dụng

- Tỷ lệ loại nhà tiêu hai ngăn HGĐ đang sử dụng

- Tỷ lệ loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi HGĐ đang sử dụng

- Tỷ lệ loại nhà tiêu thấm dội nước HGĐ đang sử dụng

- Tỷ lệ loại nhà tiêu tự hoại HGĐ đang sử dụng

- Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan sát đối với nhà tiêu hai ngăn

- Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan sát đối với nhà tiêu thấm dội nước

2.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao

2.3.2.1.Nguồn lực, hoạt động thực hiện chương trình vệ sinh môi trường

- Về nhân lực: số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn của cán bộ huyện, trạm

y tế, y tế thôn bản thực hiện chương trình vệ sinh môi trường

- Về cơ sở vật chất: trang thiết bị cho hoạt động chương trình vệ sinh môi trường của huyện, xã

- Về hoạt động: cách triển khai chương trình vệ sinh môi trường của xã (số buổi truyền thông, cách thức truyền thông…)

2.3.2.2.Về phía các ban ngành đoàn thể của xã

- Lý do sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh ở địa phương?

Trang 39

- Các phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sử dụng nhà tiêu không hợp vệ

sinh của người dân?

2.3.2.3 Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân

- Kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu HVS

- Thái độ của người dân về việc mỗi gia đình cần có nhà tiêu riêng

- Thực hành của người dân về sử dụng các loại nhà tiêu hai ngăn, thấm dội nước, tự hoại

- Phong tục tập quán ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân

2.4 Phương pháp thu thập thông tin

2.4.3 Phỏng vấn sâu

Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với đối tượng được phỏng vấn là trạm trưởng trạm y tế nhằm tìm hiểu những phong tục tập quán, những yếu tố văn hóa có liên quan đến vấn đề sử dụng nhà tiêu của người Dao (phụ lục4)

Trang 40

 Trung bình: trả lời đúng từ 50- 80 % các câu hỏi

 Kém: trả lời đúng < 50% các câu hỏi

- Thái độ: đánh giá 2 mức (phụ lục 3)

 Đồng ý

 Không đồng ý

- Thực hành: Đúng và chưa đúng (phụ lục 3)

2.5.2 Cách phân loại nhà tiêu

- Loại nhà tiêu hợp vệ sinh: nhà tiêu hai ngăn, chìm có ống thông hơi, thấm dội nước, tự hoại

- Loại nhà tiêu không hợp vệ sinh: nhà tiêu một ngăn, nhà tiêu đào, nhà tiêu cầu, nhà tiêu xả thẳng xuống ao

- Nhà tiêu hai ngăn hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và đạt ít nhất 4 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu hai ngăn

- Nhà tiêu chìm có ống thông hơi hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và đạt ít nhất 4 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu chìm có ống thông hơi

- Nhà tiêu thấm dội nước hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và đạt ít nhất 3 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu thấm dội nước

- Nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh: Đạt đầy đủ các tiêu chí chính và đạt ít nhất 3 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu tự hoại

2.6 Phương pháp xử lý số liệu

- Nghiên cứu định lượng: xử lý số liệu trên phần mềm Epidata, SPSS 18.0

- Nghiên cứu định tính: gỡ băng, ghi chép lại dưới dạng hộp kết quả và nhận định kết quả

2.7 Sai số và hạn chế sai số

Ngày đăng: 24/11/2017, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Báo cáo kết quả chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2013
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2014
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Chỉ thị số 6771/CT/BNN/KH, Về việc xây dựng kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp nông thôn và lập kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016- 2020, Hà Nội 11. Bộ Y Tế (2005), Quyết định số 08/2005/QĐ/BYT ngày 11/03/2005, Về việcban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 6771/CT/BNN/KH, Về việc xây dựng kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp nông thôn và lập kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016- 2020," Hà Nội 11. Bộ Y Tế (2005), Quyết định số 08/2005/QĐ/BYT ngày 11/03/2005, "Về việc "ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Chỉ thị số 6771/CT/BNN/KH, Về việc xây dựng kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp nông thôn và lập kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016- 2020, Hà Nội 11. Bộ Y Tế
Năm: 2005
12. Bộ Y Tế (2006), Thông tư số 15/2006/TT/BYT ngày 30/11/2006, Hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2006
13. Bộ Y Tế (2011), Thông tư số 27/2011/TT- BYT ngày 24/06/2011 Về việc ban hành quy chuẩn kỷ thuật quốc gia về nhà tiêu- điều kiện bảo đảm hợp vệ sinh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc ban hành quy chuẩn kỷ thuật quốc gia về nhà tiêu- điều kiện bảo đảm hợp vệ sinh
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2011
15. Phan Văn Các, Nguyễn Thành Trung, Nông Thanh Sơn (2003), “Thực trạng sức khỏe- môi trường bệnh tật, hệ thống y tế và đề xuất các giải pháp tổng thể tăng cường chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vùng trung tâm ATK”, Tạp chí y học thực hành, công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ Đại học Y Khoa Thái Nguyên (1998- 2003), (464/11/2003), tr.7- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức khỏe- môi trường bệnh tật, hệ thống y tế và đề xuất các giải pháp tổng thể tăng cường chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vùng trung tâm ATK”, "Tạp chí y học thực hành, công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ Đại học Y Khoa Thái Nguyên (1998- 2003)
Tác giả: Phan Văn Các, Nguyễn Thành Trung, Nông Thanh Sơn
Năm: 2003
17. Mai Đình Đức, Nông Văn Tuấn, Nông Thanh Sơn (2005), “ Nghiên cứu giải pháp giáo dục thích hợp về môi trường và sức khỏe cho đồng bào dân tộc ở xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” Tạp chí y học thực hành số 531- HN.KHCN Trường ĐH Y khoa Thái Nguyên- ĐH Thái Nguyên 2005, tr.271- 276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp giáo dục thích hợp về môi trường và sức khỏe cho đồng bào dân tộc ở xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Mai Đình Đức, Nông Văn Tuấn, Nông Thanh Sơn
Năm: 2005
18. Đỗ Hàm (2009), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học, Nhà xuất bản lao động- xã hội, Hà Nội, tr.38- 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học
Tác giả: Đỗ Hàm
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động- xã hội
Năm: 2009
20. Đỗ Hàm, Hoàng Khải Lập, Nguyễn Khắc Hùng và cs (1998) , “Một số nhận xét về thực trạng môi trường sống của đồng bào dân tộc Thái và Mường ở Sơn La và Hòa Bình”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học (1968- 1998) tập VIII, Nhà xuất bản y học, tr.26- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về thực trạng môi trường sống của đồng bào dân tộc Thái và Mường ở Sơn La và Hòa Bình”, "Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học (1968- 1998)
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
21. Phạm Minh Khuê (2013), “Thực trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Vinh An, Vĩnh Bảo tỉnh Hải Phòng năm 2013”, Tạp chí y học thực hành (914), số 4/2014, tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Vinh An, Vĩnh Bảo tỉnh Hải Phòng năm 2013”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Phạm Minh Khuê
Năm: 2013
22. Hoàng Khải Lập, Nông Thanh Sơn và cs, “Đánh giá thực trạng một số đặc điểm sự tác động và mối liên quan giữa môi trường- sức khỏe nhân dân xã Nam Hòa- huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học (1968- 1998), Tập IX, Nhà suất bản y học, Hà Nội, tr.17- 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng một số đặc điểm sự tác động và mối liên quan giữa môi trường- sức khỏe nhân dân xã Nam Hòa- huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”, "Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học (1968- 1998)
24. Đàm Khải Hoàn, Hoàng Anh Tuấn (2010), “Nghiên cứu hành vi thực trạng về vệ sinh môi trường và bệnh tật của người dân thị trấn Trại Cau huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành, số 12 (745), năm 2010, tr. 56 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi thực trạng về vệ sinh môi trường và bệnh tật của người dân thị trấn Trại Cau huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Đàm Khải Hoàn, Hoàng Anh Tuấn
Năm: 2010
25. Trần Thị Thanh Huệ (2009), Kiến thức thực hành về xây dựng, sử dụng bảo quản, xử lý phân người và một số yếu tố liên quan tại xã bình Kiều, huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên năm 2009, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thực hành về xây dựng, sử dụng bảo quản, xử lý phân người và một số yếu tố liên quan tại xã bình Kiều, huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên năm 2009
Tác giả: Trần Thị Thanh Huệ
Năm: 2009
28. Đỗ Minh Hương, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2005), “Nghiên cứu thực trạng kiến thức,thái độ, thực hành của người dân về sử dụng nguồn nước và một số giải pháp can thiệp tại xã Ôn Lương huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành số 531- HN.KHCN Trường ĐH Y khoa Thái Nguyên- ĐH Thái Nguyên 2005, tr.49- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng kiến thức,thái độ, thực hành của người dân về sử dụng nguồn nước và một số giải pháp can thiệp tại xã Ôn Lương huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí y học thực hành số 531
Tác giả: Đỗ Minh Hương, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Năm: 2005
31. Phạm Trung Kiên, Đàm Khải Hoàn (2010), “Nghiên cứu huy động cộng đồng cải thiện hành vi vệ sinh môi trường cho người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành (4/714/2010, tr.130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu huy động cộng đồng cải thiện hành vi vệ sinh môi trường cho người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Phạm Trung Kiên, Đàm Khải Hoàn
Năm: 2010
32. Vương Lan Mai, Trần Thị Mai Oanh (2013), “Thực trạng sử dụng các dich vụ y tế của một số nhóm dân cư và một số rào cản trong tiếp cận dịch vụ y tế”, Tạp chí y học thực hành, (876)- số 7/2013, tr.14 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng các dich vụ y tế của một số nhóm dân cư và một số rào cản trong tiếp cận dịch vụ y tế”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Vương Lan Mai, Trần Thị Mai Oanh
Năm: 2013
33. Hoàng Văn Minh, Ngyễn Hoàng Thanh, Nguyễn Việt Hùng (2011), “Lợi ích từ việc phòng ngừa các trường hợp bệnh tiêu chảy nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hơp vệ sinh tại xã Nhật Tân, Kim Bảng, Hà Nam”, Tạp chí y tế công cộng 11.2011, số 22 (22), tr.61- 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích từ việc phòng ngừa các trường hợp bệnh tiêu chảy nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hơp vệ sinh tại xã Nhật Tân, Kim Bảng, Hà Nam”, "Tạp chí y tế công cộng
Tác giả: Hoàng Văn Minh, Ngyễn Hoàng Thanh, Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2011
35. Ngô Thị Nhu (2010), “Thực trạng nhà tiêu hộ gia đình, nhận thức, thực hành của người dân về bảo quản và sử dụng nhà tiêu tại ba xã huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình năm 2009”, Tạp chí y học thực hành, (11/741), tr.25- 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhà tiêu hộ gia đình, nhận thức, thực hành của người dân về bảo quản và sử dụng nhà tiêu tại ba xã huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình năm 2009”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Ngô Thị Nhu
Năm: 2010
37. Ngô Thị Nhu, Đỗ Thị Thu Hiền (2013), “Thực trạng nhận thức, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân tại ba xã vùng nông thôn tỉnh Hải Dương năm 2012”, Tạp chí y học thực hành (860), số 3/2013, tr. 13-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhận thức, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân tại ba xã vùng nông thôn tỉnh Hải Dương năm 2012”, "Tạp chí y học thực hành (860)
Tác giả: Ngô Thị Nhu, Đỗ Thị Thu Hiền
Năm: 2013
38. Nguyễn Cảnh Phú và cs (2013), “Đánh giá kết quả hợp phần vệ sinh giai đoạn 2006- 2011 thuộc chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại Nghệ An”, Tạp chí y học thực hành (870), số 5/2013, tr.156- 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả hợp phần vệ sinh giai đoạn 2006- 2011 thuộc chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại Nghệ An”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Cảnh Phú và cs
Năm: 2013
39. Trần Đắc Phu (2011), “Tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình tại năm tỉnh miền núi phía băc”, Tạp chí y học thực hành (798), số 12/2011, tr. 57-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình tại năm tỉnh miền núi phía băc”, "Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Trần Đắc Phu
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w