1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật canh tác đến năng suất, chất lượng giống khoai lang shan thàng i tại xã shan thàng, thành phố lai châu, tỉnh lai châu

79 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM SÙNG A HỒ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN N

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

SÙNG A HỒ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ

BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG GIỐNG KHOAI LANG SHAN THÀNG I TẠI XÃ SHAN THÀNG, THÀNH PHỐ LAI CHÂU,

TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - NĂM 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

SÙNG A HỒ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ

BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG GIỐNG KHOAI LANG SHAN THÀNG I TẠI XÃ SHAN THÀNG, THÀNH PHỐ LAI CHÂU,

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Viết Hưng

2 TS Nguyễn Thiên Lương

THÁI NGUYÊN - NĂM 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Viết Hưng

và TS Nguyễn Thiên Lương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Nguồn gốc cây khoai lang 4

1.2 Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới và Việt Nam 5

1.2.1 Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình sản xuất Khoai lang ở Việt Nam 8

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về giống và kỹ thuật trồng khoai lang 10

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về giống khoai lang ở trên thế giới và trong nước 10

1.3.2 Những kết quả nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh khoai lang 17

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22

2.3.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng cho các thí nghiệm 25

2.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm trồng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống khoai lang Shan thàng I tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu vụ Hè Thu năm 2014 28

3.1.1 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống khoai lang Shan thàng I 28

3.1.2 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến tăng trưởng chiều dài thân chính của giống khoai lang Shan thàng I tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu 29

3.1.3 Khả năng tăng trưởng và tích lũy chất ở thân lá khoai lang Shan thàng I 30

3.1.4 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến khả năng tăng trưởng và tích lũy chất tươi khô ở củ khoai lang Shan thàng I 31

3.1.5 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của khoai lang Shan thàng I 32

3.1.6 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến tỷ lệ và năng suất chất khô thân lá, củ của giống khoai lang Shan thàng I 34

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng năng suất, chất lượng của giống Khoai lang Shan thàng I tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu vụ Hè Thu 2014 35

3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tăng trưởng chiều dài thân chính của giống khoai lang Shan thàng I 36

3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và tích lũy chất khô ở thân lá của giống khoai lang Shan thàng I 37

Trang 7

3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và tích

lũy chất tươi khô ở củ của giống khoai lang Shan thàng I 38

3.2.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của giống khoai lang Shan thàng I 39

3.2.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ và năng suất chất khô thân lá, củ của giống khoai lang Shan thàng I 40

3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu vụ Đông Xuân 2014 - 2015 42

3.3.1 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sự tăng trưởng chiều dài thân chính của giống khoai lang Shan thàng I 42

3.3.2 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sự tăng trưởng số lá trên thân chính của giống khoai lang Shan thàng I 44

3.3.3 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sự tăng trưởng số cành cấp 1, cấp 2 trên thân chính của giống khoai lang Shan thàng I 45

3.3.4 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến diễn biến trị số T/R của giống khoai lang Shan thàng I 47

3.3.5 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống khoai lang Shan thàng I 48

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 58

Trang 8

DHNTB : Duyên hải Nam Trung Bộ

MNPB : Miền núi phía Bắc

TBKT : Tiến bộ kỹ thuật

TAGS : Thức ăn gia súc

HQKT : Hiệu quả kinh tế

Trang 9

qua các giai đoạn của giống khoai lang Shan thàng I tại

xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu - vụ Hè Thu 2014 28Bảng 3.2: Động thái tăng trưởng chiều dài thân chính của giống

khoai lang Shan thàng I ở các thời điểm trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 29Bảng 3.3: Động thái tăng khối lượng thân lá tươi, khô của giống

khoai lang Shan thàng I ở các thời điểm trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 30Bảng 3.4: Động thái tăng khối lượng củ tươi, khô của giống khoai

lang Shan thàng I ở các thời điểm trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 31Bảng 3.5: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống

khoai lang Shan thàng I ở các thời điểm trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 33Bảng 3.6: Tỷ lệ và năng suất chất khô thân lá, củ của giống khoai

lang Shan thàng I ở các thời điểm trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 34Bảng 3.7: Động thái tăng chiều dài thân chính của giống khoai lang

Shan thàng I ở các mật độ trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 36Bảng 3.8: Động thái tăng khối lượng tươi, khô trong thân lá của

giống khoai lang Shan thàng I ở mật độ trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 37

Trang 10

Bảng 3.9: Động thái tăng khối lượng tươi, khô trong củ của giống

khoai lang Shan thàng I ở các mật độ trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 38Bảng 3.10: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống

khoai lang Shan thàng I ở các mật độ trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 40Bảng 3.11: Tỷ lệ và năng suất chất khô thân lá, củ của giống khoai

lang Shan thàng I ở các mật độ trồng khác nhau tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 41Bảng 3.12: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sự tăng

trưởng chiều dài thân chính của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014-2015 42Bảng 3.13: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sự tăng

trưởng số lá trên thân chính của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014-2015 44Bảng 3.14: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sự tăng

trưởng số cành cấp 1, cấp 2 trên thân chính của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014 -2015 46Bảng 3.15: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến diễn biến

tỷ số T/R của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014-2015 47Bảng 3.16: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến các yếu tố

cấu thành năng suất và năng suất của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014-2015 48Bảng 3.17: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến tỷ lệ chất

khô và tinh bột, năng suất củ khô, năng suất tinh bột của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014-2015 50Bảng 3.18: Hiệu quả kinh tế của một số tổ hợp phân khoáng bón cho

giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ

Đông Xuân 2014-2015 51

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến năng suất củ, năng

suất thân lá tươi và năng suất sinh khối của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 33 Hình 3.2: Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến năng suất thân lá khô, năng

suất củ khô và năng suất củ thương phẩm của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 35 Hình 3.3: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất thân lá khô, năng

suất củ khô, năng suất củ thương phẩm của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Hè Thu 2014 41 Hình 3.4: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến năng suất

thân lá và năng suất củ của giống khoai lang Shan thàng I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014-2015 49 Hình 3.5: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến năng suất

củ khô, năng suất tinh bột của giống khoai lang Shan thàng

I tại thành phố Lai Châu vụ Đông Xuân 2014-2015 50

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây Khoai lang (Ipomoea batatas (L) Lam) là cây lương thực quan

trọng, đồng thời là nguồn lương thực chính của nhiều nước trên Thế giới, nhất là ở những nước nghèo và chậm phát triển

Ở Việt nam khoai lang là loại cây có củ được trồng phổ biến, có tính thích ứng rộng; do đó Khoai lang được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau và là cây lương thực đứng thứ 3 sau lúa và ngô Vì vậy Khoai lang được xem như là một loại cây lương thực cứu đói cho vùng nghèo trong những năm mất mùa Khoai lang là cây đa dụng, có thời gian sinh trưởng ngắn (từ 3-5 tháng) Vì thế khoai lang được trồng như cây bảo hiểm phối hợp trong hệ thống canh tác với cây có hạt (như lúa) ở Đông Nam Á, với cây có củ (khoai

mỡ, khoai nước…) ở châu Úc Trên thế giới khoai lang đứng thứ 7 trong các cây lương thực [22]

Tổ chức FAO của Liên Hợp Quốc đã đánh giá Khoai lang là thực phẩm

bổ dưỡng tốt nhất của thế kỷ 21, đang được thị trường thế giới rất ưa chuộng

Khoai lang có rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, vị ngọt có thể sử dụng củ

để ăn tươi, thái lát phơi khô, chế biến tinh bột dùng làm lương thực, thức ăn chăn nuôi, thân lá có thể làm rau xanh Ngoài ra Khoai lang có thể chế biến các sản phẩm tinh bột biến tính, các sản phẩm hoá công, các sản phẩm lên men thuỷ phần được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp Hiệu suất sản xuất ethanol sinh học từ Khoai lang cao hơn hẳn Mía đường, Cao lương, Ngô, Sắn và Khoai tây Khoai lang rất dễ trồng, nhân giống bằng dây,

ít bị sâu, bệnh, chi phí đầu tư trên đơn vị diện tích trồng Khoai lang thấp thích hợp với nhiều hộ nông dân nghèo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay Với những ưu việt như vậy, nên cây Khoai lang ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm để đưa cây Khoai lang trở thành cây trồng chính trong nền sản xuất nông nghiệp

Trang 13

Lai châu là một tỉnh miền núi phía Tây bắc, thu nhập của người dân từ nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn Ngoài một số cây lương thực chính như Lúa, Ngô, Sắn thì Khoai lang vẫn giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng hàng năm diện tích trồng Khoai lang khoảng 7.300 ha, sản lượng đạt 46.300 tấn (Nguồn Tổng cục thống kê, 2013) Đặc biệt trong sản xuất Khoai lang ở Lai Châu hiện nay thì giống khoai lang Shan Thàng I là giống địa phương có chất lượng cao đã trở thành sản phẩm hàng hoá đặc sản được thị trường ưa chuộng Tuy nhiên trong sản xuất khoai lang còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, dẫn đến năng suất chất lượng thấp, hiệu quả kinh tế và giá trị hàng hóa thấp

do chưa có biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý (như thời vụ, mật độ trồng và

tổ hợp phân bón ) phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương nên giá trị kinh tế Khoai lang không mang lại hiệu quả cao so với tiềm năng của nó

Trước thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của

một số biện pháp kỹ thuật canh tác đến năng suất, chất lượng giống khoai lang Shan thàng I tại xã Shan Thàng, Thành phố Lai châu, tỉnh Lai Châu" là việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu xác định được một số biện pháp kỹ thuật thời vụ, mật độ trồng, lượng phân bón thích hợp nhằm tăng năng suất, chất lượng Khoai lang Shan thàng I, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân tại vùng nghiên cứu, cũng như tỉnh Lai châu và vùng miền núi Tây bắc Việt Nam

2.2 Mục tiêu riêng

- Xác định ảnh hưởng của thời điểm trồng đến năng suất, chất lượng giống khoai Khoai lang Shan thàng I vụ Hè Thu 2014 tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

- Xác định ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, chất lượng giống khoai Khoai lang Shan thàng I vụ Hè Thu 2014 tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

Trang 14

- Xác định ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến năng suất, chất lượng giống khoai Khoai lang Shan thàng I vụ Đông Xuân 2014 - 2015 tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp một số dẫn liệu khoa học quan trọng làm cơ sở để địa phương xây dựng qui trình kỹ thuật canh tác Khoai lang, nhằm tăng khả năng sinh trưởng, phát triển, tính chống chịu và năng suất chất lượng của những giống Khoai lang đặc sản đang được sử dụng trong thực tế sản xuất của địa phương

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài:

- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho giống Khoai lang tại xã Shan thàng, Thành phố Lai châu, tỉnh Lai châu góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ở địa phương

- Khuyến cáo áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, hợp lý vào sản xuất Khoai lang tại địa phương nghiên cứu để đạt hiệu quả cao nhất

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc cây khoai lang

Cây Khoai lang (Ipomoea batatas (L) Lam) là cây hai lá mầm, thuộc

họ bìm bìm (convolvulaceae), trong tổng số hơn 1000 loài thuộc họ này chỉ

có Ipomoea batatas là có ý nghĩa kinh tế quan trọng Cây Khoai lang với thân

phát triển lan dài và các lá có nhiều hình dạng khác nhau, từ dạng lá đơn đến chia thuỳ sâu Cây Khoai lang có nguồn gốc từ bản đảo Yucatan ở châu Mỹ Latinh, dường như là cây có củ được phổ biến nhất (tập sách lương thực và dinh dưỡng của FAO, 1992) Khoai lang thích nghi và được trồng ở nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, có thời gian sinh trưởng ngắn hơn các lọai cây

có củ khác và có thời vụ không nghiêm ngặt trong các điều kiện khí hậu khác nhau và có thể trồng được quanh năm

Hiện nay Khoai lang được trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 40° Bắc và 32° Nam và lên đến độ cao tới 3000m so với mực nước biển Các thương gia Châu Âu đã mang cây Khoai lang đến Châu Phi, Châu Á và Đông Thái Bình Dương Cây Khoai lang được đưa vào Trung quốc năm 1594 và Papua Niu Ghine khoảng 300 năm đến 400 năm trước Hiện nay Khoai lang là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm 61% của vùng nông thôn Papua Niu Ghine Các bằng chứng khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học cho thấy Châu Mỹ (Trung hoặc Nam Mỹ) là khởi nguyên của cây khoai lang

Kết quả khảo cổ đã tìm thấy những mẫu Khoai lang khô tại hang động Chilca Casmaowr Peru Đồng thời cây khoai lang cũng được phát hiện tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi sấp xỉ 2000 năm trứơc Công nguyên Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định trung tâm khởi nguyên của cây khoai lang là Trung Nam Mỹ Sau đó thực sự lan rộng ở châu Mỹ khi Cristôp Côlông phát hiện năm 1492 và truyền đi khắp vòng quanh thế giới của Magenlăng năm 1521 và khoai lang lan truyền khắp thế giới

Trang 16

Cây Khoai lang được đưa vào địa phận của Trung quốc từ Philippin và

có mặt ở tỉnh Phúc Kiến năm 1594, song cây Khoai lang được phát hiện ở những vùng gần biên giới Miến điện (Myama ngày nay) từ năm 1563 Điều này cho thấy việc du nhập cây khoai lang vào Trung quốc có thể sớm hơn từ

Ấn độ hoặc Miến điện

Ở Việt Nam thì cây Khoai lang từ trước đến nay phần lớn các học giả nước ta đều cho rằng cây khoai lang là cây trồng nhập nội, nó không có trong các loại cây trồng của nền nông nghiệp cổ xưa của người Việt Theo tài liệu cổ như sách “Thực vật bản thảo”, “Lĩnh nam tập ký” và “Quảng Đông tân ngữ” của

Lê Quý Đôn (Viện Hán nôm, 1995) thì cây Khoai lang chắc chắn là cây trồng nhập nội và có thể được đưa vào nước ta từ nước Lã Tống (đảo Luzon ngày nay) vào khoảng cuối nhà Minh cai trị nước ta [10]

Theo sách “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt nam”, nhà xuất bản Khoa học xã hội và nhân văn 1987 đã viết : “Năm Mậu ngọ (1558) Khoai lang từ Philippin được đưa vào Việt nam, trồng đầu tiên ở An Trường thủ đô tạm thời của đời Lê Trung Hưng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ xuân tỉnh Thanh hoá” Từ đó cây Khoai lang trở thành một yếu tố quan trọng trong hệ thống nông nghiệp Việt nam

1.2 Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới

Khoai lang là một cây trồng cạn và có khả năng chịu được nhiều điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau Do Khoai lang có thể chịu lạnh tốt hơn các cây có củ nhiệt đới khác (sắn, khoai sọ…), vì vậy nó có thể sinh trưởng và phát triển bình thường ngay cả ở độ cao 2500m so với mặt biển Khoai lang đã trở thành cây lương thực chính của dân cư miền núi cao tại Uganda, Ruanda và Burundi của Châu Phi

Hiện thế giới có 115 nước sản xuất Khoai lang (FAO STAT 2014)[30]; chủ yếu tại các nước đang phát triển và trên các chân đất nghèo dinh dưỡng

Trang 17

với chi phí đầu tư thấp Năm 2013 toàn thế giới trồng 8,1 triệu ha Khoai lang, sản lượng đạt trên 106 triệu tấn (bảng 1.1), trong đó Châu Á đạt 88,5 triệu tấn, (bằng 83% sản lượng toàn bộ thế giới), riêng Trung quốc đạt 81,2 triệu tấn

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới năm 2013

(tấn/ha)

Diện tích (1000 ha)

Sản lƣợng (1000 tấn) Thế giới

Trang 18

Tại Trung quốc Khoai lang chủ yếu được dùng để làm thức ăn gia súc (TAGS) hoặc làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, các nhu cầu sử dụng khác cũng đang phát triển, vì thế tạo động lực cho thúc đẩy sản xuất Khoai lang

Tứ xuyên và Sơn đông là hai tỉnh sản xuất Khoai lang nhiều nhất của Trung quốc

Gần một nửa sản lượng Khoai lang của Châu Á được sử dụng cho chăn nuôi, trong khi phần còn lại được sử dụng chủ yếu cho người dưới dạng luộc chín để ăn tươi

Năng suất Khoai lang toàn thế giới năm 2013 đạt 12,6 tấn/ha, nhưng có

sự khác biệt lớn giữa các Châu lục: Châu Á đạt 20,0 tấn/ha, Châu Mỹ đạt 13,1 tấn/ha nhưng Châu Phi chỉ đạt 5,4 tấn/ha

Tại châu Á, Trung quốc là nước số 1 của thế giới về diện tích, năng suất

và sản lượng Năng suất Khoai lang đạt 22,3 tấn/ha trên tổng diện tích trồng 3,66 triệu ha, tương đương 82,9% diện tích Khoai lang của châu Á và 45,1% diện tích khoai lang toàn thế giới

Trong khi Châu Phi có các điển hình năng suất khoai lang cao nhất thế giới trên diện tích hẹp (Sê-nê-gan đạt 33,3 tấn/ha trên tổng diện tích 2.100 ha

và Ai cập đạt 30,6 tấn/ha trên diện tích 12.100 ha), nhưng năng suất Khoai lang trung bình của châu lục này chỉ đạt 4,4 tấn/ha, tương đương 1/5 năng suất Khoai lang của châu Á và của Trung quốc Thực tế này phản ánh tiềm năng để cải thiện năng suất Khoai lang ở châu Phi vẫn còn rất cao

Sản lượng Khoai lang tiêu thụ hàng năm trên đầu người (FAO, 2014) ước đạt 10 kg tại châu Phi, 20 kg tại châu Á, 5 kg tại châu Mỹ La Tinh, 7 kg tại Nhật bản và chỉ khoảng 2 kg/năm tại Mỹ, nhưng cao tới 75 kg tại châu Đại Dương (Papua New Ghinea và các đảo Thái Bình Dương) Trong cùng một khu vực địa lý, mức tiêu thụ trên đầu người cũng rất khác nhau Tại châu Phi chẳng hạn, mỗi người Ruanda tiêu thụ tới 160kg/ năm và mỗi người Burundi tiêu thụ khoảng 100 kg/năm Tổng sản lượng khoai lang năm 2010 của cả lục địa châu Phi chỉ đạt 14,23 triệu tấn và chủ yếu để làm lương thực

Trang 19

Đối với các nước đang phát triển tại chây Mỹ La Tinh và vùng Ca-ri-bê như Cu ba và Ha-i-ti, Khoai lang có tầm quan trọng đáng kể, xét về diện tích

và sản lượng Sự suy giảm năng suất Khoai lang tại Cu ba do sâu bệnh phá hại những năm gần đây được cho là do thiếu thuốc hóa học và biện pháp phòng trừ sinh học Tại các nước khác như Pê-ru chẳng hạn, năng suất và sản lượng Khoai lang được cải thiện đáng kể là nhờ sự giúp đỡ của Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP), trong đó có việc người dân áp dụng rộng rãi các tiến bộ về giống và kỹ thuật canh tác do CIP giới thiệu

Mỹ hàng năm trồng khoảng 30.000 - 40.000 ha khoai lang, tập trung chủ yếu tại các bang Bắc Carolina, Louisiana, Texas, Mississippi và California Trung bình một trang trại Khoai lang ở Mỹ trồng khoảng 150 ha,

để đảm bảo hiệu quả đầu tư về máy móc, kho bảo quản và thiết bị đóng gói (tốn khoảng 1 -2 triệu USD) và để giảm chi phí lao động sống (La bonte và Cannon, 1998)

1.2.2 Tình hình sản xuất Khoai lang ở Việt Nam

Sản lượng khoai lang ở nước ta không đồng đều cả về diện tích và trình

độ thâm canh, năng suất thấp và có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng Năm

2010 và 2011 diện tích khoai lang cả nước chỉ còn 150.800 và 148.500 ha, tương ứng; tuy có tăng nhẹ so với 146.400 ha năm 2009 nhưng đã sụt giảm mạnh so với 181.200 ha năm 2006 Năm 2011 năng suất bình quân đạt 9,4 tấn/ha, sản lượng đạt 1.391.000 tấn

Bắc Trung Bộ và vùng duyên hải Nam Trung Bộ dẫn đầu về diện tích với 49.600 ha, tiếp đến là vùng trung du miền núi phía Bắc 37.700 ha; Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) 26.1000 ha đứng thứ ba Dẫn đầu cả nước về năng suất là 2 vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) Nhưng năng suất giữa các vùng rất không đồng đều, cao nhất là ĐBSCL 22,0 tấn/ha, thấp nhất là vùng Bắc Trung Bộ (6,3 tấn/ha) và vùng Trung du miền núi phía Bắc (6,7 tấn/ha) (Bảng 1.2)

Trang 20

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng khoai lang của Việt Nam

2 Năng suất (tấn/ha) 8,1 8,2 8,1 8,2 8,7 9,4

BTB và DH NTB 6,1 6,1 6,1 6,0 6,3 6,3 Tây Nguyên 10,2 10,2 10,1 10,7 10,8 11,0 Đông Nam Bộ 6,3 6,3 8,3 8,3 8,0 7,5 ĐBSCL 20,3 20,2 19,1 20,0 20,6 22,0

3 Sản lƣợng (1000 tấn) 1460 1439 1320 1215 1317 1393

ĐBSH 347,1 328,5 290,7 196,1 245,7 242,7 MNPB 277,1 287,0 265,0 236,8 256,7 252,6 BTB và DH NTB 425,8 406,9 372,7 330,6 339,6 312,5 Tây Nguyên 125,5 125,5 131,3 149,8 152,3 158,4 Đông Nam Bộ 12,6 12,6 17,4 17,4 16,0 15,0 ĐBSCL 272,0 278,8 242,6 284,0 306,9 411,4

Nguồn: Niên giám thống kê 2012

Các tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái còn trồng nhiều Khoai lang là: Quảng ninh 4.500 ha, Hà nội (cả Hà Tây cũ) 5.100 ha, Bắc giang 8.080 ha, Thái nguyên 7.300 ha, Thanh hóa 11.500, Nghệ an 10.400 ha, Hà tĩnh 7.900

ha, Quảng nam 5.500 ha, Đắk nông 7.100 ha, Bình phước 700 ha và Vĩnh long 8.500 ha, Lai châu Mặc dù năng suất có tăng lên nhưng rất chậm, trong khi diện tích lại giảm nhanh, nên tổng sản lượng Khoai lang bị giảm mạnh (từ 1.436.000 tấn năm 2006 xuống còn 1.391.000 tấn năm 2011) Trong

xu hương chung về diện tích và sản lượng tại các vùng trồng chính, thì riêng Tây nguyên và ĐBSCL lại có mức tăng đáng kể về diện tích và sản lượng;

Trang 21

trong đó tăng mạnh tại tỉnh Đắk nông ở Tây nguyên (từ 4.800 ha năm 2006 lên 7.100 ha năm 2011) và tỉnh Vĩnh long ở ĐBSCL (từ 5.000 ha năm 2006 lên 8.500 ha năm 2011) Rất có thể nguyên nhân chính là do hai tỉnh này đã tìm được thị trường xuất khẩu Khoai lang sang các nước như Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan…, vì thế nên HQKT sản xuất Khoai lang ở đây đã được nâng cao rõ rệt Năng suất Khoai lang ở Tây nguyên đã được tăng thêm gần 1,0

tấn/ha trong giai đoạn 2006 - 2011

Nguyên nhân sụt giảm diện tích và sản lượng Khoai lang ở nước ta những năm gần đây là do năng suất, HQKT và lợi thế cạnh tranh của cây Khoai lang chậm được cải thiện và thấp hơn nhiều so với các cây trồng khác như Lạc xuân; Ngô và các cây Rau mùa vụ đông Việc chế biến Khoai lang thành các thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng còn hạn chế, nên chưa nâng cao được giá trị của Khoai lang (Mai Thạch Hoành 2011)[13]

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về giống và kỹ thuật trồng khoai lang

1.3.1 Tình hình nghiên cứu về giống khoai lang ở trên thế giới và trong nước

1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống khoai lang trên thế giới

Cây Khoai lang có khả năng sinh sản theo cả 2 phương thức: hữu tính

và vô tính, nhưng phương thức vô tính là phổ biến và chiếm ưu thế Khi sinh sản hữu tính, Khoai lang có tính bất tự thụ cao

Đặc trưng của sinh sản vô tính là dòng vô tính được bắt đầu từ một cây khởi nguyên và sinh sôi bằng con đường dinh dưỡng Vì vậy cấu trúc di truyền của tất cả các cây ở một dòng vô tính thường là đồng nhất và giống cấu trúc di truyền của cây khởi nguyên Sự sai khác về di truyền giữa các cá thể trong một quần thể vô tính rất hiếm

Đặc trưng của cây sinh sản hữu tính là có sự giao phối giữa các cá thể cùng nguồn hoặc khác nguồn (vì vậy cây thực sinh từ hạt lai sẽ mang đặc điểm di truyền không hoàn toàn giống như bố hoặc mẹ của chúng)

Trang 22

Do bản chất đa bội, sự biểu hiện và mức độ của các tính trạng là kết quả của sự tái tổ hợp của các gen và ưu thế lai Tính bất tự thụ ở Khoai lang chứng tỏ tính dị hợp tử là cần thiết để duy trì sức sống và năng suất Vì vậy, trong điều kiện sản xuất, quần thể của một giống Khoai lang nhất định thường

có tính trội tự nhiên Lai là phương pháp chủ yếu để tạo ra các cá thể lai mang tính trội do kết quả tái tổ hợp gen Công việc lai và chọn lọc giống Khoai lang cần hướng vào việc tăng và duy trì tính dị hợp tử ở con lai, từ đó xét xem cả hiệu ứng di truyền cộng và không cộng trên quần thể chọn lọc Tuy nhiên tất

cả các phương pháp chọn giống cần được đặt trong mối quan hệ với các tính trạng cần được cải tiến để đặt ra mục đích tạo giống

Chọn lọc chu kỳ (recurrent) có lẽ là phương pháp hợp lý nhất cho chọn giống Khoai lang, vì nó cho phép các gen phụ (minor) và gen lặn được biểu lộ

và được chọn lọc với kiểu chọn lọc quần thể này, có thể phát huy được hiệu ứng cộng của gen, bao gồm cả việc chọn lọc một loại kiểu gen cho một hoặc nhiều tình trạng mong muốn và sau đó là sự lai tự nhiên (nhờ côn trùng) giữa các kiểu gen này với nhau Một số lượng lớn các cây từ hạt có các tính trạng mong muốn được chọn lọc, những cây tốt nhất sau đó được sử dụng để lai tự

do với nhau trong một quần thể (ở chu kỳ 2), trong dó có hoặc không có sự tham gia của các cây Bố mẹ tốt nhất Kỹ thuật này giúp tích tụ nhanh chóng các gen mong muốn vào con lai Một nghiên cứu sử dụng marker phân tử DNA đã khẳng định tính ưu việt của chiến lược chọn giống theo hướng lai kép, cho dù sự bất kết hợp chéo thường xảy ra Hơn nữa sự đa dạng về vật liệu di truyền ở các dòng khoai lang lai kép chắc chắn sẽ giúp công việc tuyển chọn các vật liệu ưu tú nhất trở nên thuận lợi hơn (Hwang và CS, 2002)

Tuy vậy, phương pháp chọn lọc đơn giản này cần được hỗ trợ bởi các

kỹ thuật chọn lọc có hiệu quả hơn và cần xem xét với nhiều tính trạng Sự đồng nhất và việc chỉ để ý đến một tính trạng cụ thể sẽ làm giảm hiệu quả của chọn lọc (Martin, 1988)[34] Vì vậy trong thực tế, các dòng Khoai lang thường được đánh giá về một loạt các tính trạng mong muốn cả trong điều kiện thí nghiệm cũng như trên đồng ruộng nông dân

Trang 23

Các kiểu gen ưu tú thường có tiềm năng quang hợp cao và tiềm năng cho năng suất củ cao với chất lượng tốt trong khoảng TGST tương đối ngắn Các nhân tố xác định khả năng quang hợp là độ dài của dây khoai lang và số

lá trên một đơn vị độ dài thân Tuy vậy, một số giống Khoai lang thân bụi mặc dù có thân dây rất ngắn nhưng vẫn có tiềm năng quang hợp cao Các nghiên cứu về chọn tạo về giống cũng đã cải tiến khả năng bảo quản củ Khoai lang tươi, và một kỹ thuật đơn giản để xác định tỷ lệ củ hư hại sau bảo quản là việc cân đo mức hao hụt trọng lượng củ ngay sau tuần đầu đưa vào bảo quản

Số liệu này sẽ là một chỉ dẫn tốt về khả năng bảo quản ở các giai đoạn bảo quản sau đó (Ress và CS, 1998)

Mùi vị củ Khoai lang là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với người tiêu dùng, tuy vậy tính trạng này khó có thể đo đếm được một cách chính xác và do vậy đã

là một trở ngại lớn để tăng hiệu quả chọn lọc Nếu mùi vị có thể phân tích được, thì số lượng kiểu gen mong muốn được chọn lọc chính xác có thể sẽ tăng lên Một nghiên cứu gần đây ở Georgia Mỹ chỉ rằng có thể phát hiện sự khác biệt về mùi thơm giữa các giống khoai lang nhờ phương pháp sắc ký khí Cũng có thể phân tích được tỷ lệ đường và các axit hữu cơ trong củ Khoai lang

Sản xuất Khoai lang ở vùng Đông Nam Á hiện đang sụt giảm Nếu khâu chế biến được cải tiến, sản xuất Khoai lang sẽ tiếp tục được cải thiện và nâng cao, nhờ giá trị gia tăng do công nghệ chế biến mới mang lại Tuy nhiên, hầu hết các giống Khoai lang hiện nay có tỷ lệ chất khô chỉ khoảng 25 - 30%, thấp hơn nhiều so với mức trên 35% mà các nhà chế biến công nghiệp đòi hỏi Các giống Khoai lang mới cũng cần có tính thích ứng rộng, để có thể cho năng suất và HQKT cao khi được trồng trong nhiêu điều kiện khác nhau, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu Vì vậy, chiến lược của các nước Đông Nam Á là chọn tạo các giống khoai lang có năng suất cao, tính thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, chịu hạn; sản phẩm thu hoạch có tỷ lệ chất khô cao 28 - 32%, đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cho chế biến công nghiệp (Gin Mok và CS, 1996)

Trang 24

1.3.1.2 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống khoai lang tại Việt Nam

Theo Vũ Đình Hòa (1994), do cây Khoai lang mang đặc điểm sinh sản của cả cây hữu tính lẫn cây vô tính, nên chọn giống Khoai lang có thể bằng hai cách:

- Chọn dòng vô tính tốt nhất bằng phương pháp gây đột biến nhân tạo hoặc đột biến tự nhiên làm cây khởi nguyên của giống dòng vô tính mới

- Lai kiểm soát, thụ phấn tự do trong vườn đa giao hoặc thụ phấn tự do hoàn toàn và lai xa Cây tốt nhất từ hạt được nghiên cứu chọn ra làm dạng khởi nguyên cho giống dòng vô tính mới vì mỗi cây con có đặc điểm di truyền khác với tất cả các cây khác và đều có tiềm năng trở thành một giống mới

Công tác chọn giống Khoai lang ở Việt nam trước năm 1978 dựa chủ yếu vào nguồn giống nhập nội từ Trung quốc để bình tuyển và giới thiệu cho sản xuất Một trong các tiến bộ kỹ thuật được nông dân áp dụng rộng rãi ở thời gian này là giống Hoàng long, do có nhiều đặc tính quý như TGST phù hợp vụ đông ở các tỉnh phía Bắc (100 ngày), vỏ củ vàng nhạt, ruột vàng đậm Tuy nhiên giống này chỉ cho năng suất 8 - 10 tấn/ha, chịu hạn rất kém và dễ

bị sùng hà Vì đã được trồng khá lâu nên giống đã bị thoái hóa, nhưng hiện vẫn còn một diện tích đáng kể ngoài sản xuất

Mai Thạch Hoành (2004) cho biết công tác chọn tạo giống Khoai lang bằng con đường lai hữu tính ở Việt Nam bắt đầu được nghiên cứ từ vụ đông

1978 - 1979 tại Viện CLT-CTP, đặc biệt là lai tổ hợp xác định có bố mẹ rõ ràng; sau này được tiến hành ở cả Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam Đã xác định được trong vụ đông thời vụ lai cho hiệu quả cao nhất là trong tháng 11 và đầu tháng 12; thời gian lai tốt nhất trong ngày là vào buổi sáng và từ 8 giờ đến 11 giờ (Mai Thạch Hoành và Vũ Tuyên Hoàng, 1986) Ngoài ra còn áp dụng phương pháp lai tự nhiên (chỉ biết mẹ không biết bố), còn gọi là lai đa giao (polycross), nhờ

Trang 25

Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP) đào tạo cán bộ cho Việt nam và cung cấp vật liệu ban đầu Cũng theo Mai Thạch Hoành (2004), chọn tạo giống Khoai lang ở Việt nam nên đi theo 3 hướng:

1) Chọn tạo giống có năng suất củ trung bình nhưng chất lượng củ cao (tỷ lệ chất khô và tỷ lệ tinh bột cao) để phục vụ ăn tươi

2) Chọn tạo giống có năng suất cao, chất lượng củ khá và có năng suất thân lá cao để làm thức ăn cho chăn nuôi;

3) Chọn tạo giống có năng suất thân lá cao, chất lượng thân lá tốt (có ít hoặc không có tanin và có protein cao) để làm rau ăn lá và ăn ngọn cho người khi cần thiết và lúc giáp vụ rau

Vào đầu những năm 1980 đã có một số giống Khoai lang lai hữu tính đầu tiên được công nhận, chủ yếu phục vụ sản xuất Khoai lang đông trên đất sau lúa mùa ở các tỉnh phía Bắc, với TGST 90 - 105 ngày Đó là các giống K1 (số 59), K2 (số 8), K4 (lai tự do V15-70) và K51 Công tác chọn tạo giống Khoai lang có chất lượng củ cao được các nhà khoa học của Viện CLT-CTP chú trọng kể từ cuối những năm 1980 (Vũ Tuyên Hoàng và CS, 1990); Nguyễn Tấn Hinh và CS, 2003; Vũ Đan Thành (2003) Đã đưa ra sản xuất giống khoai lang KB-1 và giống khoai lang KB4 Giống KB4 được chọn tạo

từ tổ hợp lai Shiro-yukata x Hi-starch, trong đó giống Hi-starch là giống có tỷ

lệ chất khô củ rất cao (40 - 42%) Giống KB4 có tỷ lệ chất khô củ 31 - 32,3%,

tỷ lệ tinh bột củ đạt 70,7 - 73,7% chất khô Năng suất qua các vụ đạt 20 - 22 tấn/ha, cao hơn giống đối chứng Số 8 [7]

Theo số liệu thống kê đến năm 2009 của Cục Trồng trọt và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (2007, 2010, 2011) cũng như các công bố gần đây của các tác giả Mai Thạch Hoành và CS (2007 và 2010; Nguyễn Thị Ngọc Huệ (2007 và 2008); Nguyễn Thế Yên (2007), Phạm Văn Linh và CS (2011); từ năm 1980 đến nay, Việt nam đã chọn tạo và giới thiệu được ít nhất 26 giống khoai lang (công nhận chính thức 8 giống, gồm: K1 (số 59), K2 (số 8), K4

Trang 26

(V15 - 70), VX37, Cực Nhanh, 143, KL5 và KB-1; công nhận cho sản xuất thử/tạm thời 14 giống (TV1, KCL266, KL20-209, KTB2, HL4, HL518, HL419, H12, DT2, VĐ1, KLR3 và LBR5); các giống còn lại là giống khảo nghiệm Trong số 26 giống, có 19 giống ăn củ, 1 giống làm TAGS (KL5); và

6 giống Khoai lang rau (H1.2, DT2, VĐ1, KLR1, KLR3 và KLR5)

* Kết quả chọn tạo giống Khoai lang ăn củ:

Trong số 19 giống Khoai lang lấy củ, đã có 9 giống được tạo ra bằng con đường lai hữu tích, gồm: K1 (số 59), K2 (số 8), K4 (V15-70), 143, KB1, HL518, HL491, KTB1 và KTB2; với xác định được mẹ) Các giống còn lại được tuyển chọn từ nguồn giống nhập nội từ Trung quốc, Đài loan, Nhật hoặc do CIP giới thiệu

Với 13 giống cho địa bàn các tỉnh phía Bắc, các nhà chọn giống đã tập trung vào các đặc tính phổ biến: TGST vụ đông khoảng 90 - 100 ngày để phù hợp với cơ cấu luân canh Khoai lang sau lúa mùa Các giống này có tiềm năng năng suất chưa cao (phổ biến 12 - 15 tấn/ha, thâm canh cao đến 20 tấn/ha); trừ giống TV1 (công nhận tạm thời năm 2004) có tiềm năng năng suất củ tới 20 - 28 tấn/ha Các chỉ tiêu chất lượng củ được chú trọng là vỏ của màu vàng, hồng hoặc hồng nhạt, có một số giống thịt củ màu vàng đậm hoặc vàng cam Từ khoảng 2004 đến nay, chỉ tiêu tỷ lệ chất khô củ và tỷ lệ tinh bột củ

đã được quan tâm, trong đó KB1 đạt TLCK củ 27 - 29%, TV1 đạt 20 - 24%, nhưng chưa có giống nào đạt trên 30% Hiện vẫn còn thiếu các giống chịu rét cao như giống K51, giống thích hợp cho vụ khoai lang đông ở phía Bắc

Trong số 6 giống đã được giới thiệu cho các tỉnh phía Nam, có 5 giống

do Trung tâm Nghiên cứu Hưng Lộc thuộc Viện KHNN MN chọn tạo (trong

đó có 3 giống HL4, HL518 và HL491 được chọn tạo bằng lai hữu tính) HL4 hiện là giống phổ biến ở Đông Nam Bộ, do có nhiều đặc tính quý như củ đẹp (thuôn, láng), vỏ củ đỏ, ruột vàng câm đậm, TLCK cao (27 - 30,4%), năng suất 17,5 - 33 tấn/ha, thích ứng rộng, chịu hạn khá Các giống HL518 (Nhật

Trang 27

đỏ), Kokey14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím) cũng có nhiêu đặc tính quý, thuộc loại chất lượng cao, thích ứng rộng, được bán nhiều ở các siêu thị phục

vụ ăn tươi Benrazuma là một giống chất lượng cao khác được nhập nội từ Nhật, hiện được trồng phổ biến ở Cao nguyên Lâm đồng và Đắk nông, nặng suất cao đến 20 tấn/ha, phục vụ xuất khẩu sang Nhật và một số nước Đông Nam Á (Hoàng Kim, 2010) Tuy nhiên giống này không thích ứng với điều kiện khí hậu các tỉnh phía Bắc, nên năng suất chỉ đạt 9 - 12 tấn/ha [16]

* Kết quả chọn tạo giống Khoai lang ăn lá:

Cho đến nay, Việt nam đã chọn tạo được tổng số 6 giống khoai lang ăn

lá (Mai Thạch Hoành, 2010), 2011; Nguyễn Thị Ngọc Huệ và CS, (2008), là các giống H12, DT2, VĐ1, KLR1, KLR3 và KLR5 Từ tập đoàn 534 mẫu giống khoai lang (bao gồm các giống địa phương, nhập nội và dòng lai tốt) được bảo tồn tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia, năm 2008 Trung tâm Tài nguyên Thực vật đã chọn lọc và phát triển được 3 giống khoai lang rau KLR1, KLR3 và KLR5, được Bộ Nông nghiêp và PTNT công nhận cho sản xuất thử

Cả 3 giống này đều có thân xanh, dạng thẳng đứng hoặc nửa bò, không leo, có rất ít hoặc không có lông tơ ở ngọn; có thể trồng được 3 vụ trong năm (xuân

hè, hè thu và vụ đông), với năng suất ngọn lá thực thu diao động từ 26,8 đến 32,3 tấn/ha/vụ, so với đối chứng VĐ1 đạt 28,4 tấn/ha/vụ; có thể thu hoạch

15 - 33 ngọn/cây/vụ, với chất lượng ăn nếm khá ngon (2,3 - 2,5 điểm)[9]

Nghiên cứu mối tương quan giữa năng suất các kỳ thu rau với tổng năng suất rau và giữa các bộ phận trong ngọn rau với 6 giống khoai lang rau: TV1, VĐ1, K51, H12, DT2 và giống Cực Nhanh, Mai Thạch Hoành (2011) cho biết: Với quỹ TGST là 90 ngày, các giống này có thể cho 7 kỳ thu rau trong vụ hè thu (năng suất rau đạt 31,03 tấn/ha) và 6 kỳ thu rau trong vụ xuân

hè (đạt 31,03 tấn/ha) và đã xác định được giống VĐ1 cho năng suất rau cao nhất (34,33 - 46,99 tấn/ha)

Trang 28

* Kết quả chọn tạo giống Khoai lang làm thức ăn gia súc (TAGS):

Theo Vũ Tuyên Hoàng và CS (1993)[5], công tác chọn tạo giống khoai lang làm TAGS ở Việt Nam được bắt đầu tại Viện CLT-CTP từ vụ đông năm

1990 với 14 dòng được chọn từ các tổ hợp lai xác định Một số giống khoai lang được chọn làm TAGS cần có: năng suất sinh khối (thân, lá) cao, đạt năng suất nhất định thu hoạch củ; khả năng tái sinh mạnh để có thể thu hoạch thân

lá nhiều lần trong năm; và tỷ lệ đường, tinh bột, protein… phù hợp với nhu cầu dĩnh dưỡng của gia súc Lá to và cuống dài là một trong các đặc điểm hình thái được chọn để đánh giá khả năng cung cấp chất xanh Khoai lang là cây TAGS quan trọng cho chăn nuôi lợn và trâu bò Tuy nhiên cho đến hiện nay, trừ công trình nghiên cứu của Nguyễn Thế Yên (2007), hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào mới, thêm đề cập đến việc chọn tạo giống khoai lang làm TAGS[21]

1.3.2 Những kết quả nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh khoai lang

1.3.2.1 Thời vụ trồng khoai lang

Khoai lang trồng với mục đích lấy củ thường được trồng vào mua khô

và được bố trí với các công thức luân canh, xen canh khác nhau; tùy thuộc vào tập quán canh tác và điều kiện cụ thể của từng địa phương để bố trí thời

vụ trồng cho phù hợp

Vụ Khoai lang thu đông ở miền Bắc: Thường được trồng từ cuối

tháng 9 đến đầu tháng 10 trên chân đất bãi sau khi lũ đã rút và phổ biến trên chân đất vàn - vàn cao sau khi thu hoạch lúa mùa sớm; và phỉa được thu hoạch chậm nhất vào cuối tháng 2 hoặc tuần đầu tháng 3 để trồng màu vụ xuân hoặc cấy lúa xuân Năng suất củ vụ khoai này thường thấp vì khoai phải phát triển củ trong giai đoạn có nhiệt độ thấp (Bùi Huy Đáp, 1984)[2]

Các tỉnh BTB thường trồng vụ Khoai lang Đông - xuân vào cuối tháng 11 đầu tháng 12, sau khi đã thu hoạch lúa mùa chính vụ và thường trồng với những giống dài ngày (khoảng 5 tháng), vụ khoai này thường cho năng suất cao

Trang 29

Khoai lang xuân: Thường được trồng tháng 2 - 3, thu hoạch tháng 6 -

7, trên chân đất bãi và đất 2 màu - 1 lúa ở tất cả các tỉnh miền Bắc và miền Nam, sử dụng những giống có TGST khoảng 4,5 đến 5 tháng (Đinh Thế Lộc, 1997), Nguyễn Việt Hưng và CS (2010)[15] Nguyễn Thị Lan (2004) nghiên cứu thử nghiệm 5 thời vụ trồng Khoai lang xuân (25/1, 5/2, 15/2, 25/2 và 7/3) với hai nhóm giống (nhóm cho năng suất củ cao và nhóm cho năng suất thân

lá cao) trong điều kiện vùng đất cát ven biển khô hạn của tỉnh Thanh hóa có kết luận: thời vụ trồng từ 25/1 đến 15/2 là thích hợp nhất

Ở các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây nguyên, do mùa khô đất cạn kiệt, nên Khoai lang thường được trồng trong vụ hè thu, xuống dây từ đầu hay giữa mùa mưa (tháng 5 đến tháng 7) để thu hoạch từ tháng 9 đến tháng 12

1.3.2.2 Mật độ trồng khoai lang

Củ Khoai lang là do quá trình phân hóa và lớn lên của rễ mà thành, chính

vì vậy mà sự phát triển của bộ phận trên mặt đất (thân lá) và bộ phận dưới mặt đất (rễ củ) có mối quan hệ chặt chẽ, vừa thúc đẩy vừa khống chế lẫn nhau Bởi vậy mật độ trồng có ảnh hưởng đến sinh trưởng của thân lá và rễ củ Khoai lang Theo Đinh Thế Lộc (1979), Khoai lang đông xuân ở các tỉnh phía Bắc cho năng suất cao nhất (16,9 - 17,2 tấn/ha) ở mật độ trồng 32.000 - 40.000 dây/ha (4-5 dây/m dài luống) Trồng thưa (24.000 dây/ha) năng suất giảm đến 16,0 tấn/ha; trồng quá dày (48.000 và 56.000 dây/ha) năng suất chỉ đạt 14,9 và 15,2 tấn/ha

1.3.2.3 Nghiên cứu về phân bón cho Khoai lang

* Vai trò của N, P, K đối với khoai lang

Khoai lang là cây trồng cạn, được trồng chủ yếu trên đất cát ven biển, đất một lúa một màu và đất hai vụ lúa Trên đất hai vụ lúa với điều kiện thành phần

cơ giới tương đối nhẹ, chủ động tưới tiêu, rất thích hợp với cây Khoai lang Với điều kiện đất đai của Việt nam, nhất là khi vụ Đông trở thành vụ sản xuất chính, tiềm năng đất đai có thể trồng được Khoai lang rất lớn thì việc phát triển khoai lang vụ Đông trên đất hai vụ lúa đã đem lại những giá trị không nhỏ Kết quả nghiên cứu về phân bón cho Khoai lang của nhiều tác giả cho thấy:

Trang 30

- Đạm có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng thân lá, đặc biệt thời kỳ đầu Khoai lang cần tương đối nhiều đạm Đạm tác động đến quá trình phân hoá và hình thành củ, thiếu đạm khoai lang chậm lớn, ít củ, năng suất giảm

- Lân ảnh hưởng đến khả năng quang hợp và vận chuyển chất dinh dưỡng Thiếu lân năng suất củ giảm nhiều Đủ lân thì hiệu quả của đạm và kali rõ hơn

- Kali có tác dụng thúc đẩy mạnh quá trình hoạt động của bộ rễ, đẩy mạnh khả năng quang hợp hình thành và vận chuyển Gluxit về củ, thiếu kali Khoai lang chậm lớn, ít củ , tỷ lệ tinh bột giảm, tỷ lệ xơ tăng và thời gian bảo quản không được lâu

Ngoài ra phân hữu cơ cũng ảnh hưởng đến năng suất củ của Khoai lang, Phùng Huy (1980) nghiên cứu ảnh hưởng của bón lót phân chuồng đến năng suất củ khoai lang (trên nền phân bón: 45 N + 45 P2O5 + 60 K2O) cho thấy: Khi bón lót phân chuồng (phân hữu cơ) từ 5 tấn/ha đến 20 tấn/ha đã làm tăng năng suất củ Khoai lang từ 151 tạ/ha lên 246,7 tạ/ha (bảng 1.3)

Bảng 1.3: Ảnh hưởng của phân chuồng đến năng suất củ khoai lang Phân chuồng bón lót (tấn/ha) Năng suất củ (tạ/ha)

Với cây Khoai lang, một kết quả nghiên cứu của Iso E (Đài Loan) cho thấy muốn đạt năng suất củ 15 tấn/ha, cây cần lấy đi từ đất khoảng 70 kg N +

20 kg P2P5 + 110 kg K2O/ha, theo Đinh Thế Lộc (1997) thì trong suốt quá trình sinh trưởng, cây khoai lang cần nhiều nhất là kali, kế đến là đạm và cuối cùng

là lân Cây Khoai lang cần nhiều đạm nhất vào thời kỳ đầu (thời kỳ sinh trưởng

Trang 31

thân lá), cần nhiều kali nhất vào giai đoạn sau (giai đoạn phát triển phình to của củ), còn lân thì cây cần trong suốt quá trình sinh trưởng, nhất là giai đoạn đầu

hình thành và phát triển của bộ rễ [20]

Nghiên cứu về bón đạm cho khoai lang thấy: đạm là yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được trong quá trình thâm canh tăng năng suất Khoai lang Tổ công tác chuyên gia Khoai lang tiến hành tại Hà Bắc năm 1966 cho biết: Bón phân đạm làm năng suất Khoai lang tăng 6 - 12%

Đối với các giống Khoai lang lấy thân lá làm thúc ăn gia súc (TAGS) đạm

có tác dụng rất rõ đến việc làm tăng năng suất thân lá Nguyễn Thế Yên (1999) cho biết: Khi tăng liều lượng đạm từ 60 - 10 kg N/ha, năng suất thân lá của các dòng giống khoai lang làm TAGS tăng từ 50 - 100%, năng suất củ đạt cao nhất ở mức bón 80 kg N/ha, ở mức bón cao hơn năng suất củ có xu hướng giảm

Nghiên cứu về liều lượng bón phân kali cho Khoai lang, Đinh Thế Lộc

và CS (1989) có kết luận: Liều lượng phân kali thích hợp cho Khoai lang đông xuân vùng đồng bằng Bắc Bộ ở nền phân bón thấp (8 tấn phân chuồng +

20 kg N + 20 kg P2O5/ha và 100 - 120 kg K2O/ha Bón phân kali ở mức cao hơn, năng suất củ có xu hướng giảm và tất nhiên HQKT cũng giảm thấp Về thời điểm bón kali cho Khoai lang, Đinh Thế Lộc và CS (1989) cũng đã xác định rằng: Bón thúc kali thích hợp nhất là vào giai đoạn 45 - 60 NST, làm tăng năng suất 18 - 55% Bón thúc kali quá sớm (20 NST) hoặc quá muộn (90 NST), tác dụng tăng năng suất của kali không rõ [19]

Về hiệu lực của phân kali Nguyễn Thị Lan và CS (2004) tiến hành thí nghiệm với giống TV1 trồng trong vụ xuân, trên nền 10 tấn phân chuồng + 60 kg

N + 30 kg P2O5/ha, với 4 mức bón kali (80, 120, 160 và 200) kali đến mức 160kg

K2O/ha, nhưng sai khác này không có ý nghĩa Mức bón đến 200 kg K2O/ha làm năng suất giảm rõ rệt, do mất cân đối N:P:K Hiệu quả tăng năng suất của kali đạt 31,0 - 66,2 kg củ/kg K2O trong vụ xuân và đạt 25,9 - 58,3 kg K2O trong vụ đông Bón kali ở mức 120 kg K2O/ha cho lãi xuất cao nhất trong cả 2 vụ [17]

Trang 32

* Nghiên cứu về bón phối hợp NPK cho khoai lang

Trong quá trình sinh trưởng phát triển, cây khoai lang cần cả 3 yếu tố dinh dưỡng NPK Vì vậy, cần bón phối hợp NPK để cây sinh trưởng phát triển cân đối Tùy từng loại đất mà tỷ lệ phối hợp NPK cần được điều chỉnh cho thích hợp với từng loại giống, để tăng năng suất và tăng HQKT Theo Đinh Thế Lộc và CS (1997) tỷ lệ thích hợp cho khoai lang là 2 : 1 : 3 Vũ Xuân Thao (1992) cho rằng bón NPK cho Khoai lang với tỷ lệ 2 : 1 : 4 sẽ cho năng suất cao nhất trong điều kiện Thanh Hóa Theo Nguyễn Thị lan (2004), liều lượng NPK thích hợp cho vùng đất cát K2O hoặc 80 N + 40 P2O5 + 120 K2O (kg/ha) với những giống cho năng suất củ cao, nên bón kali ở mức 90 - 120 kg K2O/ha,

để vừa đạt năng suất và chất lượng củ cao, vừa có HQKT cao hơn

* Nghiên cứu về thời kỳ bón phân hợp lý cho khoai lang

Kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp I về thời điểm bón thúc cho Khoai lang vụ đông xuân (Đinh Thế Lộc và CS 1997) cho thấy: Các công thức có bón thúc đều tăng năng suất cao so với không bón thúc từ 2

- 28% Những công thức bón thúc sau trồng 20 - 30 ngày làm năng suất tăng

18 - 25% so với không bón thúc, còn bón thúc muộn sau tròng 80 - 120 NST hầu như không làm tăng năng suất Bộ Nông nghiệp và PTNT (1995) [1] khuyến cáo nên bón cho khoai lang 6 - 8 tấn phân chuồng kết hợp với 40 N +

20 P2O5 + 60 K2O hoặc với 60 N + 30 P2O5 + 60 K2O hoặc với 60 N + 30

P2O5 + 90 K2O (kg/ha) Về cách bón, nên bón lót toàn bộ phân chuồng + 100% lân + 1/3 đạm + ½ kali; bón thúc 2 lần: thúc lần 1 lúc 20 - 25 NST bón nốt 2/3 đạm còn lại kết hợp làm cỏ và vun nhẹ, thúc lần 2 lúc 40 - 50 NST bón nốt ½ kali còn lại kết hợp cày xả luống và vun cao Theo Mai Thạch Hoành và Nguyễn Công Vinh (2003), nên bón lót toàn bộ phân chuồng + 100% lân + 1/3 đạm và 1/3 kali; bón thúc 2 lần: thúc luống đã được xới sâu hoặc cày xả luống; thúc lần 2 lúc 45 - 60 NST bón nốt 1/3 đạm và kali còn lại kết hợp xới nông, làm cỏ và vun cao [20]

Trang 33

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ, mật độ trồng và một số tổ hợp phân bón đối với giống Khoai lang Shan thàng I đang được trồng phổ biến tại địa phương từ nhiều năm

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm: tại xã Shan thàng, Thành phố Lai châu, Tỉnh Lai châu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Vụ Hè Thu năm 2014: từ 6/2014 đến 10/2014

- Vụ Đông Xuân 2014 - 2015: từ 11/2014 đến 2/2015

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm trồng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng của giống khoai lang Shan thàng I trong điều kiện vụ Hè Thu 2014 tại Lai châu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng của giống Khoai lang Shan thàng I trong điều kiện vụ Hè Thu

2014 tại Lai châu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân khoáng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng của giống Khoai lang Shan thàng I trong điều kiện vụ Đông Xuân 2014 - 2015 tại Lai Châu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm trồng đến năng

suất, chất lượng của giống khoai lang Shan thàng I vụ hè thu 2014 tại xã Shan

Thàng, thành phố Lai châu, tỉnh Lai Châu

Trang 34

Thí nghiệm gồm có 5 công thức được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD, 3 lần nhắc lại, mỗi ô thí nghiệm có diện tích 50 m2, tổng diện tích 750m2

không tính diện tích bảo vệ

* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng

suất, chất lượng của giống Khoai lang Shan thàng I vụ hè thu năm 2014 tại xã

Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai châu

Thí nghiệm có 5 công thức, phương pháp bố trí và diện tích mỗi công thức thí nghiệm như thí nghiệm 1 Trồng luống đơn (chân luống rộng 1,1 - 1,2

m; rãnh rộng 0,3 - 0,4 m)

Công thức 1: 3 dây/m dài luống ( 25000 dây/ha)

Công thức 2: 4 dây/m dài luống ( 33333 dây/ha)

Công thức 3 (đ/c): 5 dây/m dài luống ( 41666 dây/ha)

Công thức 4: 6 dây/m dài luống ( 50000 dây/ha)

Công thức 5: 7 dây/m dài luống ( 58333 dây/ha)

Trang 35

* Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân

khoáng đến năng suất, chất lượng của giống Khoai lang Shan thàng I vụ Đông Xuân 2014-2015 tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

Thí nghiệm có 5 công thức, phương pháp bố trí và diện tích mỗi công thức đều như thí nghiệm 1

10 tấn phân chuồng + 60 kg N + 30 kg P2O5 + 90 kg K2O

Trang 36

2.3.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng cho các thí nghiệm

- Thời điểm

+ Hè thu: Trồng ngày 1/6/2014 (riêng thí nghiệm 1 thời điểm trồng

theo công thức thí nghiệm)

+ Vụ Đông Xuân: Trồng từ tháng 11/2014

- Lên luống: Cày bừa kỹ, sạch cỏ dại, lên luống rộng 1,1 - 1,2 m, cao

0,35 - 0,45 m

- Mật độ, khoảng cách và phương pháp trồng: Trồng luống đơn (chân

luống rộng 1,1 - 1,2 m; rãnh rộng 0,3 - 0,4 m) Đặt dây giống nông dọc luống với

mật độ 5 dây/m dài luống (riêng thí nghiệm 2 - thí nghiệm về mật độ thì trồng

theo công thức của thí nghiệm), lấp đất sâu 3-5cm để chừa 3 lá đầu ngọn

- Phân bón:

+ Lượng phân bón cho 1 ha: 10 tấn phân chuồng + 60 kg N + 30 kg

P2O5 + 90 kg K2O (riêng thí nghiệm 3 - thí nghiệm về phân bón thì bón theo

công thức của thí nghiệm)

+ Cách bón:

Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ và phân lân, 1/3 phân đạm + 1/3 phân kali Bón thúc lần 1: Sau trồng 20-25 ngày, bón số phân đạm còn lại Bón thúc lần 2: Sau lần 1 từ 20-25 ngày, bón số phân kali còn lại

- Xới vun:

+ Lần 1: Khi bón thúc lần 1, vun nhẹ kết hợp làm cỏ

+ Lần 2: Khi bón thúc lần 2, cày xả luống bón phân và vun vồng cao

- Tưới nước: Bảo đảm độ ẩm đất 65-75% trong quá trình sinh trưởng phát

triển của cây, đặc biệt vào các thời kỳ hình thành và phình to của củ Ngừng tưới

nước trước khi thu hoạch 2 tuần

- Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu bệnh và sử dụng thuốc bảo vệ thực

vật theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật

Trang 37

- Thu hoạch:

+ Thu hoạch khi củ chín sinh lý, biểu hiện là 1/3 số lá (chủ yếu là lá gốc) chuyển vàng tự nhiên

+ Thu hoạch vào ngày nắng ráo, đất không quá ẩm

+ Phân loại kích cỡ và khối lượng củ theo quy định

2.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.3.3.1 Các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng

Quan sát tất cả các cây/ô để xác định các giai đoạn sau:

+ Số ngày từ trồng đến hồi xanh: Có 70% số khóm đã phục hồi và phát triển + Số ngày từ trồng đến bắt đầu hình thành củ: Có 70% thân phân cành cấp 1

+ Số ngày từ trồng đến dây phủ kín luống: Khi thân lá phủ kín toàn

bộ luống

+ Thời gian sinh trưởng (số ngày từ trồng đến thu hoạch): Thu hoạch

khi củ chín sinh lý, khoảng 1/3 số lá (chủ yếu là lá gốc) chuyển vàng tự nhiên

2.3.3.2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển:

+ Chiều dài thân chính: đo cố định 5 cây/ô; được đo từ gốc đến đỉnh ngọn thân chính, định kỳ theo dõi 15 ngày đo 1 lần Thời gian bắt đầu đo là

45 ngày sau trồng và kết thúc 105 ngày sau trồng

+ Đánh giá sức sinh trưởng thân lá tại thời kỳ 60 ngày sau trồng theo thang điểm (theo quy chuẩn QCVN 01-60: 2011/BNNPTNT)

Điểm 1: sinh trưởng tốt;

Điểm 3: sinh trưởng trung bình;

Điểm 5: sinh trưởng kém

+ Động thái tích lũy chất khô ở củ và thân lá: Xác định theo phương pháp nhiệt sấy 800

C/72h, cho đến khi khối lượng không đổi Ở củ mỗi công thức lấy ngẫu nhiên 3 củ đại diện có khối lượng trung bình, rửa sạch cắt bỏ 2

cm phần đầu củ và đầu cuống, bổ dọc làm 4 phần, lấy ¼ thái mỏng sau đó trộn đều và cân 100g mẫu tươi/lần nhắc lại Ở thân lá mỗi công thức chọn

Trang 38

ngẫu nhiên 1-2 gốc, sau đó thái nhỏ tách lá và thân riêng mỗi loại cân 300g Tất cả đem phơi khô sau đó đưa vào sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 800

C

+ Tỷ số T/R, tiến hành lấy mẫu xác định khối lượng chất khô của bộ phận thân lá và bộ phận rễ củ từ sau 30 ngày trồng đến khi thu hoạch, thời gian lấy mẫu cách nhau là 30 ngày Tỷ số T/R phụ thuộc vào mục đích chọn giống cho thân lá làm thức ăn gia súc hay cho củ làm lương thực mà tỷ lệ biến động khác nhau T/R>1 với mục đích sử dụng thân lá là chính và T/R<1 (tốt nhất là từ 0,3 - 0,8) cho mục đích lấy củ (Mai Thạch Hoành, 1998), (Đinh Thế Lộc và CS, 1997)

2.3.3.3 Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

+ Số củ trung bình/khóm (củ)= Tổng số củ/ tổng số khóm

+ Khối lượng trung bình củ (g)=Tổng khối lượng củ/tổng số củ

+ Khối lượng trung bình/khóm (g)= Khối lượng TB củ x số củ/khóm + Khối lượng dây lá (kg): Cân toàn bộ thân lá /ô thí nghiệm

+ Củ thương phẩm: Có chiều dài từ 10 cm trở lên và đường kính củ từ

2 cm trở lên, không bị sâu bệnh được coi là củ thương phẩm

+ Năng suất thực thu (Tấn/ha): Cân toàn bộ số củ thu được/ô sau đó tính ra 1 ha

+ Năng suất sinh vật học (tấn/ha) = Năng suất củ tươi + Năng suất thân lá + Tỷ lệ tinh bột được xác định theo phương pháp thủy phân tinh bột bằng enzym amylasa Tỷ lệ tinh bột = tỷ lệ glucoza (sau khi tra bảng Ixekut) x 0,9

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê trên phần mềm Excell và chương trình IRRISAT 5.0

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm trồng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống khoai lang Shan thàng I tại xã Shan Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu vụ Hè Thu năm 2014

Khoai lang có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ La Tinh do đó nhiệt độ tương đối cao, cường độ ánh sáng đảm bảo và đủ ẩm là điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển tốt

3.1.1 Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống khoai lang Shan thàng I

Kết quả theo dõi ảnh hưởng của thời điểm trồng đến thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng được chúng tôi trình bày ở bảng 3.1

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của thời điểm trồng đến thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn của giống khoai lang Shan thàng I tại xã Shan Thàng,

thành phố Lai Châu - vụ Hè Thu 2014

CTTN Thời gian

trồng

Thời gian từ trồng đến hồi xanh (ngày)

Sức sinh trưởng (60NST) (điểm)

Tổng thời gian sinh trưởng (ngày)

Ngày đăng: 24/11/2017, 08:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w