Chính vì vậy, Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn 2011-2020 nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ công chức gắn với cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM MINH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở
TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Bùi Nguyên Khánh
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ
Chính sách công về" Thực hiện chính sách tuyển dụng công chức tại các cơ quan hành chính nhà nước thuộc trung ương hiện nay" là hoàn toàn trung
thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Phạm Minh Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….……… …………1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC……… …… 7
1.1 Lý luận về chính sách và thực hiện chính sách tuyển dụng công chức của các cơ quan hành chính nhà nước 7 1.2 Khái niệm hoạt động công vụ, công chức và tuyển dụng công chức… 8 1.3 Thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay……….……….……….… 16
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC TRONG CAC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY……….………… …… 37
2.1 Khái quát cơ cấu công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương hiện nay……… ……… ……… 37 2.2 Tình hình thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương……….……….… …41
Chương 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG ……….…… 63
3.1 Phương hướng và mục tiêu hoàn thiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trungương…… ……… … ….…… …….63 3.2 Hoàn thiện việc thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước tại Trung ương……….….………….………66
KẾT LUẬN… 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………
Trang 5CCHC: Công chức hành chính
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Trang 62.1.2 Cơ cấu ngạch và chất lượng đội ngũ công chức ở cơ quan
2.2.1 Thông báo tuyển dụng của một số Bộ, ngành 42 2.2.2 Kết quả nhận biết người có tài trong quá trình tuyển dụng 55 2.2.3 Sơ đồ đánh giá chủ thể thực hiện chính sách tuyển dụng
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở tất cả các quốc gia trên thế giới, nhân tố con người đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của công việc”,
“công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [21;tr.26] Quá trình cách mạng hơn 80 năm qua, trong từng thời kỳ, Đảng ta luôn đề ra chiến lược, nghị quyết về công tác cán bộ, công chức nhằm lựa chọn những người có phẩm chất chính trị, chuyên môn cao để phục vụ đất nước Hiện nay, Nhà nước ta đang tiến hành cải cách hành chính quốc gia, nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh,từng bước hiện đại; trong đó, nội dung xây dựng, tuyển dụng và sử dụng đội ngũ công chức hành chính có đủ phẩm chất và năng lực là một nội dung mang tính tiên quyết Chính vì vậy, Chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn 2011-2020 nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ công chức gắn với cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính, cải cách tài chính công theo hướng “hoàn thiện quy định của phát luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, sở trường, năng lực của công chức, viên chức” [8] bên cạnh chính sách về đánh giá, nâng ngạch, khen thưởng kỷ luật và các chế độ tiền lương của công chức
Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mới thì nền hành chính của nước nhà vẫn còn chuyển biến chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế Chúng ta đã và đang thực hiện chính sách tổng thể cải cách hành chính Trong đó có nhiều nội dung, nhưng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng cao là khâu khó khăn nhất trong lộ trình cải cách hành chính Bởi lẽ, cán bộ, công chức là cái gốc của mọi công việc, công việc có thành công hay thất bại phụ thuộc trước hết vào đội ngũ công chức Công chức Nhà nước là đội ngũ tiên phong, mang trọng trách lớn trong việc tổ chức và thực thi chính sách pháp luật, làm cho chính sách pháp luật đi vào cuộc sống Việc tuyển chọn những người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên như Bác Hồ đã
Trang 8dạy để làm cho đất nước ngày càng phát triển và tiến bộ là một thách thức lớn trong quá trình cải cải hành chính Muốn tuyển chọn được một đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng thì phải xây dựng chính sách và thực thi chính sách tuyển dụng (từ khâu hoạch định đến tổ chức thực hiện chính sách) một cách thật sự khoa học, tiến bộ Hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu quả hay không đều phụ thuộc vào năng lực, trách nhiệm của đội ngũ công chức hành chính và trước hết, là khâu tuyển dụng đội ngũ này Do vậy, việc hoàn thiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan HCNN để đảm bảo công chức có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, phù hợp với nhu cầu của xã hội mới, có
ý thức chính trị, tinh thần trách nhiệm, tận tuỵ với công việc, có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ là nhiệm vụ cấp thiết của các cấp, các ngành nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Với nhận thức trên, người viết chọn đề tài “Thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương hiện nay” làm nội dung nghiên cứu của luận văn thạc sỹ chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tầm quan trọng của việc tuyển dụng cán bộ, công chức hành chính nhà nước, cho đến nay, có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về tuyển dụng, xây dựng, nâng cao đội ngũ cán bộ công chức nhà nước nói chung và cán bộ công chức trong lĩnh vực thực thi chính sách nói riêng như:
“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm, Nxb Chính trị quốc gia 2003; các tác giả đã đúc kết, đưa ra các quan điểm, định hướng trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung;
“Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới” của tác giả TS Thang Văn Phúc, TS Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền, Nxb Chính trị quốc gia, 2004 Đây là công trình nghiên cứu về tổ chức nhà nước, bộ máy
Trang 9nhà nước, bộ máy hành chính, lịch sử nền công vụ, chế độ quản lý công chức ở các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới Công trình cũng đưa ra các ưu điểm, hạn chế ở mỗi nước để làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
“Về chế độ công vụ Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Trọng Điều chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, 2007; đây là công trình nghiên cứu về công chức, công vụ
và các cơ sở khoa học để hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam; đề tài phân tích một cách có hệ thống về lý luận và thực tiễn của chế độ công vụ và cải cách công
vụ Việt Nam qua từng thời kỳ, có tham chiếu các mô hình công vụ một số nước tiêu biểu cho các thể chế chính trị khác;
“Pháp luật về công vụ, công chức của Việt Nam và một số nước trên thế giới” của TS Trần Anh Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, 2011.Cuốn sách đề cập đến những vấn đề pháp lý của hoạt động công vụ Việt Nam từ 1946 đến nay và so sánh các chế định pháp luật công chức ở Việt Nam với các chế định pháp luật của một số nước trên thế giới, trong đó có các vấn đề pháp lý về tuyển dụng công chức
Luận án TS “Thu hút và trọng dụng tài năng trong các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam” của tác giả Trần Văn Ngợi, 2015;
Bài viết của PGS TS Đinh Ngọc Giang, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2016 về Công tác tuyển dụng, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức hiện nay;
Bài viết của ThS Thạch Thọ Mộc, Viện Khoa học tổ chức nhà nước về Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay;
Bài viết của ThS Phạm Tuấn Doanh, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức – Bộ Nội vụ về Quy định về tuyển dụng công chức và một số giải pháp hoàn thiện;
Các tác phẩm và công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh chính sách công
và pháp luật về một nền công vụ, công chức; các luận cứ khoa học cho việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng từ công chức; so sánh và đề xuất việc tiếp thu các chính sách về công chức ở các nước trên thế giới cho Việt Nam Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu việc thực hiện chính tuyển dụng công chức ở
Trang 10Việt Nam với tư cách là một loại chính sách tác động trực tiếp đến hoạt động công
vụ ở các cơ quan HCNN ở Trung ương Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài luận
văn: “Thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương hiện nay” sẽ góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ thêm
lý luận và thực tiễn của chính sách TDCC nói chung và TDCC ở các cơ quan HCNN ở Trung ương nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách cán bộ, công chức và tuyển dụng công chức; phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách TDCC trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương hiện nay, hiệu quả thực hiện và để từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp, một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách TDCC ở các cơ quan HCNN ở Trung ương
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chính sách cán bộ, công chức và tuyển dụng công chức;
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách TDCC, hiệu quả thực hiện chính sách TDCC trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương hiện nay;
- Phương hướng, giải pháp, một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách TDCC ở các cơ quan HCNN ở Trung ương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu việc thực hiện chính sách TDCC ở các cơ quan HCNN ở Trung ương;
+ Nghiên cứu các giải pháp và công cụ thực hiện chính sách TDCC dưới góc
độ khoa học chính sách công
Trang 11* Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Chính sách tuyển dụng công chức mới vào làm việc trong các
cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương
+ Thời gian: Nguồn để phân tích thực trạng trong khoảng thời gian 2013 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vận dụng triệt để phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành
- Phương pháp luận của duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong nghiên cứu khoa học
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước và các bộ, ngành ở Trung ương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của các Bộ, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách tuyển dụng Đồng thời, thu thập các số liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua
- Phương pháp thu thập so sánh số liệu: thu thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của các chính sáchxã hội liên quan đến chính sách tuyển dụng
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận văn nghiên cứu và thực hiện chính sách tuyển dụng công chức nói chung dựa trên những phân tích, đánh giá thực trạng tình hình thực thi chính sách tuyển dụng CCHC ở Việt Nam, cũng như đề xuất một số giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng và tinh thần trách nhiệm của công chức trong việc thực thi chính sách TDCC tại các cơ quan HCNN ở Trung ương
- Giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực tiễn vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách tuyển dụng ở Bộ, ngành mình một cách hiệu quả hơn
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách và thực hiện chính sách tuyển dụng công chức của các cơ quan hành chính nhà nước
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tuyển dụng trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC SÁCH TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.1 Lý luận về chính sách và thực hiện chính sách tuyển dụng công chức của các cơ quan hành chính nhà nước
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của Đảng cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý vớicác vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống xã hội để thúc đẩy và quản
lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước
Khái niệm Chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách
công là tập hợp các quyết định có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền.”
Ở nước CHXHCN Việt Nam, Đảng lãnh đạo toàn diện tuyệt đối nhà nước và
xã hội (Điều 4, Hiến pháp 2013) Do đó, mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển con người nhằm xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng, nhà nước của dân, do dân và vì dân đều được xuất phát từ định hướng mang tính chất chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
Qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và các nghị quyết của Đảng, định hướng chính trị này được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm tiền đề,
là cơ sở để các cơ quan tổ chức trong hệ thống chính trị triển khai các hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình Nằm trong khuôn khổ sự lãnh đạo của Đảng, chính sách công trước hết phải là một hoạt động của Nhà nước nhằm thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như: Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành và địa phương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước Chính sách công được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Trang 14Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết, Nghị định, Quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Mục đích cuối cùng nhằm để phát triển và quản lý sự phát triển của xã hội Cấu trúc của chính sách công gồm 3 bộ phận: Những đường hướng hành động ứng xử (là quan điểm và định hướng chính sách); biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách; mục tiêu mà chính sách hướng tới
Chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan HCNN là một trong những chính sách công do nhà nước ban hành nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng trong hoạt động công vụ thuộc lĩnh vực tuyển dụng nhằm sử dụng và quản lý công chức một cách có hiệu quả
1.2 Khái niệm công chức và tuyển dụng công chức
1.2.1 Khái niệm công chức
Hiện nay, trên thế giới có các quan điểm về công chức như sau:
Quan điểm thứ nhất: Theo mô hình XHCN, đồng nhất các hoạt động của Đảng, đoàn thế và lao động trực tiếp của công nhân là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước (bao gồm cả lập pháp, hành pháp và tư pháp), thậm chí cả người làm việc trong các đơn vị sản xuất [23;tr.108,109]
Quan điểm thứ hai: Công chức bao gồm những người làm việc trong bộ máy nhà nước nói chung (các cơ quan lập pháp, hành pháp và xét xử)
Quan điểm thứ ba cho rằng công chức bao gồm những người hoạt động trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước và bộ máy phục vụ của cơ quan nhà nước, giữ công vụ thường xuyên, ổn định [34]
Quan điểm thứ tư thuần túy cho rằng công chức chỉ là người làm việc trong các cơ quan HCNN, giữ chức vụ thường xuyên và ổn định [4;tr 12]
Ở Việt Nam, khái niệm công chức cũng được phát triển và hoàn thiện theo từng thời kỳ lịch sử
Trang 15Thời kỳ phong kiến, công chức (quan lại) là người phục vụ Vua, phụng sự quốc gia, góp phần vào thực thi thiên mệnh (mệnh lệnh của Vua) Họ được tuyển chọn kỹ lưỡng, chặt chẽ qua các kỳ thi, sát hạch nghiêm khắc
Thời kỳ pháp thuộc, công chức được coi là một nghề, chủ yếu bảo đảm chỗ dựa về mặt vật chất cho bản thân phục vụ người Pháp, nên tình trạng “sáng cắp ô đi, tối cắp về” diễn ra một cách phổ biến
Từ năm 1946 đến nay, qua các thời kỳ, Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đề ra các chính sách xã hội tiến bộ, cùng với
đó, chính sách pháp luật về công chức được hoàn thiện Từ “nhân viên các cấp thuộc cơ quan chính phủ” (Điều 49, Hiến pháp 1946) đến “công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ” (Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 do Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký ban hành Quy chế công chức)
Năm 1991, quan niệm công chức đã được xác định là “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở nhà nước từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [19]
Hiến pháp 1992 và 2001 (sửa đổi), Hiến pháp 2013 quy định “cán bộ, công chức, viên chức nhà nước”
Khái niệm công chức được quy định rõ tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vụ thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là
sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ
Trang 16máy lãnh đạo, quản lý của đơn vụ sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Theo tinh thần của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và phạm vi nghiên cứu
đề tài, công chức là những người được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước thực hiện một số nhiệm vụ, công vụ nhất định và được xếp vào ngạch, bậc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước
1.2.2 Khái niệm tuyển dụng công chức
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tuyển dụng là việc “chọn và nhận vào làm việc
ở các cơ quan, xí nghiệp; chọn trong số nhiều cùng loại để lấy số lượng nào đó theo yêu cầu, tiêu chuẩn đề ra”
Đối với bộ máy chính quyền nhà nước, việc “tuyển hiền dữ năng” là việc chọn người hiền tài, người có năng lực (chứ không phải chọn vì có quan hệ thân quen) vào các công việc triều chính [35;tr.1700]
Tuyển dụng, bổ sung vào các vị trí công việc cho một cơ quan, tổ chức là hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động của bộ máy nhà nước (hoạt động công vụ) Tuyển dụng công chức là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân sự theo tiêu chí nhất định để thỏa mãn nhu cầu của cơ quan, tổ chức và bổ sung lực lượng cần thiết nhằm thực hiện các mục tiêu của cơ quan, tổ chức
Sau khi chọn và nhận vào các cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào trình độ của họ và ngạch, bậc của cơ quan, tổ chức để sắp xếp vị trí công việc cho phù hợp, nhằm phát huy sử dụng khả năng của công chức và mục đích của công việc đề ra
TDCC có hiệu quả sẽ làm thay đổi kết cấu bên trong của hệ thống hành chính Từ đầu vào (tuyển dụng) đến xếp vào ngạch, bậc, loại bỏ, thay thế công chức chất lượng thấp đang tồn tại trong bộ máy sẽ kích thích đội ngũ công chức hiện hành phải thay đổi tư duy về kỹ năng nghề nghiệp nhằm tránh bị loại bỏ bởi nguồn lực mới (công chức tuyển dụng mới); đồng thời, góp phần giảm bớt những vị trí không cần thiết hoặc bảo thủ, trì trệ của bộ máy (con ông cháu cha,; bè phái trong hoạt động công vụ; chạy chức, chạy quyền…)
Trang 17Ở nước ta, trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, việc tuyển chọn công chức được các nhà nước (từ phong kiến đến nay) tuy có những khác biệt Song, việc tuyển dụng, sử dụng vẫn là một quá trình tìm kiếm, lựa chọn người có đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu của bộ máy nhà nước Từ các triều đại Lý, Trần, Lê… đến các quan chế triều Nguyễn, do ảnh hưởng nặng nề của chế độ Nho giáo và phong kiến Trung quốc, từ các chức sắc trong triều đình đến việc tuyển chọn thông qua các kỳ thi (Hương, Hội, Đình) đã tác động đến chế độ quan lại ở Việt Nam [9;tr.300]
Mục đích mở các khoa thi này là để tuyển chọn thêm người tài bổ sung cho
bộ máy quan lại Sắc dụ 1851 nói rằng “tìm người hiền sĩ như người khát nước, mở khoa, thi trường, thi Hội , lại mở thêm chế khoa để chọn những người anh kiệt, hoặc
rẽ cỏ cây mà hái lan huệ, hay đổi áo vải mà cài trâm anh” [27;tr.197;198]
Cùng với chính sách thi tuyển, các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đưa
ra nhiều chính sách mang tầm quốc gia để kích thích tài năng, bổ sung cho chế độ quan lại như chế độ luân chuyển quan lại, hồi ty, các quyền lợi về cấp phát ruộng đất, lương bổng lộc hàng năm, lệ dưỡng liêm cho tri phủ, tri luyện, chế độ tiền tuất, chế độ cấp triều phục khi về hưu…
Tóm lại, trong chế độ khoa cử thời phong kiến, các hình thức khoa cử vẫn là phương pháp cơ bản để đánh giá trình độ và năng lực của mỗi cá nhân thông qua việc học hành và sự tôn trọng của xã hội đối với người có học
Từ sau cách mạng tháng 8 thành công 1945, Đảng nhà nước ta rất quan tâm đến công tác tuyển dụng công chức.Với Sắc lệnh số 76/SL năm 1950, vấn đề tuyển dụng công chức được pháp lý hóa Từ đây, mọi công dân đều có quyền tham gia bộ máy Nhà nước thông qua tuyển dụng (Chương III, Sắc lệnh 76) quy định: Việc tuyển dụng công chức được tiến hành thông qua các kỳ thi tuyển và phải thành lập hội đồng thi tuyển (Điều 14); các công dân Việt Nam, tuổi từ 18 tuổi trở lên, có hạnh kiểm tốt, đủ sức khỏe, đồng bào thiểu số, cựu thương binh, quân nhân có chiến công sẽ được ưu đãi trong tuyển dụng (Điều 16) Hội đồng tuyển dụng có thẩm quyền đề nghị tuyển bổ đối với những người “có thành tích, kinh nghiệm được bổ vào một ngạch, trật thích đáng” (Điều 20)
Trang 18Thể lệ và chương trình thi vào mỗi ngạch sẽ do nghị định Bộ sở quản ấn định, sau khi thỏa thuận với Bộ Quốc gia giáo dục và Bộ Nội vụ (Điều 17)
Như vậy, việc tuyển dụng công chức thời kỳ này đã được quy định theo 2 hình thức: thi tuyển và tuyển bổ (lựa chọn, xem xét theo đề nghị của Hội đồng)
Mặc dù Sắc lệnh 76/SL chưa đi vào thực tiễn vì cuộc kháng chiến chống pháp từ 1946 – 1954, nhưng những tư tưởng về chính sách tuyển dụng đã được Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm để lựa chọn công chức trong bộ máy Nhà nước
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 được sửa đổi năm 2003 dành một chương (Chương IV) quy định việc tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức Theo
đó, tất cả những người được tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước đều phải căn cứ vào “nhu cầu công việc, vị trí công tác của các chức danh trong cơ quan, tổ chức và chỉ tiêu biên chế được giao” và “người được tuyển dụng phải có phẩm chất đạo đức, đúng với tiêu chuẩn nghiệp vụ và phải thông qua kỳ thi tuyển” (Điều 23, Pháp lệnh
2003 sửa đổi, bổ sung)
Đối với việc xét tuyển, Pháp lệnh giao cho Chính phủ quy định.Tuy nhiên, chính sách xét tuyển đã không được Chính phủ ban hành để cụ thể hóa việc xét tuyển Do đó, việc xét tuyển công chức đã có thời kỳ không được pháp lý hóa, Các
cơ quan nhà nước chủ yếu xét tuyển theo tinh thần của Thông tư số 32/TCCB- BCTL ngày 20/1/1996 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ)
Sự ra đời của Luật Cán bộ, công chức 2008, trong đó có chế định tuyển dụng, sử dụng công chức (Mục 2, Chương IV) là sự đúc kết mang tính khoa học và
kế thừa những thành tựu về chính sách công chức trong bộ máy nhà nước, yêu cầu của cái cách hành chính Nhà nước Đây là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia trong lĩnh vực chính sách công và luật học
Căn cứ khoa học về chính sách cán bộ, công chức, chúng ta có thể đưa ra
khái niệm về TDCC như sau: Tuyển dụng công chức được hiểu là tập hợp các hoạt
động nhằm tìm kiếm, thu hút những người mới tham gia dự tuyển và lựa chọn từ
Trang 19nhiều nguồn khác nhau các ứng viên đủ điều kiện, tiêu chuẩn vào làm việc trong các cơ quan HCNN thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển
Theo đó, TDCC ở đây được hiểu theo hai giai đoạn: Thứ nhất là, quá trình thu hút người tham gia dự tuyển; thứ hai là quá trình lựa chọn trong số những người tham gia dự tuyển để đảm nhận những vị trí phù hợp
Quá trình tuyển dụng phải bao gồm:
- Xác định nhu cầu nhân sự mới cần đưa vào trong tổ chức;
- Thu hút người lao động có các yêu cầu mà tổ chức HCNN cần;
- Tuyển chọn người đáp ứng yêu cầu tổ chức trong những người tốt nhất;
- Tập sự cho người mới để họ thành thạo nghiệp vụ, kỹ năng hành chính;
- Bổ nhiệm chính thức sau tập sự vào các ngạch, bậc hành chính
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì việc tuyển dụng công chức phải thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển Việc thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, đảm bảo việc lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng Thi tuyển được thực hiện bằng nhiều hình thức như: thi viết, thi vấn đáp, trắc nghiệm và phỏng vấn
Việc xét tuyển công chức chỉ thực hiện đối với người cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, cùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Ngoài ra, có những trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng có quy định tại Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 24/2010/NĐ-CP) về việc người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp sau: Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước; người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài; người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng (Điều 19)
Sự cần thiết của chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính hiện nay
Trang 20Bất cứ bộ máy nhà nước trong chế độ nào cũng cần có chính sách TDCC nhằm lựa chọn đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức, tinh thông nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của hoạt động công vụ Nhà nước Nếu không lựa chọn, trọng dụng nhân tài, sử dụng người có tài đức vào bộ máy nhà nước thì hiệu lực, hiệu quả của
Bộ máy đó sẽ bị hạn chế
Là một trong ba yếu tố cấu thành của nền hành chính (thể chế; tổ chức, bộ máy; công chức hành chính) thì công chức là yếu tố quyết định Vai trò của công chức trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong nền hành chính thì công chức là nhân tố tham gia xây dựng, đề xuất chính sách, đồng thời là chủ thể triển khai, thực hiện chính sách, pháp luật, là cơ sở bảo đảm sự thành bại của các quyết định quản
lý
Chính sách tuyển dụng khoa học, tiên tiến, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính, ngược lại, sẽ kìm hãm bộ máy hành chính và vô hiệu hóa tài năng, sự sáng tạo của đội ngũ công chức
Chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan HCNN ở Trung ương bao gồm các bước, quy trình và nội dung tuyển chọn những người vào làm việc trong các cơ quan hành chính để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trên các lĩnh vực khác nhau như: văn hóa, kinh tế, xã hội…tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này
Chính sách TDCC đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện nước ta muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới và khu vực đòi hỏi phải tuyển dụng công chức giỏi nghiệp vụ, thành thạo về kỹ năng trong quá trình hội nhập, đặc biệt khi Việt Nam tham gia đầu tư và đón nhận đầu tư trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như ký kết các điều ước quốc tế Một đội ngũ công chức được tuyển chọn tinh thông, am hiểu pháp luật quốc tế, kỹ năng quản trị quốc gia cũng như thông thạo ngoại ngữ và các thông lệ quốc tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại trong quá trình hội nhập
Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan HCNN; Đảng và Nhà nước đã quan tâm xây dựng, ban hành
Trang 21nhiều chính sách, tạo khuôn khổ pháp lý để nâng cao hiệu quả xây dựng và quản lý nhà nước về tuyển dụng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Từ các quan niệm về khái niệm chính sách công, công vụ, công chức, tuyển dụng công chức trong các cơ quan HCNN, ta có thể khái quát chính sách tuyển dụng công chức
trong các cơ quan HCNN như sau: Chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ
quan hành chính nhà nước là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu nội dung cụ thể, giải pháp và công cụ để giải quyết vấn đề tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định Vì vậy, thực hiện chính
sách TDCC chính là thực hiện các mục tiêu, giải pháp và công cụ để quá trình TDCC được hoàn thiện và tối ưu hơn
Bảng 1.2.2.Sơ đồ tác động của chính sách tuyển dụng công chức
Sơ đồ minh họa tác động của chính sách TDCC (sơ đồ tham khảo)
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ các tài liệu liên quan)
(Bộ phận hoạch định và thực thi chính sách bao gồm cả con người và bộ máy; Hiệu quả đầu ra của nền hành chính là sản phẩm ảnh hưởng đến hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực của bộ máy hành chính)
Bộ phận kỹ năng quản trị quốc gia
Bộ phận thực thi chính sách, pháp luật
Công chức hiện hành
Tuyển dụng CCHC
Trang 221.3 Thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay
1.3.1 Mục tiêu, yêu cầu và nội dung chính sách tuyển dụng công chức trong cơ quan hành chính nhà nước
Mục tiêu thực hiện chính sách tuyển dụng công chức
Mục tiêu chính sách là những kết quả, những đích hướng tới mà chủ thể quản
lý nhà nước mong muốn đạt được trong quá trình thực hiện chính sách, đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện chính sách Tùy từng chính sách mà có nhiều mục tiêu khác nhau: mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, mục tiêu ngắn hạn
và dài hạn, mục tiêu định tính và định lượng…
Mục tiêu tổng quát của thực hiện chính sách tuyển dụng là tìm kiếm và lựa chọn người có phẩm chất, trình độ, năng lực phù hợp với các vị trí cần tuyển vào làm việc trong các cơ quan HCNN
Mục tiêu cụ thể của thực hiện chính sách tuyển dụng:
- Tạo ra môi trường, cạnh tranh lành mạnh về tài năng giữa các ứng viên mong muốn trở thành công chức
- Lựa chọn một cách khoa học trình độ các ứng viên để sắp xếp phù hợp với từng ngạch công chức và vị trí việc làm
- Nâng cao chất lượng công chức và sắp xếp lại bộ máy hành chính theo hướng “có vào – có ra”, đáp ứng yêu cầu tinh giản biên chế trong bộ máy hành chính nhà nước
Các mục tiêu trên đã được Đảng và Nhà nước ta coi trọng và không ngừng tạo điều kiện để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức từ Trung ương đến địa phương Mục tiêu, chính sách này được thể hiện qua nhiều kỳ đại hội Đảng toàn quốc và các văn bản pháp lý của Nhà nước
Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đưa ra mục tiêu “nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thu hút những người có đức,
có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị -
Trang 23xã hội, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; tiết kiệm hiệu quả, giảm chi thường xuyên, cải cách chính sách tiền lương”
Kết luận số 86-KL/TW năm 2014 của Bộ chính trị về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ nhằm xây dựng cơ chế, chính sách đủ sức thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có trình
độ, năng lực chuyên môn cao, phẩm chất tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế để từng bước đào tạo, bồi dưỡng thành nhân tài cho đất nước và phấn đấu đến năm 2020, thu hút ít nhất 1.000 sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và cán bộ khoa học trẻ (tiến sĩ khoa học không quá 35 tuổi, tiến sĩ không quá 32 tuổi, thạc sĩ không quá 28 tuổi, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc không quá 25 tuổi) vào các lĩnh vực công tác của cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cấp huyện; các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước; lực lượng vũ trang và doanh nghiệp nhà nước
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có ghi rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng với người có tài năng Chính phủ quyết định cụ thể chính sách đối với người có tài năng” (Điều 6) Tại Nghị quyết 30c/NQ – CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách HCNN giai đoạn 2011 – 2020 đề cập đến chính sách thu hút, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình
độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước
Yêu cầu thực hiện chính sách tuyển dụng:
Thứ nhất, việc thực hiện chính sách tuyển dụng phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật
Công khai, minh bạch nghĩa là mọi hoạt động của nhà nước phải được công
bố hoặc phổ biến, làm cho mọi người dân có thể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng.Đồng thời, cho phép các ứng viên tham gia dự tuyển
Trang 24chất vấn, chỉ trích, hạn chế tiêu cực, góp phần uốn nắn các hành vi sai trái của các chủ thể quản lý Tính công khai, minh bạch thể hiện là:
- Công khai tiêu chuẩn dự tuyển
- Công khai số lượng cần tuyển
- Công khai hình thức tuyển chọn
- Công khai chế độ ưu tiên
- Công khai kết quả tuyển chọn
- Công khai Hội đồng thi tuyển và những thay đổi trong quá trình thi tuyển (nếu có)
Bên cạnh đó, tính khách quan và đúng pháp luật đòi hỏi cơ quan quản lý công chức và sử dụng công chức phải công tâm, khách quan khi tham gia công tác thi tuyển, từ thành lập Hội đồng thi tuyển đến xét tuyển phải đúng pháp luật, vì lợi ích chung, tránh cục bộ, khắc phục “Chủ nghĩa thân quen” hoặc biểu hiện khác như
“chạy chọt, tiêu cực” nhằm trục lợi trong quá trình tuyển dụng
Thứ hai, bảo đảm tính cạnh tranh trong thi tuyển
Theo Luật Cán bộ, công chức 2008 và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn việc tuyển dụng công chức hiện nay thì việc thi tuyển phải đảm bảo tính cạnh tranh, bình đẳng đối với tất cả các đối tượng dự thi nhằm tuyển dụng và thu hút được những người có trình độ, năng lực chuyên môn thật sự theo yêu cầu của công việc
Như trên đã trình bày, không phải ngẫu nhiên mà từ thời xa xưa, cha ông ta
đã tổ chức các kỳ thi như thi Hương, thi Hội, thi Đình để lựa chọn những người tài giỏi ở các cấp độ khác nhau bố trí vào các phẩm ngạch của triều đình Trong tình hình hiện nay, tính cạnh tranh, bình đẳng phải thể hiện ở các phương diện sau: (1) Các điều kiện ứng viên như nhau, khi sự lựa chọn phải xét thành tích từ cao xuống thấp, người nào cao điểm, đáp ững yêu cầu vị trí việc làm thì tuyển dụng; (2) Ở mỗi
vị trí khác nhau, đòi hỏi tính chuyên môn phải khác nhau, tức là ứng với các ngạch chuyên môn, đòi hỏi các ứng viên thông thạo về ngạch chuyên môn đó (Ngoại giao, phải có kinh nghiệm và kiến thức ngoại giao; kinh tế, phải có kiến thức kinh tế…)
Trang 25Thứ ba, việc tuyển chọn phải đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm và ngạch công chức
Tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm
và ngạch công chức để tuyển chọn đúng người, đúng việc
- Vị trí việc làm gắn với chức danh hoặc chức vụ quản lý tương ứng; là căn
cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu công chức để thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong bộ máy hành chính
Xác định được vị trí việc làm giúp cơ quan, tổ chức sử dụng nhân lực xác định được cơ cấu, chất lượng nhân lực đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức Tùy từng nhiệm vụ, công việc của từng lĩnh vực quản lý (hành chính, kinh tế, pháp lý, an sinh xã hội, thanh tra…) các cơ quan quản lý nhà nước có thể xác định vị trí công việc của từng người phù hợp với chuyên môn và ngạch, bậc của công chức
- Ngạch công chức là một vị trí công tác trong bảng xếp hạng công chức Theo quy định của Điều 7 Luật Cán bộ, công chức 2008 thì ngạch thể hiện thứ bậc
về năng lực và trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của công chức
Vị trí việc làm có mối liên hệ gắn bó với ngạch công chức.Tuy nhiên, vị trí việc làm trong tuyển dụng là cơ sở, tiền đề để chủ thể quản lý xếp nhân viên đó vào ngạch (tập sự - cán sự - chuyên viên - chuyên viên chính - chuyên viên cao cấp) Hiện nay, chúng ta đã có Nghị định số 36/2013/NĐ-CP của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức
Thứ tư, yêu cầu về việc bảo đảm chế độ tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác đối với công chức mới tuyển dụng
Chúng ta đều biết, công chức theo đúng nghĩa là làm việc công nhân danh quyền lực công và nhận lương để đảm bảo đời sống Tiền lương là kết quả của quá trình lao động được tính bằng hiệu suất lao động trên từng loại công việc và ứng với từng vị trí việc làm Tiền lương có thể thay đổi theo hai hướng: Một là, trình độ kinh tế - xã hội tác động đến toàn xã hội, trong đó có công chức Thu nhập GDP của nước nào cao hay thấp thì tiền lương, mức sống của công chức nhà nước đó cao hay
Trang 26thấp; Hai là, sự vận động, nỗ lực của cá nhân người làm công ăn lương có thể theo kết quả công việc (công trạng), có thể theo các thứ bậc hành chính (các bậc trong một ngạch)
Để hưởng lương, công chức phải được xếp vào ngạch, bậc có quá trình công tác và thành tích nhất định Ở các nước tiên tiến, thông thường tiền lương công chức bảo đảm tái sản xuất sức lao động và chi tiêu tối thiểu bên cạnh các chế độ bảo hiểm
xã hội Do đó, yêu cầu tiền lương trong chính sách tuyển dụng sẽ là động cơ và kết quả của việc tuyển chọn công chức giỏi, kiên định vào làm việc trong các cơ quan hành chính, tránh được tình trạng lương không đủ sinh hoạt, công chức luôn phải
“chân ngoài dài hơn chân trong”
Quán triệt Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V, khóa XI (kết luận số 23 – KL/TW ngày 29/5/2012) về một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp
ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020, Chính phủ đã có những xem xét, bổ sung các chế độ phụ cấp đối với từng nghề nghiệp đặc thù và điểu chỉnh mức lương tối thiểu chung như: Nghị định số 17/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định tiền lương tăng thêm đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang có hệ số lương từ 2,34 trở xuống, được hưởng tăng thêm tiền lương bằng 8% mức lương hiện hưởng; Nghị định 122/2015/NĐ-CP ngày 14/11/2015 quy định nâng mức lương tối thiểu tại các vùng lên cho một số đối tượng, trong đó có cán bộ, công chức; Nghị định số 47/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định nâng mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ 1150 lên 1210; Nghị định số 47/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 quy định nâng mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ 1210 lên 1300
Nội dung thực hiện chính sách tuyển dụng công chức
Nội dung tổng quát là, cơ quan tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm trên cơ sở xác định, mô tả vị trí việc làm, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt trước khi tuyển dụng Việc tuyển dụng công chức phải thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển
Trang 27Trước khi đi vào nội dung cụ thể của việc TDCC, chúng ta cần hiểu rằng, trong bộ máy hành chính có nhiều hình thức tuyển dụng Chẳng hạn tuyển dụng mới, tuyển dụng từ các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước vào các vị trí công chức cần tuyển; tuyển dụng công chức từ các cơ quan hành chính khác (kể cả trung ương và địa phương) vào vị trí công chức cần có ở một cơ quan hành chính khác hoặc từ cơ quan hành chính cấp Bộ với nhau; giữa cơ quan hành chính cấp địa phương với Bộ hoặc ngược lại; giữa công chức của Đoàn thể này với Bộ quản lý ngành khác… Như phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn, nội dung tuyển dụng, tác giả chỉ nghiên cứu việc tuyển dụng mới các ứng viên vào làm việc trong các cơ quan HCNN ở Trung ương
Trước đây, theo quy định tại Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 giới hạn tuổi tối đa được tuyển dụng vào công chức hành chính là 45 tuổi, nhưng đến nay quy định của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng công chức không giới hạn tuổi tối đa, tạo điều kiện đối tượng được tham gia
dự tuyển vào công chức hành chính, cơ quan tuyển dụng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn được người có tài năng và trình độ chuyên môn trở thành công chức tại các cơ quan HCNN
Các nội dung cụ thể trong TDCC:
Về thực hiện chính sách thi tuyển công chức:
Thi tuyển là hình thức thường được áp dụng đối với ứng viên mới ra trường mong muốn trở thành công chức Hiện nay, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP đã quy định cụ thể 4 môn thi bắt buộc, bao gồm: Môn kiến thức chung, môn nghiệp vụ chuyên ngành, môn ngoại ngữ, môn tin học Các trường hợp được miễn thi ngoại ngữ nếu có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ, sau đại học tại các cơ
sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam; các trường hợp được miễn thi tin học nếu có bằng tốt nghiệp từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên
Việc tính điểm bài thi tuyển công chức theo thang điểm 100 Môn kiến thức chung thi viết 01 bài tính hệ số 1; môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết 01 bài tính
hệ số 2 và thi trắc nghiệm 01 bài tính hệ số 1; môn ngoại ngữ thi viết hoặc thi vấn
Trang 28đáp 01 bài, tiếng dân tộc thiểu số, môn tin học văn phòng thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm 01 bài: tính hệ số 1 và không tính vào tổng số điểm thi Kết quả thi là tổng số điểm của các bài thi môn kiến thức chung và môn nghiệp vụ chuyên ngành cộng với điểm ưu tiên theo quy định
Sau khi tổ chức thi, cơ quan có thẩm quyền xác định và công bố người trúng tuyển theo các điều kiện quy định, tại Nghị định số 24/2010/NĐ-CP như: Điểm được lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi tiêu chí tuyển dụng của từng
vị trí việc làm Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi tuyển bằng nhau ở
vị trí cần tuyển dụng, người có điểm bài thi viết môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu điểm bài thi môn nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì người có điểm bài thi trắc nghiệm môn nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển
Về thực hiện chính sách xét tuyển công chức:
Đây là hình thức tuyển dụng thể hiện chính sách ưu đãi đối với các đối tượng
và phù hợp với từng điều kiện của từng ứng viên hoặc từng bộ, ngành như: Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước và người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, loại xuất sắc ở nước ngoài; người có kinh nghiệm công tác theo quy định tại điểm a, b và c khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP Nội dung xét tuyển như sau:
Cách tính điểm trong xét tuyển công chức: Điểm học tập được xác định bằng trung bình cộng kết quả các môn học trong toàn bộ quá trình học tập của người dự xét tuyển ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được quy đổi theo thang điểm 100 và tính hệ số 2 Điểm tốt nghiệp được xác định bằng trung bình cộng kết quả các bài thi tốt nghiệp hoặc điểm bảo vệ luận văn của người
dự xét tuyển, được quy đổi theo thang điểm 100 và tính hệ số 1 Điểm phỏng vấn được tính theo thang điểm 100 và hệ số 1 Kết quả xét tuyển là tổng số điểm của điểm học tập, điểm tốt nghiệp, điểm phỏng vấn tính theo quy định trên và điểm ưu tiên theo quy định Trường hợp người dự xét tuyển có trình độ đào tạo cao hơn so với trình độ đào tạo theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng, cơ quan có
Trang 29thẩm quyền tuyển dụng căn cứ kết quả học tập trong hồ sơ của người dự xét tuyển
và điểm phỏng vấn về chuyên môn, nghiệp vụ để tính điểm theo quy định
Về thực hiện chính sách ưu tiên trong tuyển dụng:
Tại Điều 5, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định các đối tượng được ưu tiên tuyển dụng như: Người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số sẽ được ưu tiên tuyển dụng; Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh: được cộng 30 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển; người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách như thương binh, con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động: được cộng 20 điểm; người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ: được cộng 10 điểm Chính sách này, thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta đối với cá nhân có thành tích đóng góp cho đất nước
Về thực hiện chính sách đối với người tập sự:
Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ người được tuyểndụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng; chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của ứng viên tập sự (Điều 20)
Theo quy định hiện hành, không phân biệt người tham gia tuyển dụng công chức đã được bầu, bổ nhiệm chức danh, chức vụ gì, làm việc ở cơ quan nào, lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, miễn là đã đóng bảo hiểm xã hội bằng hoặc lớn hơn thời gian tập sự thì sẽ được miễn tập sự
Trang 30Việc tập sự được quy định trong pháp luật nhằm nâng cao chất lượng theo hướng “hiểu việc” trong bộ máy hành chính và đề cao trách nhiệm của người trúng tuyển
Về thực hiện chính sách đối với người hướng dẫn tập sự:
Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm:
- Hướng dẫn người tập sự nắm vững và tập làm những công việc theo yêu cầu nội dung tập sự quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định 24/2010/NĐ-CP
- Người đứng đầu cơ quan sử dụng phải cử công chức cùng ngạch hoặc ngạch cao hơn, có năng lực và kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ hướng dẫn người tập sự Mỗi công chức chỉ hướng dẫn mỗi lần 01 người tập sự
Công chức được cơ quan phân công hướng dẫn tập sự được hưởng hệ số phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu trong thời gian hướng dẫn tập
sự
1.3.2 Giải pháp và công cụ thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước
Các giải pháp thực hiện chính sách tuyển dụng:
Thứ nhất, giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng
Chất lượng tuyển dụng phụ thuộc vào hình thức, nội dung và quy trình thi tuyển Nội dung thi tuyển bao gồm các kiến thức quản lý nhà nước, kỹ năng xử lý chuyên môn; một mặt, phải đảm bảo chất lượng của công chức đuợc tuyển dụng; mặt khác, phải gắn với chuyên ngành của vị trí dự tuyển để đánh giá được năng lực của ứng viên, đảm bảo chọn được người phù hợp
Chất lượng tuyển dụng đòi hỏi tăng cường các hình thức thi trắc nghiệm, phỏng vấn để đánh giá được toàn diện các yếu tố về năng lực và sự hiểu biết của các ứng viên Ngoài ra, khi tuyển dụng, cơ quan tuyển dụng cần quan tâm đến thái độ, động cơ của người tuyển dụng Ở Singapore động cơ dự tuyển của ứng viên rất được đề cao, với triết lý: Kiến thức và kỹ năng là quan trọng, là cần thiết nhưng nó
có thể dễ dàng tích lũy, nhưng động cơ, thái độ mới là điều khó thay đổi Khi tổ chức có những ứng viên có thái độ đúng, họ có cơ hội để thành công
Trang 31Thứ hai, giải pháp thực hiện tuyển dụng theo vị trí việc làm
Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng; là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu công chức để tuyển dụng, sử dụng và quản lý trong các cơ quan HCNN Các cơ quan HCNN bao gồm hệ thống danh mục vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức Đây là cơ sở để tuyển dụng đúng người, đúng việc, đúng số lượng đảm bảo cơ cấu hợp lý
Phân loại vị trí việc làm được coi là nền tảng quan trọng cho việc lựa chọn phương thức và quy trình tuyển dụng công chức
Thứ ba, giải pháp nâng cao chất lượng công chức làm công tác tuyển dụng
Nâng cao năng lực tuyển dụng (kiến thức, kỹ năng, thái độ) cho người làm công tác tuyển dụng là việc làm không thể thiếu được trong công tác tuyển dụng.Người làm công tác tuyển dụng phải có chuyên môn cao và những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nhất định; am hiểu lĩnh vực công tác của Bộ, ngành cần tuyển dụng Do vậy, việc nâng cao chất lượng công chức làm công tác tuyển dụng thông qua các biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm, chuyên môn, phục vụ cho việc thực hiện chính sách tuyển dụng công chức là hết sức cần thiết
Thứ tư, giải pháp thu hút nhân tài
Thu hút người có tài năng trong cơ quan hành chính nhà nước được hiểu là tổng thể các chính sách tạo sức hấp dẫn và sự lôi cuốn nhằm tạo điều kiện thuận lợi
về mọi mặt (cả điều kiện vật chất và tinh thần) để người có tài năng, những người
có năng lực, trình độ cao và phẩm chất đạo đức tốt vào làm việc Để thu hút nhân tài trước hết cần kết hợp chặt chẽ giữa trọng thị, trọng dụng và trọng đãi nhân tài; phải hiểu, phải tin người tài, bảo vệ người tài; biết phát huy, khuyến khích người tài Cần
có chiến lược nhân tài phải được thực hiện liên tục, đồng bộ trên cả quy trình 6 khâu: phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh nhân tài ở cả phạm vi vi mô và vĩ mô
Trang 32Các công cụ thực hiện chính sách tuyển dụng
Công cụ chính sách được hiểu là những cách thức mà chủ thể sử dụng để tổ chức triển khai thực hiện chính sách Các công cụ thực hiện chính sách tuyển dụng bao gồm:
Thứ nhất, công cụ dựa vào tổ chức
Là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ được phân công nhằm đạt được mục tiêu dự kiến
Công tác tổ chức thi tuyển giữa chủ thể trực tiếp tham mưu, đề xuất, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách (Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) trong việc triển khai việc tuyển dụng công chức
Công việc này sẽ tránh được chủ nghĩa bình quân, Bộ, ngành nào cũng có biên chế như nhau và khặc phục tính cục bộ, chạy “biên chế” đang có chiều hướng diễn ra ở các cơ quan hành chính hiện nay
Bên cạnh đó, thiết chế Hội đồng tuyển dụng Công chức trong các cơ quan HCNN giữ vị trí hết sức quan trọng Hội đồng tuyển chọn phải bao gồm các chuyên gia có kinh nghiệm, giỏi trong các lĩnh vực chuyên môn và khách quan trong tổ chức thi tuyển Thực tế cho thấy, các bộ, ngành có chất lượng tuyển dụng cao trong các kỳ thi tuyển thường là nơi đó có Hội đồng tuyển chọn có chất lượng, được lãnh đạo Bộ và các ứng viên tin tưởng, “tâm phục khẩu phục”
Thứ hai, công cụ dựa vào quyền lực
Là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng quyền lực nhằm đạt được mục tiêu dự kiến
Công cụ quyền lực ở đây được hiểu là khung chính sách thông qua các quy chế pháp lý cụ thể về quy trình tuyển dụng; tiêu chuẩn các ngạch, bậc ngành nghề
dự thi; quyền lợi và nghĩa vụ của ứng viên; chế tài và trách nhiệm của các bên tham gia vào quan hệ tuyển dụng Mặt khác, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
và xử lý nghiêm các sai phạm
Trang 33Thứ ba, công cụ dựa vào thông tin, tuyên truyền
Đây là công cụ nhằm tạo ra tính công khai, minh bạch cho các chủ thể quản
lý, đối tượng dự thi nắm bắt một cách khách quan các hoạt động tuyển dụng, từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác tuyển dụng, ý nghĩa, vai trò của từng ngành, nghề, vị trí công việc cần lựa chọn đến quy trình tuyển dụng; quyền nghĩa vụ và chế độ pháp lý của các ngạch, bậc công chức cũng như trách nhiệm của cơ quan hành chính, trách nhiệm của các ứng viên khi tham gia tuyển dụng Công cụ này có tác dụng phá vỡ sự không khách quan, “khép kín” của một bộ phận cơ quan, công chức bưng bít thông tin để “cài cắm” các nhân sự thân quen vào
cơ quan hành chính; đồng thời bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong quá trình TDCC
1.3.3 Chủ thể thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước
Chính sách là công cụ được Nhà nước dùng để điều hành các hoạt động kinh
tế xã hội.Vì vậy, chủ thể ban hành chính sách của Nhà nước, cụ thể là các cơ quan
có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước Chủ thể ban hành và các cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản, chính sách tuyển dụng gồm các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ Được Chính phủ ủy quyền, Bộ Nội vụ, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cũng là chủ thể thực hiện chính sách tuyển dụng
Bảng 1.3.1.Sơ đồ chủ thể thực hiện chính sách tuyển dụng công chức Chủ thể Chức năng Nhiệm vụ
Bộ Nội vụ Trực tiếp tham mưu, đề xuất
xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách
- Tham mưu trình Chính phủ ban hàn chính sách TDCC;
- Rà soát, điều chỉnh chế độ, chính sách TDCC;
- Đầu mối triển khai các giải pháp công cụ chính sách TDCC
Bộ Tài chính Phối hợp thực hiện Phối hợp với Bộ Nội vụ ban
Trang 34hành Thông tư, Quyết định liên quan đến phí tuyển dụng công chức
Các Bộ, ngành
liên quan
Phối hợp thực hiện và quyết định nội dung thi tuyển và xét tuyển sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Nội vụ
Ban hành tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp đối với các ngành nghề trong tuyển dụng
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ các tài liệu liên quan)
Trong các chủ thể thực hiện chính sách tuyển dụng thì việc ban hành Luật Cán bộ, công chức là do Quốc hội; Chính phủ và các bộ, ngành có trách nhiệm ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/6/2014 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ thì Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước…
Ngoài ra, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Nội vụ trong lĩnh vực công vụ, công chức còn được quy định rõ trong Điều 48 Nghị định 24/2010/NĐ-CP như sau:
Xây dựng dự án luật, pháp lệnh về công chức để Chính phủ trình Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội Xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định về chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, chương trình phát triển đội ngũ công chức; phân công, phân cấp quản lý công chức và biên chế công chức; phương pháp xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức; chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức; chế độ tiền lương và các chính sách, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức; chính sách đối với người có tài năng; tiêu chuẩn chức danh và tuyển chọn công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước…
Trang 35Cùng với Bộ Nội vụ, các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ phân công (thông qua các nghị định, quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành qua từng nhiệm kỳ của Chính phủ) cùng tham gia chủ trì hoặc phối hợp với Bộ Nội vụ thực hiện các vấn đề về công chức nêu trên
1.3.4 Thể chế chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước
Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều các văn bản pháp lý về chính sách TDCC từ trước đến nay, có thể liệt kê sơ bộ:
- Sắc lệnh 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành năm 1950, trong chương 3 có quy định rất cụ thể về việc tuyển bổ công chức
- Pháp lệnh cán bộ, công chức, được ban hành năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2003 cũng đã có những sự thay đổi rõ rệt về cơ chế quản lý, tuyển dụng,sử dụng cán bộ công chức ở nước ta Khi tuyển dụng cán bộ, công chức thì “cơ quan,
tổ chức tuyển dụng phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của các chức danh cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức mình và chỉ tiêu biên chế được giao
- Luật Cán bộ, công chức năm 2008, văn bản pháp lý có giá trị cao nhất về cán bộ, công chức đã đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ về chính sách tuyển dụng công chức
- Gần đây, các Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ hơn về vấn đề tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31/8/2010; Nghị định số 36/2013/NĐ-CP của Chính phủ về vị trí việc làm và
cơ cấu ngạch công chức và một số thông tư như Thông tư 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ cũng làm rõ hơn về các quy định, hướng dẫn về TDCC
Việc tổ chức tuyển dụng được giao cho các cơ quan tuyển dụng trực tiếp Gắn thẩm quyển sử dụng với thẩm quyền tuyển dụng, đây là một sự đổi mới nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, lựa chọn được người có đủ năng lực, đáp ứng nhu cầu công việc, tránh tình trạng tuyển dụng bừa bãi, không đúng với nhu cầu thực tế
Trang 361.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước
Các yếu tố bên ngoài: Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng gia tăng Đây vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để bảo vệ lợi ích quốc gia Trong những năm qua, Việt Nam đã tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trong bối cảnh môi trường, kinh tế, xã hội ngày càng phát triển thì mức độ cạnh tranh lại càng cao Nhu cầu về chất lượng cán bộ, công chức ngày càng được nâng lên để phục vụ cho hệ thống hành chính nhà nước ngày một tiến bộ theo hướng tinh giản, khoa học và hiệu quả Đặc biệt, các nhu cầu dữ liệu hóa các thủ tục hành chính càng cần thiết và nắm bắt xu hướng của thời đại Nếu chúng ta không chủ động nâng cao chất lượng công chức cũng như điều chỉnh chính sách tuyển dụng công chức, điều chỉnh các quy định về pháp lý phù hợp với điều kiện mới của nền hành chính công vụ thì khó có thể khắc phục được các phát sinh tiêu cực xuất hiện trong quá trình phát triển của xã hội
Hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị của Việt Nam được cấu thành bởi ba
hệ thống cơ quan, tổ chức: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội Hệ thống chính trị
có thể chia thành các yếu tố nhỏ hơn như: yếu tố văn hóa chính trị, hiến pháp và thể chế chính trị Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạch định, xây dựng, thực thi, đánh giá chính sách TDCC
Văn hoá chính trị, với tư cách là một loại hình của văn hoá là khái niệm nói
về sự thẩm thấu của văn hoá vào chính trị, là chính trị có tính văn hoá Văn hóa chính trị trong hệ thống chính trị xã hội ta là loại hình văn hóa tiến bộ, phản ánh tính tích cực của nền dân chủ XHCN, tôn trọng và phát huy các giá trị của quyền công dân, quyền con người thể hiện thông qua đường lối chính trị của Đảng lãnh
Trang 37đạo hệ thống chính trị, đề cao vai trò của nhà nươc pháp quyền Việt Nam XHCN với sự tham gia của nhân dân lao động thông qua các đoàn thể xã hội
Ngoài ra, trong văn hóa chính trị có một số nguyên tắc liên quan đến các giá trị, niềm tin và thái độ, cảm xúc của các thành viên trong cộng đồng Đó là, những niềm tin được san sẻ; những luật lệ được chấp nhận một cách phổ biến Các nguyên tắc này chính là sự đề cập đến mối quan hệ gắn bó, mang tính pháp lý giữa chính trị
và văn hóa Vì vậy, các hành vi ứng xử của các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách TDCC trong các cơ quan HCNN
Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Hiến pháp đề cập đến tập hợp các nguyên tắc cơ bản nhất của đời sống chính trị và pháp quyền của một đất nước Hiến pháp điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan của nhà nước, quan hệ giữa ba bộ phận hành pháp, lập pháp và tư pháp ở mức độ cơ bản và mối quan hệ giữa các cơ quan thuộc ba bộ phận đó Các cơ quan này đều có chức năng hoạch định, xây dựng, đánh giá chính sách và thực hiện TDCC trong các cơ quan HCCC Vì vậy, Hiến pháp cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng, thực thi, đánh giá chính sách TDCC trong các cơ quan HCNN
Thể chế chính trị là loại hình chế độ, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước mà mỗi quốc gia lựa chọn để quyết định xây dựng những quy định, luật lệ cho một chế
độ xã hội mà chính phủ nước đó sử dụng để quản lý xã hội Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị Đó là cơ sở chính trị - xã hội nhằm bảo vệ quyền lực, lợi ích của giai cấp cầm quyền và cũng là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc Điều quan trọng nhất quyết định đến thể chế chính trị là bản chất của quyền lực nhà nước, nền chính trị hiện hành Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể chế chính trị được thể hiện qua những đặc trưng như: toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước bảo
vệ lợi ích và quyền tự do cơ bản của công dân Thể chế nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trang 38dựa trên nền tảng pháp chế xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ, tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội và sự tham gia tích cực của công dân vào công việc của nhà nước và xã hội Vì vậy, các chủ thể trong việc xây dựng, hoạch định và thực hiện chính sách TDCC trong các cơ quan HCNN phải dựa vào thể chế chính trị để phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chí của chính sách công ở Việt Nam Tất cả các chính sách đều bị chi phối bởi thể chế chính trị và Chính sách TDCC cũng không phải là ngoại lệ
Các yếu tố bên trong: ảnh hưởng đến chính sách TDCC trong các cơ quan
HCNN ở Việt Nam như: hệ thống kinh tế; hệ thống các giá trị xã hội; năng lực, khả năng của tổ chức, đội ngũ công chức xây dựng, hoạch định chính sách tuyển dụng, các tác động, phản hồi từ dư luận xã hội
Một trong những tác động lên chính sách TDCC trong các cơ quan HCNN là
xu hướng phát triển của nền kinh tế Nền kinh tế của chúng ta phát triển không chỉ
từ những thay đổi về công nghệ và sự giảm xuống liên tục các chi phí truyền thông
và vận chuyển, mà còn từ sự tương tác giữa các lĩnh vực kinh tế với nhau Nền kinh
tế phát triển sẽ tác động đến hoạt động tuyển dụng, làm công tác tuyển dụng tại các
cơ quan HCNN phải cải tiến, hoàn thiện và ngày càng chuyên nghiệp hơn
Hệ thống các giá trị xã hội cũng góp phần vào việc xây dựng và thực hiện chính sách TDCC Trước khi đưa ra chính sách tuyển dụng thì cần phải thảo luận, khảo sát, nghiên cứu về các giá trị xã hội về các đối tượng khác nhau trong xã hội
để có những chính sách tuyển dụng cụ thể cho từng loại đối tượng trong quá trình TDCC vào các cơ quan HCNN Vì vậy, đây là một yếu tố quan trọng đóng góp vào việc hình thành nên chính sách TDCC
Năng lực, khả năng của tổ chức, cá nhân xây dựng, hoạch định chính sách tuyển dụng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến thực hiện chính sách TDCC trong các cơ quan HCNN Sự hạn chế trong tổ chức bộ, trình tự ban hành chính sách pháp luật được quy định trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nhưng trên thực tế còn rất nhiều hạn chế trong quá trình phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc ban hành và thực hiện chính sách Sự phối hợp giữa các bộ, ngành với địa phương
Trang 39còn lỏng lẻo và không có một cơ chế rõ ràng trong quá trình hoạch định dẫn đến thông tin được cung cấp không đầy đủ và thiếu chính xác Đội ngũ hoạch định và thực hiện chính sách ở nước ta còn yếu và thiếu, chưa có đủ năng lực thực tế Rất nhiều chính sách ban hành chưa mang tính thực tiễn cao, chưa đánh giá tác động kinh tế, xã hội một cách phù hợp, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện chính sách
Các tác động, phản hồi từ dư luận xã hội đối với chính sách TDCC trong các
cơ quan HCNN là rất quan trọng Thiếu sự tham gia của người dân và các nhóm lợi ích trong quá trình hình thành chính sách thì chính sách khó có tính thực tiễn và hiệu quả trong đời sống xã hội Chính sách TDCC là công cụ để các cơ quan HCNN lựa chọn được các cá nhân phù hợp để bổ sung nguồn nhân lực vào những vị trí cần thiết giúp cho quá trình vận hành của các cơ quan HCNN có hiệu lực, hiệu quả Chính sách TDCC khi ban hành sẽ ảnh hưởng đến cộng đồng người tham gia dự tuyển Vì vậy, mỗi nhóm người tham gia, đặc biệt là các nhóm đặc thù đều mong muốn có sự tác động vào quá trình hoạch định chính sách theo hướng có lợi cho nhóm mình Tuy nhiên, quá trình hoạch định chính sách hiện nay còn thiếu sự tham gia của các nhóm lợi ích, hoặc nếu có thì sự tham gia mang nặng tính hình thức dẫn đến chính sách khi ban hành có mục tiêu không phù hợp và thiếu tính khả thi Việc thiếu các kênh thông tin truyền thông, thông tin đối thoại giữa Chính phủ với các tổ chức, cá nhân cũng làm cho quá trình hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách chưa đạt được hiệu quả cao Quá trình hoạch định chính sách công nói chung và chính sách TDCC nói riêng hiện nay chưa tạo được kênh thông tin tốt nhất để tiếp thu ý kiến đóng góp của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là những đối tượng chịu ảnh hưởng của chính sách Trong khi đó, chính sách không thể là ý muốn chủ quan của
cơ quan nhà nước, càng không phải là ý chí áp đặt của cá nhân người có thẩm quyền
mà xuất phát từ hiện thực khách quan, từ việc tìm kiếm, phát hiện, nhận thức một cách biện chứng các vấn đề nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội và có các phương án giải quyết phù hợp với thực tế Quá trình đó đòi hỏi sự đóng góp tích cực
từ phía dư luận xã hội, đối tượng chịu ảnh hưởng của chính sách
Trang 401.3.6 Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện chính sách tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước
Kết quả thực hiện chính sách TDCC trong các cơ quan HCNN còn phụ thuộc vào các tiêu chí được chủ thể quản lý lựa chọn để đánh giá Tiêu chí thực hiện chính sách có ý nghĩa như bộ lọc thông tin, tạo ra những phán đoán giá trị cho mục tiêu đánh giá Tùy thuộc vào đối tượng, mục tiêu, chủ thể đánh giá, chính sách có thể xây dựng, lựa chọn và sử dụng các tiêu chí khác nhau Trong việc thực hiện chính sách TDCC, cần lưu ý đến các tiêu chí sau:
Tính khả thi
Tính khả thi của thực hiện chính sách TDCC được phản ánh ở khả năng thực hiện trên thực tế của chính sách Để đánh giá tính khả thi của chính sách, cần phải dựa vào các chỉ tiêu cụ thể như: mức độ khả thi về mặt chính trị, về mặt kinh tế, hành chính và khả thi về xã hội
Tính hiệu quả
Tính hiệu quả của thực hiện chính sách tuyển dụng là việc Nhà nước bỏ ra một khoản ngân sách cho công tác này và kết quả thu được từ việc TDCC vào một công việc nhất định xây dựng các ngạch, bậc, vị trí việc làm…
Đối với việc thực hiện chính sách TDCC thì tính hiệu quả thường được xem xét là, liệu kế hoạch TDCC đã đạt được kết quả hay chưa, còn thiếu sót gì cần bổ