1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

95 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 755,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT. Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng thì lao động trong khu vực nông thôn sẽ là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Việc nâng cao năng lực cho LĐNT sẽ giúp cho họ có nhiều việc làm hơn, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của chính họ và bộ mặt của khu vực nông thôn, khu vực được coi là giá đỡ của nền kinh tế quốc dân. Việc đào tạo nghề cho LĐNT cũng góp phần giúp cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn, đó cũng là cơ sở để áp dụng khoa học công nghệ trong khu vực nông thôn, từ đó tạo sự bình đẳng hơn giữa nông thôn và thành thị. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về đào tạo nghề nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian nhàn rỗi trong LĐNT, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, hướng đến xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng và nhà nước luôn xác định vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề chiến lược. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định rõ: Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, cho từng lĩnh vực, với những giải pháp 1. Tính cấp thiết của đề tài Đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT. Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng thì lao động trong khu vực nông thôn sẽ là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Việc nâng cao năng lực cho LĐNT sẽ giúp cho họ có nhiều việc làm hơn, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của chính họ và bộ mặt của khu vực nông thôn, khu vực được coi là giá đỡ của nền kinh tế quốc dân. Việc đào tạo nghề cho LĐNT cũng góp phần giúp cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn, đó cũng là cơ sở để áp dụng khoa học công nghệ trong khu vực nông thôn, từ đó tạo sự bình đẳng hơn giữa nông thôn và thành thị. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về đào tạo nghề nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian nhàn rỗi trong LĐNT, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, hướng đến xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng và nhà nước luôn xác định vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề chiến lược. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định rõ: Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, cho từng lĩnh vực, với những giải pháp

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LAN PHƯƠNG NHƯ

ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN

TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN LAN PHƯƠNG NHƯ

ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Phòng Dạy nghề thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học với sự

nỗ lực của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn Thạc sĩ Chính sách công “Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn” là trung thực, rõ ràng và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào nghiên cứu trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Lan Phương Như

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 8

1.1 Một số vấn đề chung về đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT 8

1.2 Vai trò của đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT 9

1.3 Nội dung đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT 15

1.4 Các nhân tố tác động đến chính sách đào tạo nghề cho LĐNT 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 23

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của địa phương tác động đến đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT 23

2.2 Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Ngãi 25

2.3 Các nhân tố tác động đến đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT 44

2.4 Những hạn chế và nguyên nhân 57

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TỈNH QUẢNG NGÃI 62

3.1 Định hướng nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Ngãi 62

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT 64

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

LĐ-TB&XH : Lao động - Thương binh & xã hội

Trang 7

2.4 Kết quả đào tạo nghề theo ngành nghề của tỉnh Quảng

Ngãi trong 5 năm 2011-2015

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các

ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT

Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng thì lao động trong khu vực nông thôn sẽ là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất Việc nâng cao năng lực cho LĐNT sẽ giúp cho họ có nhiều việc làm hơn, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của chính họ và bộ mặt của khu vực nông thôn, khu vực được coi là giá đỡ của nền kinh tế quốc dân Việc đào tạo nghề cho LĐNT cũng góp phần giúp cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn,

đó cũng là cơ sở để áp dụng khoa học công nghệ trong khu vực nông thôn, từ đó tạo

sự bình đẳng hơn giữa nông thôn và thành thị Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về đào tạo nghề nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, giảm tỷ

lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian nhàn rỗi trong LĐNT, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, hướng đến xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Đảng và nhà nước luôn xác định vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề chiến lược Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định rõ: Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Quy hoạch lại mạng lưới cơ

sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, cho từng lĩnh vực, với những giải pháp

Trang 9

đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành Phát triển hợp lý, hiệu quả các loại hình trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

Lực lượng lao động được đào tạo bài bản có tay nghề cao đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu lao động của Việt Nam “Đào tạo nghề có liên quan đến nhu cầu thực tế và sử dụng lao động Giúp tạo việc làm, đóng góp vào quá trình chuyển đổi kinh tế, chuyển đổi cơ cấu lao động ở các vùng nông thôn và đóng góp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo Nói cách khác đào tạo nghề liên quan chặt chẽ đến sản xuất và sử dụng lao động”

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015 –

2020 nêu rõ: “phát triển văn hóa đồng bộ với tăng trưởng kinh tế để văn hóa thực sự

là nền tảng tinh thần của xã hội Tiếp tục phát triển, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, nâng cao dân trí, nâng cao năng lực đào tạo, dạy nghề Coi trọng phát triển nguồn nhân lực phục vụ sản xuất, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; có cơ chế, chính sách đào tạo, thu hút, tuyển dụng, sử dụng nhân tài ở các lĩnh vực tỉnh đang

thiếu Tập trung đào tạo nghề và giải quyết việc làm, trước hết, có giải pháp cụ thể

để giải quyết việc làm cho số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng chưa có việc làm Điều chỉnh, đổi mới công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề, giải quyết việc làm theo hướng nguồn lực của Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp để doanh nghiệp chủ động đào tạo gắn với sử dụng lao động

Tuy nhiên, công tác đào tạo nghề cho LĐNT ở tỉnh Quảng Ngãi còn một số tồn tại Chất lượng đào tạo một số nghề chưa phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp Một số địa phương ban hành kế hoạch đào tạo nghề cho LĐNT còn chậm, chưa thực sự chủ động, tích cực tham gia thực hiện Đề án, chưa gắn kết chặt chẽ với đề án xây dựng nông thôn mới, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu lao động và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ cán bộ tham mưu thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề ở các địa phương chưa đảm bảo cả

về mặt số lượng và chất lượng Một số nơi dạy nghề còn coi trọng số lượng, chưa

Trang 10

người sử dụng lao động cả về chất lượng, cơ cấu ngành nghề và nhu cầu của xã hội Mạng lưới cơ sở dạy nghề còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu, đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề thiếu về số lượng; công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế; nhận thức của nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền

về vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn và chính sách đào tạo nghề cho LĐNT chưa đầy đủ Công tác tuyên truyền, tư vấn về đào tạo nghề cho LĐNT ở một số địa phương chưa sâu rộng dẫn đến nhận thức của một số cán bộ cơ

sở và người dân còn hạn chế, chưa huy động được đông đảo người lao động tham gia học nghề Nhiều địa phương chưa quan tâm đầu tư đúng mức đến chính sách này; thiếu chính sách cụ thể để huy động các nguồn lực xã hội phục vụ công tác dạy nghề cho LĐNT; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện chưa chặt chẽ

Khắc phục những hạn chế, yếu k m nêu trên, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là những vấn đề cấp thiết đặt ra cho các cấp ủy Đảng, chính quyền ở tỉnh Quảng Ngãi

Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, nhằm đánh giá

những kết quả đạt được, những tồn tại, vướng mắc trong việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Từ đó đề xuất những định hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện và hoàn thiện đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Ngãi

là hết sức cần thiết để đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy quá trình phát triển CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn tại tỉnh Quảng Ngãi

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là vấn đề được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm, chú trọng trong quá trình phát triển Đã có rất nhiều tác giả tham gia nghiên cứu và viết bài trên sách báo, tạp chí, bài luận văn, đề tài khoa học vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau liên quan trực tiếp đến chính sách đào tạo nghề cho LĐNT như:

- Nguyễn Quang Ninh “Đánh giá tình hình thực hiện chính sách đào tạo

Trang 11

Nông nghiệp Việt Nam, 2014 Luận văn này làm rõ lý luận và quan điểm về tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, đồng thời đánh giá thực trạng chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, những vấn đề đặt ra và phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách nhằm giải quyết hiệu quả tình hình công tác đào tạo nghề cho LĐNT

- Lưu Thị Hương “Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề tại các cơ

sở dạy nghề của tỉnh Hòa Bình”, luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Hòa Bình

- Giang Anh Tuấn “Đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế”, luận văn phân tích thực trạng dạy nghề cho LĐNT ở tỉnh Ninh Bình hiện nay trên cơ sở đánh giá vai trò của quản lý nhà nước đối với công tác này tại Ninh Bình từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để công tác này ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn, đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới

- Nguyễn Thị Hồng Đào “ Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010-2020, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế phát triển, Đại học Đà Nẵng, luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến đào tạo nghề, định hướng cho việc ứng dụng lý thuyết vào việc đẩy mạnh công tác đào tạo nghề của tỉnh Quảng Ngãi Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo nghề của tỉnh

- Phạm Thị Hương “Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” Luận văn Thạc sỹ Chính sách công, Học viện khoa học xã hội, luận văn này đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT; đồng thời đề xuất những định hướng,

Trang 12

giải pháp tiếp tục thực hiện và hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Ngãi

- “ Một số kinh nghiệm tuyên truyền, tư vấn học nghề, việc làm cho LĐNT

có hiệu quả ở cơ sở” của tác giả Nguyễn Viết Quý, Sở Lao động - Thương binh và

xã hội tỉnh Nam Định Bài học kinh nghiệm được rút ra đó là: trong công tác tuyên truyền tỉnh Nam Định đã triển khai tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT và tạo việc làm; công tác điều tra, khảo sát thực tế; phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc tổ chức thực hiện

- “ Kỹ năng tuyên truyền, tư vấn học nghề, việc làm cho LĐNT” của tác giả

Vũ Xuân Hùng, Tổng cục dạy nghề Tác giả cho rằng việc tuyên truyền được coi là một trong những giải pháp và hoạt động quan trọng trong công tác đào tạo nghề cho LĐNT Do đó, cần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, toàn xã hội và người LĐNT về vai trò đào tạo nghề đối với tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn

Những tài liệu trên đã đề cập đến một số vấn đề về lý luận đào tạo nghề; đào tạo nghề cho LĐNT; …Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nghiên cứu về đánh giá chính sách chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Vì vậy, đề tài nghiên cứu của luận

văn: “Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” để nghiên cứu luận văn, trên cơ sở những lý luận cơ bản về công tác đào tạo nghề cho LĐNT, những chính sách liên quan đến công tác đào tạo nghề cho LĐNT đã được ban hành, thực trạng công tác đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Ngãi hiện nay, đồng thời sẽ đưa ra những định hướng, giải pháp để thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại Quảng Ngãi hiệu quả hơn Mặc dù vậy, các công trình khoa học trên là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đánh giá chính sách đào tạo

Trang 13

nghề cho LĐNT từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Hệ thống hóa một số các vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT ở nước ta hiện nay

- Phân tích, đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

- Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tỉnh Quảng Ngãi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2011-2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, luận văn vận dụng các phương pháp: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thống kê, thu thập thông tin, phương pháp phân tích đánh giá chính sách nhằm làm sáng tỏ vấn đề và trình bày khóa luận một cách khoa học

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Lý luận về đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Chương 2: Thực trạng đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay

Trang 15

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1 Một số vấn đề chung về đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

1.1.1 Các khái niệm liên quan

- Nguồn LĐNT là một bộ phận dân sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ

tuổi lao động theo quy định của pháp luật ( nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động

- Lực lượng LĐNT là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những

người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm

- Đào tạo nghề: Theo Điều 5, Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 năm 2006 thì

đào tạo nghề được khái niệm: “Là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc

làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [15, tr.1] Luật cũng quy

định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề và

về hình thức dạy nghề bao gồm cả dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là dạy nghề và học nghề

- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định [15, tr1]

Như vậy, đào tạo nghề cho LĐNT: Là quá trình kết hợp giữa đào tạo nghề và

Trang 16

học nghề, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự

kh o l o, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội nông thôn

1.1.1.2 Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là chính sách mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân, là

cơ sở quan trọng để chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1.1.3 Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Theo quan điểm về đánh giá chính sách công nói chung và nhiệm vụ đánh giá

chính sách đào tạo nghề cho LĐNT có thể đưa ra quan niệm: Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là hoạt động kiểm tra chính sách đào tạo nghề cho LĐNT bằng các tiêu chí cụ thể như sự phù hợp, đầy đủ tính hiệu quả, hiệu suất và các tác động của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT giải quyết thành công các vấn

đề đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trong tương lai

Một chính sách công nói chung, chính sách đào tạo nghề cho LĐNT nói riêng được ban hành và đi vào cuộc sống sau một thời gian sẽ tiến hành đánh giá thực tế tình hình triển khai cùng với kết quả tác động đến các đối tượng đào tạo nghề Các

cá nhân, tổ chức khác nhau trong xã hội sẽ tham gia vào việc đánh giá quá trình vận hành và những tác động của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT đó để có thể tiếp tục duy trì hay dừng lại việc thực hiện, hoặc có thể yêu cầu thay đổi chính sách Theo cách tiếp cận này, đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT có liên quan đến các bước trong quá trình vận hành một chính sách, những biện pháp thực hiện đang được duy trì, những mục tiêu đang từng bước được hiện thực hóa, kết quả và những tác động của chính sách đến từng lĩnh vực trong đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường

1.2 Vai trò của đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT nhằm cung cấp thông tin cho các

Trang 17

cơ quan nhà nước những thông tin hữu dụng kịp thời để quản lý, hướng dẫn các nguồn lực, đồng thời đưa ra những can thiệp chính sách của Nhà nước

Thông tin đánh giá thực hiện chính sách có các vai trò sau:

- Giúp cho việc ra quyết định phân bổ nguồn lực: Thông tin đánh giá chính

sách có thể cung cấp thông tin cho các nhà quản lý về các can thiệp chính sách thành công nhiều hay ít theo các kết quả đầu ra, và do đó cung cấp thông tin về mức

độ sử dụng nguồn lực của can thiệp chính sách Điều này có thể giúp các nhà quản

lý phân tích những gì đang hoặc không diễn ra một cách hiệu lực và hiệu quả Thông tin đánh giá chính sách có thể hỗ trợ cho quá trình phân bổ ngân sách theo kết quả thực hiện Tương tự, thông tin đánh giá chính sách về các kết quả của thử nghiệm có thể giúp nhà quản lý quyết định có nên mở rộng, thiết kế lại hoặc thậm chí loại bỏ can thiệp chính sách hoàn toàn hay không

- Giúp cân nhắc lại các nguyên nhân của vấn đề: Khi can thiệp chính sách

không có bất kỳ tác động quan trọng nào lên vấn đề hiện tại, thì nguyên nhân có thể

là thiết kế k m hoặc thực hiện k m, cũng có thể là vấn đề khác so với vấn đề ban đầu Do đó, thông tin đánh giá thực hiện chính sách có thể làm phát sinh nhu cầu kiểm tra lại nguyên nhân của vấn đề và những biện pháp đối phó thay thế

- Giúp xác định các vấn đề nảy sinh: Khi các đo lường định kỳ về các chỉ số

chính cho biết sự khác nhau rõ ràng giữa kết quả thực hiện theo kế hoạch và kết quả thực tế, thì nhà quản lý cần phải biết lý do tại sao lại có sự khác biệt đó Thông thường, kết quả thực hiện giữa kế hoạch và thực tế hầu như không đồng nhất, nhưng khi sự khác biệt đó là lớn, k o dài, và có những hậu quả thực sự cho các can thiệp chính sách, thì cần phải xem x t lại, xác định những lí do của sự khác biệt, xác định các giải pháp mới (trong trường hợp kết quả thực hiện k m), hoặc áp dụng những bài học kinh nghiệm để đảm bảo kết quả thực hiện tăng nhanh hơn và mở rộng

- Giúp xác định được những đóng góp của thực hiện và thiết kế vào các kết quả đầu ra: Thông tin đánh giá chính sách có thể giúp phân biệt giữa đóng góp của

thiết kế và thực hiện vào các kết quả đầu ra

- Cung cấp bằng chứng về sự mâu thuẫn của các kết quả đầu ra: Thông tin

đánh giá chính sách có thể cho biết những can thiệp chính sách tương tự nhưng báo

Trang 18

cáo kết quả đầu ra khác nhau Việc so sánh các can thiệp chính sách tương tự nhưng

có các kết quả đầu ra khác nhau làm nảy sinh câu hỏi về những gì đang diễn ra và ở đâu như: Có những thay đổi lớn trong thực hiện mà dẫn đến sự khác nhau không? Hoặc, cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện có không hiểu mục đích và lý do của can thiệp chính sách, nên đưa ra sự hướng dẫn khác nhau dẫn đến phương pháp tiếp cận khác nhau về bản chất không? Hoặc, các tiêu chuẩn báo cáo có quá khác nhau dẫn đến sự so sánh là không hợp lý không?

- Hỗ trợ cải cách và đổi mới khu vực công: Thông tin đánh giá chính sách có

thể cung cấp bằng chứng cho nhân dân về các nỗ lực cải cách hành chính đang được tiến hành Các nỗ lực cải cách hành chính thường mất đi động lực nếu không có bằng chứng về sự thay đổi tích cực

- Xây dựng sự đồng thuận về những nguyên nhân của một vấn đề và cách thức giải quyết: Thông tin đánh giá chính sách có thể đóng góp cho những thảo luận giữa

các nhà quản lý công và các bên liên quan về nguyên nhân của mọi vấn đề và cách thức đưa ra các giải pháp thích hợp Định nghĩa về một vấn đề sẽ cho biết trước việc triển khai các giải pháp giải quyết hoặc ít nhất là giảm bớt vấn đề Thông tin đánh giá chính sách có thể cung cấp bằng chứng về quan hệ nhân quả, bằng chứng về tính thích hợp và tác động của các giải pháp trước đó

Tóm lại, thông tin qua đánh giá chính sách các nhà quản lý công và các bên liên quan có thể trả lời được các câu hỏi quan trọng, đó là:

- Chúng ta có đang làm những công việc đúng không?

+ Lý do cơ bản cho một can thiệp chính sách;

+ Lý thuyết về sự thay đổi

- Chúng ta có đang làm đúng những công việc không?

+ Hiệu lực trong việc đạt được các kết quả mong đợi;

+ Hiệu quả trong tối ưu hóa các nguồn lực;

+ Sự thỏa mãn khách hàng

- Chúng ta học được gì và có những cách tốt hơn không?

+ Những phương án thay thế;

+ Những thực tiễn tốt nhất;

Trang 19

+ Những bài học kinh nghiệm

Đánh giá thực hiện chính sách cũng có thể giúp trả lời tám loại câu hỏi mà các nhà quản lý công thường xuyên đưa ra, gồm:

- Mô tả: Tập trung vào mô tả cẩn thận thực trạng, quá trình, hoặc sự kiện

- Quy phạm hoặc tuân thủ: Xác định liệu một can thiệp chính sách có đáp ứng các tiêu chí đã tuyên bố không

- Sự tương quan: Chỉ ra sự liên hệ giữ hai tình trạng, hoặc điều kiện

- Tác động hoặc nhân quả: Thiết lập quan hệ nhân quả giữa hai tình trạng hoặc hai điều kiện

- Lô gích can thiệp chính sách: Đánh giá việc thiết kế có xác định đúng chuỗi nhân quả không

- Thực hiện: Chỉ ra việc thực hiện có xảy ra theo kế hoạch không

- Kết quả thực hiện: Thiết lập những liên hệ giữa đầu vào, hoạt động, đầu ra, kết quả đầu ra, và tác động của nó

- Sử dụng các công cụ thích hợp: Liệu các công cụ thích hợp có được lựa chọn

để đạt được các mục tiêu không [7]

1.2.1 Yêu cầu đối với đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Một đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT phải thỏa mãn sáu tiêu chí dưới đây:

- Không thiên vị: Thông tin đánh giá chính sách phải đảm bảo không thiên vị

chính trị hoặc thiên vị khác, và những bóp m o cố ý; cần mô tả những điểm mạnh

và điểm yếu; trình bày tất cả các thông tin phù hợp, không chỉ những thông tin để củng cố những quan điểm của nhà quản lý

- Hữu dụng: Thông tin đánh giá chính sách cần phải phù hợp, kịp thời và được

diễn đạt dưới hình thức có thể hiểu được Nó cũng cần đưa ra những câu hỏi và được trình bày dưới hình thức dễ hiểu

- Đầy đủ kỹ thuật: Thông tin đánh giá chính sách cần đáp ứng các tiêu chuẩn

kỹ thuật như thiết kế phù hợp, thủ tục mẫu chính xác, diễn đạt chính xác các hướng dẫn bảng hỏi và phỏng vấn, phân tích nội dung hoặc thống kê thích hợp, hỗ trợ đầy

đủ cho các kết luận và các khuyến nghị…

Trang 20

- Sự tham gia của các bên liên quan: Các bên liên quan thích hợp được tham

vấn và tham gia vào nỗ lực đánh giá

- Thông tin phản hồi và phổ biến: Chia sẻ thông tin theo cách thích hợp, có

mục đích, và kịp thời là một đặc điểm nổi bật về tính hữu dụng của đánh giá thực hiện chính sách Sẽ có những thất bại truyền thông, mất tin tưởng, sự thờ ơ hoặc nghi ngờ về các kết quả đánh giá thực hiện chính sách nếu: (1) Thông tin đánh giá chính sách không được chia sẻ thích hợp và cung cấp cho những người phù hợp; (2) Người đánh giá thực hiện chính sách không lập kế hoạch để phổ biến thông tin một cách có hệ thống; (3) Không cố gắng hướng thông tin thích hợp tới những người cần chúng

- Tiết kiệm: Chỉ sử dụng những nguồn lực cần thiết đủ để có được thông tin

mong muốn Thu thập dữ liệu tốn k m mà không được sử dụng là không thích hợp, hoặc sử dụng các phương tiện tốn k m để thu thập dữ liệu trong khi sẵn có các phương tiện ít tốn k m hơn Chi phí của đánh giá thực hiện chính sách cần cân xứng

với toàn bộ chi phí của chương trình, dự án, hoặc chính sách [2]

1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Xây dựng các tiêu chí đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT một cách đầy đủ và đúng đắn Tùy theo từng lĩnh vực, sẽ có các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách khác nhau Thông thường, các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách tập

trung vào những phương diện sau đây:

- Tính hiệu lực của chính sách phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách đó trên thực tế, làm biến đổi hoặc duy trì thực tế theo mong muốn của Nhà nước Tính hiệu lực của chính sách thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu đề ra

- Tính hiệu quả của chính sách phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả do chính sách đưa lại với chi phí đã bỏ ra Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả của chính sách Nếu không quan tâm tính toán hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí, thất thoát tiền của và kinh phí từ ngân sách Nhà nước

- Tính công bằng của chính sách thể hiện ở chỗ thông qua chính sách, Nhà nước thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời trợ giúp cho các

Trang 21

đối tượng dễ bị tổn thương, như người nghèo, người già, trẻ em và người tàn tật để khắc phục tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm xã hội Tính công bằng của chính sách còn thể hiện ở sự phân bổ hợp lý các chi phí và lợi ích, các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạch định, thực thi chính sách và các nhóm đối tượng liên quan đến chính sách

- Chú trọng đánh giá tác động của chính sách đến các đối tượng hưởng lợi từ chính sách Tác động của chính sách phản ánh kết quả đầu ra hay kết quả cuối cùng của chính sách Đây là một tiêu chí rất quan trọng trong đánh giá thực hiện chính sách Song việc đánh giá tác động của chính sách cũng là khâu khó khăn nhất trong đánh giá thực hiện chính sách, bởi lẽ các tác động này đôi khi rất khó đo lường Việc đánh giá tác động này không thể căn cứ vào những ý kiến chủ quan của các cấp chính quyền, mà phải được đo lường bằng mức độ hài lòng của người dân về các lợi ích được hưởng Cần tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến đánh giá của người dân, đối tượng hưởng lợi

ra quá rộng, chung chung, không rõ ràng, khi đó dù các chính sách có được thực thi trên thực tế theo mục tiêu đề ra, thì cũng rất khó xác định vấn đề chính sách đã được giải quyết đến đâu Hơn nữa, vấn đề chính sách thường có ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh KT-XH khác nhau Do đó, mức độ giải quyết vấn đề chính sách có thể đo lường

được bằng một loạt tiêu chí liên quan đến các khía cạnh KT-XH này [11]

1.2.3 Các tiêu chí nông thôn mới có ảnh hưởng đến đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế

và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo

Trang 22

vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Chương trình và các nguồn vốn lồng gh p khác, các địa phương đã triển khai thực hiện hơn 300 dự án, mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất các loại Nội dung thực hiện chủ yếu là hỗ trợ phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có lợi thế, có giá trị, có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người tham gia và tập trung vào lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và một số mô hình cơ giới hóa sản xuất Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi đã thu hút đông đảo nông dân trong tỉnh tham gia Nhiều địa phương đã tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa, thiết kế lại hệ thống giao thông, thủy lợi, tạo điều kiện thuận lợi đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng

Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã được quan tâm đầu tư và đạt được nhiều kết quả tích cực, tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 30,5% năm 2011 đến nay

đã tăng lên 45%; tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo nghề đạt tỷ lệ từ 80 – 90%, giải quyết việc làm hàng năm cho khoảng hơn 30.000 lao động, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp đến năm 2015 còn 47% tổng số lao động xã hội

1.3 Nội dung đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

1.3.1 Đánh giá đầu vào chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Đánh giá đầu vào nhằm đo lường số lượng của đầu vào các chương trình thực thi đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT bao gồm số lượng yếu tố được huy động sử dụng và sự nổ lực của đội ngũ quản lý, tổ chức đào tạo lao động để hoàn thành mục tiêu chính sách Ngành nghề đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân từng địa phương với đặc trưng riêng của nghề nghiệp đang sinh sống, kết hợp với nhu cầu thực sự của cơ sở công nghiệp nông thôn tại địa phương Ngành nghề phải được xây dựng trên cở sở thực trạng cuộc sống của người dân, hiện trạng phát triển kinh tế xã hội của địa phương, ưu tiên những ngành nghề sản xuất sản phẩm sử dụng nguyên liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động, phải có sự khảo sát nghiên cứu phân tích và lựa chọn phù hợp, thích ứng

Khi tiến hành phân tích đánh giá đầu vào của quá trình đánh giá chính sách

Trang 23

đào tạo nghề cho LĐNT, nhà phân tích cần phải áp dụng các phương pháp tính toán mọi chi phí cho các quá trình chính sách trên cơ sở định mức tài chính hiện hành của nhà nước hoặc theo giá thị trường của các yếu tố đó tham gia, kể cả chi phí dự

phòng (nếu có thị trường cho các yếu tố đó) [8]

1.3.2 Đánh giá đầu ra chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Đánh giá đầu ra của một dự án hay chương trình đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT (còn gọi là đánh giá thực thi) là xem x t kết quả đầu ra của chương trình, dự án trong mối tương quan giữa việc sử dụng các nguồn lực và thực hiện mục tiêu chương trình chính sách một cách cụ thể Việc xác định đầu ra cũng tùy thuộc vào từng chương trình hoặc dự án được kế hoạch hóa Mục đích chính của đánh giá thực thi là để xác định xem chính sách đang tạo ra những giá trị cho xã hội,

có thể không liên quan trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách đã tuyên bố Loại đánh giá này sẽ cung cấp hệ thống dữ liệu cho đánh giá hiệu lực và hiệu quả chính sách Khi tiến hành phân tích đánh giá đầu ra, nhà phân tích phải tiến hành thu thập đầy đủ các dữ liệu để định lượng chính xác kết quả do các chương trình, dự án tạo

ra theo những đơn vị đo lường nhất định [8]

1.3.3 Đánh giá hiệu lực chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

So với các loại đánh giá trên, đánh giá hiệu lực thực thi đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT phức tạp hơn Loại đánh giá này không đơn giản chỉ để xác định các đầu vào hoặc đầu ra chương trình chính sách, mà còn nhằm mục tiêu xác định xem các chương trình, dự án đang thực hiện có tạo ra những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách hay không Trong loại đánh giá này, kết quả thực thi của một chương trình nhất định được so sánh với những mục tiêu mong muốn để xác định chương trình có đạt được mục tiêu của chính sách không và x t có phần điều chỉnh các mục tiêu theo thành quả của chương trình công hay không Trên cơ sở những phát hiện đó, nhà phân tích có thể đưa ra những khuyến nghị sửa đổi hoặc thay đổi các chương trình chính sách Đây là loại đánh giá rất có ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhưng nó cũng là loại đánh giá khó thực hiện nhất Thông tin cần thiết cho loại đánh giá này rất lớn và mức độ phức tạp của quá trình thực hiện cũng rất cao

Để có được kết quả đối với loại phân tích đánh giá này, các nhà phân tích cần

Trang 24

thực hiện tốt loại phân tích đánh giá đầu ra và am hiểu một cách sâu sắc, rõ ràng các mục tiêu của chính sách, cũng như mục tiêu các chương trình, dự án cụ thể để thực

thi chính sách [8]

1.3.4 Đánh giá hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Đánh giá hiệu quả đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT nhằm xem x t các chi phí cho một dự án, chương trình đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT cụ thể để đạt được những mục tiêu mong muốn Các đánh giá đầu vào và đầu ra là cơ sở chủ yếu cho loại đánh giá này Đánh giá hiệu quả chính sách đặc biệt

có ý nghĩa to lớn trong điều kiện ngân sách hạn chế hiện nay của các chính phủ Khi thực hiện loại phân tích đánh giá này, nhà phân tích cần thực hiện tốt các phân tích đánh giá đầu vào và phân tích đánh giá đầu ra dưới hình thức giá trị, sau đó tiến hành so sánh kết quả giữa chúng theo một trong hai cách sau:

Thứ nhất, lấy kết quả đầu ra chia cho chi phí đầu vào Nếu thương số của ph p

chia này lớn hơn 1 có nghĩa là thực hiện chương trình chính sách; nếu bằng 1, có nghĩa là hòa vốn; nếu nhỏ hơn 1 là không hiệu quả về phương diện kinh tế

Thứ hai, lấy kết quả đầu ra trừ đi chi phí đầu vào Nếu hiệu số của ph p trừ

này lớn hơn 0 có nghĩa là chương trình chính sách thực hiện có hiệu quả; nếu bằng

0, có nghĩa là hòa vốn; nếu nhỏ hơn 0, có nghĩa là chương trình, dự án đó không hiệu quả về phương diện kinh tế

Những khó khăn liên quan đến đánh giá hiệu quả chính sách là làm thế nào để

lượng hóa được kết quả dưới hình thức tiền tệ [8]

1.3.5 Đánh giá quá trình chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Đánh giá quá trình chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là việc xem x t các phương pháp tổ chức thực hiện các hoạt động chính sách, bao gồm các quy trình và thủ tục được áp dụng vào thực hiện các chương trình, dự án thuộc chính sách Mục tiêu của đánh giá này nhằm xác định xem liệu quá trình duy trì chính sách có thể được tổ chức hợp lý và được thực hiện hiệu quả hơn không Hướng tới mục tiêu này, sự thực thi một chính sách luôn được chia thành các nhiệm vụ cụ thể như hoạch định chiến lược hay chương trình chính sách, quản lý tài chính, đánh giá về những ý kiến phản hồi của người dân và đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ theo

Trang 25

tiêu chí hiệu lực, hiệu quả và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền

Để thực hiện tốt các loại phân tích đánh giá trên đây về đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, các nhà phân tích cần phải sử dụng nhiều phương pháp kỹ thuật khác nhau Trong khi trên thế giới có nhiều nỗ lực để phát triển các kỹ thuật đánh giá chính sách công nhưng cũng không thể khắc phục được hoàn toàn những hạn chế vốn có của phân tích đánh giá chính sách công theo chủ nghĩa duy lí

Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng sự nổ lực tìm kiếm các phương pháp kỹ thuật cũng đã làm tiền đề để đối phó với những thách thức trong lĩnh vực đánh giá chính sách Bất kỳ một sự tập trung nào vào việc đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu chính sách cũng gặp phải một số khó khăn nhất định, chẳng hạn ngay một chính sách cũng thường không tuyên bố về mục tiêu một cách xác thực để nhà phân tích xác định xem liệu các mục tiêu này có đạt được hay không Hơn nữa trên thực tế, một chính sách có thể hướng đến nhiều mục tiêu trực tiếp khác nhau mà không thể hiện sự ưu tiên cụ thể cho mục tiêu nào, vì thế lại càng khó khăn trong việc xác định liệu một mục tiêu cụ thể nào đó có đạt được hay không Ai cũng biết rằng, các vấn

đề KT-XH có quan hệ mật thiết với nhau, vì thế không thể cô lập từng lĩnh vực để đánh giá tác động trực tiếp của chính sách lên chúng Về mối tương quan, ngoài việc mỗi chính sách đánh giá chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tác động đến việc giải quyết vấn đề chính yếu chúng còn tác động đến các vấn đề khác

có liên quan, vì vậy nhà phân tích cần tiến hành đánh giá chính sách một cách toàn diện Để hoàn thành nhiệm vụ đánh giá theo yêu cầu này, nhà phân tích chính sách

sẽ phải khắc phục nhiều khó khăn trong quá trình thu thập những thông tin hữu

dụng [8]

1.3.6 Đánh giá tính phù hợp của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Mục đích chính của đánh giá này là để xác định xem chính sách đang tạo ra những giá trị cho xã hội, có thể không liên quan trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách đã tuyên bố Loại đánh giá này sẽ cung cấp hệ thống dữ liệu cho đánh giá hiệu lực và hiệu quả chính sách Khi tiến hành phân tích đánh giá đầu ra, nhà phân tích phải tiến hành thu thập đầy đủ các dữ liệu để định lượng chính xác kết quả

Trang 26

do các chương trình, dự án tạo ra theo những đơn vị đo lường nhất định

1.3.7 Đánh giá hiệu suất của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Tính hiệu suất của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là phản ánh tương quan

so sánh giữa kết quả do chính sách đưa lại với chi phí đã bỏ ra Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả của chính sách Nếu không quan tâm tính toán hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí, thất thoát tiền của và kinh

phí từ ngân sách nhà nước [11]

1.3.8 Đánh giá tính đầy đủ của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Đánh giá tính đầy đủ trong chính sách đào tạo nghề cho LĐNT là việc xem xét các phương pháp tổ chức thực hiện các hoạt động chính sách, bao gồm các quy trình

và thủ tục được áp dụng vào thực hiện các chương trình, dự án thuộc chính sách Mục tiêu của đánh giá này nhằm xác định xem liệu chính sách có thể được tổ chức hợp lý và được thực hiện hiệu quả hơn không Hướng tới mục tiêu này, sự thực thi một chính sách luôn được chia thành các nhiệm vụ cụ thể như hoạch định chiến lược hay chương trình chính sách, quản lý tài chính, đánh giá về những ý kiến phản hồi của người dân và đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chí hiệu lực, hiệu quả và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền

1.4 Các nhân tố tác động đến chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Thực tiễn đã cho thấy, các chương trình chính sách thường tỏ ra đầy hứa hẹn trước khi được triển khai nhưng lại không tạo ra được những tác động hay lợi ích mong muốn Vì thế, việc đánh giá sẽ cho chúng ta biết được các chương trình có đạt được hiệu quả mong muốn hay không, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm trong phân bổ nguồn lực giữa các nguồn lực giữa các chương trình công, bổ sung những điều còn chưa biết về những hoạt động nào có hiệu quả, hoạt động nào chưa hiệu quả, đồng thời biết được những thay đổi xác định được về phúc lợi có liên quan thế nào đến một dự án can thiệp chính sách nhất định

Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT được ban hành để giải quyết những vấn đề đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội, vì thế có nhiều chủ thể khác nhau trực tiếp tiến hành các hoạt động phân tích đánh giá chính sách, nhằm ban hành những chính sách tốt,

Trang 27

hoặc nhằm bảo vệ những lời ích khác nhau của họ hoặc những người mà họ tư vấn Nhà nước là chủ thể hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT chủ yếu và phổ biến nhất Nhà nước chủ động tổ chức xây dựng hề thống phân tích đánh giá chính sách và giao cho các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm triển khai các hoạt động phân tích chính sách từ Trung ương đến địa phương Đồng thời, Nhà nước ban hành các thể chế tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động phân tích đánh giá chính sách

Như vậy, có thể thấy Nhà nước là chủ thể có đầy đủ lý do và thẩm quyền để phân tích đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Đồng thời còn thiết lập hành lang pháp lý về phân tích đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT cho các chủ thể khác trong xã hội

Nhà nước tiến hành đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT để dự đoán

và đánh giá những tác động của giải pháp chính sách này đối với xã hội khi chính sách được đưa vào thực thi Khi chính sách được công bố và triển khai thực hiện, Nhà nước phải thường xuyên phân tích để đánh giá những tác động thực tế của chính sách đối với xã hội, cung cấp cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách cả về mục tiêu và giải pháp chính sách

Theo phân cấp quản lý nhà nước, Quốc hội và Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách công trên cơ sở đệ trình chính sách của các cơ quan quản lý ngành và chính quyền địa phương Đồng thời, Chính phủ và các cơ quan quản lý ngành ở Trung ương cũng là cấp tổ chức triển khai chính sách ở tầm vĩ mô

Để quản lý chính sách ở tầm vĩ mô hiệu quả, nhà nước thành lập hệ thống phân tích đánh gía chính sách vĩ mô để giám sát, đánh giá tình hình xây dựng, ban hành chính sách công; tình hình tổ chức triển khai chính sách ở cấp vĩ mô và đánh giá chung kết quả thực thi chính sách công

Trên thực tế, số lượng các địa phương nhiều, phân bố trên những địa bàn rộng lớn và có sự khác nhau về các điều kiện KT-XH, môi trường nên tình hình thực thi chính sách cũng sẽ không giống nhau Để giám sát quá trình thực thi chính sách ở các địa phương, hệ thống phân tích đánh giá chính sách của Trung ương không thể đảm đương được Các địa phương có đủ các điều kiện để tự quản lý hoạt động xã

Trang 28

hội trên địa bàn thông qua chính quyền địa phương theo pháp luật Do đó họ chủ động trong việc xác định mục tiêu và các giải pháp cụ thể để thực thi chính sách Chủ thể phân tích đánh giá chính sách chuyên nghiệp thường là các bộ phận phân tích đánh giá chính sách của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức nghiệp đoàn, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức tư vấn, những chuyên gia cố vấn Họ trở thành chủ thể phân tích đánh giá chính sách là vì:

- Họ có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của tổ chức mình trước nhà nước bằng cách

đệ trình nhà nước bản đánh giá chính sách để chứng minh tác động của một chính sách mà nhà nước sẽ ban hành hoặc đang thực hiện đến lợi ích của nhóm người mà

họ đại diện

- Các tổ chức là những tế bào cấu thành xã hội, nên những biến động tiêu cực của xã hội cũng sẽ làm tổn hại đến lợi ích của họ Vì thế các tổ chức phải thường xuyên đánh giá chính sách công để xác định được những tác động tiêu cực do các vấn đề KT-XH phát sinh gây ra và kịp thời đề xuất với nhà nước ban hành chính sách can thiệp

- Ở góc độ chuyên môn, các tổ chức phân tích chính sách thường xuyên có mối liên hệ với các bộ phận đánh giá chính sách của nhà nước Họ có trách nhiệm cùng nhau bổ sung kết quả phân tích cho nhau, làm cho công tác phân tích chính sách ngày càng hoàn thiện

Ý thức của chủ thể có vai trò quan trọng trong kết quả của việc đánh giá thực hiện chính sách Chủ thể ở đây có thể trong chính quyền, các bộ phận trực tiếp như

Bộ hay Ủy ban, nhóm lợi ích, các Ủy ban và tiểu ban của Quốc hội, giới chuyên gia,

hay chủ thể ngoài chính quyền như cử tri, nhân dân và truyền thông…

Bất kỳ hệ thống nào cũng có những đặc trưng được quyết định phụ thuộc vào quá trình tiếp nối với thời kỳ đầu Tính độc đáo về quá trình hình thành cũng như đánh giá chính sách của bộ ngành được giải thích phụ thuộc vào những điều như: quá trình lịch sử từ khi thành lập nên bộ ngành hay ban vụ, người lãnh đạo… Thời gian sẽ chấp nhận nên sự đa dạng, đồng thời cũng có hiệu quả hạn chế sự đa dạng Phân tích đánh giá chính sách là phân tích trong quá trình chính sách đang được thực thi để đánh giá việc thực thi chính sách có đạt được mục tiêu chính sách

Trang 29

hay không?, đây là giai đoạn đo lường chi phí, kết quả của việc thực hiện chính sách, các cơ quan nhà nước có thể đưa ra những điều chỉnh chính sách nếu thấy cần thiết Các cơ quan nhà nước có thể điều chỉnh mục tiêu, thay đổi hoặc bổ sung các giải pháp mới, có thể quyết định tiếp tục theo đuổi hay chấm dứt chính sách

Các bộ ngành thông qua quá trình “điều chỉnh giữa bộ ngành” hình thành nên

sự tương tác, hoặc cũng có trường hợp trò chơi phức tạp giữa nhiều tầng lớp, nhiều giai đoạn giữa các chủ thể khác như giữa bộ ngành và cơ quan lập pháp, bộ ngành

và nước ngoài, quan liêu và chính trị gia, quan liêu và các ngành nghề, quan liêu và người dân Có sự khác biệt lớn trong hành động hợp lý của chủ thể độc lập và hành động hợp lý với tiền đề là “tương tác xã hội” Khi triển khai trò chơi giữa các chủ thể chỉ có sự hợp lý mang tính giới hạn thì “tính phi đối ứng về thông tin” và thời gian sẽ có sự can thiệp với tư cách là biến hàm quan trong

Tiểu kết Chương 1

Mục tiêu nghiên cứu của Chương 1 là làm rõ cơ sở lý luận về đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Tác giả đã làm rõ được hệ thống một số khái niệm có

liên quan đến nội hàm nghiên cứu: khái niệm đào tạo nghề, khái niệm chính sách

đào tạo nghề cho LĐNT, khái niệm đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT; vai trò của đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT; yêu cầu đối với đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT và các tiêu chí đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Nghiên cứu đến nội dung đánh giá đào tạo nghề cho LĐNT: đánh giá

đầu vào của đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, đánh giá đầu ra của đánh

giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, đánh giá hiệu lực của đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, đánh giá hiệu quả của đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, đánh giá quá trình của đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT; các nhân tố tác động đến đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

Những nội dung nghiên cứu ở Chương 1 là cơ sở lý luận cho việc khảo sát thực trạng đánh giá chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi trong Chương 2 và đưa ra định hướng và các giải pháp ở Chương 3

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội của địa phương tác động đến đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, lãnh thổ của tỉnh trải dài theo hướng Bắc-Nam trong khoảng 100km với chiều ngang theo hướng Đông – Tây hơn 60km, ứng với tọa độ địa lý từ 140 32’ đến 150 25’ vĩ tuyến Bắc

và từ 1080 06’ tới 1090 04’ kinh tuyến đông Quảng Ngãi giáp các tỉnh sau: phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam với đường ranh giới chung khoảng 60km, phía Tây giáp các tỉnh Gia Lai, Kom Tum trên chiều dài 142km dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía Nam liền kề tỉnh Bình Định với độ dài 70km, phía Đông giáp với biển đông với chiều dài khoảng 130km Quảng Ngãi có vị trí địa lý tương đối quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội Lãnh thổ tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có những biến đổi sâu sắc về mặt kinh tế với

sự ra đời của khu công nghiệp Dung Quất Với vị trí này, Quảng Ngãi có thể dễ dàng liên hệ với các tỉnh phía Bắc và phía Nam thông qua quốc lộ 1A hay tuyến đường sắt xuyên Việt Với đường bờ biển dài 130km, Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi trong việc thiết lập các mối liên hệ với các tỉnh trong nước và quốc tế Quảng Ngãi nối với các tỉnh duyên hải miền trung bằng quốc lộ 1A và tuyến đường sắt thống nhất

Vị trí địa lý đặc biệt và các yếu tố hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho Quảng Ngãi hình thành và phát triển một cơ cấu kinh tế hết sức đa dạng, mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng, đặc biệt là các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Tây Nguyên và cả nước

2.1.2 Đặc điểm về xã hội

Trang 31

dân số đạt 241người/km trong đó dân sống tại thành thị là 178.900 người, dân số sống tại nông thôn là 1.042.700 người Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 29 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống, trong đó dân tộc kinh chiếm đông nhất với 1.055.154 người, thứ hai là người Hrê với 115.268 người, thứ ba là người Co với 28.110 người, người Xơ Đăng có 17.713 người, cùng với các dân tộc ít người khác như Hoa, Mường, Tày, Thái,…

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 10 tôn giáo khác nhau chiếm 42.604 người, trong đó nhiều nhất là phật giáo với 22.284 người, đạo tin lành cho 11.032 người, Công giáo có 6.376 người, Đạo Cao Đài có 6.000 người, còn lại các tôn giáo khác như Hồi giáo, Phật giáo hòa hảo mỗi đạo có 3 người, bà la môn và tịnh độ cư sĩ phật hội Việt Nam mỗi đạo có 2 người, ít nhất bửu sơn kỳ hương mỗi đạo có 1 người

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế

Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng CNH-HĐH

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 5,0% đạt kế hoạch; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 16.670 tỷ đồng, tăng 5,1% so năm trước Phần lớn các sản phẩm công nghiệp đều tăng, trong đó, nhà máy lọc dầu Dung Quất vượt công suất (đạt 6,787 triệu tấn) GRDP bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng/người, tương đương 2.293USD/người Tổng thu cân đối ngân sách trên địa bàn ước khoảng 17.299 tỷ đồng, giảm 37,8% so với năm 2015,đạt 77,4% dự toán Tổng vốn đầu tư xã hội tăng 5,11%

Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới có nhiều chuyển biến tích cực Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,7% so với năm 2015, vượt 2,8% kế hoạch Từng bước hình thành và phát triển cánh đồng mẫu lớn, đạt năng suất cao Hiện trên địa bàn tỉnh có 66 cánh đồng mẫu lớn, với tổng diện tích 854 ha, tăng 37 cánh đồng và 459,8ha so với năm 2015

Trang 32

Các lĩnh vực giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin, tuyên truyền diễn ra sôi nổi; hoạt động du lịch có bước phát triển, nhất là du lịch đảo Lý Sơn Công tác giải quyết việc làm, dạy nghề, giảm nghèo đạt được một số kết quả nhất định; an sinh, phúc lợi xã hội được các ngành, các cấp quan tâm

2.2 Đánh giá chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Quảng Ngãi

2.2.1 Đánh giá đầu vào

Trong những năm qua, nền kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi có sự phát triển vượt bậc, Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp của tỉnh đã và đang thu hút nhiều dự án quan trọng Thực tế đòi hỏi cần phải có nguồn nhân lực tăng cả về số lượng và chất lượng, đó là nhân lực kỹ thuật trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, Nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực lao động xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực qua đào tạo nghề, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã quan tâm, ban hành nhiều

cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới công tác quản lý và triển khai thực hiện đào tạo nghề; gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm; qua đó, công tác đào tạo nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trên các lĩnh vực nông nghiệp sang hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế hộ gia đình và địa phương, bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020, UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quyết định số 1662/QĐ-UBND ngày 11/11/2011 về việc phê duyệt

Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 20/3/2013 về phê duyệt điều chỉnh cơ cấu kinh phí thực hiện

Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”; đồng thời, thành lập Ban Chỉ đạo

và Tổ chuyên viên giúp việc triển khai thực hiện Đề án “ Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Quyết định 377/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm

2011 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện

Trang 33

Hàng năm, Sở Lao động – Thương binh và xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính , Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh tổng hợp các danh mục nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp cần đào tạo trên địa bàn tỉnh, xây dựng định mức chi phí đào tạo cho từng nghề trình UBND tỉnh phê duyệt danh mục nghề, chương trình khung, định mức chi tại các Quyết định số 1540/QĐ-UBND ngày 24/10/2011, Quyết định số 515/QĐ-UBND ngày 10/4/2013, Quyết định số 220/QĐ-UBND ngày 20/02/2014 và Quyết định số 1101/QĐ-UBND ngày 23/6/2016

Tổng số LĐNT được hỗ trợ học nghề theo chính sách Đề án 1956 trong 5 năm giai đoạn 2011-2015 là 32.819 người Cụ thể:

Bảng 2.1 Số LĐNT được hỗ trợ học nghề giai đoạn 2011-2015

(Nguồn: Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Ngãi, năm 2015)

Từ số liệu của bảng 2.1 cho thấy: tổng số LĐNT được hỗ trợ học nghề có tăng qua các năm Cụ thể: năm 2012 là 7.366 người, tăng 4.302 người so với năm 2011; năm 2014 là 7.838 người, tăng 74 người so với năm 2013; năm 2015 là 6.787 người, giảm 1.051 người so với năm 2014

Trang 34

Bảng 2.2 Kết quả số LĐNT được hỗ trợ học nghề phân chia theo từng đối tượng

(Trích dẫn nguồn bảng kết quả số LĐNT được hỗ trợ học nghề phân chia theo từng đối tượng)

Từ số liệu bảng 2.2 cho thấy: Số LĐNT được hỗ trợ học nghề theo chính sách đào tạo nghề cho LĐNT được phân chia theo từng đối tượng:

- Lao động thuộc diện hộ gia đình có công cách mạng, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người bị thu hồi đất: 11.265 người

- Lao động thuộc diện hộ cận nghèo: 147 người

- Lao động nông thôn khác: 24.721 người

TT Nghề đào tạo

Người hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác

Người thuộc diện hộ cận nghèo Lao động nông thôn khác

Trang 35

Bảng 2.3 Kết quả đào tạo nghề cho LĐNT của tỉnh Quảng Ngãi

trong 5 năm 2011-2015

Số người đã học xong Năm

Số học viên được đào tạo 3.064 7.366 7.764 7.838 6.787

1 Nghề Phi nông nghiệp 2.029 3.695 5.300 5.547 4.756

(Nguồn: Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Ngãi, năm 2015)

Trong 5 năm qua trên toàn tỉnh số lớp đào tạo nghề và số LĐNT được đào tạo nghề không ngừng tăng lên 32.819 lao động tại các huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã được đào tạo nghề gồm nông nghiệp và phi nông nghiệp như nghề trồng hoa, làm chổi đót, làm nhang, chăn nuôi gia súc, gia cầm… Lao động được đào tạo nhận thức được hiệu quả mà hoạt động đào tạo nghề mang lại Họ không ngừng học hỏi nâng cao tay nghề, tìm việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống Những kết quả bước đầu đã từng bước tạo điều kiện cho LĐNT và các đối tượng chính sách xã hội được tham gia học nghề, trang bị các kỹ năng, kiến thức nghề cho lao động ở các cấp trình độ để góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo

Theo số liệu thống kê của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Ngãi, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tổng LĐNT trong 5 năm (2011-2015) là 32.819 lao động, trong đó lao động phi nông nghiệp là 21.327, lao động nông nghiệp là 11.492 lao động

Bảng 2.4 Kết quả đào tạo nghề theo ngành nghề của tỉnh Quảng Ngãi

trong 5 năm 2011-2015

Số người đã học xong Năm

I Nghề Phi nông nghiệp 2.029 3.695 5.300 5.547 4.756

1 Kỹ thuật sữa chữa, lắp ráp máy tính 87 125

Trang 36

TT Loại nghề đào tạo

Số người đã học xong Năm

16 Thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá

hạng tư

328

Trang 37

TT Loại nghề đào tạo

Số người đã học xong Năm

13 Sản xuất, kinh doanh, giống cây

(Nguồn: Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Ngãi, năm 2015)

Qua bảng 2.4 ta thấy kết quả đào tạo nghề theo ngành nghề của tỉnh Quảng Ngãi đã thể hiện hướng chuyển dịch cơ cấu của tỉnh Số ngành nghề qua các năm có tăng về số lượng cũng như chất lượng

Thực hiện chính sách đối với LĐNT tham gia học nghề, ngành Lao động – Thương binh và xã hội đã phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chính sách của nhà nước đến các cơ sở và người dân Đồng thời tham mưu, triển khai thực hiện đồng bộ các hoạt động, từ công tác điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của người dân đến nhu cầu sử dụng lao động của các

Trang 38

dạy của các cơ sở đào tạo nghề để xây dựng kế hoạch, phân bổ chỉ tiêu phù hợp với tình hình của đơn vị

Thực hiện chế độ cử tuyển vào các trường dạy nghề đối với những người học nghề có hộ khẩu tại các huyện miền núi cao có nguyện vọng vào học tại các trường, các trung tâm của tỉnh Người học nghề sau khi tốt nghiệp trở lại các huyện miền núi công tác được ưu tiên cho vay vốn để phát triển nghề Những người tốt nghiệp các trường dạy nghề đang làm việc tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn để nâng cao trình độ hay để phát triển sản xuất được miễn giảm 100% học phí nếu đang làm việc tại các huyện miền núi

- Kinh phí phân bổ thực hiện Đề án 1956 giai đoạn 2011-2015

Tổng kinh phí phân bổ thực hiện Đề án 1956 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015 là 108.555 triệu đồng, trong đó:

+ Kinh phí thực hiện các hoạt động đào tạo nghề cho LĐNT là 97.440 triệu đồng Trong đó, ngân sách trung ương: 62.242 triệu đồng, ngân sách địa phương: 35.198 triệu đồng

+ Kinh phí thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là 11.115 triệu đồng Trong đó: ngân sách địa phương: 11.115 triệu đồng

Bảng 2.5 Kinh phí đào tạo nghề cho LĐNT giai đoạn 2011-2016

ĐVT: triệu đồng

TT Nội dung

Tổng kinh phí giai đoạn 2011-

Trang 39

TT Nội dung

Tổng kinh phí giai đoạn 2011-

3 Hỗ trợ đầu tư cơ sở vật

chất, trang thiết bị dạy

nghề, trong đó:

36.862 7.000 15.000 10.000 3.562 1.300

1 Ngân sách Trung ương 34.262 7.000 15.000 10.000 2.262

4 Bồi dưỡng cán bộ quản lý,

giáo viên dạy nghề, trong đó:

5 Hỗ trợ lao động nông thôn

học nghề, trong đó:

58.903 5.150 12.000 12.000 11.414 18.339

1 Ngân sách Trung ương 27.275 5.000 5.000 5.000 12.275

2 Ngân sách địa phương 31.628 5.150 7.000 7.000 6.414 6.064

7 Bồi dưỡng cán bộ công

Trang 40

giảm nghèo bền vững, giảm thiểu các tệ nạn xã hội

- Bước đầu đã có sự liên kết giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp trong đào tạo

và sử dụng lao động; các doanh nghiệp đã tham gia với các cơ sở GDNN trong việc hoàn thiện nội dung, chương trình dạy nghề theo yêu cầu của sản xuất; nhận học sinh vào thực tập và làm việc tại doanh nghiệp

- Nội dung, chương trình đào tạo nghề từng bước đổi mới phù hợp với sự thay đổi của kỹ thuật và công nghệ sản xuất Các cơ sở GDNN đã tổ chức rà soát, xây dựng lại chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp đối với một số nghề phổ biến sát với yêu cầu của thực tế sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động học nghề nhất là lao động nông thôn Bên cạnh việc đào tạo kiến thức, kỹ năng, các cơ sở GDNN đã chú ý đến việc giáo dục đạo đức, an toàn vệ sinh lao động, ý thức công nhân và tác phong công nghiệp cho người lao động

Để thực hiện Đề án đào tạo nghề cho LĐNT, tỉnh Quảng Ngãi đã huy động các nguồn lực đầu tư, nâng cao năng lực đào tạo tại các cơ sở dạy nghề với tổng kinh phí trên 125,7 tỷ đồng Nhờ đó, trong giai đoạn 2011-2015, trong toàn tỉnh đã đào tạo nghề cả 3 cấp trình độ cho 87.000 LĐNT Bình quân mỗi năm đào tạo nghề khoảng 14.700 lao động, trong đó, số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề (trình

độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) khoảng 7.800 người/năm, gồm: học nghề nông nghiệp: 3.000 người, tỷ lệ 38,5%; học nghề phi nông nghiệp 4.800 người, tỷ lệ 61,5% Số LĐNT còn lại được đào tạo theo hướng xã hội hoá, huy động nguồn lực để thực hiện đạt mục tiêu của Đề án Tỷ lệ lao động có việc làm sau khi được đào tạo nghề tối thiểu đạt 70% Bên cạnh đó, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý theo chức danh, từng vị trí công việc đáp ứng yêu cầu của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, thực thi công vụ cho 6.000 lượt các cán bộ, công chức xã Kết quả đó cho thấy, Đề án 1956 đã hướng vào mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực LĐNT, tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, góp phần xây dựng nông thôn mới ở các địa phương

Ngày đăng: 24/11/2017, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Thị Hồng Đào (2011), Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010-2020, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế phát triển, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010-2020
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Đào
Năm: 2011
7. Lê Văn Hòa (2016), Giám sát và đánh giá chính sách công, Nxb Chính trị Quốc gia năm tr. 18-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát và đánh giá chính sách công
Tác giả: Lê Văn Hòa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia năm tr. 18-26
Năm: 2016
8. Nguyễn Hữu Hải (2014), Những vấn đề cơ bản, Chính sách công, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 316-331 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
9. Đỗ Phú Hải (2012), Những vấn đề cơ bản về Chính sách công, Học viện KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về Chính sách công
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2012
10. Đỗ Phú Hải (2013), Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2013
12. Học viện Hành chính quốc gia – cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (2016), Đánh giá chính sách công, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chính sách công
Tác giả: Học viện Hành chính quốc gia – cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2016
15. Nguyễn Viết Quý (2012), Một số kinh nghiệm tuyên truyền, tư vấn học nghề, việc làm cho lao động nông thôn có hiệu quả ở cơ sở, Lao động Thương binh và xã hội Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm tuyên truyền, tư vấn học nghề, việc làm cho lao động nông thôn có hiệu quả ở cơ sở
Tác giả: Nguyễn Viết Quý
Năm: 2012
17. Sở Lao động – Thương binh và xã hội (2016), Báo cáo thống kê cơ cấu lao động theo ngành, lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2011-2015, Sở Lao động – Thương binh và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê cơ cấu lao động theo ngành, lĩnh vực kinh tế giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Sở Lao động – Thương binh và xã hội
Năm: 2016
18. Sở Lao động – Thương binh và xã hội (2015), Báo cáo các lĩnh vực dạy nghề giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch 2015-2020, Sở Lao động binh và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo các lĩnh vực dạy nghề giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch 2015-2020
Tác giả: Sở Lao động – Thương binh và xã hội
Năm: 2015
23. Giang Anh Tuấn, Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn Thạc sĩ khoa học kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
25. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2011), Quyết định 1662/QĐ-UBND ngày 11/11/2011 về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của tỉnh Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1662/QĐ-UBND ngày 11/11/2011 về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2011
28. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2017), Báo cáo đánh giá 7 năm thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2010-2016 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2017-2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Báo cáo số 123/BC-UBND ngày 19/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá 7 năm thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2010-2016 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2017-2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2017
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành chương trình hành động của Chính phủ (2008), Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 28/10/2008 Khác
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
3. Chính phủ (2008), Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 28/10/2008 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
4. Chính phủ (2009), Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Khác
5. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Khác
11.Lưu Thị Hương (2012), Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Hòa Bình Khác
13. Phạm Thị Hương (2015), Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi Khác
16. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2015), Quyết định 603/QĐ-UBND ngày 27/4/2015 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo nghề cho LĐNT và ngư i khuyết tật tỉnh Quảng Ngãi năm 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm