Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Salavan, Sở Lao động và phúc lợi xã hội, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Ngoại giao, Công an quản lý người nước ngoài, Công an quản lý điều t
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Quế Loan
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày…….tháng…….năm 2016
Tác giả luận văn
Singamphai Phimphaphone
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Quế Loan, cùng các Thầy Cô trong tổ Lịch sử Việt Nam của khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Salavan, Sở Lao động và phúc lợi xã hội, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Ngoại giao, Công an quản
lý người nước ngoài, Công an quản lý điều tra dân số tỉnh Salavan, Hội người Việt tại tỉnh Salavan, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Pakse và các đơn vị liên quan khác đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tác giả hoàn thành luận văn
Trong thời gian đi thực tế, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các già làng, trưởng bản và những người cung cấp thông tin là người Lào và người Việt ở nhiều làng, bản của tỉnh Salavan Tác giả trân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Cao đẳng sư phạm Salavan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày…….tháng…… năm 2016
Tác giả luận văn
Singamphai Phimphaphone
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng ……….v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Bố cục luận văn 8
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH SALAVAN VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở TỈNH SALAVAN 10
1.1 Khái quát về tỉnh Salavan 10
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư 10
1.1.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội của tỉnh Salavan 12
1.1.3 Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam - Salavan 16
1.2 Cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan 18
1.2.1 Cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan….……… 18
1.2.2 Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt Nam 31
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở TỈNH SALAVAN (1986-2015) 34
2.1 Nông nghiệp 35
2.2 Buôn bán, dịch vụ 38
2.3 Công nghiệp 44
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn iv
2.4 Sự đóng góp về kinh tế của người Việt Nam ở tỉnh Salavan 46
Tiểu kết chương 2 49
Chương 3: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở TỈNH SALAVAN (1986-2015) 51
3.1 Văn hóa vật chất 52
3.1.1 Ăn uống 52
3.1.2 Trang phục 58
3.1.3 Nhà ở 59
3.1.4 Phương tiện đi lại, vận chuyển 61
3.2 Văn hóa tinh thần 62
3.2.1 Ngôn ngữ và giáo dục 62
3.2.2 Tín ngưỡng, tôn giáo 65
3.2.3 Phong tục tập quán 69
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn iv
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê dân số các dân tộc tại tỉnh Salavan năm 1995 11 Bảng 1.2: Thống kê Việt Kiều đã đăng ký hộ khẩu ởtỉnh Salavan năm 2015 25 Bảng 1.3: Thống kê người Việt Nam nhập cảnh tại tỉnh Salavan từ năm 2007-
2015 28 Bảng 1.4: Thống kê quê quán người Việt Nam cư trú tạm thời tại huyện
Laungam, tỉnh Salavan năm 2015 29 Bảng 2.1: Thống kê cơ cấu nghề nghiệp của người Việt Nam cư trú tạm
thời tại tỉnh Salavan năm 2015 35 Bảng 2.2: Thống kê người Việt Nam làm nông nghiệp tại 4 nông trường ở
huyện Laungam năm 2015 36 Bảng 2.3: Thống kê một số cửa hàng buôn bán lớnở tỉnh Salavan năm 2015 40 Bảng 2.4: Thống kê một số cửa hàng buôn bán trung bình ở tỉnh Salavan
năm 2015 41 Bảng 2.5: Thống kê cửa hàng buôn bán của người Việt Nam ở tỉnh
Salavan (năm 2015) 42 Bảng 2.6: Thống kê các dịch vụ của người Việt Nam tại tỉnh Salavan (năm
2015) 43
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 1
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lào là đất nước nằm trong khu vực Đông Nam Á gồm nhiều dân tộc, mỗi dân tộc đều có đặc trưng văn hóa riêng của mình Thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào đã tăng cường mối quan hệ hợp tác với nhiều nước trong đó có Việt Nam Từ xa xưa, Việt Nam - Lào đã có mỗi quan hệ hữu nghị đoàn kết và hợp tác toàn diện, đây là tài sản vô giá, là nhân tố quan trọng trong sự phát triển của hai nước Việt Nam - Lào Mối quan hệ đó đã được thể hiện trong vần thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Việt - Lào hai nước chúng ta tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”, Chủ tịch Lào Kaysone Phomvihane
đã từng nói “Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói
về tinh thần quốc tế vô sản nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy” [3]
Việt Nam và Lào có chung đường biên giới dài 2.069 km và có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa nhất là ở các tỉnh miền núi Tây Bắc, miền Trung của Việt Nam với các tỉnh của Lào (Phongsaly, Huaphanh, Xiêng Khoảng, Khăm Muộn, Savannakhet và các tỉnh hạ Lào Salavan và Attapeu ) Điều kiện địa lý thuận lợi tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa Việt Nam - Lào
và cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hiện diện của cộng đồng người Việt trên đất nước Lào
Salavan là một tỉnh thuộc miền Nam của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nằm trên cao nguyên Bolaven - Tạôi Phía Đông giáp biên giới Việt Nam với chiều dài 80 Km, đây là tỉnh có khá đông người Việt làm ăn, sinh sống Trong chiến tranh, họ đã cùng sát cánh với nhân dân Lào chiến đấu giành độc lập Thời bình, người Việt lại góp sức mình xây dựng đất nước Lào trên
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 2
nhiều lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa và xã hội Do sống cộng cư với người Lào, nên người Việt có những điểm tương đồng với văn hóa Lào Tuy nhiên, họ vẫn
có những nét văn hóa đặc trưng Để tìm hiểu sâu sắc về cuộc sống sinh hoạt của
người Việt định cư tại Salavan, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Hoạt động
kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan (Lào) từ năm 1986 đến năm 2015” làm luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan (Lào) Do đó, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả luận văn đã được tiếp cận một số tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần quan trọng giúp tác giả thực hiện đề tài như:
Về sách: có cuốn “Lịch sử tỉnh Salavan” của Phoxay Sihachak, xuất bản
năm 2000 Trong cuốn sách này, Phoxay Sihachak đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Salavan, tuy nhiên, trong nội dung dân cư, tác giả không viết về người Việt cũng như quá trình sinh sống của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan
Năm 2003, trong sách “Lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam - Lào” gồm 4
tập của nhóm các tác giả Lào, do Nhà xuất bản Quốc gia Lào phát hành, nhóm tác giả đã đề cập nội dung về mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam -Lào trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 2003 Đồng thời tác phẩm này cũng đã cung cấp cho tác giả luận văn những tư liệu về quá trình hình thành và định cư của người Việt Nam ở Lào Qua đó, giúp cho tác giả xác định
và hiểu được thời gian đến định cư, lao động trong lịch sử của người Việt tại Lào nói chung và tại tỉnh Salavan nói riêng
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 3
Tiếp đó, có thể kể đến tác phẩm“Vai trò của cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam-Lào” của tác giả Phạm Đức Thành, xuất bản năm
2006 Trong cuốn sách này, Phạm Đức Thành đã đề cập về cuộc sống sinh hoạt của người Việt tại đất nước Lào và những đóng góp của cộng đồng người Việt trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Năm 2008, nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản sách “Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào” của tác giả Phạm
Đức Thành Trong cuốn sách này, tác giả Phạm Đức Thành nghiên cứu về đời sống sinh hoạt của công đồng người Việt định cư ở đất nước Lào trong mối
quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Lào Những thuận lợi cũng như những khó khăn của người Việt khi sinh sống ở đây
Trong sách “Di cư và chuyển đổi lối sống trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào” của Nguyễn Duy Thiệu, xuất bản năm 2008 do Nhà xuất bản Thế
giới phát hành, tác giả Nguyễn Duy Thiệu đã cung cấp nội dung về nguyên nhân cơ bản, các đợt di cư và sự thích ứng của người Việt Nam với cuộc sống sinh hoạt ở Lào
Năm 2014, Sở Ngoại vụ tỉnh Salavan đã cho xuất bản sách “Những quy định quản lý người nước ngoài” Cuốn sách là sự tổng kết những quy định
nhằm quản lý người nước ngoài ở Lào Trên cơ sở những chính sách quản lý chung đó, tỉnh Salavan áp dụng để quản lý người Việt Nam tại địa phương
Về tạp chí, có thể nhắc đến bài viết “Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào” của tác giả Vũ Thị Vân Anh, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 37-43, năm 2007 Bài viết này đã tìm hiểu đến hoàn cảnh lịch
sử, nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt Nam đến đất nước Lào
Năm 2007, trong Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9, tr 47-49, có bài viết “Đóng góp của Việt kiều trong đấu tranh giành độc lập của nhân dân Lào giai đoạn những năm 30 của thế kỷ XX” của tác giả Nghiêm Thị Hải Yến
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 4
Trong bài viết này, tác giả đã nói đến hoàn cảnh lịch sử của Lào, vai trò và sự đóng góp quan trọng của Việt kiều trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Lào giai đoạn những năm 30 của thế kỷ XX
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, năm 2007 đã dành một chuyên đề
về vấn đề người Việt ở Lào Trước hết, phải kể đến bài viết “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc” của Nguyễn Duy Thiệu (tr 3-18) đã tìm hiểu đến tình trạng và sự chuyển đổi, hòa nhập văn hóa và việc bảo tồn bản sắc văn hóa trong môi trường mới ở Lào của cộng đồng người Việt Nam
Cũng trong Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, xuất bản năm 2007, bài viết “Tài liệu lưu trữ thời kỳ thuộc địa Pháp liên quan đến Cộng đồng người Việt ở Lào” của tác giả Nguyễn Hào Hùng đã đề cập về cộng đồng người Việt
ở Lào trong thời kỳ thuộc địa Pháp và các tài liệu lưu trữ thời kỳ thuộc địa Pháp (tr 70-77) Bài viết “Chùa của người Việt ở Lào”, tr 57-62 của tác giả Nguyễn Lệ Thi lại nghiên cứu về các công trình kiến trúc, những ngôi chùa Việt, điểm khác biệt trong bài trí, kiến trúc và tín ngưỡng tôn giáo của người Việt Nam ở Lào Còn trong bài viết của Nguyễn Duy Thiệu và Amthilo Latthanho về “Bước đầu tìm hiểu luật pháp và chính sách của chính phủ Lào đối với người nước ngoài và người Việt Nam tại Lào”, tr 63-70 lại cung cấp thông tin về luật pháp và chính sách của chính phủ Lào đối với người nước ngoài nói chung, người Việt nói riêng đang sinh sống và làm ăn tại nước Lào
Trong bài viết “Tiếp xúc giao lưu và chuyển đổi bản sắc trong nhóm hôn nhân hỗn hợp Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào” của tác giả Xomthon Yerlo bliayao (tr 27- 36) đã tìm hiểu về vấn đề kết hôn và sự thay đổi của trong kết hôn của người Việt tại đất nước Lào, sự giao thoa văn hóa của người Việt tại Lào trong các gia đình hôn nhân hỗn hợp và thậm chí là sự chuyển đổi văn hóa qua các thế hệ gia đình Lào - Việt
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 5
Năm 2013, trong Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 12, tác giả
Nguyễn Văn Thoàn có bài “Chùa phật giáo trong đời sống văn hóa của hai dân tộc Việt Nam - Lào” Trong bài viết này, Nguyễn Văn Thoàn đã chỉ ra sự khác biệt giữa công trình kiến trúc của các chùa Phật giáo của hai dân tộc Việt Nam-Lào, từ sự khác biệt đó, thấy được bản sắc của hai dân tộc thể hiện trong kiến trúc chùa Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh vào đặc trưng văn hóa thể hiện trong cách bài trí, thờ cúng
Ngoài những công trình đã xuất bản kể trên, còn có Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành lịch sử, của trường Đại học sư phạm Thái Nguyên “Kinh tế -Văn hóa của người Việt ở Thành phố Viêng Chăn Lào (1975-2014)” của học viên Phongsavath S ilipanya viết năm 2015.Tác giả luận văn nghiên cứu về đời sống của cộng đồng người Việt, các hoạt động kinh tế và văn hóa của người Việt tại thành phố Viêng Chăn trong giai đoạn từ năm thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 1975 đến năm 2010, những đóng góp của cộng đồng người Việt và sự giao thoa kinh tế- văn hóa của người Việt - Lào tại thành phố Viêng Chăn
Như vậy, các công trình nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận đã ít nhiều
đề cập đến những vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài mà tác giả đang thực hiện Song nhìn chung, các nghiên cứu trên chỉ mới tìm hiểu ở diện rộng
về một số khía cạnh hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt tại Lào mà chưa
đề cập tới hoạt động kinh tế văn hóa của người Việt Nam tại tỉnh Salavan, những sắc thái đa dạng và cả những đặc trưng trong đời sống của cộng đồng người Việt nơi đây Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu đó đã giúp tác giả luận văn có cơ sở và một số tư liệu cần thiết làm nền tảng, gợi mở hướng nghiên cứu để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
3 Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động kinh tế, văn hóa trong đời sống của cộng đồng người Việt
Nam tại tỉnh Salavan (Lào)
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 6
3.2 Nhiệm vụ
- Khái quát về tỉnh Salavan (điều kiện tự nhiên, xã hội…), quá trình định
cư của người Việt Nam tại tỉnh Salavan và nguyên nhân dẫn đến người Việt định cư ở tỉnh Salavan
- Nghiên cứu về các hoạt động kinh tế trong đời sống của người Việt Nam ở tỉnh Salavan
- Các hoạt động văn hóa trong đời sống cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Các hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt Nam
- Phạm vi không gian: Đề tài giới hạn không gian nghiên cứu tại tỉnh Salavan (Lào)
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2015 (từ khi Lào thực hiện công cuộc Đổi mới, mở rộng việc hợp tác giao lưu, thúc đẩy phát triển kinh tế với nhiều nước, đặc biệt là với Việt Nam)
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:
- Tư liệu thành văn gồm:
+ Các công trình khoa học được xuất bản thành sách, các bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí, bài viết trên các báo bằng tiếng Việt và tiếng Lào + Tài liệu lưu trữ của Hội người Việt Nam và lưu trữ tại trường học của người Việt ở tỉnh Salavan
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 7
- Tư liệu điền dã: Do tác giả đề tài thu thập trong quá trình tìm hiểu về cộng đồng người Việt tại thực địa Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt Nam định cư tại tỉnh Salavan, tác giả đã gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc thu thập tư liệu trong quá trình thực tế bởi người Việt định cư rải rác ở các huyện trong tỉnh Salavan Mặc dù vậy, tác giả
đã cố gắng khắc phục khó khăn, tìm tư liệu thực tế để đưa ra những kết luận chính xác về đời sống kinh tế, văn hóa của người Việt ở đây
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để tìm hiểu, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng theo trình tự thời gian (niên đại) và không gian từ quá khứ đến hiện tại, để hiểu và làm rõ quá tình hình thành và phát triển trong đời sống người Việt Nam tại tỉnh Salavan Trong nghiên cứu vấn đề, việc sử dụng phương pháp lịch sử giúp tác giả nghiên cứu các hiện tượng trong quá khứ của cộng đồng người Việt Vì thế, tác giả đã kết hợp sử dụng phương pháp logic, nhằm đi sâu tìm hiểu bản chất, cái phổ biến và đặc trưng trong hoạt động kinh tế văn hóa của người Việt tại tỉnh Salavan
Để tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hóa của người Việt một cách đầy
đủ, tác giả đã sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học thông qua việc phỏng vấn trực tiếp người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở Salavan, quan sát nơi ở và làm việc Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh, thống kê các số liệu để hoàn thiện đề tài
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về kinh tế, văn hóa của người Việt Nam ở tỉnh Salavan (Lào)
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 8
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm về mối quan
hệ giữa Việt Nam - Lào, các môn học lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Lào, lịch
sử văn hóa, tộc người
- Luận văn là cứ liệu lịch sử khẳng định thêm về mối quan hệ đặc biệt
giữa Việt Nam - Lào trong quá khứ cũng như hiện tại
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 9
BẢN ĐỒ TỈNH SALAVAN
(NƯỚC CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO)
Nguồn:https://en.wikipedia.org/wiki/Salavan_Province#/media/
File:Map_of_Saravan_Province,_Laos.jpg
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 10
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH SALAVAN VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT
NAM Ở TỈNH SALAVAN 1.1 Khái quát về tỉnh Salavan
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư
Salavan có diện tích 10.691 km2
, là tỉnh nằm trên vùng bình nguyên của cao nguyên Tạôi và cao nguyên Bolaven ở Đông nam Lào và nằm ở phía bắc của 3 tỉnh: Champasak, Attapeu, Sekong Phía bắc giáp tỉnh Savannakhet (275 km), phía nam giáp tỉnh Champasak (175 km), phía đông nam giáp tỉnh Xekong (200 km), phía tây giáp tỉnh Amnatchalern của Thái Lan, phía đông giáp các tỉnh Quảng trị, Huế của Việt Nam (80 km) [3]
Địa hình của Salavan chủ yếu là vùng bình nguyên trên cao nguyên Tạôi nối liền với cao nguyên Bolaven, phía tây có rừng quốc gia Sebangnoune, Phuxiengthong Thời tiết của tỉnh Salavan chia thành 2 khu vực: vùng khí hậu lạnh ở huyện Tạôi, Samour, Laungam và vùng khí hậu nóng gồm có huyện Salavan, Khongsedone, Lakhonpheng,Toumlan và Vapi Nhiệt độ trung bình trong năm là 260c, nhiệt độ cao nhất 410c, nhiệt độ thấp nhất 070c Thời tiết nóng nhất vào tháng 3-5, thời tiết lạnh nhất tháng 12-1 Lượng mưa trung bình 1.800-2.000mm/năm Sông Mê Công chạy qua tỉnh Salavan ở huyện Lakhonpheng
và Khongsedone có chiều dài 95 km bao gồm nhiều đảo nhỏ lớn như: đảo Donkhut, Donphimai, Donkhiew, Donmakkeur đó là đường biên giới giữa Salavan và tỉnh Amnatchalern của Thái Lan Các con sông chính của tỉnh Salavan bao gồm: Sedone, Sebangnoune, Sepone, Selanong, Sela mong, Sepakane, Selana, Sekathet
Trải qua nhiều biến động trong lịch sử, tỉnh Salavan cũng có sự phân chia các đơn vị hành chính ở các giai đoạn khác nhau Năm 1959-1963, tỉnh Salavan gồm 6 huyện: Salavan, Laungam, Pakxong, Paksenay, Paksenok (Pakxong,
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 11
Paksenay, Paksenok thuộc tỉnh Champasak hiện nay) và Khongsedone Năm 1976-1985 gồm 7 huyện: Salavan, Laungam, Khongsedone, Lakhonpheng, Vapi, Toumlan Từ năm 1986 đến nay tỉnh gồm có 8 huyện: Salavan, Laungam, Khongsedone, Lakhonpheng, Vapi, Tạôi, Toumlan và Samuor
Về dân cư, theo tạp chí “25 năm con đường phát triển tỉnh Salavan” xuất bản năm 2000 đã thống kê: năm 2000 Salavan có 294.885 dân số, trong đó có 152.161 nữ, mật độ dân số 28 người/km2 Tỉnh Salavan có hơn 4.700 nhân khẩu, 14 dân tộc gồm hai nhóm ngôn ngữ Lào - Tày và nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme, mỗi dân tộc đều có tình đoàn kết truyền thống lâu
Bảng 1.1: Thống kê dân số các dân tộc tại tỉnh Salavan năm 1995
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 12
Tính đến năm 2015, Salavan có 393.489 người Trong đó, có 202.006
nữ, gồm 5.000 hộ nhân khẩu Mật độ dân số 37 người/km2, với 10 dân tộc chủ yếu: Lào, Katang, Suồi, Lavên, Tạôi, Phù Thai, In, Nghẹ, A Lăc, Ka Tu Trong
đó, dân tộc chiếm tỷ lệ đông nhất là dân tộc Lào (chiếm 60% dân số toàn tỉnh), còn lại là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me Mỗi dân tộc đều có sắc thái văn hóa riêng của mình Về văn hóa dân gian, phổ biến là khúc ca Lăm Salavan và điệu múa Lăm vông Salavan
Ngoài cư dân bản địa, tỉnh Salavan còn có người nước ngoài đến định
cư, sinh sống và làm việc như: người Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Việt Nam, người Thái Lan, người Öc
1.1.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội của tỉnh Salavan
Sau khi giải phóng hoàn toàn đất nước (năm 1975), một trong những nhiệm vụ cốt yếu hàng đầu của nước Lào nói chung, của tỉnh Salavan nói riêng
là tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, phát kinh tế - xã hội, đưa tỉnh Salavan sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân Nhận thức vai trò của mình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào sớm đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội Lào Với chủ trương khôi phục và phát triển kinh tế, tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng; đồng thời tranh thủ viện trợ quốc tế, nhằm đáp ứng các yêu cầu cần thiết của nhà nước và của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đề ra, nhân dân các bộ tộc Lào đã phát huy hết tinh thần, trách nhiệm của mình, khai thác mọi thế mạnh, tiềm năng sẵn có vào phát triển sản xuất, từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn sau chiến tranh và làm cho kinh tế và đời sống nhân dân ổn định
Trước những yêu cầu mang tính sống còn của thời đại Với quyết tâm đưa đất nước phát triển nhanh hơn nữa, dần hội nhập với dòng chảy chung của khu vực và thế giới, Đại hội IV (năm 1986) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 13
đi đến một quyết định lịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống, mà trước hết là điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “… Từng bước tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng thành công cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội…” [46, tr 90] Trên cơ sở của đường lối đổi mới, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào từ một nước kém phát triển, đã từng bước xây dựng nền kinh tế ngày càng phát triển, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân
Đại hội Đảng bộ tỉnh Salavan lần thứ III đã diễn ra ngày 17 tháng 10 năm 1986 tại hội trường Ông Kẹo, trung tâm tỉnh Salavan, Trong Đại hội này
có Tổng bí thư Kaysone Phomvihane tham dự Đại hội đã đề ra các định hướng
và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Salavan từ năm 1986-1990 đồng thời đề ra Nghị quyết:
1 Đảm bảo vấn đề lương thực và thức ăn
2 Ngăn chặn nạn phá rừng làm vườn
3 Hoạt động phân chia khu kinh tế, có kế hoạch phát triển nông thôn toàn diện và sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả
4 Xây dựng cơ sở hạ tầng; mở rộng tuyền thông, giao thông vận tải
5 Mở rộng thương mại và việc trao đổi hàng hóa
6 Tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao trình độ cán bộ cho các lĩnh vực
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Salavan lần III, Salavan đã xây dựng cơ sở hạ tầng: giao thông vận tải, thủy lợi, bệnh viện, các trường học…, tiêu biểu đó là việc hoàn thành xây dựng thủy điện Seset, xây dựng đường số 20 và hoàn thành còn đường từ trung tâm tỉnh Salavan - Tạôii- Samuor có chiều dài 160 Km, nhiều trường học được thành lập ở khắp nơi
Xác định phát triển kinh tế là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, tỉnh Salavan đã có những chính sách cải thiện việc buôn bán, mở rộng sản xuất
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 14
hàng hóa nhằm mục tiêu tăng cường hàng hóa xuất khẩu, khuyến khích nhân dân làm ruộng thay thế việc phá rừng làm nương ở miền núi, mở rộng diện tích trồng lúa nước có năng xuất cao hơn trồng lúa nương nhằm giải quyết vấn đề lương thực ở các huyện vùng núi như Tạôii, Samuor [46, tr 95-100]
Kể từ năm 1986 đến nay, nước Lào nói chung, tỉnh Salavan nói riêng ngày càng ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhân dân có tinh thần đoàn kết, kinh tế tăng trưởng liên tục, đời sống vật chất và tinh thần, văn hóa của nhân dân không ngừng được cải thiện
Có kết quả đó là do kiên trì thực hiện đường lối đổi mới toàn diện với nguyên tắc vừa mạnh dạn, vừa sáng tạo trong việc khai thác tiềm năng, sức mạnh của dân tộc và tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế [50, tr 180] Từ năm 2011 đến năm
2015, Đảng NDCM Lào đang tập trung tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần thứ 7 (2011-2015) trên tinh thần bốn “đột phá”: Đột phá về mặt tư duy; đột phá mạnh
mẽ về phát triển nguồn nhân lực; đột phá về việc giải quyết hệ thống cơ chế, chế độ, cải cách thủ tục hành chính Nhà nước; và đột phá trong việc giải quyết xóa nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để làm cho đời sống của nhân dân ngày càng tốt hơn, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước chậm phát triển vào
năm 2020
Nông nghiệp được xác định là ngành kinh tế chủ đạo của tỉnh Salavan, diện tích dành cho việc sản xuất nông nghiệp là 100.000 ha Trong đó, làm ruộng 45.038 ha, diện tích trồng cây công nghiệp hơn 10.000 ha, trồng cà phê 20.042 ha [46, tr.10-11] Các loại cây trồng có lúa, lạc, khoai lang, ngô, sắn, dưa hấu, thuốc lá và các loại rau Cây trồng nhiều nhất là cà phê, lạc, khoai lang, ngô Về cây ăn quả, có xoài, chuối, cam, mít, nhãn, sầu riêng, me cây công nghiệp chính được trồng là cao su và cà phê
Ngành công nghiệp ở tỉnh Salavan chưa phát triển, ngoài nhà máy thủy điện Selabam có công suất 5.5 MW, Seset1 (45 MW) và Seset2 [9, tr.1509-1510],
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 15
Salavan có một số nhà máy chế biến gỗ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài sang tỉnh để hợp tác với nhà đầu tư Lào Đó cũng là một trong những nguyên nhân cho người nước ngoài sang Salavan để làm việc và định cư ở đây Bên cạnh đó, Salavan có nhà máy sản xuất bột ngô - khoai lang mới được xây dựng
5 năm trước Các nhà máy này không chỉ sản xuất bột ngô - khoai lang mà còn mua, bán ngô và khoai lang, điều này đã thúc đẩy ngành nông nghiệp ở tỉnh Salavan ngày càng phát triển
Về thủ công nghiệp, tỉnh Salavan có nhiều làng bản làm nghề thủ công, sản phẩm tiêu biểu là đồ dùng trong gia đình như: đan làn, dệt chiếu, đan lẵng, đan nong, đan liễn (típ xôi) để dùng trong nhà và bán ngoài chợ Một nghề thủ công nổi tiếng của tỉnh Salavan là nghề chạm gỗ, đồ khảm trai rất đẹp thu hút nhiều khách du lịch tại Salavan mua làm kỉ niệm Trong số các làng nghề, tiêu biểu là Huội Hún, đây là làng văn hóa của tỉnh với sản phẩm thủ công nổi tiếng
là vải do phụ nữ dân tộc Katu - dân tộc chủ yếu sống ở làng dệt Các sản phẩm đặc sắc của Huội Hún thu hút nhiều khách nước ngoài đến vừa du lịch vừa tìm hiểu văn hóa của dân tộc Katu ở bản Huội Hún mua về làm quà
Giao thông đường bộ ở Salavan tương đối thuận lợi, các tuyến giao thông chính là quốc lộ 13 nam, đường số 1 H, đường số 15A - 15B và đường số
20 Các điểm du lịch nổi tiếng ở đây có: Tạt Ló, nhà máy thủy điện Seset, Tạt
Súng, hang 9 nhánh, cao nguyên Bolaven Người Lào vẫn có câu “Mak phao Naxay, ping kay Napong, Lau khao Meung Khong, Lam vong Salavan ”(dịch
nghĩa: Quả dưa nhiều ở bản Na xay, gà nướng ngon ở bản Napông, rượu trắng ngon ở huyện khongsedone, múa Lăm vông Salavan) với hàm ý thể hiện sự hấp dẫn và phong phú của những địa danh du lịch ở tỉnh Salavan
Cư dân Salavan có nền văn hóa tốt đẹp từ lâu đời, đa số họ theo đạo Phật Hàng tháng, người dân vào chùa làm lễ để cầu mong mang sự may mắn cho mình và cả gia đình Mỗi năm, các làng bản đều tổ chức lễ riêng gọi là Bun Bản, còn các dân tộc Katang, Katu, Nghẹ có lễ hội lớn gọi là Bun La pự (lễ ăn
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 16
trâu 3 năm tổ chức một lần) Lễ hội lớn nhất ở tỉnh Salavan là lễ hội thi đua thuyền được tổ chức vào tháng 9 trong năm, trong lễ hội, một nghi lễ phổ biến
là lễ buộc chỉ cổ tay
Những món ăn đặc trưng của người dân ở Salavan là lạp Salavan, chèo
pa đẹc, chèo pa tau, chèo phác y khụ Trong một bữa cơm, không thể thiếu chèo (nước chấm) Bên cạnh đó, những người nước ngoài đang sinh sống và làm việc ở Salavan như người Trung Quốc, người Việt… ngoài việc nhanh chóng hòa nhập với văn hóa của người Lào, họ cũng mang văn hóa của nước mình thể hiện trong cách thức ăn uống, ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, việc tổ chức lễ tết riêng tạo thành bức tranh văn hóa đa dạng ở tỉnh Salavan
1.1.3 Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam-Salavan
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng có truyền thống hữu nghị, tình anh em gắn bó kéo sơn từ lâu đời Hai dân tộc Việt - Lào cùng chung dải Trường Sơn hùng vĩ, cùng uống dòng nước sông Cửu Long Trong lịch sử của mình, hai dân tộc Việt - Lào luôn thủy chung son sắt, kề vai sát cánh bên nhau
để đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do cho quốc gia của mình và nước bạn láng giềng Nói về tình hữu nghị giữa Việt Nam - Lào Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Yêu nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
Chủ tịch Xuphanuvong của Lào cũng đã khẳng định tình hữu nghị giữa
Việt Nam-Lào:“Cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn đại dương, đẹp hơn trăng rằm và thơm hơn mọi loại hoa thơm” [9, tr.9]
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 17
Sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, từ năm 1976 đến năm1985, tỉnh Salavan đã kết bạn với các tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng của Việt Nam Hai bên thường tổ chức đoàn đại biểu thăm hỏi, trao đổi bài học kinh nghiệm và giao lưu văn hóa lẫn nhau
Từ năm 1993 đến năm 1997, tỉnh Salavan đã tiếp tục tăng cường mối quan hệ hữu nghị và mối quan hệ đoàn kết đặc biệt với các tỉnh của Việt Nam như: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam Cùng với việc thăm hỏi, trao đổi bài học kinh nghiệm lẫn nhau, hai bên đã kí kết bản ghi nhớ với các nội dung thỏa thuận hợp tác trong bảo vệ biên giới và hợp tác kinh tế Sau kí kết, hai bên đã thực hiện dự án xây dựng đường, dự án phân vùng kinh tế ở huyện Samuor của tỉnh Salavan (Lào)
Từ năm 1998 đến nay, quan hệ Việt - Lào vẫn được giữ gìn và phát triển ngày càng tốt đẹp Việc hợp tác kinh tế- văn hóa tiếp tục được tăng cường
Về kinh tế, tỉnh Salavan là nơi được các nhà đầu tư Việt Nam quan tâm đến, đặc biệt là đầu tư vào chế biến lâm sản, sản xuất đồ nội thất bằng gỗ, trồng, chế biến và xuất khẩu cao su
Ngày 30 tháng 12 năm 2011, tại Viêng Chăn, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên
và môi trường Lào Akhom Toulanom đại diện cho Chính phủ Lào và ông Lê Chí Hoàng - Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần Cao su Dầu Tiếng
đã ký kết hợp tác kinh tế Theo nội dung ký kết, phía Lào cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Cổ phần phát triển Cao su Dầu Tiếng thuê 4739 ha đất tại tỉnh Champasak và tỉnh Salavan trong thời hạn 40 năm để trồng cây cao su phục vụ nội địa và hướng đến xuất khẩu
Đà Nẵng cũng là thành phố hợp tác với nhiều địa phương của Lào trong
đó có tỉnh Salavan Trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, Đà Nẵng đã
ký kết biên bản ghi nhớ với tỉnh Salavan thực hiện liên hợp tác trên các lĩnh vực: giáo dục- đào tạo, nông nghiệp…, Đà Nẵng cũng đã hỗ trợ 7 tỷ đồng giúp
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 18
tỉnh Salavan xây dựng trường cấp 2 Ngoài ra, thành phố Đà Nẵng cũng ủng hộ
250 triệu đồng để Tỉnh đầu tư thêm trang thiết bị cho trường tiểu học Salavan
Cùng với Quảng Trị, Đà Nẵng, Huế cũng là địa phương có hợp tác chặt chẽ với Lào nói chung và tỉnh Salavan nói riêng Từ năm 2002 đến năm 2012, tỉnh Thừa Thiên Huế đã đào tạo 598 lưu học sinh Lào thuộc các tỉnh Khăm Muộn,Viêng Chăn, Savannakhet và các tỉnh miền nam Lào trong đó có Salavan Hiện nay, đã có 215 sinh viên tốt nghiệp (15 đạt trình độ thạc sĩ, 123 đạt trình độ đại học, 38 đạt trình độ cao đẳng) [18, tr.1-3]
Ngoài các hợp tác về kinh tế, giáo dục thì hai bên còn tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch nhằm tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Lào, thúc đẩy hợp tác và giúp đỡ nhau giữa các địa phương, nhất là khu vực biên giới để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân các dân tộc, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị,
ổn định và phát triển [3]
Trong tương lai, mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào sẽ ngày càng phát triển, đặc biệt,việc nâng cấp cửa khẩu La Lay từ cửa khẩu địa phương sang cửa khẩu quốc tế đã góp phần quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ giao lưu hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Lào nói chung, tỉnh Quảng Trị và tỉnh Salavan nói riêng, thúc đẩy và mở ra những cơ hội hợp tác mới về kinh tế thương mại, đầu
tư và du lịch giữa các tỉnh miền trung Việt Nam với các tỉnh trung Lào - Nam Lào, thu hút các nhà đầu tư của 2 nước, của quốc tế và khu vực này, tạo tiền đề cho việc hoàn chỉnh quy hoạch toàn bộ hệ thống cửa khẩu biên giới hai nước,
hỗ trợ cho sự phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây cũng như thúc đẩy tiến trình kết nối ASEAN vào năm 2015 [14]
1.2 Cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 19
1.2.1 Cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan
Việt Nam và Lào có chung 2.069 km đường biên giới Từ xa xưa, hai nước đã có quan hệ về địa lý, văn hóa và lịch sử Vì vậy, hiện tượng người Lào đến Việt Nam cũng như người Việt Nam đến Lào làm ăn, sinh sống thường xuyên diễn ra
Theo thư tịch cổ ghi chép đầu tiên về quan hệ Việt - Lào, từ năm 550 thời tiền Lý, khi bị quân Lương đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải lánh nạn và anh ruột của vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang Lào lập căn cứ chống giặc ngoại xâm [24, tr 49] Thời Trần, nhiều quý tộc đã sang Lào xây dựng căn cứ, nuôi dưỡng lực lượng làm nơi nương tựa để tìm đường khôi phục vương triều
Tuy nhiên, có thể thấy, việc di dân đến Lào của các triều đại phong kiến trước thời Nguyễn diễn ra lẻ tẻ không tạo thành các đợt di cư cụ thể
Thế kỷ XIX, triều Nguyễn với chính sách cấm đạo và sát đạo trên khắp
cả nước khiến nhiều người Công giáo đã buộc phải bỏ làng chạy sang các nước láng giềng như Lào, Thái Lan Nhiều nhà thờ hiện nay ở Lào và Thái Lan là do các giáo dân và giáo sỹ người Việt góp sức cùng với cộng đồng giáo dân là người bản xứ xây dựng Điển hình là ở Trung và Nam Lào với các nhà thờ ở Thà Khẹc, thị xã ở Savannakhet, Pakse
Ngoài lý do trên, do thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, chế độ lao dịch và hàng loạt các loại sưu cao thuế nặng thời Nguyễn khiến người dân lâm vào tình trạng đói khổ, buộc phải chạy sang Lào để tìm kế sinh nhai
Trong ký ức của nhiều người Việt sinh sống trên đất nước Lào vẫn còn lưu giữ những câu chuyện do ông bà của họ kể lại về quá trình di cư sang Lào:
do ở Việt Nam đói khổ, nên họ phải bỏ làng xóm và tìm đường sang đây (sang Lào), họ đi nhiều nhóm, mỗi nhóm khoảng chừng 10 người, mọi người đều đi qua đường Galiki (đường số 15), khi ấy hoàn toàn phải đi bộ, vì thế phải mất gần 2 năm mới đến đây (theo lời kể của người đàn ông gần 70 tuổi ở Pakse -
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 20
khi đó thuộc tỉnh Salavan, ngày nay Pakse thuộc tỉnh Champasak) Thời Pháp thuộc, số lượng người Việt di cư sang Lào bằng con đường chính thức (do Pháp đưa người Việt sang làm quản lý, lao động trong các lĩnh vực như xây dựng cơ
sở hạ tầng, đường xá) hoặc phi chính thức (do di dân tự phát) đã tăng lên nhanh chóng Người di cư Việt Nam tập trung ở các tỉnh miền Trung và miền Nam của Lào
Theo lời kể của ông Lê Văn Nhung gần 60 tuổi Việt kiều bản Khong Nhày, huyện Khongsedone, tỉnh Salavan: “Tôi là người Việt thế hệ thứ 3, tôi nghe ông bà tôi kể lại: trước khi sang Lào họ đã từng sống ở tỉnh Thừa Thiên Huế Thời kỳ Pháp thuộc, ông cụ tôi bị thực dân Pháp đưa sang đây làm đường
số 13 và ở lại Lào tại bản Khamthong- một bản nằm gần ven đường số 13 nam hiện nay thuộc huyện Khongsedone, tỉnh Salavan Một thời gian, ông cụ tôi chuyển từ bản Khamthong sang bản Không Nhày, huyện Khongsedone, tỉnh Salavan gần sông Namxedone Đây là khu vực có đất làm ruộng và chăn nuôi khá rộng, phù hợp với sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi”
Có thể thấy, thời Pháp thuộc, hàng ngàn người Việt Nam làm phu mở những con đường chiến lược sang Lào như: đường nối liền đường số 6 Viêng Chăn - Hà Nội, đường số 13 Sài Gòn - Krachie - Pakse - Luông pha băng, đường số 12 Thà Khẹc Hạ Lào, đường số 7 Luông pha băng - Xiêng khoảng - Phú Diễn, Nghệ An, đường số 8 Thà Khẹc - Vinh, đường số 9 Đông Hà - Quảng Trị - Savannakhet Năm 1912, hệ thống đường xá thuộc địa nói chung của Đông Dương chưa phát triển, trong đó, Lào lại là nơi kém phát triển nhất Chính vì vậy, Pháp phải tăng cường nhiều nhân công, đặc biệt là đưa nhân công người Việt Nam sang Lào làm phu đường nhằm mở mang đường xá phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa tại xứ Lào Ngoài ra, Pháp đưa người Việt sang đây làm cu li đồn điền trồng các loại cây công nghiệp
Tính đến năm 1930, ở Lào có khoảng trên 10.000 người Việt chủ yếu là tiểu thương và thợ thủ công ở các trung tâm, phần lớn họ cư trú ở Luông pha
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 21
băng và Viêng Chăn Ngoài để phục vụ quá trình đẩy mạnh khai thác thuộc địa
ở Lào, thực dân Pháp đã đưa nhiều người Việt sang làm công chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa ở Lào Trong thể chế chính quyền thuộc địa thì cao nhất là người Pháp còn dưới đó là các công chức người Việt Sau giai đoạn Pháp đưa nhiều người Việt Nam sang Lào để phục vụ việc khai thác thuộc địa, thì còn làn sóng di dân tự phát đến Lào tạo thành cộng đồng người Việt, đặc biệt khi nạn đói năm 1945 do Nhật và Pháp gây ra ở miền Bắc và Trung Việt Nam là nguyên nhân khiến nhiều người Việt từ các tỉnh Trung bộ như Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị theo đường số 8 sang tỉnh Thà Khẹc và theo đường số 9 sang tỉnh Savannakhet và các tỉnh Hạ Lào Không chỉ người nông dân mà ngay cả những gia đình khá giả có chức sắc ở các làng quê Việt Nam cũng phải đối mặt với nạn đói năm 1945 và họ cũng thấy khó có thể qua khỏi nếu cứ bám trụ lại nơi chôn nhau cắt rốn nên nhiều người đã phải thiên di đi tìm con đường sống [24, tr 69] Người Việt sang Lào thường đi theo nhiều nhóm Từ năm 1939 đến năm1945, nhiều người Việt đã chọn khu miền Trung giữa tỉnh Savannakhet, tỉnh Khăm Muộn và một phần phía nam cao nguyên Bolaven (champasak, Salavan và Sekong) làm nơi định cư chủ yếu với số lượng khoảng 39 500 người Nếu so sánh với năm 1912, số dân lao động người Việt ở Lào lúc đó chỉ có 840 người thì con số trên tăng đáng kể, thể hiện sức hấp dẫn của nước Lào thời kỳ khủng khoảng kinh tế toàn cầu sau chiến tranh thứ nhất Đồng thời, đó còn là kết quả của chính sách di rời người Việt từ khu vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam sang Lào trong chiến lược khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương [19, tr 20-22]
Trong chiến tranh thế giới thứ II, phát xít Nhật chiếm Đông Dương thay thế Pháp(1940) ra sức đàn áp không chỉ người Lào mà còn tấn công vào cộng đồng người Việt trên toàn nước Lào Chính trong bối cảnh đó, lực lượng liên minh Việt - Lào được thành lập Lực lượng chủ chốt của đơn vị quân đội này chủ yếu là lớp thanh niên và trung niên người Việt cùng một số thành niên Việt
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 22
Kiều từ Thái Lan sang phối hợp cùng với quân đội Lào kháng chiến chống Pháp trong âm mưu tái chiếm Đông Dương Sau năm 1945, thực dân Pháp mở cuộc hành quân lớn vào thị xã Thà Khẹc, Savannakhet và Viêng Chăn, nhiều Việt Kiều ở vùng này buộc phải tản cư sang ISản (vùng Đông Bắc) của Thái Lan và ở lại sinh sống Hòa bình lập lại, từ năm 55-60 của thế kỳ XIX, một số Việt Kiều ở Thái Lan trở lại Lào làm ăn buôn bán và cũng có một số người Việt từ miền Nam của Việt Nam qua cửa khẩu Lao Bảo sang kiếm sống rồi định cư lại Lào
Ở Salavan, giai đoạn từ năm 1955 trở đi, một số người Việt sang đây theo đường số 13 ở lại Pakse, và một số huyện ở ven đường số 13 (Khongse done và Khamthogluong) Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, một số người Việt sang tỉnh Salavan làm ăn và kết hôn với người bản xứ tại vùng nông thôn
và vùng biên giới giữa hai nước Việt Nam - Lào, đồng thời cùng có một số người Việt Nam tại tỉnh khác của Lào sang Salavan để làm ăn và định cư tại
đây [41]
Sau năm 1975, cư dân Việt Nam sống ở dọc biên giới giữa hai nước Việt Nam - Lào đã gặp nhiều khó khăn Khi đó Thái Lan lại thi hành chính sách mở cửa, hàng hóa Thái Lan xâm nhập vào thị trường Lào nên đời sống của dân cư Lào lúc này dễ chịu hơn người Việt khá nhiều Do lực thu hút đó, mà làn sóng
di dân Việt trong thời gian này tăng lên, nhiều người vượt biên sang Lào đặc biệt là các thương nhân mua bán, vận chuyển hàng Thái Lan về Việt Nam Từ Việt Nam quần bò, áo phông, hàng mỹ phẩm nhãn hiệu Thái Lan lại được chuyển qua Liên Xô và Đông Âu, không ít người Việt đã kết hôn với người Lào và định cư làm ăn sinh sống lâu dài ở Lào
Từ các nguyên nhân kể trên có thể thấy, vấn đề di dân tự do và kết hôn (thậm chí là kết hôn không giá thú) đã tồn tại nhiều năm do đặc điểm dân tộc, thân thuộc lâu đời giữa nhân dân 2 biên giới Mặc dù hai bên Việt Nam - Lào
đã tích cực ngăn chặn xử lý số người nhập cư trái phép, nhưng tình trạng đó
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 23
không giảm mà có chiều hướng gia tăng Tính đến năm 1994, số dân Việt Nam sang Lào sinh sống dọc theo biên giới là 7 hộ với 29 khẩu Năm 1997, Lào thông báo cho Việt Nam có 104 hộ với 868 người Việt Nam di cư trái phép sang Lào Theo thống kê của Lào năm 2004, có 680 hộ với 6.498 người Việt Nam đã di cư tự do sang Lào Những năm gần đây, sự qua lại của người Việt Nam sang Lào tăng hơn bằng nhiều con đường như: một là thăm thân nhân rồi tìm cách ở lại sinh sống ở Lào; hai là sang Lào theo giấy thông hành của hai tỉnh kết nghĩa nhưng tiến sâu vào nội địa hết hạn giấy thông hành lại xin gia hạn rồi tìm cách ở lại Lào; ba là tự do sang Lào tìm kiếm công ăn việc làm, buôn bán hoặc sang du lịch rồi ở lại không về nước
Ngoài những người nhập cư trái phép bằng con đường nêu trên, người Việt định cư ở Lào bằng cách theo các công trình hợp tác hay đầu tư của hai nước, của các doanh nghiệp Lào, sau khi hết hợp đồng, một số lao động ở lại, một số người về nước sau một thời gian tìm cách trở lại Lào để làm ăn sinh sống Thí dụ ở Công ty cổ phần chế biến gỗ ở huyện Laungam tỉnh Salavan, ông Viêng Savane đã đưa nhiều công nhân người Việt sang đây để xây dựng công ty, khi công trình xây dựng xong một số công nhân đã ở lại và làm ăn sinh sống với người Lào
Tóm lại, người Việt Nam sang Lào có thể chia thành hai giai đoạn: (1) Trong chiến tranh một phần di cư tự phát do điều kiện làm ăn ở Lào thuận lợi hơn, số khác di cư theo tổ chức để phục vụ mục đích khai thác thuộc địa của Pháp sau đó ở lại Lào [16, tr 9]
(2) Giai đoạn hòa bình, đa số người Việt di cư tự phát với mục đích để làm kinh tế, đây là nguyên nhân chính dẫn đến người Việt Nam định cư tại Lào trong thời gian hiện nay
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 24
Salavan là một trong 3 tỉnh của Lào (Champasak, Sekong và Attapeu)
với các dự án hợp tác phát triển kinh tế “Ba quốc gia mười thành phố” Salavan
có nhiều người nước ngoài đến làm ăn sinh sống, trong đó, người Việt Nam chiếm số lượng nhiều nhất, có thể chia cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh
Salavan thành 3 bộ phận như sau:
Bộ phận Việt Kiều: là những người Việt Nam định cư ở Lào từ lâu đời
nhưng chưa nhập quốc tịch Lào Việt Kiều được chính phủ Lào cho phép định
cư ở Lào với những quy định hết sức cụ thể Tuy được cấp hộ khẩu và chứng minh thư Lào nhưng họ vẫn mang quốc tịch Việt Nam, họ được nhà nước Lào quản lý theo những quy định của ngoại kiều không được tham gia bầu và ứng
cử ở Lào Người Lào lấy vợ hay chồng là người Việt hay người Việt lấy vợ chồng là người Lào thì con cái của họ có quyền chọn quốc tịch của bố hay mẹ
Bộ Công an Lào chấp nhận cho các con cháu nhập quốc tịch Lào nếu bố mẹ đồng ý Do vậy, có một thực tế, có những quy định của Lào đời bố mẹ không được phép làm, đến đời con cháu được phép làm nếu có quốc tịch Lào
Theo con số thống kê của Sở Chỉ huy bảo vệ an ninh tỉnh Salavan ngày 27 tháng 7 năm 2015, tổng số Việt Kiều đã đăng ký hộ khẩu màu đỏ
là 160 người; trong đó có 81 nam, 79 nữ Việt Kiều tỉnh Salavan tập trung sinh sống và làm ăn ở 4 huyện: Khongsedone, Laungam, Salavan và Samuor, đông nhất là ở huyện Khongsedone khoảng 139 người, trong đó có
69 nam và 70 nữ Còn theo con số thống kê của Hội Việt Kiều huyện Khongsedone thì năm 2008, tổng số Việt Kiều khoảng 60 hộ gia đình với
224 người (kể cả những người chưa có hộ khẩu màu đỏ) trong đó, có 102 nam và 122 nữ Hiện nay (năm 2015), tổng số Việt Kiều là 64 hộ gia đình với 285 người, trong đó, có 139 nam và 146 nữ, họ là Việt Kiều thế hệ thứ
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 25
ba, thứ tư và thứ năm, quê gốc ở Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị
Nguồn: Phòng quản lý hộ khẩu công an tỉnh Salavan cung cấp
Năm 2001, Hội người Việt ở Salavan (còn gọi là Hội Việt Kiều), được
thành lập tại bản Không Nhày, huyện Khongsedone, tỉnh Salavan, dưới sự chỉ đạo của Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại 4 tỉnh miền nam của Lào gồm Champasak, Salavan, Sekong và Attapue, có cơ quan làm việc ở huyện Pakse, tỉnh Champasak Năm 2001, Hội người Việt chỉ có 54 hộ gia đình với 346 người ở huyện Khongsedone Đến năm 2008, Hội Việt Kiều đã có 60 hộ gia đình, với 224 người Hiện nay, Hội người Việt gồm 64 hộ gia đình với 285 người Ban Chấp hành hội người Việt huyện Khongsedone tỉnh Salavan gồm 5 thành viên:
1 Ông Lê Văn Nhung - Chủ tịch hội
2 Ông Trần Quang Huy - Phó chủ tịch hội
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 26
3 Ông Ngô Lịch - Ủy viên Ban chấp hành hội
4 Ông Trần Sơn - Ủy viên Ban chấp hành hội
5 Bà Võ Thị Kim Loan - Ủy viên Ban chấp hành hội [29, tr.1]
Ban Chấp hành hội cùng toàn thể bà con Việt Kiều luôn chấp hành, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng, nhà nước Lào, tích cực tham gia đóng góp vào các hoạt động xã hội của nơi cư trú Bên cạnh đó, họ luôn luôn hướng về tổ quốc thân yêu của mình bằng việc làm như: hưởng ứng tích cực giúp đỡ đồng bào trong nước, ủng hộ giúp đỡ nạn nhân, chất độc màu da cam, các đoàn bộ đội Việt Nam sang tìm hài cốt các đồng đội đã hy sinh tại đất Lào cũng như huyện Khongsedone Một số Việt kiều chưa sang Việt Nam bao giờ nhưng họ luôn yêu thương Việt Nam và hướng về tổ quốc của mình
Bộ phận thứ hai: là người Việt đã nhập quốc tịch Lào gọi là người Lào
gốc Việt, những người Việt nhập quốc tịch Lào có quyền lợi và nghĩa vụ đầy
đủ như người Lào Họ được làm tất cả mọi ngành nghề như người Lào, có thể mua bán bất động sản như: nhà ở, đất, xe và được cấp giấy phép kinh doanh, được học tại các trường học ở Lào, kể cả trường Đại học trong nước và nước ngoài Từ năm 1993-1994, chính phủ Lào cho phép người Việt nhập quốc tịch Lào Công dân nước ngoài hoặc người không có quốc tịch Lào có thể được nhập quốc tịch theo đơn xin gia nhập quốc tịch của người đó, nếu xét thấy có
đủ các điều kiện sau:
1 Tuổi từ 18 trở lên
2 Tuân thủ hiến pháp và pháp luật của nước CHDCND Lào
3 Biết nói, viết, đọc chữ Lào thành thạo
4 Có bằng chứng có thể chứng minh mình đã hòa nhập vào cộng đồng xã hội và phong tục tập quán Lào; tôn trọng truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Lào
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 27
5 Có sức khỏe tốt, không mặc bệnh truyền nhiễm, không nghiện ma túy
6 Không có tiền án, tiền sự
7 Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Lào
8 Không gây thiệt hại đến lợi ích của quốc gia Lào
9 Đã thôi hoặc đã từ bỏ quốc tịch cũ của mình
10 Đã ở Lào liên tục từ 10 năm trở lên, đã có hộ nhân khẩu và chứng minh thư do Lào cấp; riêng với người có trình độ chuyên môn bậc chuyên gia quy định thời hạn trên có thể ngắn xuống
11 Có cuộc sống kinh tế ổn định [25, tr 65]
Để thuận lợi trong cuộc sống, đã có một số người Việt quyết định nhập quốc tịch Lào, nhưng số lượng người Việt nhập quốc tịch Lào ở tỉnh Salavan chưa chính xác Theo thống kê của Sở Chỉ huy bảo vệ an ninh, phòng công an nhân khẩu Salavan, năm 2015 Salavan có 14 người Việt đã làm đơn xin gia nhập quốc tịch Lào Nhưng, theo thống kê năm 2015 của Hội người Việt Kiều
có hơn 10 gia đình (trong đó có 74 người, 38 nữ ) nhập quốc tịch Lào Cuộc sống của người Lào gốc Việt ổn định và tốt hơn người Việt trong bộ phận khác
họ đã trở thành người Lào và nằm trong tổng dân số của tỉnh Salavan
Bộ phận thứ ba: là người Việt cư trú tạm thời: đây là những người Việt
sang Lào sau năm1975, họ có giấy tờ hợp lệ như giấy Thông hành hay Hộ chiếu (trừ những người di dân tự do và những người phạm tội ở Việt Nam, trốn chạy sang Lào) Giấy thông hành thường do các tỉnh dọc biên giới cấp Theo quy định của hai nước, người có các loại giấy Thông hành này không thể đi sâu vào nội địa Lào, nếu hết hạn mà không xin gia hạn vẫn tiếp tục ở lại Lào nếu bị công an Lào phát hiện thì sẽ bị phạt, một lần bị phạt 300.000 kíp Lào/1 người (tương đương 810.000 đồng Việt Nam) Công nhân Việt Nam làm việc trong các
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 28
công trình, dự án nếu quá hạn lưu trú mà không gia hạn thì các chủ doanh nghiệp, chủ công trình hay dự án sẽ bị phạt nặng (250 USD /1 người) [19, tr 34-35] Phần lớn người Việt cư trú tạm thời ở Lào đều chưa có cuộc sống ổn định họ thường sống tập trung từ 2 đến 3 gia đình nhau thuê nhà làm ăn sinh sống
Ở tỉnh Salavan, người Việt định cư tạm thời chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số người Việt Theo báo cáo của công an quản lý người nước ngoài tỉnh Salavan, thì số lượng thống kê người Việt ở bộ phận này chưa có con số thật chính xác do họ thường xuyên di chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác để tìm kiếm việc làm
Bảng 1.3: Thống kê người Việt Nam nhập cảnh tại tỉnh Salavan
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 29
Từ bảng thống kê trên có thể thấy số người Việt nhập cảnh sang tỉnh Salavan năm 2009 thấp nhất (468 người, trong đó có 101 nữ), và đông nhất là năm 2012 (1.174 người, trong đó có 304 nữ) Theo thống kê của Sở Lao động phúc lợi và xã hội tỉnh Salavan cho đến năm 2015 toàn tỉnh Salavan có khoảng 1.038 người lao đông Việt Nam cư trù tạm thời tại Salavan, trong đó có 246 nữ Những người Việt cư trú tạm thời ở tỉnh Salavan đa số là người có nguồn gốc
từ tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình , lấy người Việt cư trú tại huyện Laungam là một ví dụ (bảng 1.4)
Bảng 1.4: Thống kê quê quán người Việt Nam cư trú tạm thời
tại huyện Laungam, tỉnh Salavan năm 2015
Nguồn: Phòng Lao động phúc lợi và xã hội huyện Laungam
Nhìn chung, người Việt Nam ở Lào có nhiều thuận lợi trong hoạt động kinh tế bởi Việt Nam và Lào là hai nước có mối “quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện” tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp nhau phát triển sản xuất bảo vệ an ninh
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 30
chung Người Việt ở Lào đã được hưởng hầu như trọn vẹn tình hữu nghị đặc biệt đó Do vậy, việc làm ăn, đi lại của người Việt ở Lào khá thuận lợi, chỉ cần một tấm hộ chiếu, người Việt có thể đến Lào sinh sống
Ngoài ra, với sự quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ của Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Lào, bà con người Việt càng có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để làm ăn sinh sống Cho đến nay, ở tỉnh Salavan đã có hội người Việt Kiều được thành lập và hoạt động theo luật pháp của Lào, là một trong 12 hội người Việt ở Lào, góp phần giúp đỡ bà con người Việt trong làm ăn sinh sống, phát triển sản xuất và gắn bó với quê hương, xứ sở
Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài với những chủ trương, chính sách hết sức thuận lợi, gần đây nhất là Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối vối cộng đồng người Việt ở nước ngoài Đối với bà con người Việt ở các nước lân cận, còn nghèo như Lào, Campuchia, nhà nước có những hỗ trợ nhất định cho bà con nhất là về giáo dục đào tạo, tạo điều kiện học hành cho cộng đồng người Việt
Bên cạnh những thuận lợi ấy, cộng đồng người Việt ở Salavan cũng phải đối diện với những khó khăn nhất định như:
Nền kinh tế Lào nói chung, đặc biệt là ở tỉnh Salavan nói riêng chưa phát triển, nhu cầu tiêu dùng chưa cao, thị trường nhỏ, sức mua hạn chế Do vậy, không kích thích sự gia tăng trong đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của người Việt, không thể làm ăn lớn nếu như không có ý tưởng về mở rộng kinh doanh buôn bán ra nước láng giềng hoặc đầu tư về Việt Nam
Trong quá trình làm ăn sinh sống ở Salavan, nhiều người Việt đã chịu ảnh hưởng văn hóa kinh doanh của người Lào “không thích cạnh tranh và không ưa mạo hiểm” trong thương trường Đó cũng là điểm hạn chế trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế có nhiều cạnh tranh quyết liệt Một thực tế mà người Việt ở Lào phải đối diện đó là những thách thức trong
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 31
cạnh tranh buôn bán, kinh doanh của người Việt với người Hoa - những thương nhân rất giỏi ở Lào
1.2.2 Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt Nam
Đối với người nước ngoài, Chính phủ Lào có những quy định được ghi trong Hiến pháp và các văn bản sau:
Điều 36, trang 11, Hiếp pháp Lào quy định “Những ngoại kiều mà chưa
có quốc tịch Lào đều có quyền được bảo vệ nhân quyền và quyền tự do theo như Hiếp pháp Lào quy định, có quyền khiếu kiện trước tòa án các cơ quan nhà nước Lào Mặt khác, họ phải tuân thủ luật pháp cũng như các quy định của pháp luật của nhà nước Lào Người Việt cũng như người nước ngoài khác đang sống ở Lào phải thực hiện pháp luật của chính phủ Lào và tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân Lào, nghiên cấm mọi hành vi xâm hại đến sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Lào và mọi hành vi trái với đường lối chính sách đối nội đối ngoại của Lào” [19, tr 93]
Trong chỉ thị số 110/97, ngày 20/02/1997 của Bộ trưởng Bộ nội vụ Lào
về việc tổ chức quản lý người nước ngoài, điều 4 trang 3 đã nêu rõ: “những người nước ngoài mà được Bộ Nội vụ đồng ý định cư và làm ăn sinh sống tự
do vĩnh viễn ở Lào thì được cấp chứng minh thư tạm thời của Cục Quản lý xuất-nhập cảnh và được Cục An ninh kiểm soát Nếu trong 7 năm, những người
đó có biểu hiện tốt thì giao cho Cục Quản lý dân số thuộc văn phòng quản lý người nước ngoài, cho phép được nhập hộ khẩu và làm chứng minh thư ngoại kiều được quyền cư trú ở Lào”
Từ những quy định chung đối với ngoại kiều như vậy khi đem áp dụng đối với người Việt ở Lào thì người Việt có nhiều lợi thế hơn, bởi lẽ so với một
số nước trong khu vực thì quan hệ giữa Việt và Lào từ trong lịch sử đã tốt đẹp
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn 32
Hiện tại, hai nước đang trong mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Do vậy,
về cơ bản người Việt đến Lào làm ăn sinh sống khá thoải mái Họ nhanh chóng được chính phủ Lào quan tâm giúp đỡ để sớm hòa nhập vào xã hội Lào Kể từ khi hai nước xây dựng mối “quan hệ đặc biệt” nhất là từ khi hai nước hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước năm 1975, thì thân phận người Việt ở Lào càng có nhiều thuận lợi hơn Chẳng hạn trước đây người Việt nhập quốc tịch Lào phải nộp 100 USD lệ phí, nay đã được bãi bỏ và được Quốc hội Lào đặc cách nhập quốc tịch Lào không phải qua các thủ tục phức tạp như các trường hợp người nước khác
Tuy nhiên, một thực tế còn tồn tại đó là có người Việt cho rằng chính sách của chính phủ Lào đối với Việt kiều phức tạp, rắc rối và thiếu thống nhất nên giấu nguồn gốc Việt Nam để được hưởng các chính sách ưu đãi của người dân bản địa trong cuộc sống thường nhật cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh Nhưng nhìn chung, người Việt ở Lào được chính phủ Lào tạo mọi điều kiện thuận lợi trong cuộc sống
Người Việt Nam di cư sang tỉnh Salavan trong các khoảng thời gian và giai đoạn khác nhau, nhưng tập trung nhiều nhất là thời kỳ Lào là thuộc địa của thực dân Pháp Để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp