1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

15 542 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Và Thực Trạng Nguồn Lực Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế - Quản lý
Thể loại Báo cáo, bài viết
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 128 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thế kỷ XXI, khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cùng với vấn đề hòa bình, toàn cầu hóa, bảo vệ môi trường… ở một diện rộng, khắp nơi trên thế giới đang nổi lên vấn đề con người, trí tuệ con người và nguồn lực con người. Con người đang là trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cảu nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Ngày 07/11/2006 sau 11 năm đàm phán khó khăn, Việt Nam dã chính thức trở thành thành vien của WTO, sự kiện trọng đại này đã mở ra cho chúng ta thêm nhiều cơ hội và thách thức mới, và nguồn nhân lực chính là yếu tố hang đầu để quyết định thành công cho đất nước ta trên một sân chơi đầy khó khăn.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

Bước vào thế kỷ XXI, khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cùng với vấn đề hòa bình, toàn cầu hóa, bảo vệ môi trường… ở một diện rộng, khắp nơi trên thế giới đang nổi lên vấn đề con người, trí tuệ con người và nguồn lực con người Con người đang là trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cảu nhiều nước, trong đó có Việt Nam Ngày 07/11/2006 sau 11 năm đàm phán khó khăn, Việt Nam dã chính thức trở thành thành vien của WTO, sự kiện trọng đại này

đã mở ra cho chúng ta thêm nhiều cơ hội và thách thức mới, và nguồn nhân lực chính

là yếu tố hang đầu để quyết định thành công cho đất nước ta trên một sân chơi đầy khó khăn

Để phù hợp với đặc điểm phát triển của thời kỳ lịch sử đặc biệt này Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường có tác động rất to lớn; làm tăng trưởng kinh tế nhanh và nâng cao dời sống, thúc đẩy cách mạng khoa học và công nghệ, cải tiến quản lý kinh tế Đẩy mạnh CNH

- HĐH hướng tới nền kinh tế tri thức thế kỷ XXI Vì vậy phát triển nguồn nhân lực tương xứng với yêu cầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước đang là vấn đề trung tâm, là khâu đột phá và phải đi trước một bước như Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam

đã khẳng định: “Nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, con người là nguồn nhân lực, là yếu tố quyết định sự phát triển trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước”

B PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về nguồn lực con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa

xã hội

1.1 Nguồn lực con người và vai trò của nó trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

1.1.1 con người và nguồn lực con người

a) Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và con người xã hội chủ nghĩa

 Quan niệm về con người:

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, con người vừa là thực thể tự nhiên,

vừa là thực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh

Con người là một thực thể "song trùng" tự nhiên và xã hội, là sự kết

hợp cái tự nhiên (sinh học) và cái xã hội Hai yếu tố này gắn kết với nhau,

đan quyện vào nhau, trong cái tự nhiên chứa đựng tính xã hội và cũng

không có cái xã hội tách rời cái tự nhiên

Con người trong quá trình tồn tại không chỉ tác động vào tự nhiên,

làm biến đổi thế giới tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên

bản chất người, làm cho con người khác với con vật "Bản chất con người

không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính

hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội"1

Con người không thể tồn tại được một khi tách khỏi xã hội Chỉ trong

xã hội con người mới có thể trao đổi lao động, thông qua đó mà thoả mãn

những nhu cầu trong cuộc sống, như ăn, ở, đi lại v.v Trong xã hội thông

qua quan hệ với người khác mà mỗi người nhận thức về mình một cách đầy

đủ hơn, trên cơ sở đó mà rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt, từngbước hoàn thiện nhân cách

Trang 2

 Quan niệm về con người xã hội chủ nghĩa:

Con người xã hội chủ nghĩa bao gồm cả những con người từ xã hội cũ

để lại và cả những con người sinh ra trong xã hội mới Con người sống

dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mang những nét đặc trưng của chủ nghĩa xã

hội, song vẫn còn chịu ảnh hưởng không ít những tư tưởng, tác phong, thói

quen của xã hội cũ Cho nên, quá trình xây dựng con người mới xã hội chủ

nghĩa là quá trình diễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái cũ và

cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu

Con người xã hội chủ nghĩa vừa là chủ thể trong quá trình xây dựng

chủ nghĩa xã hội, vừa là sản phẩm của quá trình đó

Một mặt, trong lao động sản xuất, đấu tranh xã hội, con người tạo ra

những điều kiện cơ sở vật chất ngày một tốt hơn, phục vụ con người ngày

một chu đáo hơn, cuộc sống của con người ngày càng đầy đủ hơn, môi

trường xã hội ngày càng trong sạch, ngày càng nhân văn hơn, do vậy, càng

có những điều kiện để xây dựng nên những phẩm chất của con người xã

hội chủ nghĩa Mặt khác, cũng chính trong quá trình lao động cải tạo tự

nhiên, cải tạo xã hội mà con người cải tạo chính bản thân mình, tự rèn

luyện khắc phục những hạn chế, thiếu sót của bản thân

Mỗi thời kỳ lịch sử, trên cơ sở của sự phát triển lực lượng sản xuất,

của trình độ phát triển xã hội, cần phải xác định mô hình con người cần xây

dựng Toàn bộ mọi hoạt động của xã hội, hệ thống luật pháp, những chính

sách kinh tế - xã hội, mục tiêu của giáo dục - đào tạo phải hướng vào mục

tiêu đó, hình thành những phẩm chất con người theo bản chất, mục tiêu xã

hội chủ nghĩa Một khi con người đã hình thành với những phẩm chất tốt

đẹp đó lại trở thành chủ thể tự giác để phát triển xã hội theo mục tiêu xã hội

chủ nghĩa

Dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu những giá trị truyền

thống của dân tộc, căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, những đặc

trưng con người xã hội chủ nghĩa mà chúng ta phấn đấu xây dựng là:

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người có ý thức, trình độ và năng

lực làm chủ Đồng thời xã hội tạo ra những điều kiện về kinh tế, chính trị,

xã hội, v.v để con người thực hiện được quyền làm chủ đó

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người lao động mới, có tri thức

sâu sắc về công việc mà mình đang đảm nhận, lao động có ý thức kỷ luật,

có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động,

hiệu quả lao động của bản thân

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người sống có văn hoá, có tình

nghĩa với anh em, bạn bè, mọi người xung quanh, biết được vị trí của mình

trong từng mối quan hệ xã hội và giải quyết đúng đắn được những mối

quan hệ đó; thường xuyên có ý thức nâng cao trình độ tri thức về mọi mặt,

ra sức rèn luyện sức khoẻ, bảo đảm phát triển toàn diện cá nhân

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người giàu lòng yêu nước,

thương dân, có tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, sống nhân

văn, nhân đạo, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ

nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng; kiên quyết đấu tranh làm thấtbại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù

b) Nguồn lực con người

Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn

lực khoa học - công nghệ, nguồn vốn, nguồn lực con người thì nguồn lực

con người là quyết định nhất, bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai

Trang 3

thác có hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy Chúng ta biết

rằng, điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lý, nguồn vốn có vai trò rất lớn trong

sự phát triển của một quốc gia Song những yếu tố đó ở dưới dạng tiềm

năng, tự chúng là những khách thể bất động Chúng chỉ trở thành nhân tố

"khởi động", và phát huy tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú và có khả năng nội sinh không bao giờ cạn Ngược lại nguồn lực con người càng được sử dụng, lại càng được nâng cao chất lượng và hiệu quả

Các lĩnh vực khoa học khác nhau, có thể hiểu nguồn lực theo những

cách khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố

mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên

sự phát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó

Từ cách hiểu như vậy, nguồn lực con người là những yếu tố ở trong

con người có thể huy động, sử dụng để thúc đẩy sự phát triển xã hội

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn lực con người Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp, v.v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó Qua các ý kiến khác nhau có thể hiểu, nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội, v.v tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng

người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong những hoạt động xã hội

Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi

xã hội

Nói tới nguồn lực con người là nói tới số lượng và chất lượng nguồn

nhân lực

Số lượng nguồn lực con người được xác định trên quy mô dân số, cơ

cấu độ tuổi, sự tiếp nối các thế hệ, giới tính và sự phân bố dân cư giữa các vùng, các miền của đất nước, giữa các ngành kinh tế, giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội

Chất lượng nguồn lực con người là một khái niệm tổng hợp bao gồm

những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, năng lực quản lý, mức độ thành thạo trong công việc, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương đất

nước, ý thức giai cấp, ý thức về trách nhiệm cá nhân với công việc, với gia đình và xã hội, giác ngộ và bản lĩnh chính trị, v.v và sự kết hợp các yếu tố

đó Trong các yếu tố trên thì phẩm chất đạo đức và trình độ học vấn là quan trọng nhất, nó nói lên mức trưởng thành của con người, quy định phương pháp

tư duy, nhân cách, lối sống của mỗi con người

Số lượng và chất lượng nguồn lực con người có quan hệ với nhau một cách chặt chẽ Nếu số lượng nguồn lực con người quá ít sẽ gây khó khăn cho phân công lao động xã hội và do vậy, chất lượng lao động cũng bị hạn chế Chất lượng nguồn lực con người nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã hội, đồng thời cũng tạo điều kiện

nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể người trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội

Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo

Trang 4

nguồn lực con người có chất lượng ngày càng cao Muốn thực hiện được

điều đó, cần có sự quan tâm ngay trong quá trình đào tạo, trong quá trình sử

dụng và phân công lao động xã hội

1.1.2 Vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng chủ

nghĩa xã hội

Chủ nghĩa xã hội có được xây dựng thành công hay không, tuỳ thuộc

vào việc chúng ta có phát huy tốt nguồn lực con người hay không? Khi Việt

Nam bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng

định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã

hội chủ nghĩa"1 (với ý nghĩa là đặc biệt chú ý đến vấn đề nhận thức của conngười về chủ nghĩa xã hội - tức là phải giác ngộ xã hội chủ nghĩa)

Để làm rõ hơn quan điểm trên của Hồ Chí Minh, cần nghiên cứu vai trò nguồn lực con người trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội

a) Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực kinh tế

Trong lĩnh vực kinh tế, cần xem xét con người với tư cách là lực lượng

sản xuất và vai trò trong quan hệ sản xuất

Trong bất cứ xã hội nào, người lao động cũng là yếu tố quan trọng

nhất trong lực lượng sản xuất Ngày nay, khoa học và công nghệ ngày càng

phát triển, hàm lượng chất xám trong giá trị hàng hoá ngày càng cao, thì vai

trò của người lao động có trí tuệ lại càng quan trọng trong lực lượng sản

xuất V.I Lênin đã chỉ ra: "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân

loại là công nhân, là người lao động"

Con người khi được làm chủ những tư liệu sản xuất, được đào tạo một

cách chu đáo những kiến thức quản lý kinh tế sẽ có điều kiện khai thác một

cách có hiệu quả tiềm năng đất đai, biết kết hợp các yếu tố của quá trình sản

xuất như huy động vốn, động viên khuyến khích người lao động làm việc có

hiệu quả, quản lý chặt chẽ nguyên liệu vật tư, do vậy, hiệu quả sản xuất kinh

doanh sẽ tốt hơn Ngày nay vai trò người quản lý trong sản xuất kinh doanh

ngày càng trở nên quan trọng, do vậy, các quốc gia thường rất quan tâm tới

đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, người lao động đã trở

thành những người làm chủ đất nước, làm chủ trong quá trình tổ chức quản

lý sản xuất, từ việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tới tổ chức sản

xuất kinh doanh và làm chủ trong quá trình phân phối sản phẩm Điều đó

tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con người, phát

triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, làm cho đất nước ngày càng giàu

đẹp

b) Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực chính trị

Từ khi giai cấp công nhân và đảng của nó lãnh đạo toàn xã hội thì con

người đã được giải phóng khỏi áp bức dân tộc, áp bức giai cấp, trở thành

người làm chủ đất nước, nhân dân tự tổ chức thành nhà nước dưới sự lãnh

đạo của giai cấp công nhân Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác -

Lênin về xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, Hồ Chí Minh nhiều lần

lưu ý rằng, nước ta phải đi đến dân chủ thực sự, "Chúng ta phải ra sức thực

hiện những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiệndân chủ thực sự"

Xét nguồn lực con người trên phương diện chính trị, khi mà người dân

có tri thức, có năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa

chọn những người có đức có tài vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây

Trang 5

dựng nhà nước vững mạnh.

Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy được

trách nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và

thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ được dân mến, dân tin, dân

ủng hộ

Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối của đảng, phổ biến luật pháp

của nhà nước đến nhân dân, làm cho dân hiểu dân tin; người dân chủ động

tích cực thực hiện đường lối đó, có ý thức tôn trọng luật pháp, thực hiện

những nghĩa vụ công dân, hiểu rõ quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh

với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội sẽ làm tăng sức mạnh của nhà

nước xã hội chủ nghĩa

Nói về vai trò của quần chúng tham gia công việc của Nhà nước, Hồ

Chí Minh đã viết: khi người dân " biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng

quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm", "thì việc gì khó khăn mấy họ

cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ"

Có thể khẳng định, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong

việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì

dân; trong quá trình đấu tranh bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ

chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của

kẻ thù

c) Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực văn hoá

Dưới chủ nghĩa xã hội nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ

trong đời sống văn hóa xã hội Hệ thống báo chí, phát thanh truyền hình do

nhà nước quản lý nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao mức hưởng thụ

văn hoá cho quần chúng nhân dân lao động

Mặt khác, quần chúng nhân dân lao động cũng là những người góp phần

xây dựng nên những công trình văn hoá, những người sáng tạo ra các tác

phẩm nghệ thuật

Một khi, con người có tri thức, có hiểu biết về các hình thức nghệthuật, sẽ tham gia sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao như:

những bộ phim hay, những điệu múa đẹp, những tác phẩm văn học có nội

dung phong phú, v.v Những công trình văn hóa, nghệ thuật như vậy dễ đi

vào lòng người, có tác dụng giáo dục đạo đức, góp phần hình thành nhân

cách cho mỗi con người trong xã hội

Con người có văn hoá cũng là những người có nghĩa vụ bảo tồn những

di sản văn hoá tinh thần của đất nước, của nhân loại Do vậy, nếu mỗi con

người có ý thức, năng lực thực hiện tốt công việc này, thì những giá trị văn

hoá tinh thần, giá trị văn hoá vật chất của xã hội được bảo tồn, lưu giữ,

được nâng cao

Trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, mỗi con người

chúng ta có điều kiện tiếp cận với nền văn hoá nhiều nước trên thế giới

Trình độ tri thức của mỗi người về văn hoá sẽ là tiền đề cho họ tiếp nhận

những giá trị tốt đẹp của dân tộc khác, loại bỏ những yếu tố không phù

hợp để làm giàu cho nền văn hoá dân tộc mình, làm phong phú đời sống

tinh thần cá nhân

Con người có tri thức khoa học, có năng lực nghiên cứu tạo ra những

khả năng cho họ có những đóng góp xứng đáng trong sự phát triển khoa

học của đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đào tạo, bồi

dưỡng đội ngũ trí thức, tạo điều kiện cho họ cống hiến hết khả năng trí tuệ

Trang 6

cho đất nước, cho sự phát triển của xã hội.

d) Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực xã hội

Những vấn đề xã hội bao gồm: Vấn đề lao động việc làm, thực hiện

công bằng xã hội, thực hiện xoá đói, giảm nghèo, v.v Muốn giải quyết tốt

những vấn đề này, đòi hỏi chúng ta phải phát huy tốt vai trò nguồn lực con

người

Giải quyết lao động việc làm là một vấn đề được từng gia đình, toàn

xã hội chúng ta quan tâm, vì có giải quyết tốt vấn đề lao động việc làm mới

phát huy được những thế mạnh của đất nước, mới giải quyết tốt được

những vấn đề xã hội khác Song, muốn giải quyết tốt vấn đề lao động việc

làm, đòi hỏi chúng ta phải nâng cao chất lượng nguồn lực con người từ

nâng cao sức khoẻ, trình độ học vấn, tay nghề, năng lực quản lý, tới ý

thức chính trị cho người lao động

Chính sách xoá đói giảm nghèo là một chính sách lớn của Đảng và

Nhà nước ta hiện nay Chính sách này chỉ phát huy hiệu quả khi chính

những người nghèo thấy được trách nhiệm của mình, cố gắng nỗ lực phấn

đấu vươn lên, đồng thời được sự đồng tình ủng hộ của toàn xã hội, sự trợ

giúp của Nhà nước, v.v

Như vậy, con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật

chất, mà còn là chủ thể của quá trình sản xuất tinh thần của xã hội Bằng

hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người cải tạo tự

nhiên, biến đổi xã hội, bắt tự nhiên phục vụ cho mình, và làm đẹp cho tự

nhiên; đồng thời trong quá trình đó con người cải tạo chính bản thân mình Do

vậy, sự phối hợp giữa các thành viên trong cộng đồng đó cũng tạo ra sức

mạnh to lớn trong việc phát huy nguồn lực con người để nhận thức, cải tạo tự

nhiên và xã hội Ngược lại, sự thiếu thống nhất, sự phối hợp không đồng bộ

của các thành viên trong xã hội cũng sẽ làm giảm đi, thậm chí triệt tiêu cả

động lực phát triển tự nhiên và xã hội

Nguồn lực con người, xét về mỗi cá nhân, còn là những yếu tố tiềm

năng cấu thành con người có thể được khai thác Nhưng hiệu quả việc phát

huy nguồn lực con người lại tuỳ thuộc vào chế độ xã hội, tuỳ thuộc vào

cách tổ chức xã hội, phụ thuộc vào năng lực và nghệ thuật của người quản

lý xã hội, phụ thuộc vào cơ chế và chính sách xã hội

Nguồn lực con người không khai thác, không phát huy được là lãng

phí lớn nhất Đặc biệt là với đội ngũ trí thức càng hoạt động, càng nghiên

cứu, càng làm việc trí tuệ của họ càng đa dạng, càng phong phú và sâu sắc

Nước ta đang còn là một nước nghèo, kinh tế kém phát triển, thì việc phát

huy nguồn lực con người để xây dựng đất nước càng trở nên quan trọng

2 Nguån lùc con ngêi ë ViÖt Nam hiÖn nay

2.1 §Æc ®iÓm cña nguån nh©n lùc ViÖt Nam

1.1 Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào và tăng trưởng nhanh.

Việt Nam là một quốc gia có dân số đông nên có nguồn nhân lực dồi dào, đứng vị trí tứ 13 trên thế giới và thứ 2 trong khối ASEAN Thập kỷ 90, nước ta có trên 35 triệu lao động và đầu thế kỷ 21 là trên 40 triệu Do dân số tiếp tục tăng nên nguồn nhân lực ngày một lớn

Do nguồn lực tăng nhanh nên hàng năm trung bình có thêm trên một triệu lao động gia nhập vào thị trường lao động nên nguồn nhân lực nước ta là một trong những quốc gia có một nguồn nhân lực trẻ Lực lượng lao động trẻ cũng là một lợi thế của nước ta trong việc phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong sự nghiệp CNH - HĐh

Trang 7

1.2 Tỷ lệ lao động được đào tạo kỹ thuật, chuyên môn vẫn còn thấp chủ yếu

là lao động thủ công.

Mặc dù nhà nước đã quan tâm và đầu tư nhiều cho giáo dục nhưng do nguồn nhân lực tăng nhanh nên phần đông chưa được đào tạo nghề chuyên môn, chủ yếu là lao động thủ công lạc hậu

Trong giai đoạn nền kinh tế hội nhập và phát triển như hiện nay thì nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao những lao động đã qua đào tạo Đây đang là khó khăn thách thức cho đất nước ta Mặc dù có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng nhưng dù sao đây cũng là một yếu tố làm giảm sức cạnh tranh của người lao động Việt Nam trên thị trường, ngoài ra tình trạng này còn do thời gian qua chúng ta buông lỏng quản lý cơ cấu đào tạo, để phát triển tự phát theo nhu cầu người dân, còn nặng tâm lý khoa cử, nhẹ tâm lý thực nghiệm, chưa gắn đào tạo với sử dụng và chưa chú ý đúng mức tới công tác đào tạo nghề

1.3 Cơ cấu nguồn nhân lực của Việt Nam còn bất hợp lý.

Sự bất hợp lý trong cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện ở chỗ: là một nước nông nghiệp, đang trên đà phát triển thì lực lượng lao động nông nghiệp vẫn còn là chủ yếu với tỷ trọng khá cao nhưng đã từng bước được thay đổi Các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ vẫn trên dưới 20% Với tỷ lệ này chúng ta vẫn còn đang lạc hậu so với thế giới nhất là các nước đang phát triển

1.4 Các đặc điểm khác:

- Ngoài những đặc điểm chủ yếu trên thì người lao động Việt Nam giàu lòng yêu nước, cần cù làm việc, chịu khó học hỏi, thông minh tiếp thu nhanh chóng những cái mới nhưng thể lực còn hạn chế, thói quen, tác phong làm việc còn lạc hậu

- Tính mất cân đối cung cầu lao động của người Việt Nam còn cao cả về tổng thể và cơ cấu đã tạo ra áp lực lớn về việc làm, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn ngày càng gia tăng

- Quy mô, mức tham gia vào thị trường lao động còn thấp Hiện nay thị trường lao động chỉ thực sự hoạt động ở các thành phố lớn

Với những đặc điểm ở trên của nguồn nhân lực thì chúng ta cần phải đặt ra nhiều vấn đề để quản lý nguồn nhân lực quốc gia

2.2 Quan điểm của đảng ta về chiến lược con người.

Trong xu thế ngày nay con người càng có vị trí quan trọng, con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm Ở nước ta trong từng giai đoạn con người cũng được thể hiện trong các chương trình cụ thể:

- " Con người là mục tiêu là động lực phát triển kinh tế xã hội " ( giai đoạn

1991 - 1995 )

- " Phát triển văn hoá xây dựng con người toàn diện trong thời kỳ CNH - HĐH

" ( giai đoạn 1996 - 2000 )

- " Phát triển văn hoá và nguồn lực trong thời kỳ CNH - HĐH " ( giai đoạn

2001 - 2005 )

- Tại Đại hội lần thứ III của Đảng Cộng Sản Việt Nam ( 1960 ) Đảng ta đã khẳng định: " Con người là vốn quý nhất "

- Tại Đại hội lần thứ IV, Đảng ta đã đưa ra luận điểm con người mới, con người làm chủ tập thể

- Tháng 12/1986 Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định vai trò của nhân tố con người trong toàn bộ sự phát triển kinh tế xã hội Đây là Đại hội chuyển đất nước ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 8

- Đại hội lần thứ VII, Đảng ta đó thụng qua cương lĩnh mới và chiến lược ổn định, phỏt triển kinh tế xó hội đến năm 2000 Con người được đặt vào vị trớ trung tõm của chiến lược kinh tế xó hội

- Đại hội VIII, Đảng khẳng định đường lối chiến lược phỏt triển kinh tế đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, lấy việc phỏt huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phỏt triển nhanh và bền vững 1

- Đại hội IX của Đảng đó chỉ rừ " nguồn nhõn lực là một trong những động lực quan trọng thỳc đẩy sự nghiệp CNH - HDDH, là điều kiện để phỏt huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phỏt triển kinh tế xó hội, tăng trưởng nhanh và bền vững " 2

- Đại hội X Đảng khẳng định: Nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phỏt triển xó hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Con người và nguồn nhõn lực là yếu tố quyết định phỏt triển đất nước trong thời kỳ CNH - HDDH Đảng đó lấy phỏt triển nguồn nhõn lực, giỏo dục - đào tạo, khoa học cụng nghệ là một trong ba khõu đột phỏ đưa đất nước vào thời kỳ CNH - HĐH, thực hiện mục tiờu dõn giàu, nước mạnh,

xó hội cụng bằng dõn chủ văn minh, xõy dựng chủ nghĩa xó hội, bảo vệ tổ quốc

Từ trờn ta cú thể thấy được sự quan tõm của Đảng ta cho nguồn nhõn lực, luụn xem đõy là yếu tố cực kỳ quan trọng và cú ý nghĩa to lớn cho sự phỏt triển đất nước Trong khi hoạch định chiến lược ổn định và phỏt triển kinh tế - xó hội nhằm thực hiện từng bước cương lĩnh xõy dựng đất nước trong thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội Đảng và Nhà nước ta xuất phỏt từ quan điểm coi mục tiờu và động lực chớnh của sự phỏt triển là con người, do con người Quan điểm mục tiờu đú thể hiện ở những tư tưởng cơ bản sau:

- Đặt con người vào vị trớ trung tõm trong chiến lược phỏt triển hay gọi là chiến lược con người, lấy lợi ớch của con người làm điểm xuất phỏt của mọi chương trỡnh, kế hoạch phỏt triển

- Khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cỏ nhõn, tập thể lao động và cả cộng đồng dõn tộc trong việc thực hiện cương lĩnh xõy dựng đất nước, ra sức làm giàu cho đất nước

- Coi lợi ớch cỏ nhõn là động lực trực tiếp của sự phỏt triển trong sự gắn bú hữu cơ giữa lợi ớch của mỗi con người, của từng tập thể và của toàn xó hội

- Mọi người được tự do kinh doanh theo phỏp luật, được bảo vệ quyền sở hữu

và thu nhập hợp phỏp

Quan điểm mục tiờu và động lực chớnh của sự phỏt triển là vỡ con người và do con người phải đượcquỏn triệt trong mọi hoạt động của đời sống xó hội từ lónh đạo của Đảng, hoạt động quản lý của Nhà nước, của cỏc tổ chức quần chỳng đến cỏc chương trỡnh phỏt triển kinh tế - xó hội và hoạt động của cỏc doanh nghiệp

2.3 Vai trò của nguồn lực con ngời trong quá trình phát triển

a) Nguồn nhân lực mục tiêu động lực của sự phát triển

Núi đến vai trũ đối với sự phỏt triển là núi đến vai trũ của con người trong sự phỏt triển Vai trũ con người đối với sự phỏt triển được thể hiện ở hai mặt Thứ nhất, con người với tư cỏch là người tiờu dựng sản phẩm, dịch vụ và kho tàng văn hoỏ Thứ hai, với tư cỏch là người lao dộng, tạo ra tất cả sản phẩm đú với sức lực và úc sỏng tạo vụ hạn

Để tồn tại và phỏt triển, con người phải được đỏp ứng nhu cầu về mặt vật chất

Sự tiờu dựng của con người khụng chỉ là sự tiờu hao kho tàng vật chất và văn hoỏ do con người tạo ra mà chớnh là nguồn gốc động lực của sự phỏt triển xó hội Để khụng ngừng thoả món những nhu cầu về vật chất, tinh thần ngày càng được nõng cao về số lượng và chất lượng trong điều kiện cỏc nguồn lực đều cú hạn, con người ngày càng phải phỏt huy đầy đủ hơn khả năng về thể lực và trớ lực cho sự phỏt triển khụng ngừng

Trang 9

kho tàng vật chất và tinh thần đú Chớnh vỡ vậy, sự tiờu dựng của con người, sự đỏp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu của con người là động lực phỏt triển

Với tư cỏch là người sản xuất con người cú vai trũ quyết định đối với sự phỏt triển Tất cả cỏc kho tàng vật chất và văn hoỏ đó cú và cũn tiếp tục được sỏng tạo thờm làm phong phỳ sản phẩm lao động của con người, đều là kết quả hoạt động lao động của con người Trong bất kỳ một trỡnh độ văn minh nào, lao động của con người cũng đúng vai trũ quyết định Xuất phỏt từ vai trũ nguồn nhõn lực đối với sự phỏt triển và đặc điểm cụ thể của nước ta Đảng và Nhà nước ta xỏc định nguồn nhõn lực

và con người Việt Nam là lợi thế và nguồn nhõn lực quan trọng nhất của sự phỏt triển Điều đú thể hiện ở chỗ:

- Nước ta cú nguồn nhõn lực dồi dào và cũn tăng lờn nhanh chúng trong tương tai

- Con người Việt Nam cú truyền thống yờu nước, cần cự sỏng tạo, cú khả năng nắm bắt nhanh khoa học cụng nghệ

- Con người Việt Nam cú nhiều năng khiếu, nhanh nhạy với cơ chế thị trường Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư, vật chất kỹ thuật cũn nhiều hạn chế, với nguồn nhõn lực dồi dào ngày càng được đào tạo kỹ lưỡng, nước ta cú lợi thế trong việc tham gia phõn cụng lao động quốc tế, đặc biệt trờn thị trường lao động quốc tế

b) Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa

Cụng nghiệp húa, hiện đại húa đó và đang lụi cuốn, tỏc động đến tất cả cỏc nước cũng như đến tất cả cỏc lĩnh vực của đời sống xó hội Đối với nước ta, từ xuất phỏt điểm là nền kinh tế tiểu nụng, muốn thoỏt khỏi nghốo nàn lạc hậu và nhanh chúng đạt đến trỡnh độ của một nước phỏt triển theo mục tiờu "dõn giàu, nước mạnh", tất yếu phải tiến hành thực hiện sự nghiệp cụng nghiệp húa, hiện đại húa như là "một cuộc cỏch mạng toàn diện và sõu sắc trong tất cả cỏc lĩnh vực của đời sống xó hội" Đõy cũng là nhiệm vụ trung tõm cú tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới của cỏch mạng nước ta Trong hàng loạt phương thức và biện phỏp để thực hiện sự nghiệp cụng nghiệp húa, hiện đại húa, vấn đề xõy dựng và phỏt triển nguồn nhõn lực kỹ thuật cho cỏc khu cụng nghiệp là hết sức cần thiết và cú tớnh chiến lược lõu dài Ngày nay, khụng ai cú thể phủ nhận vị trớ, vai trũ đặc biệt quan trọng của nguồn nhõn lực núi chung, nguồn nhõn lực kỹ thuật núi riờng đối với sự nghiệp cỏch mạng và sự nghiệp cụng nghiệp húa, hiện đại húa đất nước Bởi vỡ, nguồn nhõn lực, nhất là nhõn lực kỹ thuật chớnh là lực lượng lao động đó, đang và sẽ tham gia đắc lực vào tiến trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại húa; là nguồn lực cú ý nghĩa quyết định đối với cỏc nguồn lực khỏc cũng như quyết định sự thành bại của sự nghiệp cỏch mạng

Sau gần 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, trờn địa bàn cả nước ta núi chung nguồn nhõn lực kỹ thuật tại cỏc khu cụng nghiệp đó khẳng định vai trũ quan trọng trong việc tạo ra khối lượng lớn sản phẩm hàng húa lớn, phong phỳ và đa dạng, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp cụng nghiệp húa, hiện đại húa Xu thế thời đại, vấn

đề toàn cầu húa, nhất là trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đang đặt ra nhiều thỏch thức cho đất nước, trong đú cú ỏp lực ngày càng tăng về việc chuẩn bị nguồn nhõn lực thớch ứng và đi kịp với yờu cầu của thời đại

Sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ là sự nghiệp cỏch mạng của quần chỳng

mà trong đú lực lượng cỏn bộ khoa học cụng nghệ và cỏc cụng nhõn lành nghề giữ vai trũ đặc biệt quan trọng Do đú, trong quỏ trỡnh phỏt triển, cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ đũi hỏi phải cú đầy đủ nguồn nhõn lực về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cú trỡnh độ cao

3 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

3.1 Thành Tựu

3.1.1 Cỏc cơ sở giỏo dục và đào tạo nguồn nhõn lực

Trang 10

Tính đến đầu năm 2007, Việt Nam có 143 trường đại học, 178 trường cao đẳng,

285 trường trung cấp chuyên nghiệp và 1.691 cơ sở đào tạo nghề Cả nước hiện có 74 trường và khối trung học phổ thông chuyên với tổng số 47,5 nghìn học sinh tại 63/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 7 trường đại học chuyên Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông chuyên so với tổng dân số của cả nước đạt 0,05%

Hệ thống trường phổ thông ngoài công lập mở rộng đáng kể Tại thời điểm năm học 1997-1998, tỷ lệ số trẻ em học hệ ngoài công lập chiếm 62,47% ở nhà trẻ, 50,81%

ở mẫu giáo; 31,85% ở phổ thông trung học

Ngoài 246 trường trung học công nghiệp và 173 trường dạy nghề công lập, đã có

506 trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề dịch

vụ loại hình dân lập, tư thục, bán công với hàng chục ngàn học sinh

Nhiều tổ chức quốc tế cũng tham gia giúp đỡ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực Chẳng hạn, ở Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội có tới 4 trung tâm và chương trình quốc tế đào tạo về quản trị kinh doanh như: Trung tâm Pháp - Việt, chương trình SIDA (Thụy Điển), Chương trình Hà Lan, Chương trình Bỉ

Nhờ các nguồn viện trợ và đóng góp của nhân dân, mức đầu tư cho giáo dục hiện nay của Việt Nam đạt 10-15 USD/người (tuỳ theo vùng giầu nghèo), trong khi nguồn

từ ngân sách chỉ đạt 7 USD/người

Bước đầu góp phần đáp ứng các đòi hỏi rất đa dạng về cơ cấu ngành nghề, trình độ

kỹ năng của thị trường lao động

Góp phần tận dụng tiềm năng của các cơ sở đào tạo và đội ngũ giáo viên

Trong đời sống thực tế đã hiện diện nhiều hoạt động mới như:

Xuất hiện các phương thức đào tạo phong phú: Các giáo trình truyền thông mở rộng tri thức kiểu xã hội hóa, dạy theo tình huống, phương pháp vừa học vừa làm Xuất hiện các loại tổ chức đào tạo mới như: Trường dân lập, bán công, đào tạo từ

xa, đại học mở, trường bán trú, trường hạch toán một phần, các lớp tập huấn đầu bờ

Sự gắn kết giữa đào tạo và sản suất được tăng cường: Các đơn vị sản suất, kinh doanh tích cực đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ nhân viên của mình; các cơ sở đào tạo tham gia hoạt động kinh tế; liên kết giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất

3.1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực

Nguồn lực từ nông dân

Tính đến nay, số dân của cả nước là 84,156 triệu người1, trong đó, nông dân chiếm khoảng hơn 61 triệu 433 nghìn người, bằng khoảng 73% dân số của cả nước

Số liệu trên đây phản ánh một thực tế là nông dân nước ta chiếm tỷ lệ cao về lực lượng lao động xã hội

Chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn thấp số người được đạo tạo mới chỉ chiếm khoảng 10%

Nguồn lực từ công nhân

Về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có khoảng dưới 5 triệu người, chiếm 6% dân số của cả nước, trong đó, công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ thấp, khoảng gần 2 triệu người, bằng khoảng 40% so với lực lượng công nhân nói chung của cả nước; lực lượng công nhân của khu vực ngoài nhà nước có khoảng 2,70 triệu, chiếm gần 60% Xu hướng chung là lực lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước ngày càng ít đi, trong khi đó, lực lượng công nhân của khu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng lên

Số công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người, chiếm khoảng 3,3% so với đội ngũ công nhân nói chung ở Việt Nam Số công nhân xuất khẩu lao động tiếp tục tăng, tuy gần đây có chững lại Từ năm 2001 đến năm 2006, Việt Nam đã đưa được gần 375 nghìn người lao động đi làm việc tại trên

40 nước và vùng lãnh thổ, tăng gấp 4 lần so với thời kỳ 1996-2000 (95 nghìn người)

Ngày đăng: 23/07/2013, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w