1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tình hình mắc bệnh cầu trùng và biện pháp phòng trị trên gà tại xã Xuân Phương huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên.

59 238 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 838,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vòng đời và sinh sản được tính từ khi gà ăn phải nang bào tử của cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào.. Vòng đời của cầu trùng gà gồm 2 giai đoạn: + Giai đoạn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Từ Trung Kiên

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, học hỏi, rèn luyện nâng cao tay nghề, em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo và bạn bè Đến nay, em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy

cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ

em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Từ Trung Kiên, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ lãnh đạo, nhân viên công ty TNHH TM và DV Thú Y SAP cùng ban lãnh đạo UBND xã Xuân Phương, huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, cũng như học tập rèn luyện nâng cao tay nghề

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên về mọi mặt trong suốt thời gian em học tập và thực tập vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Ngô Mỹ Huệ

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà 9

Bảng 4.1: Lịch dùng vacxin cho gà nuôi tại xã 33

Bảng 4.2: Kết quả công tác thú y 36

Bảng 4.3: Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng gà tại các xóm thuộc xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 37

Bảng 4.4: Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng gà theo độ tuổi 38

Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo tuổi 39

Bảng 4.6: Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng theo các tháng ở các xóm điều tra 41

Bảng 4.7: Tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo độ tuổi 42

Bảng 4.8: Triệu chứng của gà mắc bệnh cầu trùng 43

Bảng 4.9: Bệnh tích của gà nghi mắc bệnh cầu trùng 44

Bảng 4.10: Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà 45

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.2.3 Mục đích nghiên cứu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài 5

2.2.1 Cơ sở khoa học 5

2.2.2 Nghiên cứu trong và ngoài nước 22

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27 3.1 Đối tượng 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi nghiên cứu 27

3.4.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu 27

3.4.2 Phương pháp lấy mẫu 28

3.4.3 Phương pháp thực hiện 28

Trang 7

3.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 29

3.4.5 Phương pháp mổ khám bệnh tích gà mắc bệnh cầu trùng 29

3.4.6 Phương pháp điều trị bệnh cầu trùng 30

3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Kết quả một số công tác thú y 33

4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng trên gà tại xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 36

4.2.2 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng gà theo tuổi tại xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 38

4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà theo tuổi 39

4.2.4 Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng theo tháng điều tra 41

4.2.5 Kết quả kiểm tra tỷ lệ gà mắc bệnh cầu trùng chết theo độ tuổi 42

4.2.6 Triệu chứng của gà mắc bệnh cầu trùng ở xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 43

4.2.7 Bệnh tích đại thể của gà nghi mắc bệnh cầu trùng ở xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 44

4.2.8 Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà tại xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 45

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển hết sức mạnh mẽ, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế cả nước đi lên Đặc biệt, là ngành chăn nuôi nói chung và gia cầm nói riêng Ngành đã có từ lâu đời, nó cung cấp lượng thực phẩm lớn với hàm lượng dinh dưỡng cao, phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng Để phát triển ngành chăn nuôi có hiệu quả, một trong những vấn đề quan trọng là công tác phòng và trị bệnh, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng, các biện pháp phòng và trị bệnh kịp thời có hiệu quả sẽ có tác dụng ngăn ngừa, bao vây và ngăn chặn nguồn bệnh, hạn chế khả năng lây lan, hạn chế những thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi

Tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh, trong đó có bệnh cầu trùng vẫn xảy ra phổ biến, gây trở ngại cho ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và đặc điểm thời tiết khí hậu của nước ta, tình trạng kháng thuốc ký sinh trùng nói chung và cầu trùng nói riêng làm cho khả năng biến đổi và thích nghi của cầu trùng rất lớn Mặt khác, vấn đề vệ sinh thú y chưa đồng bộ ở tất cả các cơ sở chăn nuôi tập thể và tư nhân Đó chính là nguyên nhân làm cho bệnh cầu trùng gà vẫn tồn tại và là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho ngành chăn nuôi

gà, đặc biệt là gà nuôi theo hướng công nghiệp Theo Lê Hữu Khương (2008)[6], tỉ lệ nhiễm cầu trùng tại các trại gà từ 4 – 100%, tùy vào từng cơ sở chăn nuôi, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, giống gà, lứa tuổi, trung bình tỉ lệ nhiễm từ 30 – 50%, tỉ lệ chết dao động từ 5 – 15% Bệnh gây nhiễm nặng ở gà từ 2 đến 6 tuần tuổi, dẫn đến tỉ lệ chết trong đàn cao, nếu gà không chết sẽ trở thành bệnh mãn tính làm cho gà còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng mở đường cho mầm bệnh khác xâm nhập

Trang 9

Xuất phát từ những thực tế trên, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường ĐHNL, thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên và sự tiếp nhận của công Ty TNHH TM và DV Thú

Y SAP cùng sự hỗ trợ của người dân địa phương trong xã Xuân Phương,

huyện Phú Bình, Tỉnh Thái Nguyên, tôi đã thực hiện đề tài “Tình hình mắc bệnh cầu trùng và biện pháp phòng trị trên gà tại xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu đề tài

1.2.1 Mục tiêu

- Xác định tỷ nhiễm bệnh cầu trùng ở gà tại xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái nguyên

- Tìm hiểu một số biện pháp phòng bệnh cho gà

- Điều tra về lứa tuổi gà mẫn cảm với bệnh cầu trùng nhất

- Tìm hiểu một số thuốc đặc trị bệnh cầu trùng trên gà

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Xuân Phương là một xã thuốc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Xã nằm

ở phía Nam của huyện và có tuyến quốc lộ 37 chạy trên địa bàn Xuân Phương bao gồm 14 xóm, có địa giới hành chính giáp ranh với một số xã trong huyện như sau:

- Phía đông giáp với thị trấn Hương Sơn

- Phía tây giáp với xã Úc Kỳ và Nhã Lộng qua sông Cầu

- Phía nam giáp với xã Nga My

- Phía bắc giáp với hai xã Bảo Lý và Tân Kim

Thời tiết, khí hậu, thủy văn

Xuân Phương có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ dao động từ 110

C- 39,50C (trung bình 240C)

Lượng mưa trung bình hàng năm 1.292mm, tập trung từ tháng 5 - 9, cao nhất vào tháng 7 (120 - 150 mm), số ngày mưa trung bình 136 ngày Lượng bốc hơi nước trung bình hàng năm: 832,8mm, độ ẩm không khí trung bình 81%

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a) Điều kiện kinh kế

Là xã được thành lập từ lâu đời, mặc dù gặp nhiều khó khăn, song dưới

sự chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, sự đoàn kết nhất trí trong nhân dân, các đơn vị trong xã đã phấn đấu tốt nhiệm vụ được giao Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện Tổng giá trị sản xuất thực hiện năm

2011 ước đạt 60 tỷ đồng, tăng hơn 8 tỷ đồng so với năm 2010, tốc độ phát

Trang 11

triển bình quân 5 năm đạt 15,2%/năm Thu nhập bình quân đầu người năm

2011 đạt 8 triệu đồng/người/năm, cơ cấu nông - lâm nghiệp có tỷ trọng: 48,39% Như vậy, phát triển kinh tế của xã vẫn chủ yếu dựa trên nông - lâm nghiệp là chủ yếu

b) Điều kiện về văn hóa - xã hội

Toàn xã có 14 xóm với tổng số dân là: 7249 người với tập quán phát triển nông nghiệp lâu đời và nguồn nhân lực rồi dào nên rất thuận lợi cho việc đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở

- Chăn nuôi trâu, bò: Do đặc điểm là vùng trung du miền núi, diện tích

chăn thả rộng, nguồn thức ăn xanh dồi dào nên đàn trâu bò của huyện phát triển mạnh Đàn bò của xã được Lai sinh hóa và phát triển có chất lượng

- Chăn nuôi lợn:

Tổng đàn lợn của xã ở thời điểm tháng 6/2011 là 2.685 con, trong đó phần lớn được nuôi ở các hộ gia đình, số lượng bình quân mỗi hộ gia đình nuôi từ 3 - 4 con lợn; số hộ chăn nuôi quy mô trang trại 20 nái sinh sản, 50 lợn thịt trở lên ngày càng nhiều Giống lợn chủ yếu là lợn lai giữa lợn Móng Cái và Landrace, Yorshire, Durok Số lợn lai này đang được nuôi phổ biến

và phát triển rất tốt, dần thích nghi được điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng

và khí hậu của địa phương

- Chăn nuôi gia cầm:

Chăn nuôi gia cầm vẫn chủ yếu theo quy mô nhỏ lẻ, phân tán, tập trung xen kẽ trong khu dân cư Vì vậy, số lượng gia cầm có xu hướng không tăng nhiều so với năm trước Nguyên nhân do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, độ rủi ro cao nên các hộ chăn nuôi không đầu tư tăng đàn Mặt khác, cũng do ảnh hưởng từ sự phát triển mạnh của các ngành nghề khác như công nghiệp, dịch

vụ phát triển

Trang 12

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài

2.2.1 Cơ sở khoa học

2.2.1.1 Những hiểu biết về bệnh cầu trùng

a) Đặc tính chung của bệnh cầu trùng

* Mầm bệnh:

Bệnh cầu trùng là một loại ký sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật nuôi thuần chủng, thú hoang và con người do một nhóm nguyên sinh

động vật đơn bào ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, chủng

Eimeria, 2 giống Eimeria và Isosproza Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, tỷ

lệ chết cao, đặc biệt là súc vật non Ở gà và thỏ, bệnh gây thiệt hại lớn nhất (tỷ

lệ chết cao ở gà con, thỏ con có thể lên tới 80 - 100 %)

Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay là một noãn nang

(Oocyts), là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu Có 3

lớp vỏ: lớp ngoài cùng rất mỏng, bên trong chứa nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, giữa nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to

Có một số loại cầu trùng ở đầu có chỗ lõm vào gọi là lỗ noãn nang, có một số loài không có lỗ noãn nang hoặc không rõ Khi gặp điều kiện nhiệt độ,

ẩm độ thích hợp thì nhân và nguyên sinh chất bắt đầu phân chia

Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình

thành 4 bào tử, mỗi bào tử hình thành 2 bào tử con Bào tử con có hình lê, chính bào tử con này sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan và gây ra những tổn thương bệnh lý

Cầu trùng giống Isospora thì nhân và nguyên sinh chất phân chia thành 2

bào tử, mỗi bào tử phân chia thành 4 bào tử con và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột

Trang 13

Cũng là gia cầm nhưng mỗi loại lại có một số loại cầu trùng ký sinh riêng cầu trùng gà không ký sinh trên ngan, ngỗng… Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: cầu trùng ký sinh ở manh tràng không ký sinh ở ruột non và ngược lại

Ở gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau Gà con bị nhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà trưởng thành,

gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng

* Vòng đời của Cầu trùng (chu kỳ sinh học):

Tóm tắt vòng đời của cầu trùng gà

Noãn nang To Ao Noãn nang gây nhiễm Bào tử

(Oocyst) (Oocyst gây nhiễm) (Trophotoit)

Trang 14

Vòng đời và sinh sản được tính từ khi gà ăn phải nang bào tử của cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào

Vòng đời của cầu trùng gà gồm 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn ở ngoài tự nhiên: Noãn nang được thải theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bảo tử

(Cầu trùng Eimeria phát triển thành 4 bào tử) Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm (oocyst gây nhiễm)

+ Giai đoạn trong cơ thể ký chủ: Gà nuốt noãn nang gây bệnh vào

ruột, noãn nang vỡ ra, phóng ra 4 bào tử gọi là trophotozoit bám vào tế bào biểu mô ruột phát triển thành schiphotozoit, schiphotozoit phát triển thành

merozoit rồi thành tế bào đực và tế bào cái Chúng kết hợp với nhau tạo

thành hợp tử, rồi hợp tử lại sinh ra noãn nang (oocyst), thời gian hoàn

thành vòng đời từ 5 - 7 ngày

Trong vòng đời của cầu trùng ở cả hai phương thức sinh sản đó là sinh sản vô tính và hữu tính Vì vậy, có thể phân ra cầu trùng sinh sản theo 3 giai đoạn sau:

+ Giai đoạn sinh sản vô tính: Cầu trùng ký sinh ở tế bào biểu mô đường tiêu hóa của súc vật, lớn dần lên và sinh sản theo hình thức trực phân

+ Giai đoạn sinh sản hữu tính: Sau giai đoạn sinh sản trực phân sẽ hình thành các tế bào cái (đại phối tử), các tế bào đực (tiểu phối tử) Hai tế bào đó kết hợp với nhau tạo thành hợp tử, giai đoạn này cũng xảy ra trong tế bào biểu mô

Cả hai giai đoạn trên đều xảy ra trong cơ thể ký chủ nên gọi là sinh sản nội sinh

+ Giai đoạn sinh bào tử: Sau khi hợp tử hình thành thì phát triển thành

noãn nang (oocyst), nguyên sinh chất và nhân lại phân chia thành bào tử hình

thành nên bào tử con Giai đoạn này diễn ra ở môi trường bên ngoài gọi là sinh sản ngoại sinh Khi ký chủ nuốt phải noãn nang đã phân chia thành 8 bào

tử con vào đường tiêu hóa, noãn nang sẽ giải phóng các bào tử con ra, các bào

Trang 15

tử con lại tiếp tục xâm nhập vào các tế bào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục sinh sản vô tính, hữu tính, vòng đời lại tiếp tục như trên

b) Bệnh cầu trùng gà

* Đặc điểm của bệnh cầu trùng gà:

Bệnh cầu trùng gà nói riêng và bệnh cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung là một bệnh phổ biến trên khắp thế giới Nó được Luvenhuch phát hiện

từ năm 1632 tức là cách đây khoảng 383 năm và cùng thời gian các nhà nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và thuốc điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá (Lê Văn Năm, 2003 [14])

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010)[9], thì bệnh cầu trùng gà do cầu trùng ký sinh gây ra thấy ở khắp các nước trên thế giới Đây là một bệnh khó kiểm soát, ngay cả những nước có trình độ khoa học kỹ thuật thú y phát triển cũng chịu nhiều tổn thất do cầu trùng gây ra Cầu trùng ký sinh gây tổn thương nghiêm trọng đường tiêu hóa, làm cho gà dễ chết Bệnh lây lan nhanh trong các đàn gà, đặc biệt là trong điều kiện chăn nuôi tập chung, điều kiện vệ sinh thú y kém, công tác quản lý và chăn nuôi không đảm bảo Ở nước ta bệnh phổ biến ở khắp các tỉnh thành

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[8], thì bệnh cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên Bệnh cầu trùng gà có vòng đời ngắn (5 - 7 ngày) và không cần ký chủ trung gian Bệnh cầu trùng gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà nhất là chăn nuôi công nghiệp mật độ cao

tỷ lệ chết từ 50 - 70 % Gà con sau khi bị mắc bệnh rất khó hồi phục, chậm lớn, còi cọc, ở gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng và giảm tỷ lệ đẻ

* Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà:

Trải qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã chỉ ra tác nhân gây bệnh cầu trùng gia cầm với những đặc điểm sinh học của chúng

Trang 16

Bảng 2.1: Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà

Diễn giải

Loài

Hình dạng

Kích thước (µm) Lỗ noãn Sinh sản bào

Eimeria maxima chủ yếu ký sinh ở đoạn giữa ruột non Oocyst có màu

hơi vàng, vỏ oocyst hơi sần sùi là những đặc điểm dễ nhận thấy khi phân loại

Eimeria tenella thường ký sinh ở manh tràng, oocyst màu xanh nhạt

Đây là loài gây bệnh mạnh nhất ở gà con Thời gian sinh bào tử giao động tương đối lớn (18 - 48 giờ)

Eimeria acervulina có hình dạng oocyst gần giống E maxima nhưng

kích thước nhỏ hơn Một đặc điểm có ý nghĩa quan trọng về phân loại từ thời gian sinh bào tử 13 - 17 giờ ở nhiệt độ 28 - 300C (ngắn nhất so với thời gian sinh bào tử của các loài cầu trùng khác)

Eimeria mitis có đặc điểm dễ phân biệt là oocyst dạng tròn, thời gian

sinh bào tử biến động tương đối lớn (24 - 48 giờ) Thường ký sinh ở đầu ruột non Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ, trong các tế bào biểu bì nhung mao

Trang 17

thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6 - 21 thể phân đoạn và các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5

Eimeria necatrix là loài có độc lực cao song mức độ phổ biến và khả

năng gây bệnh thấp hơn loài E tenella Vị trí gây bệnh ở ruột non và cả manh tràng, nhưng oocyst E necatrix có thời gian sinh bào tử ít giao động và không bao giờ tới 48 giờ như E tenella

Eimeria brunette là loài cầu trùng có độc lực cao, thường ký sinh ở ruột

già Đây là loài có thời gian sinh sản bào tử luôn ổn định ở 24 giờ Thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếu ở ruột già, đôi khi ký sinh ở phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt

Eimeria mivatia loài cầu trùng này thường gây bệnh ở bề mặt niêm

mạc ruột, oocyst có kích thước chiều ngang nhỏ nhất trong số 3 loài cầu

trùng gà có hạt cực

Eimeria paraecox có oocyst hình bầu dục, nguyên sinh chất dạng tròn

có nhân ở giữa, hạt cực không rõ là đặc điểm khác biệt so với các loài cầu trùng khác cùng có vị trí ký sinh ở đầu ruột non

Eimera hagani là loài có độc lực yếu, thường ký sinh ở phần đầu ruột

non oocyst có thời gian sinh sản bào tử ổn định nhất so với oocyst các loài

cầu trùng ký sinh ở phần đầu ruột non (48 giờ)

Ở nước ta, kết quả phân loại cầu trùng tìm được cho thấy tùy từng khu vực, có thể có từ 5 đến 8 loài cầu trùng gây bệnh cho gà

Theo Hoàng Thạch và cs (1997)[17], đã tìm thấy sự có mặt của 8 loài cầu trùng gây bệnh trên gà nuôi tại Miền Nam nước ta So với 9 loài cầu trùng

tìm thấy của các tác giả trên thế giới thì ở Việt Nam chưa thấy nói tới E

paraecox Phân loại cầu trùng tìm trên các đàn gà nuôi tại các tỉnh phía Bắc

của các tác giả qua nhiều thời gian nghiên cứu về phân loại như: Dương Công Thuận (1995)[19]; Phan Lục, Bạch Mạch Điều (1999)[11], đã cho biết có 6

Trang 18

loại cầu trùng gà đã được phát hiện là: E tenella, E necatrix, E maxima, E

mitis, E brunette, E acervulina

* Sự nhiễm bệnh cầu trùng ở gà:

Bệnh cầu trùng là một bệnh phổ biến, bệnh có sức đề kháng cao đối với các tác động của điều kiện khí hậu không thuận lợi, các loại thuốc sát trùng, thiếu các biện pháp có hiệu lực chống sự xâm nhập của mầm bệnh, mầm bệnh

có khả năng tái sinh sản lại nhanh

Noãn nang cầu trùng ở trong đất có thể duy trì sức sống từ 4 - 9 tháng, có thể sống được 15 - 18 tháng ở sân, nơi râm mát Môi trường ẩm ướt và nhiệt

độ 22 - 300

C chỉ mất 18 - 36 giờ cầu trùng phát triển thành những bào tử con Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu Khi ẩm độ 21 - 30 %, nhiệt độ 18 - 400C thì E tenella sẽ chết sau 1 - 5 ngày

Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh Noãn nang cầu trùng nhiễm vào thức ăn, nước uống, đất, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi trở thành nguồn lây nhiễm bệnh Các loài chim, gà, gia súc, động vật gặm nhấm, côn trùng, người… đều có thể là nguồn gieo rắc căn bệnh Người ta đã nghiên cứu thấy khi ruồi có noãn nang vào tới ruột ruồi thì nó có thể duy trì sức gây bệnh trong 24 giờ

Thời gian nhiễm bệnh cầu trùng được chia thành 2 thời kỳ:

Thời kỳ tiền phát: Kéo dài từ khi gà nhiễm phải noãn nang cầu trùng cho tới khi xuất hiện nang trứng trong phân

Thời kỳ phát bệnh: Là khi xuất hiện nang trứng trong phân cho đến khi nang trứng biến mất hoàn toàn khỏi cơ thể

Khi nuôi dưỡng quản lí không tốt, sẽ tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển và gây bệnh mạnh Thức ăn thiếu sinh tố cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát ra rầm rộ Vì vậy, gà nuôi trong môi trường ẩm thấp, sân chơi quá

Trang 19

nhỏ bé, thức ăn không tốt, điều kiện vệ sinh kém… là điều kiện thuận lợi làm cho bệnh cầu trùng phát triển và lây lan

Cầu trùng phát triển vào tất cả các mùa trong năm nhưng bệnh phát triển mạnh nhất vào mùa Xuân và mùa Hè Đặc biệt là những thời gian mưa nhiều,

ẩm độ cao (gà được nuôi ở vụ Hè - Thu bị ô nhiễm noãn nang cầu trùng ở chất độn chuồng cao hơn gà được nuôi ở vụ Đông - Xuân), (Trần Thanh Vân

và cs (2003) [20]) Bệnh cầu trùng thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, sức đề kháng kém, dễ mắc các bệnh kế phát, khi gặp điều kiên thuận lợi, Cầu trùng phát triển thành ổ dịch lớn, mang tính hủy diệt Tỷ lệ chết

do cầu trùng có thể lên tới 100 % Ngoài ra bệnh còn làm giảm tốc độ sinh trưởng (12 - 30 %), gà giảm đẻ (20 - 40 %) sản lượng trứng

Gà công nghiệp rất mẫn cảm với bệnh vì sức đề kháng kém Trong đàn chỉ có một vài con nhiễm cầu trùng, nếu không phòng trị kịp thời thì chỉ sau vài ngày tỷ lệ nhiễm bệnh sẽ là rất cao và gây chết hàng loạt

* Quá trình sinh bệnh:

Quá trình sinh bệnh được hình thành từ những tác động trực tiếp của mầm bệnh, các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng trong cơ thể gà và các yếu tố thứ phát nhờ khả năng tái sinh sản nhanh ở tất cả các loài, đặc biệt

là các loài có độc lực cao, gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột Từ đó một

số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp dưới niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị hủy hoại Đã hình thành các điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật khác nhau phát triển, xâm nhập vào cơ thể làm cho bệnh càng ngày càng nặng và có thể gây bội nhiễm với các bệnh khác

Do niêm mạc bị tổn thương nên nhiều đoạn ruột không tham gia vào quá trình tiêu hóa làm cho con vật bị thiếu dinh dưỡng gây rối loạn tiêu hóa, dẫn tới ngưng đọng các độc tố, phù nề các cơ quan và mô bào Sự phá hủy các tế bào ruột làm cho viêm ruột gây rối loạn chức năng hấp thu và vận động của ruột

Trang 20

gây ỉa chảy, quá trình viêm tăng sinh làm dịch rỉ tiết ra nhiều gây khó khăn cho hấp thu chất dinh dưỡng làm mất sự cân bằng nước tiểu trong cơ thể gà

Các thể bào tử cầu trùng nhiễm vào các tế bào biểu bì ở những khe hốc,

ở đó từ 24 - 48 giờ, sự phát triển các thể phân lập đời 1 sẽ kết thúc Mỗi thể phân lập chứa tới 900 thể phân đoạn Các thể phân đoạn của đời 1 nhiễm vào

tế bào biểu bì niêm mạc manh tràng, sau đó di cư sâu vào lớp biểu bì, ở đó 72 giờ, sau khi chúng nhiễm vào sẽ phát triển các thể phân lập đời 2 Các thể phân lập đời 2 này qua 24 giờ chúng phân giải, phá hủy những lớp biểu bì bên dưới, phá hủy lưới mao mạch gây ra xuất huyết mạnh Sau đó thể phân lập đời 2 lại chui vào tế bào biểu bì niêm mạc và bắt đầu hình thành tế bào giao tử cái, các tế bào giao tử đực Thể phân lập có tới đời 3 tiến triển ở các tế bào biểu bì

Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là các thể phân lập đời 2, phát triển thành số lượng lớn trong các vách ruột sẽ phá hủy màng niêm mạc ruột, gây ra chảy máu nhiều Lớp dưới niêm mạc, xoang ruột chứa đầy những tế bào biểu bì bị hủy hoại Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rối loạn, màng niêm mạc ruột bị tổn thương là cửa mở cho vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân hủy các chất chứa trong manh tràng xâm nhập vào trong cơ thể gây ra nhiễm trùng, nhiễm độc tố

Cầu trùng sinh ra độc tố làm gà bị trúng độc, thể hiện ở những rối loạn

về thần kinh: sã cánh, lờ đờ, kém nhanh nhẹn Cầu trùng chiếm đoạt chất dinh dưỡng là dịch tổ chức tế bào biểu mô ruột làm cho gà thiếu dinh dưỡng

Những điều kiện trên cho thấy sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể

gà bị bệnh cầu trùng Sự phát triển quá trình bệnh lý cuối cùng dẫn tới suy sụp trạng thái chung của gà là ốm, cuối cùng là gà chết

Trang 21

* Sự miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng:

Theo Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Kim Lan (2005)[16], tất cả các giống gà đều mắc bệnh cầu trùng Gà nuôi ở Thái Nguyên đều nhiễm cầu trùng với tỷ lệ khá cao (từ 30,1 - 67,7 %) Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng

có chiều hướng giảm theo tuổi gà Gà từ 15 ngày đến 2 tháng tuổi nhiễm cầu trùng nhiều và nặng nhất Gà trên 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm giảm đi và thường nhiễm nhẹ Gà công nghiệp rất mẫn cảm với bệnh cầu trùng (tỷ lệ nhiễm là 66,1 %), cao hơn gà ta (53,5 %) và mức độ nhiễm cũng nặng hơn

Sau khi khỏi bệnh gà sẽ có miễn dịch với loài cầu trùng chúng đã nhiễm phải Song vấn đề miễn dịch trong bệnh cầu trùng cho tới nay vẫn chưa được công nhận đầy đủ nhất, vì vậy chúng tôi cho rằng trong vấn đề này cần được nghiên cứu rộng rãi hơn Miễn dịch đối với bệnh cầu trùng gà là miễn dịch có trùng và do sự tái nhiễm thường xuyên đã đảm bảo cho sự ổn định mầm bệnh trong cơ thể gà có miễn dịch

Những nghiên cứu tiếp tục về miễn dịch cũng đã xác nhận rằng: Cường

độ miễn dịch trong bệnh cầu trùng là không đồng đều và phụ thuộc vào loài cầu trùng, vào liều cầu trùng gây miễn dịch, số lượng gây nhiễm, khả năng gây bệnh của loài cầu trùng, trạng thái cơ thể gà và nhiều yếu tố khác Cường

độ miễn dịch cũng phụ thuộc vào cả đặc điểm phát triển các giai đoạn nội sinh của các loài cầu trùng khác nhau

Miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững đối với loài cầu trùng, khi các giai đoạn phát triển của chúng tiến triển và xâm nhập sâu trong mô bào và miễn dịch kém bền vững khi các giai đoạn phát triển của chúng chỉ phát triển

trong lớp biểu bì niêm mạc ruột Với những loài gây bệnh yếu E mitis, E

acervulina ký sinh trong tế bào biểu bì ruột non thì tạo ra miễn dịch ngắn,

không bền vững đối với lần cảm nhiễm sau Ngược lại với các thời kỳ nội

sinh của E tenella phát triển không chỉ trong biểu bì mà còn xâm nhập vào

Trang 22

lớp dưới biểu bì của niêm mạc và đôi khi còn thấy chúng ở dưới lớp sâu màng niêm mạc Với loài cầu trùng đó chỉ cần một liều nhỏ nang trứng, trong thời gian ngắn cũng đã đủ gây ra miễn dịch vững chắc

Thời gian miễn dịch trong bệnh cầu trùng là tương đối dài và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là phương pháp miễn dịch Nếu tiêm cho gà con một lượng lớn nang trứng cầu trùng thì tới ngày thứ 14 ở chúng có sức đề kháng với bệnh và tới ngày thứ 42 thì sức đề kháng đó giảm đi một ít Sau khi tiêm cho gà con 3 liều nang trứng, mỗi liều cách nhau một tuần thì chúng có

đủ sức đề kháng và có thể tự bảo vệ khi tiêm cho chúng một liều trên liều chết Hơn nữa, gà còn được bảo vệ không bị tái nhiễm

Trong các điều kiện sản xuất, ở gà lớn không cảm thụ với cầu trùng do chúng đã bị nhiễm nhiều lần ở những ngày tuổi còn non, về sau sức đề kháng phát sinh được củng cố bằng sự tái nhiễm cầu trùng thường xuyên

* Triệu chứng của bệnh:

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[7], gà bị bệnh cầu trùng thường lờ đờ, chậm chạp, ăn kém, hoặc bỏ ăn, lông xù, cánh xã, phân loãng lẫn máu tươi, khát nước, uống nhiều nước, dễ chết do mất nước và mất máu Bệnh cầu trùng xảy ra ở mọi lứa tuổi của gà thường gặp ở gà 10 - 90 ngày tuổi, đặc biệt ở 18 - 40 ngày tuổi gà bị bệnh rất nặng, thời gian ủ bệnh

từ 4 - 7 ngày Bệnh có thể cấp tính còn gà trưởng thành là vật mang trùng,

gà thường mắc bệnh ở 3 thể:

Thể cấp tính: Bệnh diễn biến từ 2 - 3 tuần lễ, sau thời gian nung bệnh, cả quá trình diễn biến mà người ta ghi nhận được qua các biểu hiện lâm sàng thường kéo dài từ 3 - 7 ngày Lúc đầu gà giảm ăn, buồn ngủ, ỉa phân loãng sống (thức ăn không tiêu hóa tốt) Khi có hiện tượng viêm xuất huyết trong ruột thì gà uống nhiều nước, đứng cù rù, lẻ loi hoặc tụm đống lại một góc chuồng Quan sát những gà đứng thấy gà cổ rụt, mắt nhắm nghiền, hai cách sã xuống nền (khoác áo tơi) lúc này phân sệt màu máu tươi hoặc màu nâu có gợn máu Gà nhợt nhạt vì thiếu máu, vạch hậu môn gà để khám thì thỉnh thoảng

Trang 23

thấy phân bám xung quanh hậu môn, một số gà có biểu hiện thần kinh bán liệt hoặc liệt Thể cấp tính gây chết gà trong thời gian 3 - 4 ngày, tỷ lệ chết 70 –

80 % (nếu không điều trị kịp thời), số gà còn lại chuyển sang thể mãn tính Thể mãn tính: Gà ốm cấp tính chuyển sang mãn tính, tuổi gà càng cao thì sức đề kháng càng tốt cho nên gà thường mắc ở thể mãn tính Ở thể này, biểu hiện giống thể cấp tính nhưng mức độ nhẹ hơn, phân sống, lúc đầu, sau đó phân màu nâu lẫn máu hoặc gợn máu Nếu không điều trị kịp thời thì tỷ lệ chết

Màng niêm mạc đường tiêu hóa xanh tím, phủ chất nhày màu vàng xám Diều và dạ dày tuyến trống rỗng, màng niêm mạc phủ niêm dịch Trong dạ dày cơ có một ít thức ăn, tá tràng viêm trong chứa đầy chất niêm dịch hơi vàng, vách ruột đầy lên rõ rệt, màng niêm mạc trương lên, lớp nhung mao nằm bẹp, một số nơi thấy rõ những điểm xuất huyết

+ E tenella: Bệnh tích chủ yếu ở manh tràng Manh tràng viêm xuất

huyết phình to, chứa đầy chất dịch có máu, trong đó có những cục máu nhỏ, xốp, vách manh tràng mỏng đi Màng niêm mạc bị hủy hoại, phủ đầy những vết loét từ ngoài có thể nhìn thấy rõ Ở giai đoạn cuối của bệnh, niêm mạc ruột hơi trắng, dầy và có các cục máu Ở gà non có hiện tượng ỉa lẫn máu

Trang 24

+ E brunette: Gây bệnh tích ở phần sau của đường tiêu hóa, cổ manh

tràng, kết tràng và trực tràng Gây viêm hóa sợi trong ruột (viêm ruột hóa sợi) cùng dịch xuất tiết nhày lẫn máu, phân màu trắng có lẫn các vệt máu

+ E necatrix: Trên màng niêm mạc đoạn giữa ruột non thấy những

cục nhỏ màu trắng - xám nằm sâu trong vách ruột nên có thể nhìn thấy rõ

từ phía ngoài Màng niêm mạc xuất huyết, đôi khi bị hoại tử Ruột sưng to, thành ruột dày lên, chất chứa ở ruột màu hồng nhạt hoặc xám, thỉnh thoảng

có lẫn cục máu

+ E maxima: Gây viêm phần đầu ruột non, màng niêm mạc bị hủy hoại

xuất huyết Viêm ruột xuất huyết với thành ruột dầy và xuất huyết lấm chấm, kiểm tra bằng kính hiển vi phát hiện được các trứng có kích thước lớn Ruột non chứa đầy chất nhày màu nâu hoặc hồng nhạt

+ E hagani: Bệnh tích thấy ở tá tràng và phần trước ruột non Trên

thành ruột có những điểm xuất huyết to bằng đầu kim hoặc có những mảng xuất huyết tròn màu đỏ Niêm mạc bị viêm cata nặng và xuất huyết

+ E acervulina: Gây giảm khối lượng gà, phân trắng Tá tràng dầy,

sưng phù, sung huyết đỏ Trên bề mặt tá tràng hay phần đầu ruột non, những tổn thương lớn màu trắng xám Trên tiêu bản tổ chức, vị trí cầu trùng ký sinh

là ở biểu mô

* Chẩn đoán bệnh cầu trùng ở gà:

Chẩn đoán bệnh cầu trùng cần phải kết hợp nhiều mặt Để chẩn đoán chắc chắn nhất thiết phải dựa vào kết quả xét nghiệm phòng thí nghiệm Kiểm tra phân bằng phương pháp trực tiếp, phương pháp Fulleborn để tìm noãn nang Cầu trùng, mổ khám kiểm tra bệnh tích ở ruột gà Nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ học (mùa phát bệnh, tuổi gà…), quan sát triệu chứng lâm sàng Chẩn đoán phân biệt cần loại trừ: Bệnh CRD, phó thương hàn,

viêm ruột xuất huyết, phân trắng ở gà, bệnh E coli…

Trang 25

+ Bệnh CRD: Do Mycoplasma gây ra, khi mới phát hiện trong đàn trông

nhớn nhác, gà con bứt rứt khó chịu hay chạy nhảy lung tung, gà mổ cắn nhau, lỗ huyệt co bóp mạnh, gà giảm ăn uống, lông xù, lù đù, khối lượng giảm, đi lại run rẩy, bệnh lây lan nhanh, phân lúc đầu trắng và loãng, giai đoạn sau chuyển sang màu nâu, phân dính xung quanh hậu môn Tỷ lệ chết 10 - 20 %

+ Bệnh E coli: Do vi khuẩn E coli gây ra Bệnh tích ở gà là ỉa chảy,

phân loãng, phân có dịch nhày màu trắng, xanh, nâu, phân thối do ruột bị hoại

tử nặng, gà mệt mỏi, kém ăn, ít đi lại, gầy xơ xác, ở gà đẻ triệu chứng không

rõ, giảm tỷ lệ đẻ, mào teo, nhợt nhạt Bệnh tiến triển chậm rải rác không ồ ạt

* Các biện pháp phòng và điều trị bệnh cầu trùng:

Một số nhóm thuốc phòng trị bệnh cầu trùng cơ bản:

Theo Lê Văn Năm (2003)[14], cho đến nay có nhiều loại thuốc có tác dụng ức chế và tiêu diệt cầu trùng, nhưng tập trung chủ yếu vẫn nằm ở 6 nhóm thuốc dưới đây:

- Nhóm Sulfanilamit: Bao gồm Sulfaguanidin, Sulfathiazon, Sulfarazin,

Sulfaquinoxalin, Sulfapyrasol và Sulfachlopyrazin…

- Nhóm Nitrofuran gồm có: Furazolidon, Furaltadon, Nitrovinla,

Nitromidazon…

- Nhóm Pyrimidin: Amprolium, Trimethopin, Diaveridin…

- Nhóm Antibiotis: Monezin, Salinomycin, Lymycin…

- Nhóm Pyridin: Clopydol (Rigecoccin)

- Toltrazuril: Là hoạt dược mới, tác dụng điều trị cầu trùng rất hiệu quả

Các nhóm thuốc trên với nhiều chủng loại theo nguồn gốc thỳ có 2 dạng:

Thuốc thú y ngoại nhập:

Theo Nguyễn Xuân Bình (1993)[1], cho biết một số thuốc ngoại nhập đang được quan tâm như sau:

Trang 26

Avicox: Đây là chế phẩm của hãng Avite (Pháp), thành phần của thuốc

gồm có Sulfadimexin và Diaveridin, thuốc dạng bột hòa tan, sử dụng an toàn

và có tác dụng tốt Thuốc được dùng để phòng bệnh bằng cách hòa tan trong nước với liều phòng: 1 g/2 lít nước và cho gia cầm uống liên tục trong 3 - 5 ngày Liều trị: 1 g/1 lít nước, dùng liên tục 3 - 5 ngày

ESB3: Sản phẩm của hãng Ciba (Thụy Sỹ), thành phần chính là sulfaclorin, thuốc dạng bột màu trắng, dễ hòa tan, sử dụng an toàn và hiệu

quả cao Liều phòng: 0,5 g/1 lít nước Liều trị: 1 - 2 g/1 lít nước, dùng liên tục 3 - 5 ngày

Coccistop 2000: Loại thuốc này do hãng Intervet (Hà Lan) sản xuất

Thuốc có dạng bột màu trắng, dễ hòa tan, sử dụng an toàn và hiệu quả cao

Thành phần gồm sulfadimedin 40 %, sulfadimethoxin 4 %, diaverindin 6

%, vitamin K 4 % Liều phòng: 0,5 g/1 lít nước Liều trị: 1 - 2 g/1 lít nước,

dùng liên tục 3 - 5 ngày

Caccibio: Đây là một sản phẩm của Pháp Thuốc ở dạng dung dịch

Thành phần gồm có sunfaquinoxalin 4,5 %, pyrimethamin 1,35 % Thuốc có

tác dụng hầu hết với các loại cầu trùng Liều phòng: 0,5 ml/1 lít nước uống Liều trị: 1 ml/1 lít nước uống, dùng liên tục 5 - 7 ngày

Dinaprol: Là sản phẩm của hãng Jakarta (Indonesia) Thuốc có dạng bột

màu trắng, dễ hòa tan trong nước Thành phần gồm amprolium HCl 5 %,

furaltadoue 5 %, vitamin A 0,6 %, vitamin K 0,2 % Liều phòng: 1 g/1 lít

nước Liều trị: 1,5 - 2 g/1 lít nước, dùng liên tục 3 - 7 ngày

Baycox: Đây là một chế phẩm dạng dung dịch 2,5 % totrazuril của hãng

Bayer Thuốc có tác dụng với tất cả các loài cầu trùng, đặc biệt là: E tenella,

E maxima, E acervulina Liều trị: 7 mg/kg P/ngày, liệu trình 2 - 3 ngày

Một số thuốc phòng trị bệnh cầu trùng của các công ty thuốc thú

y trong nước:

Trang 27

+ Anticoccid: Đây là một chế phẩm hỗn hợp của Sulfaquixalin 27,3 %,

sulfadimethoxin 22,35 %, trimethothrim 20 %, diaveridim 2,7 % Liều điều trị

là 1 g/5 kg P, hòa tan vào nước hoặc trộn vào thức ăn cho gia cầm 4 - 5 ngày liên tục Thuốc có tác dụng tốt đối với cầu trùng cấp tính

+ Coccistop - ESB3: Là chế phẩm hỗn hợp của sulfamid và

trimethoprim Liều dùng phòng: 0,5 - 1 g/lít nước uống Liều trị: 1,5 - 2 g/lít

nước cho uống liên tục 3 - 5 ngày

+ Sulfutil: Thành phần của nó gồm có sulfadiazin 40 %, furazolidon 40

%, tylosin 20 % Thuốc được trộn với thức ăn để phòng cầu trùng trong

trường hợp có ghép các bệnh khác nhau như: CRD hay bệnh do E.coli

+ RTD – Coccistop: Do Công ty Phát triển công nghệ nông thôn

(RTD), thôn C1 - B Láng Hạ - Đống Đa - Hà Nội sản xuất Thành phần:

sulfadimidin 20 g, diaveridime 3 g, trimethoprim 8 g, tá dược vừa đủ 100 g

Thuốc được pha vào nước hoặc trộn vào thức ăn Liều phòng: 1 g/1 lít nước uống Liều trị: 1,5 - 2 g/1 lít nước uống

+ Rigecoccin - WS: Đây là chế phẩm của công ty cổ phần Dược và Vật

tư Thú y Thuốc có tác dụng đặc biệt mạnh chống các chủng cầu trùng

Eimeria gây bệnh cầu trùng ở gia cầm, có thể pha vào nước nên hiệu quả trực

tiếp, tác dụng tốt Liều phòng 1 g/8 lít nước uống Liều trị 1g/4 lít nước

Nhưng hiện nay gà nuôi đã dùng Rigecoccin - WS phòng, trị với thời gian dài

thì cầu trùng đã có khả năng kháng thuốc nên trong chăn nuôi người ta đã tăng liều: Liều phòng: 1 g/4 lít nước Liều trị: 1 g/2 lít nước uống

+ Bio – Anticoc: Đây là sản phẩm của Công ty Liên doanh Bio - Pharmachemie Bio - Anticoc là sản phẩm kết hợp của sulfadimidine và

diaverridine, thuốc có tác dụng điều trị tất cả các loài cầu trùng ở gia cầm Liều

dùng 1 g/1 lít nước uống hoặc 2 g/1 kg thức ăn, dùng trong 5 ngày liên tục

Trang 28

+ Marcoc: Là sản phẩm của Công ty cổ phần thuốc Thú y Marphavet Đặc trị Cầu trùng ở ruột non, cầu trùng manh tràng, cầu trùng ghép với E

coli Thành phần: sulfadimidine 33 g, sulfaguanidine 10 g, tá dược vừa đủ

100 g Liều phòng: 1 g/1 lít nước uống Liều trị 2 g/1 lít nước uống liên tục 3 ngày sau đó nghỉ 3 ngày rồi lại cho uống 2 ngày

+ Vinacoc - ABC: Là sản phẩm của Công ty thuốc Thú y Trung ương I

- Vinavetco Thuốc có tác dụng mạnh đối với bệnh cầu trùng Thành phần:

sulfachlozin sodium 30 g, Lactose vừa đủ 100g Liều phòng: 1 g/1 lít nước

uống Liều trị: 2 g/1 lít nước uống dùng liên tục 3 - 4 ngày

Ngoài ra, hiện nay người chăn nuôi còn sử dụng vắc - xin để phòng bệnh cầu trùng cho đàn gà:

Hiện nay có hai loại vắc - xin trên thị trường:

Vắc - xin không độc: Có chứa noãn nang cầu trùng có độc lực Vì vậy, khi sử dụng các loại vắc - xin này, có nguy cơ phản ứng mạnh sau tiêm chủng và bùng phát dịch bệnh cầu trùng trên lâm sàng, đặc biệt là trong các loại gia cầm bị ức chế hệ thống miễn dịch

Vắc - xin nhược độc: Là thế hệ thứ hai, chứa noãn nang cầu trùng được

làm suy yếu của các loài E imerian Các vắc - xin là an toàn hơn, kiểm soát

sự lây nhiễm và nguy cơ bùng phát dịch bệnh cầu trùng trên gà

Vắc - xin livaxox đã được phát triển tại Cộng hòa Séc và sử dụng thành công trên thị trường trong nước cũng như ở hàng trục quốc gia trên thế giới Chủng ngừa với livaxox đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt đối với việc bảo vệ gia cầm Với việc họ chỉ sử dụng ít ký sinh trùng và thậm chí dùng thuốc quá liều 10 lần là an toàn cho những gà chủng ngừa Không có dư lượng trong thịt

và trứng cung cấp dinh dưỡng cho con người khỏe mạnh và an toàn (Công ty TNHH Việt – Pháp Quốc Tế 2013)

Trang 29

2.2.2 Nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Lê Văn Năm (1990)[12], cho biết nguyên tắc phòng bệnh cầu trùng bằng thuốc phải dùng từ 5 đến 60 ngày tuổi đối với gà thịt, sau đó cứ một tháng phải dùng tiếp thuốc từ 3 - 4 ngày, kể cả thời gian đẻ Việc dùng thuốc phải đúng theo các chỉ dẫn mới đạt kết quả

Đào Trọng Đạt (1985 - 1989)[2], hiện nay, các cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp đang áp dụng trộn furazolidon, rigecoccin, sulfaquinoxalin vào thức ăn hàng ngày cho gà con từ 5 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi theo lịch trình 2.2.2 hoặc 3.3.3 kết hợp với vệ sinh chuồng trại thay đệm lót chuồng theo định kỳ Quy trình này đã bảo vệ được 80 - 90 % số con ấp nở trong 2 tháng

Theo Lê Văn Năm, Nguyễn Thị Hương (1996)[13], cho biết cách sử dụng thuốc đạt hiệu quả, quy trình phòng - trị khi sử dụng thuốc như sau: Giai đoạn 1 - 4 tuần tuổi nên dùng những thuốc những thuốc có khả năng tiêu diệt cầu trùng khi chúng đang nằm trong giai đoạn phát triển thể phân lập

Đó là các loại thuốc cocci - stop – ESB3, monezin, cocci - stop - 2000,

coccibio, biasul, coccitrim…

Giai đoạn từ 28 - 60 ngày tuổi là giai đoạn gà có nhiều thay đổi về sinh

lý và cũng là giai đoạn cầu trùng dễ xảy ra nhất ta nên dùng các loại thuốc

như: sulfatyl, anticoccid, A.S.F20, coyden 25, coccimed, furaporol,

A.S.Poultry, rigecoccin, furazonidon, amprolium, darvisul…

Giai đoạn sau 60 ngày tuổi có thể dùng rigecoccin, furazonlidon,

Ngày đăng: 24/11/2017, 09:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (1993), Thuốc thú y ngoại nhập đặc hiệu mới, (tập 1), Nxb Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y ngoại nhập đặc hiệu mới, (tập
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1993
2. Đào Trọng Đạt (1985 – 1989), Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thú y
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
3. Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002), 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
5. Trần Văn Hòa, Vương Trung Sơn, Đặng Văn Khiêm (2001), 101 câu hỏi thường gặp trong sản xuất nông nghiệp, tập 11: kỹ thuật chăn nuôi gà công nghiệp, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 101 câu hỏi thường gặp trong sản xuất nông nghiệp, tập 11: kỹ thuật chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Trần Văn Hòa, Vương Trung Sơn, Đặng Văn Khiêm
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
7. Kolapxki N.A., Paskin P. I. (1980), Bệnh Cầu trùng ở gia súc gia cầm, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội (Nguyễn Đình Chí dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Cầu trùng ở gia súc gia cầm
Tác giả: Kolapxki N.A., Paskin P. I
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1980
8. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình Ký sinh trùng Thú y, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ký sinh trùng Thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
10. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002), Bệnh do ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh do ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
12. Lê Văn Năm (1990), Hướng dẫn điều trị bệnh ghép ở gà, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị bệnh ghép ở gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1990
13. Lê Văn Năm, Nguyễn Thị Hương (1996), 60 câu hỏi và đáp dành cho người chăn nuôi gà công nghiệp, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 câu hỏi và đáp dành cho người chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Lê Văn Năm, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1996
14. Lê Văn Năm (2003), Bệnh cầu trùng gia súc gia cầm, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng gia súc gia cầm
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2003
16. Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Kim Lan (2005), ―Bệnh cầu trùng gà ở Thái Nguyên và dùng thuốc phòng trị‖, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng gà ở Thái Nguyên và dùng thuốc phòng trị
Tác giả: Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 2005
18. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Khánh Quắc, (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Khánh Quắc
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
19. Dương Công Thuận (1995), Phòng trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình
Tác giả: Dương Công Thuận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
22. Nguyễn Hữu Vũ, Phạm Sỹ Lăng (1997), Một số bệnh quan trọng ở gà, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở gà
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1997
23. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2000), Một số bệnh quan trọng ở gà, Nxb Nông Nghiệp.II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở gà
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp. II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI
Năm: 2000
24. Hunter Archie (2000), A comparison of the interaction with two types of environment of pure strains or strain cross of poultry, Genetics 4, 370 – 381 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparison of the interaction with two types of environment of pure strains or strain cross of poultry
Tác giả: Hunter Archie
Năm: 2000
4.Lê Thị Khánh Hòa (2013), ―Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên đàn gà tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y trường đại học nông lâm Thái Nguyên‖, khóa luận tốt nghiệp đại học Khác
6. Lê Hữu Khương (2008), Tình hình nhiễm cầu trùng trên đàn gà Ác ở một trại thuộc Huyện Chợ Gạo – tỉnh Tiền Giang và hiệu quả phòng của một số loại thuốc. Tập san Khoa học và Giáo dục số 3 Khác
9. Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Lê Minh (2010), Các bệnh phổ biến gây hại cho gia cầm và biện pháp phòng trị, TT Khuyến nông Quốc gia, Hà Nội, 167 trang Khác
11. Phan Lục, Bạch Mạnh Điều (1999), ―Tình hình nhiễm Cầu trùng ở gia cầm tại trung tâm giống gia cầm Thụy Phương và hiệu quả sử dụng vắc – xin phòng Cầu trùng‖, Tạp chí Khoa học – Kỹ thuật thú y Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w