Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ .... ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta, nhưng để chăn nuôi lợn phát triển tốt hơn theo hướng gắn với t
Trang 1-
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
Tên đề tài:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VÕ NHAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2015 - 2017
THÁI NGUYÊN, 2017
Trang 2NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
Tên đề tài:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VÕ NHAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2015 – 2017 Giảng viên HD : TS Nguyễn Văn Sửu
THÁI NGUYÊN, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp
đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và Trạm chăn nuôi và thú
y huyện Võ Nhai Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn sinh viên, đội ngũ thú y viên cơ sở, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Sửu đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành công khóa luận này
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Trạm Chăn nuôi Thú y huyện Võ Nhai, Ban lãnh đạo chính quyền và nhân dân các xã đã giúp
đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực tập tại huyện Võ Nhai Tôi xin cảm gia đình bác Lâm Mỳ đã giúp đỡ tạo điều kiện và chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu cho tôi
Cuối cùng, tôi xin dành lòng biết ơn tới người thân, gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt thời gian tiến hành thực tập và hoàn thành khóa luận này
Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3.Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1.Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 3
2.1.1.3 Giao thông và cơ sở hạ tầng 3
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4
2.1.2.1 Dân số và nguồn lao động 4
2.1.2.2 Kinh tế 4
2.1.2.3 Văn hóa thể thao 4
2.1.2.4 Tình hình y tế, giáo dục 5
2.1.3 Tình hình sản xuất tại cơ sở 5
2.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 5
2.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi 6
2.1.4 Nhận định chung 8
2.1.4.1 Thuận lợi 8
2.1.4.2 Khó khăn 8
Trang 52.2 Cơ sở khoa học 9
2.2.1 Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 9
2.2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng phát dục 9
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa 10
2.2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt 11
2.2.1.4 Đặc điểm về hệ miễn dịch 12
2.2.1.5 Đặc điểm về hệ vi sinh vật đường ruột 13
2.2.2 Bệnh phân trắng lợn con 14
2.2.2.1 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con 15
2.2.2.2 Cơ chế sinh bệnh 20
2.2.2.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh 21
2.2.2.4 Phòng bệnh 22
2.2.2.5 Điều trị bệnh 23
2.2.3 Một số loại thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn
con trong quá trình thực tập tại huyện Võ Nhai 25
2.2.3.1 Nor - 100 25
2.2.3.2 Nova - Amcoli 26
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 29
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 32
3.3.1 Nội dung 32
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 32
Trang 63.3.1.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 32
3.3.1.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ 32
3.3.1.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuần tuổi 32
3.3.1.4 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 32
3.3.1.5 Những triệu chứng và bệnh tích của lợn con khi mắc
bệnh phân trắng lợn con 32
3.3.1.6 Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng và điều trị
bệnh phân trắng lợn con 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 32
3.4.1.1 Phương pháp 32
3.4.1.2 Các công thức tính toán 33
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 34
4.1.1 Công tác phòng và trị bệnh 34
4.1.2 Công tác chẩn đoán và điều trị một số bệnh 35
4.1.3 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 39
4.2 Kết quả nghiên cứu 40
4.2.1 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng
lợn con tại huyện Võ Nhai 40
4.2.1.1.Tình hình mắc bệnh phân trắng ở đàn lợn con tại huyện Võ Nhai 40
4.2.1.2.Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 41
4.2.1.3 Kết quả khảo sát bệnh phân trắng lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ 43
4.2.1.5 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 46
4.2.1.6 Những triệu chứng và bệnh tích của lợn con mắc
bệnh phân trắng lợn con 47
Trang 74.2.2 Kết quả điều trị phân trắng lợn con 49
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐVT : Đơn vị tính PTLC : Phân trắng lợn con
STT : Số thứ tự
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 39
Bảng 4.2 Tình hình chung mắc bệnh phân trắng lợn con tại huyện Võ Nhai 40
Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh PTLC qua các tháng theo dõi 42
Bảng 4.4 Tỷ lệ bệnh PTLC theo lứa đẻ của lợn mẹ 43
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh PTLC theo tuổi 44
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh LCPT theo tính biệt 46
Bảng 4.7 Triệu chứng lợn con mắc bệnh PTLC 47
Bảng 4.8 Bệnh tích lợn con mắc bệnh PTLC……… 48
Bảng 4.9 Kết quả điều trị phân trắng lợn con bằng một số loại thuốc 49
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta, nhưng để chăn nuôi lợn phát triển tốt hơn theo hướng gắn với thị trường, an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo
vệ môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư chăn nuôi theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi truyền thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp
Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì dịch bệnh là yếu tố đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi Một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản là bệnh phân trắng lợn con ở giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, gió lùa) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế Do đó, phòng tiêu chảy cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có chất lượng tốt
Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất cũng như góp phần tư liệu về quy trình tiêm phòng, vệ sinh phòng bệnh, điều trị bệnh phân trắng lợn con tại
địa bàn huyện Võ Nhai có hiệu quả, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Áp dụng
quy trình kỹ thuật phòng và trị bệnh phân trắng lợn con trên địa bàn huyện
Võ Nhai”
Trang 111.2.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại chăn nuôi
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con trên địa bàn qua các chỉ tiêu theo dõi
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở để áp dụng quy trình phòng, trị bệnh phân trắng lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Võ Nhai - Thái Nguyên có diện tích 845,10 km2 Dân số là 64241 người (năm 2009), mật độ dân số đạt 76 người/km2
Võ Nhai giáp các huyện Chợ Mới và Na Rì (tỉnh Bắc Kạn) về phía bắc; giáp huyện Đồng Hỷ về phía tây; giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) về phía nam và giáp tỉnh Lạng Sơn về phía đông (các huyện Bình Gia, Bắc Sơn và Hữu Lũng)
Đơn vị hành chính: huyện Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính cấp xã/phường gồm 1 thị trấn Đình Cả và 14 xã gồm: Bình Long, Cúc Đường, Dân Tiến, La Hiên, Lâu Thượng, Nghinh Tường, Liên Minh, Phú Thượng, Phương Giao, Sảng Mộc, Thần Sa, Thượng Nung, Vũ Chấn, Tràng Xá
2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm Nhiệt độ trung bình là 25oC, chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9oC) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2oC) là 13,7oC Do nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm nên thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa: kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10
- Mùa khô: kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5
Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.000 đến 2.500mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1
Nhìn chung kiểu khí hậu thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp
2.1.1.3 Giao thông và cơ sở hạ tầng
Trang 13Huyện Võ Nhai có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện có đường quốc lộ 1B chạy qua, nối giữa thành phố Thái Nguyện với Lạng Sơn thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán trao đổi hàng
hóa Được sự quân tâm của nhà nước qua chương trình “nông thôn mới”
nên nhiều con đường làng đã được bê tông hóa giúp cho việc đi lại được thuận lợi hơn
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số và nguồn lao động
Theo tài liệu của UBND huyện Võ Nhai có tổng diện tích của huyện là 845,10km² Dân số: 64,241 người (2009) với mật độ: 76 người/km².Với thành phần dân tộc đa dạng phong phú gồm: kinh, tày, nùng, dao, hơ’mông, sán chay và hoa
Với thành phần dân tộc phong phú nhưng người dân vẫn sống đoàn kết, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển
2.1.2.2 Kinh tế
Trong công cuộc đổi mới Đảng bộ và nhân dân huyện Võ Nhai đã và đang ra sức phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng phát triển Trong những năm gần đây tình hình kinh tế văn hóa xã hội có bước phát triển vững chắc, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện
2.1.2.3 Văn hóa thể thao
Các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao được quan tâm chỉ đạo Trong dịp tết Đinh Dậu, các xã, thị trấn đã tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân bằng nhiều hình thức như: hái hoa dân chủ, tổ chức đêm văn nghệ phục vụ dân, tổ chức các giải thể thao và trò chơi dân gian mang đậm đà bản sắc dân tộc Thực hiện tốt các hoạt động thông tin tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh
Trang 14tế - xã hội trên địa bàn.Tuyên truyền các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn Tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô đến các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Tổ chức hội báo xuân Đinh Dậu năm 2017 Duy trì tốt việc phát sóng Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện và 2 Đài cụm xã
2.1.2.4 Tình hình y tế, giáo dục
Mạng lưới y tế gồm bệnh viện đa khoa huyện và các trạm y tế trên địa bàn
14 xã Do vậy đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân, tiêm chủng định
kỳ cho trẻ em, chămsóc sức khỏe và thực hiện kế hoạch hóa gia đình
Huyện Võ Nhai có 3 trường trung học phổ thông, và tại tất cả các xã đều có trường trung học cơ sở, tiểu học, mầm non được đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ và đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn cao
2.1.3 Tình hình sản xuất tại cơ sở
2.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Võ Nhai là một huyện có nhiều tiềm năng về phát triển nông nghiệp Tuy nhiên sản phẩm của nông nghiệp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, sản xuất nông nghiệp của huyện còn mang tính tự cung, tự cấp, các loại rau quả và các thực phẩm khác sản xuất ra cũng chủ yếu là tiêu thụ nội địa
- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt là 51.850 tấn, trong đó thóc 25.250 tấn, ngô 26.600 tấn Sản lượng một số cây công nghiệp ngắn ngày như sau: cây lạc 250 tấn, đỗ tương 172 tấn, sắn 4.786 tấn
- Diện tích trồng rừng tập trung là 1.405,59 ha, chăm sóc rừng trồng đối với rừng phòng hộ 153 ha
- Diện tích trồng chè là: 50,9 ha, chè cũng là cây công nghiệp chính của nhiều hộ gia đình và ngày càng được trồng rộng rãi hơn
Hiện nay cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường đời sống và nhu cầu của người dân ngày càng được nâng cao đòi hỏi có những sản phẩm
Trang 15phải có chất lượng tốt, bà con nông dân bước đầu đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, các giống mới đã được đưa vào trồng để nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình và xã hội
2.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
- Công tác chăn nuôi: Đàn gia súc gia cầm phát triển ổn định, không
có dịch lớn xảy ra Thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gia súc gia cầm và phòng chống dịch Tiêm phòng lở mồm long móng 2.800 liều, tiêm phòng dịch tả lợn 15.600 liều, tụ dấu lợn 15.600 liều, tiêm phòng dại cho chó 3.906 liều, tiêm phòng tụ huyết trùng trâu bò 10.480 liều Công tác kiểm soát giết mổ vệ sinh thú y được thực hiện thường xuyên tại các chợ chính trong huyện, tổng số tiền thu được là 48,804 triệu đồng /năm
+ Tổng đàn trâu: 6.390 con
+ Tổng đàn bò: 2.339 con
+ Tổng đàn lợn: 35.833 con
+ Tổng đàn gia cầm các loại: 488.000 con
* Tình hình chăn nuôi trâu bò
Chăn nuôi trâu, bò có tầm quan trọng rất lớn trong nông nghiệp vì nó vừa cung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp, phân bón cho ngành trồng trọt, vừa cung cấp nguồn thực phẩm cho người tiêu dùng và xuất khẩu Đồng thời nó còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Chính vì vậy trong những năm gần đây huyện đã có những phương hướng phát triển mạnh mẽ đàn trâu, bò song vẫn mang tính quảng canh, tận dụng đồng cỏ tự nhiên là chính
+ Về chăn nuôi trâu: Trâu được chăn nuôi ở các hộ gia đình với mục đích là cày kéo và lấy phân là chính, trung bình một hộ gia đình chăn nuôi
có từ 1 - 2 trâu song chủ yếu là giống nội có năng suất thấp
Trang 16+ Về chăn nuôi bò: Từ khi có chương trình hỗ trợ kinh tế cho người dân bằng cách cấp bò giống cho người dân được hộ nghèo và sau vài năm
sẽ thu lại 1 con bò con nên số lượng bò trong huyện đã tăng lên nhiều, giúp cho ngành chăn nuôi bò ngày càng phát triển
* Tình hình chăn nuôi gia cầm:
Đàn gà tại địa phương được nuôi khá phổ biến ở các hộ gia đình, được người dân quan tâm và đầu tư mạnh mẽ, đây là nguồn thu nhập chủ yếu để phát triển kinh tế hộ gia đình
* Tình hình chăn nuôi lợn:
Trong một vài năm gần đây chăn nuôi lợn của huyện đã có xu hướng phát triển mạnh, chủ yếu trong khu vực hộ gia đình với phương thức trang trại quy mô vừa và nhỏ Để đem lại hiệu quả kinh tế cao, các hộ gia đình chăn nuôi đã quan tâm và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất nhằm góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo nhiều sản phẩm cho xã hội
Gần đây với chính sách chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng Ngành chăn nuôi đã trở nên đa dạng hơn nhiều, nhiều hộ gia đình ngoài việc chăn nuôi các loại vật nuôi truyền thống, cũng đã đầu tư vào các giống vật nuôi khác nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Bên cạnh
đó, trong quá trình chăn nuôi cũng phát sinh nhưng vấn đề khó khăn như: giá cả thị trường biến động, dịch bệnh xảy ra… làm thiệt hại nhiều tới lợi ích của người chăn nuôi
- Công tác thú y:
Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh
Trang 17tế của người dân Vì vậy, công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú trọng như: + Tuyên truyền lợi ích vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi Qua đó cần đổi mạnh mẽ cơ cấu giống nhằm tạo bước đột phá tăng năng suất và chất lượng
+ Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm trên địa bàn + Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở tạo điều kiện hình thành các vùng chăn nuôi tập trung tại tất cả các xã, thị trấn theo hướng đồng bộ nhằm hạn chế dịch bệnh và không gây ô nhiễm môi trường + Theo dõi tình hình,diễn biến dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo
2.1.4 Nhận định chung
Qua điều tra cơ bản tình hình cơ sở chúng tôi đã rút ra những nhận xét chung của huyện như sau:
2.1.4.1 Thuận lợi
- Võ Nhai là huyện có diện tích lớn thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế với nhiều ngành nghề khác nhau, trao đổi giao lưu buôn bán với những huyện lân cận và tỉnh bạn
- Tình hình dân trí ngày càng được nâng cao nên tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhanh
- Huyện cũng là nơi cung cấp nhiều sản phẩm chăn nuôi cho thị trường tiêu thụ
- Điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển cây chè và nông lâm nghiệp
2.1.4.2 Khó khăn
- Nhiều xã vùng sâu vùng vùng xa trình độ dân trí còn thấp nên việc
đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp không ít khó khăn
Trang 18- Do tập quán chăn nuôi lâu đời còn lạc hậu ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng chăn nuôi
- Trong chăn nuôi, trâu bò giảm đi nhiều do người dân bán trâu bò đi mua máy cày Tổng đàn lợn giảm do thức ăn chăn nuôi cao, giá thịt lợn không ổn định cùng với thời tiết diễn biến phức tạp nên một số dịch bệnh phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn nên công tác chăn nuôi phát triển chậm
- Thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp còn chưa ổn định nhất
là các sản phẩm chăn nuôi
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng phát dục
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [24] so với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi trọng lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc
50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho tập ăn sớm
Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy 9 - 14 g protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 g protein/1kg khối lượng cơ thể Hơn nữa, để tăng 1 kg khối lượng
cơ thể, lợn con cần ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, khối lượng tăng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra
Trang 191 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ
Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, khối lượng của lợn con tăng từ 10 đến
12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần Các cơ quan trong cơ thể lợn con cũng thay đổi và tăng lên nhanh chóng Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô tăng dần, các thành phần hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng Hàm lượng lipit khi sơ sinh là 18 g, lúc 1 ngày tuổi là 306 g, lúc 14 ngày tuổi là
796 g, lúc 28 ngày tuổi là 1763 g Hàm lượng protein lúc sơ sinh là 174 g, đến 28 ngày tuổi tăng lên 1427 g Hàm lượng sắt trong cơ thể lợn con mới sinh ra là 87% nhưng đến ngày thứ 20 giảm xuống còn 40,58% sau đó tăng dần lên 60 ngày bằng lúc mới sinh ra
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn
Cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh biểu hiện rõ qua sự phát triển của cơ quan tiêu hóa theo từng giai đoạn phát triển của lợn con
Theo Phạm Hữu Doanh và cs, (1997) [4] ở lợn con bộ máy tiêu hóa phát triển chậm và chưa hoàn chỉnh, trong khi đó sức sinh trưởng lại có tốc tộ cao Dịch tiêu hóa trong dạ dày lợn con khác với lợn trưởng thành
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [24] khi còn trong bào thai cơ quan tiêu hóa đã hình thành đầy đủ nhưng dung tích còn bé Trong thời kỳ bú sữa
cơ quan tiêu hóa phát triển rất nhanh
Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc
sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20
Trang 20ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 5 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) Sự tăng chiều dài và thể tích ruột có quan hệ với khả năng tiêu hóa xenlulose khá cao trong thức ăn bổ xung Vì vậy, cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi
Đặc biệt ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày Giai đoạn này gọi là thích ứng cần thiết tự nhiên, nhờ sự thích ứng này mà cơ thể mới thẩm thấu đưa kháng thể miễn dịch có trong sữa đầu của lợn mẹ
Trong giai đoạn đó dịch vị dạ dày không có hoạt tính phân giải protein
mà chỉ có khả năng làm đông vón sữa, huyết thanh chứa Albumin và Globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Tuy nhiên, từ 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn nữa là sự cần thiết cho hoạt động sinh lý bình thường Theo Đào Trọng Đạt và
cs, (1996) [6] thì việc tập ăn sớm, đặc biệt là cai sữa sớm cho lợn con đã rút ngắn giai đoạn thiếu HCl, tăng khả năng tạo miễn dịch cho lợn con Vì vậy trong các thời kỳ nuôi dưỡng lợn con ta cần chú ý: Lợn con sơ sinh giai đoạn (7 - 10) ngày tuổi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ nhất cần cho lợn con bú sữa đầu vì sữa đầu có nhiều kháng thể, lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn sữa thường Từ 21 ngày tuổi trở đi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ 2, là thời kỳ sản lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, để khắc phục tình trạng này cần cho lợn con tập ăn sớm, kích thích tăng lượng enzim, HCl, tạo động lực cho sự phát triển của dạ dày, ruột
2.2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs, (2009) [7], Lợn con mới sơ sinh có sự thay đổi rất lớn về điều kiện sống đang ở trong cơ thể mẹ với nhiệt độ ổn định
Trang 2138,5oC ra bên ngoài với điều kiện nhiệt độ rất thay đổi tùy theo từng mùa khác nhau
Có điều này do một số vấn đề sau:
- Lông lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng nên khả năng giữ nhiệt hạn chế
- Lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế
- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở
cả hai giai đoạn trong và ngoài thai
- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt, Phan Thị Phượng, 1986) [5]
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng toả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá
2.2.1.4 Đặc điểm về hệ miễn dịch
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs, (2009) [7], Lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng lên rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu Cho nên người ta nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động Nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa mẹ
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao, những giờ đầu sau khi đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein Trong đó lượng γ globulin chiếm số lượng rất lớn (34 - 45%) cho nên nó có vai trò miễn dịch ở lợn con Theo Phùng Ứng Lân (1996) [19], Lợn con mới đẻ trong máu không có
γ globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ
Trang 22sang qua sữa đầu Lượng γ globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần ở lợn con sau khi sinh, rồi đến tuần thứ 5 - 6 lại tăng lên và đạt giá trị trung bình là 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là bệnh phân trắng lợn con
Theo Trần Cừ ( 1972) [1], máu thực hiện chức năng sinh lý quan trọng như: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, duy trì cân bằng nước, điều hoà thân nhiệt, bảo vệ máu có chức năng lưu thông nên phản ánh đúng và kịp thời mọi biến đổi sinh lý xảy ra trong cơ thể
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm ( 1995) [10], nhất thiết lợn con
sơ sinh phải được bú sữa đầu để có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là nhân tố chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu
và đảm bảo toàn bộ số con trong đàn được bú sữa đầu của lợn mẹ Trong điều kiện bình thường, nếu không cho lợn con bú sữa đầu thì rất khó nuôi
2.2.1.5 Đặc điểm về hệ vi sinh vật đường ruột
Hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:
- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E coli,
Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng
E coli trở lên cường độc gây bệnh, cấu trúc kháng nguyên của E coli rất
phức tạp Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80 kháng nguyên K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên F
- Nhóm vi khuẩn vãng lai: Chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước
uống vào hệ tiêu hóa gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus
Trang 23subtilis Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn còn có các trực khuẩn yếm
khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus
asobacterium…
Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E coli là phổ biến nhất và
chúng xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [28]
Tiêu chảy ở lợn còn do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện ở
2 dạng là bại huyết và thần kinh Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn trước trực tràng phình to
khác như: Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn (Salmonella) lợn con có thể
chết 100% (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2006) [33]
Bệnh PTLC thường xảy ra quanh năm, không theo mùa vụ (Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [6]
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh đã được
Trang 24khống chế phần nào song việc loại trừ nó ra khỏi chăn nuôi tập trung thì còn gặp rất nhiều khó khăn không những ở nước ta mà cả những nước có trình độ khoa học tiên tiến trên thế giới
2.2.2.1 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân nội tại
Do đặc điểm sinh lý lợn con, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa hoàn thiện Hơn nữa, lợn con lại có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng chất rất lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì lợn con sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn bẩn gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy
Theo Hồ Văn Nam và cs, (1997) [20], Khi mới sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch Trong dạ dày lợn con thiếu HCl, do đó pepsinozen tiết ra không được hoạt hóa để chuyển thành pepsin Khi thiếu men pepsin sữa bị kết tủa dưới dạng cazein không tiêu hóa được bị đẩy xuống ruột già gây rối loạn tiêu hóa, từ đó dẫn tới bệnh và phân
có màu trắng là màu của cazein chưa được tiêu hóa
Theo Đào Trọng Đạt và cs, (1996) [6], thì một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc bệnh phân trắng
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [34], Sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khả năng chống đỡ bệnh tật Ở động vật, 1/2 lượng sắt trong cơ thể nằm ở Hemoglobin, một lượng ít hơn nằm ở Myoglobin và một
số Enzyme Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, cơ thể suy nhược, không hấp thụ được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh Theo Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [30], Bệnh phân trắng lợn con đã có từ rất lâu và ngày càng phổ biến ở các trạng chăn nuôi tập trung và các nông hộ, lợn từ 5 - 25 ngày tuổi dễ mắc bệnh nhất
Trang 25* Do gia súc mẹ
Lợn mẹ không được nuôi dưỡng đầy đủ khi mang thai cũng như trong giai đoạn đang nuôi con Nhưng khi cho mẹ ăn quá nhiều thức ăn giàu dinh dưỡng cũng làm ảnh hưởng tới lợn con
Trong thời gian mang thai, lợn nái không tiêm phòng vắc xin chống các bệnh như: dịch tả, phó thương hàn, Parvovirus thì lợn con sinh ra dễ mắc hội chứng tiêu chảy hơn
Trong thời gian nuôi con gia súc mẹ bị mắc một số bệnh như: Viêm vú, viêm tử cung, kém sữa sau khi sinh sẽ lây nhiễm vi khuẩn vào đường tiêu hóa lợn con
Khi nuôi con mà con mẹ động dục trở lại sớm là một nguyên nhân làm
số lượng và chất lượng sữa giảm vì thế bệnh sẽ dễ xảy ra
* Nguyên nhân ngoại cảnh
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có nhận định bệnh phân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt yếu tố
Qua tài liệu của nhiều tác giả có thể chia thành những nguyên nhân sau:
+ Do điều kiện thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn
Đặc biệt ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định và hoàn thiện Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy, lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu
Trang 26Đào Trọng Đạt và cs, (1996) [6], Phạm Khắc Hiếu và cs, (1998) [11], cũng cho rằng các yếu tố stress lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng là nhiệt
độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn là từ 75 - 85%, việc làm khô và giữ ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng
Theo Sử An Ninh (1993) [23], lợn con khi còn ở trong bụng mẹ thì được bảo vệ rất tốt, nhưng khi mới đẻ ra đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tốt bên ngoài đặc biệt là thời tiết như nóng, lạnh, mưa, ẩm ướt kinh nghiệm thực tế chứng minh rằng thời tiết thay đổi đột ngột cụ thể là yếu tố nóng, lạnh, khô, ẩm không ổn định hoặc không thích hợp với yêu cầu sinh lý của lợn con đều là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh lợn con ỉa phân trắng
Nếu trong chuồng nuôi không đảm bảo thoáng khí, độ ẩm, tồn đọng nhiều phân, rác, nước tiểu, nhiệt độ trong chuồng tăng cao sẽ sinh ra nhiều khí có hại như: NH3, H2S… làm lợn con trúng độc thần kinh nặng gây trạng thái stress cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy
* Do chăm sóc, quản lý
Bên cạnh đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn không tốt cũng ảnh hưởng lớn tới sự xuất hiện của bệnh như lợn con không được bú sữa đầu, cắt rốn không đúng kỹ thuật, úm lợn không đảm bảo nhiệt bộ, bổ sung sắt không được thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật cũng dẫn đến tiêu chảy Theo Cù Xuân Dần (1996) [3], do sức đề kháng của lợn con là rất yếu vì vậy rất dễ bị tác động nếu lợn con theo mẹ mà không được nuôi dưỡng tốt có chế độ ăn uống thích hợp thì chúng rất hay mắc bệnh và đặc biệt là bệnh phân trắng Muốn biết chế độ nuôi dưỡng của lợn con có thích hợp hay không thì cần phải xét hai mặt chủ yếu: Lợn con có được tập cho ăn sớm hay không và thức ăn bổ sung của lợn có đủ thành phần dinh dưỡng (đạm, khoáng, vitamin ) theo yêu cầu phát triển của lợn con hay không
Trang 27Theo Nguyễn Thiện và cs, (1996) [31], Cơ chế vận động chăn thả đều đặn và hợp lí sẽ làm tăng cường quá trình trao đổi chất của cơ thể động vật nói chung Đối với lợn con nó làm tăng sức sống và sức chống đỡ bệnh tật
và bộ máy tiêu hoá cũng hoạt động tốt hơn Mặt khác hoạt động ngoài trời nhờ có tác dụng của các tia sáng tự nhiên của mặt trời sự tổng hợp vitamin
D tiến hành thuận lợi, xương cốt của lợn con phát triển tốt từ đó làm cho sự phát triển chung của cơ thể cũng tốt.Thực tế nhiều nơi đã chứng minh sự vận động và chăn thả có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn bệnh phân trắng lợn con phát sinh Ở nhiều nơi đã thấy có những đàn lợn con đang bị
ỉa phân trắng chỉ cần đem thả ra ngoài cho vận động thì bệnh cũng đã giảm
đi rõ rệt còn nếu vừa cho chăn thả vừa dùng thuốc chữa bệnh thì thu được kết quả rất tốt và nhanh hơn hẳn so với chỉ nhốt trong chuồng rồi đơn thuần chạy chữa Nhưng phải đảm bảo môi trường vận động sạch sẽ không
có mầm bệnh truyền nhiễm
* Do rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột
Bình thường trong đường tiêu hóa của lợn nói riêng và động vật nói chung luôn có một số lượng vi khuẩn nhất định và chúng không gây bệnh Nhưng khi hàng rào bảo vệ bị phá vỡ số lượng vi khuẩn tăng lên, làm thay đổi
tỷ lệ các vi khuẩn có trong đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa và bệnh xảy ra
+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E coli) hay còn được gọi là
vi khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú) Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của
khuẩn lạc ruột Sự có mặt của E coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường gặp cho ô nhiễm phân E coli thuộc họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và
thường được sử dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn
Trang 28- Hình thái: E coli là một trực khuẩn Gram âm, hình gậy ngắn, kích
thước 2 - 3 x 0,6µm Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông xung quanh thân nên có thể di động được, không hình thành nha bào, có thể có giáp mô
- Độc tố: vi khuẩn E coli tạo ra 2 loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố
Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 560C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của formon và nhiệt ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử
Nội độc tố: là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi khuẩn và gắn với tế bào vi khuẩn rất chặt Nội độc tố có tính kháng nguyên hoàn toàn, chịu nhiệt
và có khả năng sinh choáng mạch máu
+ Salmonella
Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae Các loại gây bệnh có thể kể
đến như: Salmonella typhimurium, Salmonella cholera và Salmonella
ententidis Đây là những trực khuẩn Gram âm, hiếu khí tùy ý, hầu hết các Salmonella đều có lông xung quanh thân (trừ Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum) vì vậy có khả năng di động, không sinh nha bào kích
thước khoảng 0,4 - 0,6 x 2 - 3 µm
men glucose không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ methylen dương tính, VP âm tính, citrat thay đổi, urease âm tính, H2S dương
tính( trừ Salmonella paratyphi A: H2S âm tính)
- Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường
- Nhiệt độ phát triển từ 5 - 45oC, thích hợp ở 37oC, pH thích hợp = 7,6 nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6 - 9 Với pH >9 hoặc < 4,5 vi khuẩn có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở 50oC trong
1 giờ, ở 70oC trong 15 phút và 100oC trong 5 phút
Trang 29- Ớ nồng độ muối 6 - 8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối
là 8 - 19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [28
Hồ Văn Nam và cs, (1997) [21] cho rằng: Lợn bị tiêu chảy thì số lượng
E coli và Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm Khi các vi khuẩn gây bệnh
phát triển quá mạnh thì sẽ gây mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột gây ra hiện tượng loạn khuẩn
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], cho biết khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 gam phân tăng lên so với lợn không bị tiêu chảy
Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [28], ở bệnh phân trắng lợn con tác
nhân gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và thứ yếu là Proteus, Streptococcus
2.2.2.2 Cơ chế sinh bệnh
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [11], Bệnh có liên quan đến trạng thái stress như thời tiết lạnh ẩm hay nóng ẩm đột ngột, thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường về lượng đạm, chất béo, chất khoáng và vitamin
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [29], Cơ chế sinh bệnh: đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể hết
Trang 30Hồ Văn Nam và cs, (1997) [21], cho biết: quá trình rối loạn càng trầm trọng hơn khi vi sinh vật trong ống tiêu hóa ở trạng thái mất cân bằng Những
vi khuẩn có hại phát triển mạnh, vi khuẩn lên men gây thối rữa phát triển nhanh chóng Song song với sự phát triển về số lượng vi khuẩn thì lượng độc
tố tiết ra cũng tăng hơn nhiều Độc tố này vào máu quá nhiều sẽ làm rối loạn
cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc thải của thận
Đào Trọng Đạt (1986) [5], khi lợn con tiêu chảy nhiều sẽ bị mất nước, rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc thải của thận
2.2.2.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh
* Triệu chứng
Theo Hoàng Văn Tuấn (1998) [37], Bệnh xảy ra ở tất cả các lứa tuổi nhưng hay gặp nhất là ở lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa Lợn con có thể mắc bệnh rất sớm, ngay ngày đầu tiên sau khi sinh, thường mắc nhiều nhất là sau khi sinh vài ngày
Triệu chứng điển hình: Con vật khát nước, tính đàn hồi của da giảm, mắt lõm sâu, thở nhanh, sâu, nhịp tim nhanh, ít đái Theo Phạm Ngọc Thạch và cs (2006) [30], trong 1 - 2 ngày đầu mắc bệnh, lợn vẫn bú và chạy nhảy như thường Phân táo như hạt đậu xanh, nhạt màu Sau đó phân lỏng dần, có màu vàng hoặc hơi trắng, có bọt và chất nhầy, mùi tanh khắm Con vật có bú hoặc
bỏ bú, lông xù và dựng, da nhăn nheo, nhợt nhạt, đuôi khoeo dính đầy phân Bệnh thường gặp 3 thể:
- Thể quá cấp tính: Lợn tiêu chảy rất mạnh và có thể chết sau 6 - 20 giờ
kể từ khi bỏ bú Lợn bỏ bú hoàn toàn, đi đứng siêu vẹo, loạng choạng, hay nằm bẹp một chỗ, co giật rồi chết Thể này rất ít gặp
- Thể cấp tính: Lợn ỉa chảy nặng, mất nước, mất điện giải rồi chết sau vài ngày mắc bệnh Thể cấp tính hay gặp trong thực tế
- Thể mãn tính: Thường gặp ở lợn từ tập ăn đến lúc cai sữa Con vật ỉa
Trang 31chảy liên miên, phân lúc lỏng, lúc sền sệt, có mùi rất khó chịu, lợn gầy còm, lông xù Nếu bệnh kéo dài không được cứu chữa hiệu quả thường dẫn tới bị viêm dạ dày, ruột rồi chết
* Bệnh tích:
Theo Tạ Thi Vịnh (1996) [13]: Khi lợn chết, xác gầy, thân sau bê bết phân Mổ khám thấy bên trong dạ dày giãn rộng, chứa đầy sữa đông vón không tiêu Ruột non căng phồng chứa đầy hơi với những đám xuất huyết ở thành ruột Chất chứa trong ruột lẫn máu, hạch lâm ba ruột tụ huyết Các cơ quan khác như phổi, gan, thận ít biến đổi
Theo dõi trên đàn lợn thực nghiệm quan sát được: Lợn chết ở thể cấp tính và mãn tính khi mổ khám thấy dạ dày tích thức ăn không tiêu hóa, lổn nhổn bọt khí Phổi có viêm dưới thùy hoành, niêm mạc dạ dày lác đác có đám sung huyết, sưng, dễ bong tróc, có nốt loét Niêm mạc ruột non sưng dày có nhiều đám xuất huyết Hạch lâm ba sưng, mềm, có hoại tử, gan có nốt hoại tử, túi mật căng
Là dùng các vi khuẩn có lợi để phòng trị bệnh Các nhóm vi khuẩn
thường dùng là Bacillus subtilis, Colibacterium, Lactobacillus Các vi khuẩn
này khi được đưa vào đường tiêu hóa của lợn sẽ có vai trò cải thiện tiêu hóa thức ăn, lập lại cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột ức chế và khống chế vi sinh vật có hại
Trang 32Xí nghiệp thuốc thú y đã sản xuất sản phẩm Subtillis, Viện Thú y quốc gia đã chế thành công chế phẩm men tiêu hóa Biolacty cho hiệu quả tốt
* Phòng bệnh bằng thuốc hóa học trị liệu
Trần Minh Hùng và cs (1983 - 1993) [12] đã nghiên cứu chế phẩm Dextran - Fe bổ sung cho lợn con, phòng bệnh thiếu máu suy dinh dưỡng và các bệnh đường tiêu hóa tăng sức đề kháng cho con vật
* Phòng bằng vắc xin
Phòng bệnh bằng vắc xin được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng hầu hết các bệnh hiện nay Nhưng theo Đào Trọng Đạt và cs, (1996) [6], do
E coli có nhiều type kháng nguyên khác nhau nên việc chế vắc xin E coli
gặp những khó khăn nhất định và việc chế một loại vắc xin E coli để phòng
cho lợn ở nhiều địa phương đem lại hiệu quả phòng bệnh không cao
* Phòng bệnh bằng biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý
Bệnh PTLC chịu ảnh hưởng rất lớn của ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý vì vậy việc cải thiện tình hình chăn nuôi sẽ góp phần không nhỏ trong việc phòng bệnh
Có một trong số tác giả cho rằng việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín
ấm vào mùa đông, xuân đồng thời khô ráo, chống ẩm ướt sẽ phòng bệnh hiệu quả cao
Cần chăm sóc cho lợn mẹ đầy đủ chất dinh dưỡng, tiêm phòng đầy đủ đảm bảo cho con sinh ra khỏe mạnh, sức đề kháng cao Cần chú ý cho lợn con tập ăn sớm, có bổ sung đầy đủ các loại khoáng vi lượng để lợn thích nghi dần với điều kiện mới
2.2.2.5 Điều trị bệnh
* Điều trị bằng kháng sinh:
Kháng sinh có vai trò quan trọng thú y Tuy nhiên trong nhừng năm gần đây, việc sử dụng kháng sinh điều trị bệnh PTLC tỏ ra kém hiệu lực do vi