LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.Hiện nay, Việt Nam của chúng ta đang hội nhập quốc tế sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Khi tiến hành hội nhập sẽ có rất nhiều các quốc gia tham gia. Thực tế hiện nay, mỗi một quốc gia đều có một hệ thống quy phạm pháp luật riêng và các quy phạm pháp luật này khác với quy phạm pháp luật của các quốc gia khác thậm chí là hoàn toàn trái ngược với nhau. Nguyên nhân của sự khác nhau về pháp luật của mỗi quốc gia do xuất phát từ các đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội và điều kiện lịch sử hình thành của mỗi quốc gia đó là rất khác nhau.Vì vậy, khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật khi pháp luật của các bên tham gia cùng điều chỉnh một vấn đề.Để giải quyết tốt về hiện tượng xung đột pháp luật khi điều chỉnh các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài đặc biệt về lĩnh vực hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì các quy phạm pháp luật cần phải có sự thống nhất và phù hợp theo thông lệ của thế giới để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể trong và ngoài nước. Chính vì vậy, Việt Nam cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật của mình khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.Gần đây, tại kì họp thứ 10 Khóa XIII diễn ra vào ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự 2015 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2017. Bộ luật Dân sự 2015 đã có những tiến bộ đáng kể so với Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 về những quy định liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc ra đời của Bộ luật Dân sự 2015 đã tháo gỡ một số những bất cấp và khó khăn nhất định so với các Bộ luật Dân sự ban hành trước đó. Điều này đã góp phần rất lớn trong việc hội nhập kinh tế của Việt Nam và đồng thời cũng tương thích hơn với xu thế phát triển của pháp luật của các quốc gia trên thế giới hiện nay.Do đó, nghiên cứu, tìm hiểu về việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng tại Việt Nam mà chủ yếu là theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa. Bằng việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” để đưa ra cái nhìn tổng quát về các quy định pháp luật liên quan đến lĩnh vực xung đột hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan và hướng giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Đồng thời nêu lên cách mà một số quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài; từ đó đưa ra một số đề xuất cho Việt Nam nhằm khắc phục một số vướng mắc khi thi hành.2.Tình hình nghiên cứu của đề tài.Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài vấn đề xung đột pháp luật và xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng tại Việt Nam, trong đó có thể kể đến như:Nhóm tài liệu là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luật tốt nghiệp, đề tài khoa học các cấp:Nguyễn Công Khanh (2003),“Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.Nguyễn Bá Chiến (2008), “Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.Nguyễn Thị Thuận (2005), “Giải quyết xung đột về hiệu lực và áp dụng giữa các điều ước quốc tế”, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.Đặng Thái Hưng (2014), “Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.Nguyễn Thị Thoa (2009),“Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế bằng tòa án”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội....Nhóm tài liệu là bài viết trên các tạp chí khoa học luật:Nguyễn Tiến Vinh, “Bàn về việc hoàn thiện các quy định trong Phần VII Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 52003, tr.4552.Đỗ Văn Đại, “Tư pháp Quốc tế Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 102003, tr. 6471....Nhóm các tài liệu là giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo gồm có:PGS.TS Nguyễn Bá Diến (2013), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.PGS. TS Nguyễn Bá Diến (2010), “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.Hoàng Thế Liên (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Tư pháp Quốc tế Phần riêng, Nxb Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh....Tóm lại, đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về xung đột pháp luật, một số vấn đề về quy phạm xung đột và việc áp dụng quy phạm xung đột trong thực tiễn nhất là trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, trong tất cả các công trình nêu trên và theo tác giả được biết thì chưa có một công trình nào chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống và tổng thể đối với quy phạm xung đột về hợp đồng tại Việt Nam dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Và tất cả các công trình nguyên cứu và bài viết trên mới chỉ nghiên cứu những quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 mà chưa có một đề tài và bài viết nào viết theo các quy định theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.Do đó, đề tài “Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” nhằm mục đích nghiên cứu một cách tổng hợp, khái quát, đánh giá một cách có hệ thống các quy định giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài của Bộ luật Dân sự 2015. Cũng như nêu lên cách mà một số quốc gia sử dụng trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới từ đó rút ra một số bài học kình nghiệm cho Việt Nam.3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.Mục đích nghiên cứu: Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015.Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài là phân tích các quy định pháp luật và đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật khi giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo Bộ luật Dân sự 2015. Đồng thời, nêu lên bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới khi giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Từ đó, đưa ra một số đề xuất cho Việt Nam nhằm khắc phục một số vướng mắc khi thi hành4.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.Đối tượng được nghiên cứu của đề tài là các quy phạm pháp luật xung đột về hợp đồng có yếu tố nước ngoài chủ yếu trong Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan của pháp luật Việt Nam. Cũng như các quy phạm pháp luật của một số nước khi giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài.Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung vào phân tích chủ yếu các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.5.Phương pháp nghiên cứu.Khóa luận đã sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh và phương pháp thu thập thông tin để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra. Các phương pháp này được sử dụng linh hoạt trong các phần khác nhau của khóa luận.Ngoài ra, khóa luận còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh của pháp luật quốc tế và pháp luật các nước trong lĩnh vực giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng. Khóa luận cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.6.Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp.Ngoài phần mở đầu và kết luận, Khóa luận tốt nghiệp bao gồm hai chương:Chương 1: Khái quát chung về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài.Chương 2: Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị. Chương 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI1.1.Khái quát chung về hợp đồng có yếu tố nước ngoài1.1.1.Khái niệm hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nước ngoàiKhái niệm hợp đồngHợp đồng là một thuật ngữ được sử sụng rất lâu đời và được sử dụng một cách rộng rãi hiện nay trong rất nhiều các lĩnh vực của đời sống xã hội như mua bán hàng hóa, thuê nhà, chuyển nhượng quyền sủ dụng đất... Ngay từ thời La Mã, các luật gia đã đặt đã đặt ra những điều kiện cơ bản để hợp đồng có hiệu lực đó là: phải có ý chí và sự thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch; xác định rõ ràng nội dung của hợp đồng; hành vi, công việc trong hợp đồng phải được thực hiện; đáp ứng những điều kiện về mặt hình thức nhất định 3, tr. 48. Mặc dù những quy định này đã có từ rất lâu nhưng cho đến nay, những điều kiện này vẫn là những điều kiện chính và cơ bản trong pháp luật hiện hành của nhiều quốc gia trên thế giới.Ví dụ: Điều 1011 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”. Hay tại Điều 1378 Bộ luật Dân sự 1994 của Bang Québec (Canada) quy định: “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác” 24, tr. 11. Như vậy có thể thấy trong Bộ luật Dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự 1994 của Bang Québec (Canada) đều đưa ra khái niệm về hợp đồng khá giống nhau và cả hai mới chỉ ra một phần bản chất của hợp đồng đó là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên mà chưa chỉ ra được hết các dấu hiệu đặc trưng về hợp đồng 25, tr. 17.Các quốc gia thuộc hệ thống thông luật (Common law) như Anh, Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, định nghĩa về hợp đồng là một thỏa thuận có tính ràng buộc về mặt pháp lý. Hợp đồng theo hệ thống common law được hình thành khi đáp ứng những điều kiện: có đề nghị giao kết hợp đồng, có sự chấp thuận đối với đề nghị giao kết hợp đồng, sự bù trừ nghĩa vụ và ý định thiết lập nghĩa vụ pháp lý. Sự khác biệt của hệ thống luật Common law là sự bù trừ nghĩa vụ được hiểu là một giá trị nào đó (có thể là tiền, dịch vụ hoặc một công việc) mà theo đó mỗi bên nhận được hoặc trao đi hoặc từ bỏ theo thỏa thuận. Do đó, nếu thiếu sự bù trừ nghĩa vụ nghĩa là một trong các bên không có nghĩa vụ theo thỏa thuận thì hợp đồng sẽ không thực hiện được 3, tr. 51.Ví dụ: Điều 1 201 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code of United State of America) quy định: “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên mà nếu một trong các bên vi phạm những nghĩa vụ này thì bị buộc phải thực hiện bằng sự cưỡng chế của pháp luật”. Và trong Bách Khoa toàn thư về pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để không làm một việc, giao một vật xác định”. Từ đó có thể thấy định nghĩa về hợp đồng của pháp luật Hoa Kỳ đã thể hiện rõ được bản chất và mục đích cơ bản hợp đồng 24, tr. 11.Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc (1999) quy định: “hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, thể nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác. Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… phải phù hợp với quy định của các luật khác”. Từ quy định này cho thấy, Định nghĩa về hợp đồng của Trung Quốc có nhiều điểm giống với khái niệm hợp đồng của luật La Mã nhấn mạnh tới sự tự do thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên khi giao kết hợp và khi thỏa thuận các chủ bên bình đẳng trước pháp luật 24, tr. 29.Hay tại Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Nga (1994) quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Từ quy định này có thể thấy, định định nghĩa về hợp đồng của Nga tương tự như định nghĩa hợp đồng của Trung Quốc nhưng có tính khái quát và ngắn gọn hơn 25, tr. 19. Thuật ngữ “hợp đồng” được sử dụng chủ yếu tại Việt Nam vào giữa thế kỷ 19 trở đi. Trong đời sống thực tế, Việt Nam thương sử dụng các thuật ngữ thay thế cho thuật ngữ hợp đồng: giao kèo, cam kết, giao ước, khế ước, văn tự, văn khế, tờ ưng thuận, … Tại Việt Nam, khái niệm về hợp đồng lần đầu tiên được xuất hiện tại Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991. Điều 1 Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”. Định nghĩa này đã thể hiện được bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng và kết quả của sự thỏa thuận này được coi là căn cứ để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, định nghĩa này lại sử dụng phương pháp liệt kê về các loại hợp đồng nên dễ đến thiếu sót và có khả năng không điều chỉnh được tất cả các mối quan hệ xã hội có thể xuất hiện trong tương lai.Để khắc phục điều những thiếu sót của Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991 thì Bộ luật Dân sự 1995 ra đời và đưa ra một định nghĩa khác về hợp đồng tại Điều 394 như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Định nghĩa này sự khái quát hóa cao hơn so với Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991 đã bao quát được tất cả các loại hợp đồng trên thực tế và vẫn được giữ nguyên trong Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy định nghĩa về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 hoàn toàn giống với định nghĩa về hợp đồng quy định tại Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Nga (1994). Đến Bộ luật Dân sự 2015 thay vì sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” như Bộ luật Dân sự 2005 thì chỉ dùng thuật ngữ “hợp đồng”. Từ đó thể hiện tính khái quát hóa cao hơn so với Bộ luật Dân sự 2005 như việc thay đổi này cũng không thay đổi bản chất và ý nghĩa của hợp đồng. Cụ thể, theo Điều 385 quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể kết luận hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Nội dung của hợp đồng là sự thể hiện kết quả của quá trình thương thảo, đàm phán và thống nhất ý chí giữa các bên với nhau. Tuy nhiên, những điều khoản thỏa thuận của hợp đồng không được vi phạm những điều cấm của pháp luật và phải có ít nhất hai bên chủ thể tham gia trở lên. Hợp đồng có yếu tố nước ngoàiHợp đồng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, để hiểu được khái niệm hợp đồng có yếu tố nước ngoài cần phải làm rõ hai khái niệm đó là “hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng” và “yếu tố nước ngoài” 52, tr. 135.Thứ nhất, hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng. Theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Trong pháp luật dân sự, hợp đồng là một chế định quan trọng bởi vì hợp đồng là cơ sở pháp lý cơ bản và phổ biến trong xác lập các quan hệ dân sự. Trên thực tế, trong lĩnh vực dân sự có rất nhiều loại hợp đồng khác nhau như: Hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp thuê nhà, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng hợp tác, hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng lao động... Các hợp đồng này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Thương mại .... và nhiều văn bản hướng dẫn khác. Tất cả những hợp đồng này đều được gọi là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng 53, tr. 408.Thứ hai, hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Trong tư pháp quốc tế, quan hệ hợp đồng được xem là đối tượng điều chỉnh của ngành luật này khi quan hệ đó xuất hiện dấu hiệu nước ngoài – dấu hiệu này còn được gọi là “yếu tố nước ngoài” hoặc “nhân tố nước ngoài” hoặc “yếu tố quốc tế” hoặc “nhân tố quốc tế”. Các thuật ngữ này có thể thay thế cho nhau 21, tr. 234. Tuy nhiên, trên thực tế khi sử dụng các thuật ngữ này đôi khi có sự khác nhau. Khi sử dụng thuật ngữ yếu tố nước ngoài hay nhân tố nước ngoài thì hàm ý quan hệ pháp luật được đặt trong hệ quy chiếu với một quốc gia cụ thể, quốc gia sở tại. Còn khi sử dụng thuật ngữ yếu tố quốc tế hoặc nhân tố quốc tế, thì lúc này quan hệ pháp luật được đề cập với một bối cảnh là sự liên quan tới hơn một quốc gia. Như vậy, mặc dù việc sử dụng các thuật ngữ có đôi chút khác nhau nhưng việc dùng thuật ngữ nào cũng thể hiện bản chất của mối quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế. Theo đó, về xung đột pháp luật hoặc áp dụng pháp luật nước ngoài được co là những đặc trưng của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế 53, tr. 409.Hiện nay, chưa có một cách hiểu thống nhất chung giữa các quốc gia về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Bởi mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có hợp đồng để điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài và dẫn đến sự không giống nhau giữa các quốc gia. Điều này có thể bắt nguồn từ việc mỗi quốc gia hệ thống pháp luật khác nhau do điều kiện, hoàn cảnh kinh tế khác nhau. Vậy ta có thể xem xét yếu tố nước ngoài thông qua một số điều nước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia 53, tr. 410.Điều 1 Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc tế hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định:“1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.3. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này”.Theo quy định của Điều 1 Công ước Viên 1980 thì yếu tố quốc tế có thể được hiểu là các yếu tố về trụ sở thương mại của các bên chủ thể liên quan tới hơn một quốc gia hoặc theo nguyên tắc của tư pháp quốc tế mà luật áp dụng là luật của các nước thuộc thành viên Công ước.Theo Công ước La Haye 1955 về thống nhất việc mua bán hàng hóa quốc tế thì hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ mang yếu tố nước ngoài nếu các bên tham gia hợp đồng có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, khi “hàng hóa trong hợp đồng được chuyển chở từ lãnh thổ quốc gia này sang lãnh thổ quốc gia khác, hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau và việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng” 13. Từ nội dung quy định tại Điều 1 của Công ước La Haye 1964 có thể thấy dấu hiệu các bên chủ thể gia hợp đồng có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau sẽ là dấu hiệu quốc tế nếu các điều kiện về vận chuyển hàng hóa, xác lập chào hàng và chấp nhận chào hàng được đáp ứng theo quy định tại Điều 1 của Công ước này. Nếu một trong các bên không có trụ sở, thì sẽ áp dụng luật cư trú của họ. Việc áp dụng Công ước không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên 53, tr. 409410.Trong Bộ nguyên tắc của Viện Thống nhất tư pháp quốc tế về hợp đồng thương mại quốc tế (phiên bản 2004) về trụ sở thương mại của các bên chủ thể của hợp đồng được đặt tại các quốc gia khác nhau cũng được xem là yếu tố quốc tế của hợp đồng. Nội dung quy định này khá phù hợp với quy định của Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định 53, tr. 411.Điều 1 Quy tắc Roma I quy định “Quy tắc áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng dân sự và thương mại trong những hoàn cảnh có xung đột pháp luật”. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Quy tắc này là xác định pháp luật điều chỉnh hợp đồng, dân sự thương mại quốc tế hay có yếu tố nước ngoài nhưng lại không cho biết hợp đồng có yếu tố nước ngoài cần được hiểu như thế nào 25, tr. 2526.Pháp luật của Pháp cũng không đưa ra một khái niệm thống nhất về hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Hợp đồng có yếu tố nước ngoài được xác định dựa vào yếu tố kinh tế thì hợp đồng này phải liên quan đến lợi ích thương mại quốc tế. Ví dụ như hợp đồng mua bán giữa một công ty thực phẩm đông lạnh của Pháp và công ty Anh được coi là hợp đồng có yếu tố nước ngoài nếu có sự chuyển dịch tài sản ra khỏi phạm vi lãnh thổ của Pháp 25, tr. 26.Hệ thống pháp luật Nga cũng không có định nghĩa cụ thể về hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Theo pháp luật Nga, hợp đồng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng căn cứ vào các bên tham gia hợp đồng là người nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài, căn cứ vào trụ sở kinh doanh của các bên và căn cứ vào yếu tố điều chỉnh công đối với các giao dịch ngoại thương 55, tr. 7374.Theo quy định của pháp luật Việt Nam, yếu tố “quốc tế” trong một hợp đồng đã được xác định và ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lí khác nhau. Tuy nhiên các quy định về dấu hiệu nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế làm cơ sở để xác định quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế nói chung và trong quan hệ hợp đồng nói riêng, cần xem xét một số quy định trong Bộ luật Dân sự 2015.Quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:“a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”Từ quy định này có thể thấy việc xác định các yếu tố nước ngoài theo Bộ luật Dân sự 2015 dựa trên ba dấu hiệu cơ bản: Một là, có ít nhất một bên chủ thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; Hai là, các bên tham gia hợp đồng đều là công dân, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập , thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ hợp đồng đó xảy ra ở nước ngoài; Ba là, các bên tham gia hợp đồng đều là công dân, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ hợp đồng đó ở nước ngoài.Từ những nội dung trên đây có thể thấy một trong các tiêu chí để xác định yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành là dấu hiệu chủ thể tham gia quan hệ tư pháp quốc tế. Về mặt lí luận, chủ thể trong tư pháp quốc tế không chỉ bao gồm cá nhân, pháp nhân mà còn là quốc gia nước ngoài. Trong quan hệ hợp đồng này, quốc gia là chủ thể đặc biệt. Quốc gia có thể tham gia các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài liên quan đến việc mua sắm công, mua sắm cho Chính phủ. Quốc gia được coi là một chủ thể đặc biệt trong quan hệ tư pháp quốc tế và trong đó có quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói riêng do được phát sinh từ yếu tố chủ quyền của quốc gia mà không một chủ thể nào khác của tư pháp quốc tế có được. Theo đó quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và điều này được ghi nhận trong hầu hết các điều ước quốc tế và quyền miễn trừ này cũng được xác định khi quốc gia là chủ thể trong quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế 53, tr. 414.Từ những quy định quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam cũng như lí luận được đề cập trên đây, có thể khái quát các dấu hiệu nước ngoài trong mối quan hệ hợp đồng của tư pháp quốc tế được thể hiện ở một số trường hợp sau:Có ít nhất một bên chủ thể của quan hệ hợp đồng là người nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài, trong trường hợp đặc biệt có thể là quốc gia nước ngoài;Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có nơi cư trú ở các nước khác nhau, nếu là cá nhân, hoặc có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau nếu là pháp nhân;Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng theo pháp luật nước ngoài;Đối tượng của hợp đồng là tài sản đang tồn tại ở nước ngoài.Tóm lại, hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài 53, tr. 415.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri
ân sâu sắc đối với các thầy cô của trường Đại học Kiểm sát HàNội, đặc biệt là các thầy, cô trong khoa Pháp luật quốc tế đãtận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập.Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ
là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn làhành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc
và tự tin Và, em cũng xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến côNguyễn Vương Thùy Dương, đã tận tình hướng dẫn trong suốtquá trình viết Khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu, cũng như là trong quá trìnhlàm bài khóa luận tốt nghiệp, khó tránh khỏi sai sót, rất mongcác thầy, cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng nhưkinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài viết không thểtránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiếnđóng góp thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm
và sẽ hoàn thành tốt hơn Khóa luận tốt nghiệp sắp tới
Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe
và thành công trong sự nghiệp cao quý
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Công ước Viên
Incorterms - Quy tắc về các điều kiện thương mại quốc
tế Incorterms ( international commericalterms)
PICC - Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc
tế của UNIDROIT (PICC) do Viện thốngnhất về tư pháp quốc tế UNIDROIT banhành đưa ra những quy phạm chungnhằm điều chỉnh hợp đồng thương mạiquốc tế
Quy tắc Rome I - Nghị định (Regulation) số 593/2008 của
Liên minh châu Âu ngày 17/6/2008 về luật
áp dụng đối với nghĩa vụ của hợp đồng(Rome I)
Hiệp định tương - Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
BẢNG KÍ HIỆU, CHỮ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp 5
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 6
1.1 Khái quát chung về hợp đồng có yếu tố nước ngoài 6
1.1.1 Khái niệm hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nước ngoài.6 1.1.2 Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài.13 1.2 Khái quát chung về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng 18
1.2.1 Khái niệm xung đột pháp luật về hợp đồng 18 1.2.2 Đặc điểm của giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng 19
1.2.3 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng 21
Trang 5Chương 2 GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ 272.1 Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể khigiao kết hợp đồng có yếu tố nước ngoài 272.1.1 Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thểkhi giao kết hợp đồng theo pháp luật của một số quốc giatrên thế giới 282.1.2 Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thểkhi giao kết hợp đồng trong một số điều ước quốc tế 302.1.3 Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thểkhi giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam 312.2 Giải quyết xung đột pháp luật về nội dung của hợpđồng có yếu tố nước ngoài 352.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về mặt nội dung củahợp đồng theo pháp luật của một số quốc gia 352.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về mặt nội dung củahợp đồng theo một số điều ước quốc tế 372.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về mặt nội dung củahợp đồng theo pháp luật Việt Nam 402.3 Giải quyết xung đột pháp luật về mặt hình thức của hợpđồng có yếu tố nước ngoài 482.3.1 Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồngcủa một số quốc gia trên thế giới 482.3.2 Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồngtheo một số điều ước quốc tế 502.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợpđồng theo pháp luật Việt Nam 52KẾT LUẬN 57
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Hiện nay, Việt Nam của chúng ta đang hội nhập quốc tếsâu rộng trong tất cả các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế.Khi tiến hành hội nhập sẽ có rất nhiều các quốc gia tham gia.Thực tế hiện nay, mỗi một quốc gia đều có một hệ thống quyphạm pháp luật riêng và các quy phạm pháp luật này khácvới quy phạm pháp luật của các quốc gia khác thậm chí làhoàn toàn trái ngược với nhau Nguyên nhân của sự khácnhau về pháp luật của mỗi quốc gia do xuất phát từ các đặcđiểm kinh tế, văn hóa xã hội và điều kiện lịch sử hình thànhcủa mỗi quốc gia đó là rất khác nhau
Vì vậy, khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự cóyếu tố nước ngoài sẽ xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật khipháp luật của các bên tham gia cùng điều chỉnh một vấn đề
Để giải quyết tốt về hiện tượng xung đột pháp luật khiđiều chỉnh các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài đặcbiệt về lĩnh vực hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì các quyphạm pháp luật cần phải có sự thống nhất và phù hợp theothông lệ của thế giới để đảm bảo quyền và lợi ích chính đángcủa các chủ thể trong và ngoài nước Chính vì vậy, Việt Namcần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật của mình khitham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Gần đây, tại kì họp thứ 10 Khóa XIII diễn ra vào ngày 24tháng 11 năm 2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luậtDân sự 2015 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01năm 2017 Bộ luật Dân sự 2015 đã có những tiến bộ đáng kể
so với Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 về nhữngquy định liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.Việc ra đời của Bộ luật Dân sự 2015 đã tháo gỡ một số những
Trang 8bất cấp và khó khăn nhất định so với các Bộ luật Dân sự banhành trước đó Điều này đã góp phần rất lớn trong việc hộinhập kinh tế của Việt Nam và đồng thời cũng tương thích hơnvới xu thế phát triển của pháp luật của các quốc gia trên thếgiới hiện nay.
Do đó, nghiên cứu, tìm hiểu về việc giải quyết xung độtpháp luật về hợp đồng tại Việt Nam mà chủ yếu là theo quyđịnh của Bộ luật Dân sự 2015 là vô cùng cần thiết và có ý
nghĩa Bằng việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” để đưa ra cái nhìn tổng quát về các quy định
pháp luật liên quan đến lĩnh vực xung đột hợp đồng theo quyđịnh của Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định pháp luật khác
có liên quan và hướng giải quyết xung đột pháp luật tronglĩnh vực hợp đồng theo các quy định của pháp luật Việt Namhiện hành Đồng thời nêu lên cách mà một số quốc gia vàvùng lãnh thổ sử dụng trong việc giải quyết xung đột phápluật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài; từ đó đưa ra một số đềxuất cho Việt Nam nhằm khắc phục một số vướng mắc khi thihành
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công
bố liên quan đến đề tài vấn đề xung đột pháp luật và xung độtpháp luật trong lĩnh vực hợp đồng tại Việt Nam, trong đó có thể kểđến như:
Nhóm tài liệu là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luật tốt nghiệp,
đề tài khoa học các cấp:
- Nguyễn Công Khanh (2003),“Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 9- Nguyễn Bá Chiến (2008), “Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội
- Nguyễn Thị Thuận (2005), “Giải quyết xung đột về hiệu lực và áp dụng giữa các điều ước quốc tế”, Luận án tiến sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Đặng Thái Hưng (2014), “Giải quyết xung đột pháp luật
về hợp đồng”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội
- Nguyễn Thị Thoa (2009),“Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế bằng tòa án”, Luận văn Thạc sỹ Luật
học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
-
Nhóm tài liệu là bài viết trên các tạp chí khoa học luật:
- Nguyễn Tiến Vinh, “Bàn về việc hoàn thiện các quy định trong Phần VII Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí
- Hoàng Thế Liên (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân
sự năm 2015, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Trang 10- Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
- Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình
Tư pháp Quốc tế - Phần riêng, Nxb Hồng Đức, TP Hồ Chí Minh.
-
Tóm lại, đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu vềxung đột pháp luật, một số vấn đề về quy phạm xung đột vàviệc áp dụng quy phạm xung đột trong thực tiễn nhất là tronglĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, trong tất cảcác công trình nêu trên và theo tác giả được biết thì chưa cómột công trình nào chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu,phân tích, đánh giá một cách có hệ thống và tổng thể đối vớiquy phạm xung đột về hợp đồng tại Việt Nam dưới góc độ lýluận và thực tiễn Và tất cả các công trình nguyên cứu và bàiviết trên mới chỉ nghiên cứu những quy định về giải quyếtxung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theoquy định của Bộ luật Dân sự 2005 mà chưa có một đề tài vàbài viết nào viết theo các quy định theo quy định của Bộ luậtDân sự 2015
Do đó, đề tài “Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” nhằm mục đích
nghiên cứu một cách tổng hợp, khái quát, đánh giá một cách
có hệ thống các quy định giải quyết xung đột pháp luật vềhợp đồng có yếu tố nước ngoài của Bộ luật Dân sự 2015 Cũngnhư nêu lên cách mà một số quốc gia sử dụng trong việc giảiquyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Trang 11của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới từ đó rút ramột số bài học kình nghiệm cho Việt Nam.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu: Phân tích, đánh giá các quy địnhcủa pháp luật về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồngtheo Bộ luật dân sự 2015
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài là phân tích các quy địnhpháp luật và đánh giá việc áp dụng các quy định của phápluật khi giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tốnước ngoài theo Bộ luật Dân sự 2015 Đồng thời, nêu lên bàihọc kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới khi giảiquyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Từ đó, đưa ra một số đề xuất cho Việt Nam nhằm khắc phụcmột số vướng mắc khi thi hành
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng được nghiên cứu của đề tài là các quy phạmpháp luật xung đột về hợp đồng có yếu tố nước ngoài chủ yếutrong Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định pháp luật khác cóliên quan của pháp luật Việt Nam Cũng như các quy phạmpháp luật của một số nước khi giải quyết xung đột pháp luật
về hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung vào phân tíchchủ yếu các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hợpđồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật ViệtNam
5 Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận đã sử dụng các phương pháp phân tích vàtổng hợp, phương pháp luật học so sánh và phương pháp thuthập thông tin để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
Trang 12Các phương pháp này được sử dụng linh hoạt trong các phầnkhác nhau của khóa luận.
Ngoài ra, khóa luận còn được nghiên cứu trên cơ sở xemxét, so sánh của pháp luật quốc tế và pháp luật các nướctrong lĩnh vực giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng.Khóa luận cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễntrong quá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đềtài đặt ra
6 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Khóa luận tốt nghiệpbao gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về giải quyết xung đột phápluật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng cóyếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và một số kiếnnghị
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI 1.1 Khái quát chung về hợp đồng có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm hợp đồng và hợp đồng có yếu
tố nước ngoài
Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng là một thuật ngữ được sử sụng rất lâu đời vàđược sử dụng một cách rộng rãi hiện nay trong rất nhiều cáclĩnh vực của đời sống xã hội như mua bán hàng hóa, thuê nhà,chuyển nhượng quyền sủ dụng đất Ngay từ thời La Mã, cácluật gia đã đặt đã đặt ra những điều kiện cơ bản để hợp đồng
có hiệu lực đó là: phải có ý chí và sự thể hiện ý chí của cácbên tham gia giao dịch; xác định rõ ràng nội dung của hợpđồng; hành vi, công việc trong hợp đồng phải được thực hiện;đáp ứng những điều kiện về mặt hình thức nhất định [3, tr.48] Mặc dù những quy định này đã có từ rất lâu nhưng chođến nay, những điều kiện này vẫn là những điều kiện chính và
cơ bản trong pháp luật hiện hành của nhiều quốc gia trên thếgiới
Ví dụ: Điều 1011 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”.
Hay tại Điều 1378 Bộ luật Dân sự 1994 của Bang Québec
(Canada) quy định: “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác” [24, tr 11]
Như vậy có thể thấy trong Bộ luật Dân sự Pháp và Bộluật Dân sự 1994 của Bang Québec (Canada) đều đưa ra khái
Trang 14niệm về hợp đồng khá giống nhau và cả hai mới chỉ ra mộtphần bản chất của hợp đồng đó là sự thỏa thuận và thốngnhất ý chí của các bên mà chưa chỉ ra được hết các dấu hiệuđặc trưng về hợp đồng [25, tr 17].
Các quốc gia thuộc hệ thống thông luật (Common law)như Anh, Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, định nghĩa về hợp đồng là mộtthỏa thuận có tính ràng buộc về mặt pháp lý Hợp đồng theo
hệ thống common law được hình thành khi đáp ứng nhữngđiều kiện: có đề nghị giao kết hợp đồng, có sự chấp thuận đốivới đề nghị giao kết hợp đồng, sự bù trừ nghĩa vụ và ý địnhthiết lập nghĩa vụ pháp lý Sự khác biệt của hệ thống luậtCommon law là sự bù trừ nghĩa vụ được hiểu là một giá trị nào
đó (có thể là tiền, dịch vụ hoặc một công việc) mà theo đómỗi bên nhận được hoặc trao đi hoặc từ bỏ theo thỏa thuận
Do đó, nếu thiếu sự bù trừ nghĩa vụ nghĩa là một trong cácbên không có nghĩa vụ theo thỏa thuận thì hợp đồng sẽ khôngthực hiện được [3, tr 51]
Ví dụ: Điều 1 -201 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa
Kỳ (Uniform Commercial Code of United State of America) quy
định: “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ
sự thỏa thuận của các bên mà nếu một trong các bên vi phạm những nghĩa vụ này thì bị buộc phải thực hiện bằng sự cưỡng chế của pháp luật” Và trong Bách Khoa toàn thư về pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để không làm một việc, giao một vật xác định” Từ đó có thể thấy định
nghĩa về hợp đồng của pháp luật Hoa Kỳ đã thể hiện rõ đượcbản chất và mục đích cơ bản hợp đồng [24, tr 11]
Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc (1999) quy định:
“hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm
Trang 15dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, thể nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác Các thỏa thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… phải phù hợp với quy định của các luật khác” Từ quy định này cho
thấy, Định nghĩa về hợp đồng của Trung Quốc có nhiều điểmgiống với khái niệm hợp đồng của luật La Mã nhấn mạnh tới
sự tự do thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên khi giaokết hợp và khi thỏa thuận các chủ bên bình đẳng trước phápluật [24, tr 29]
Hay tại Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Nga (1994) quy
định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Từ
quy định này có thể thấy, định định nghĩa về hợp đồng củaNga tương tự như định nghĩa hợp đồng của Trung Quốc nhưng
có tính khái quát và ngắn gọn hơn [25, tr 19]
Thuật ngữ “hợp đồng” được sử dụng chủ yếu tại Việt
Nam vào giữa thế kỷ 19 trở đi Trong đời sống thực tế, ViệtNam thương sử dụng các thuật ngữ thay thế cho thuật ngữhợp đồng: giao kèo, cam kết, giao ước, khế ước, văn tự, vănkhế, tờ ưng thuận, …
Tại Việt Nam, khái niệm về hợp đồng lần đầu tiên đượcxuất hiện tại Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991 Điều 1
Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”.
Định nghĩa này đã thể hiện được bản chất của hợp đồng là sựthỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên trong quan hệhợp đồng và kết quả của sự thỏa thuận này được coi là căn cứ
Trang 16để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ củacác bên Tuy nhiên, định nghĩa này lại sử dụng phương phápliệt kê về các loại hợp đồng nên dễ đến thiếu sót và có khảnăng không điều chỉnh được tất cả các mối quan hệ xã hội cóthể xuất hiện trong tương lai.
Để khắc phục điều những thiếu sót của Pháp lệnh về Hợpđồng Dân sự năm 1991 thì Bộ luật Dân sự 1995 ra đời và đưa
ra một định nghĩa khác về hợp đồng tại Điều 394 như sau:
“Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Định
nghĩa này sự khái quát hóa cao hơn so với Pháp lệnh về Hợpđồng Dân sự năm 1991 đã bao quát được tất cả các loại hợpđồng trên thực tế và vẫn được giữ nguyên trong Bộ luật Dân
sự 2005 Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy định nghĩa vềhợp đồng trong Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005hoàn toàn giống với định nghĩa về hợp đồng quy định tạiKhoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Nga (1994) Đến Bộ luậtDân sự 2015 thay vì sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự”như Bộ luật Dân sự 2005 thì chỉ dùng thuật ngữ “hợp đồng”
Từ đó thể hiện tính khái quát hóa cao hơn so với Bộ luật Dân
sự 2005 như việc thay đổi này cũng không thay đổi bản chất
và ý nghĩa của hợp đồng Cụ thể, theo Điều 385 quy định:
“Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể kết luận hợpđồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổihoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Nội dung của hợpđồng là sự thể hiện kết quả của quá trình thương thảo, đàmphán và thống nhất ý chí giữa các bên với nhau Tuy nhiên,những điều khoản thỏa thuận của hợp đồng không được viphạm những điều cấm của pháp luật và phải có ít nhất haibên chủ thể tham gia trở lên
Trang 17Hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Hợp đồng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng dân sự theonghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Vì vậy, để hiểu được kháiniệm hợp đồng có yếu tố nước ngoài cần phải làm rõ hai kháiniệm đó là “hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng” và “yếu tốnước ngoài” [52, tr 135]
Thứ nhất, hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng Theo quy
định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng là
sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Trong pháp luật dân sự,
hợp đồng là một chế định quan trọng bởi vì hợp đồng là cơ sởpháp lý cơ bản và phổ biến trong xác lập các quan hệ dân sự.Trên thực tế, trong lĩnh vực dân sự có rất nhiều loại hợp đồngkhác nhau như: Hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp thuê nhà, hợp đồngchuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng dịch vụ, hợp đồnghợp tác, hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản,hợp đồng lao động Các hợp đồng này được điều chỉnh bởinhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Bộluật Lao động, Luật Thương mại và nhiều văn bản hướngdẫn khác Tất cả những hợp đồng này đều được gọi là hợpđồng dân sự theo nghĩa rộng [53, tr 408]
Thứ hai, hợp đồng có yếu tố nước ngoài Trong tư pháp
quốc tế, quan hệ hợp đồng được xem là đối tượng điều chỉnhcủa ngành luật này khi quan hệ đó xuất hiện dấu hiệu nước
ngoài – dấu hiệu này còn được gọi là “yếu tố nước ngoài” hoặc “nhân tố nước ngoài” hoặc “yếu tố quốc tế” hoặc “nhân
tố quốc tế” Các thuật ngữ này có thể thay thế cho nhau [21,
tr 234] Tuy nhiên, trên thực tế khi sử dụng các thuật ngữnày đôi khi có sự khác nhau Khi sử dụng thuật ngữ yếu tốnước ngoài hay nhân tố nước ngoài thì hàm ý quan hệ pháp
Trang 18luật được đặt trong hệ quy chiếu với một quốc gia cụ thể,quốc gia sở tại Còn khi sử dụng thuật ngữ yếu tố quốc tếhoặc nhân tố quốc tế, thì lúc này quan hệ pháp luật được đềcập với một bối cảnh là sự liên quan tới hơn một quốc gia.Như vậy, mặc dù việc sử dụng các thuật ngữ có đôi chút khácnhau nhưng việc dùng thuật ngữ nào cũng thể hiện bản chấtcủa mối quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế Theo đó, vềxung đột pháp luật hoặc áp dụng pháp luật nước ngoài được
co là những đặc trưng của quan hệ hợp đồng trong tư phápquốc tế [53, tr 409]
Hiện nay, chưa có một cách hiểu thống nhất chung giữacác quốc gia về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Bởi mỗiquốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật về quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài trong đó có hợp đồng để điều chỉnh hợpđồng có yếu tố nước ngoài và dẫn đến sự không giống nhaugiữa các quốc gia Điều này có thể bắt nguồn từ việc mỗi quốcgia hệ thống pháp luật khác nhau do điều kiện, hoàn cảnhkinh tế khác nhau Vậy ta có thể xem xét yếu tố nước ngoàithông qua một số điều nước quốc tế và pháp luật của một sốquốc gia [53, tr 410]
Điều 1 Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc tế hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định:
“1 Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.
a Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,
b Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.
Trang 192 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.
3 Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này”.
Theo quy định của Điều 1 Công ước Viên 1980 thì yếu tốquốc tế có thể được hiểu là các yếu tố về trụ sở thương mạicủa các bên chủ thể liên quan tới hơn một quốc gia hoặc theonguyên tắc của tư pháp quốc tế mà luật áp dụng là luật củacác nước thuộc thành viên Công ước
Theo Công ước La Haye 1955 về thống nhất việc muabán hàng hóa quốc tế thì hợp đồng mua bán hàng hóa sẽmang yếu tố nước ngoài nếu các bên tham gia hợp đồng có
trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, khi “hàng hóa trong hợp đồng được chuyển chở từ lãnh thổ quốc gia này sang lãnh thổ quốc gia khác, hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau và việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng” [13] Từ nội dung quy định tạiĐiều 1 của Công ước La Haye 1964 có thể thấy dấu hiệu cácbên chủ thể gia hợp đồng có trụ sở thương mại ở các quốc giakhác nhau sẽ là dấu hiệu quốc tế nếu các điều kiện về vậnchuyển hàng hóa, xác lập chào hàng và chấp nhận chào hàngđược đáp ứng theo quy định tại Điều 1 của Công ước này Nếumột trong các bên không có trụ sở, thì sẽ áp dụng luật cư trú
Trang 20của họ Việc áp dụng Công ước không phụ thuộc vào quốc tịchcủa các bên [53, tr 409-410].
Trong Bộ nguyên tắc của Viện Thống nhất tư pháp quốc
tế về hợp đồng thương mại quốc tế (phiên bản 2004) về trụ
sở thương mại của các bên chủ thể của hợp đồng được đặt tạicác quốc gia khác nhau cũng được xem là yếu tố quốc tế củahợp đồng Nội dung quy định này khá phù hợp với quy địnhcủa Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế quy định [53, tr 411]
Điều 1 Quy tắc Roma I quy định “Quy tắc áp dụng chonghĩa vụ hợp đồng dân sự và thương mại trong những hoàncảnh có xung đột pháp luật” Theo đó, phạm vi điều chỉnh củaQuy tắc này là xác định pháp luật điều chỉnh hợp đồng, dân
sự thương mại quốc tế hay có yếu tố nước ngoài nhưng lạikhông cho biết hợp đồng có yếu tố nước ngoài cần được hiểunhư thế nào [25, tr 25-26]
Pháp luật của Pháp cũng không đưa ra một khái niệmthống nhất về hợp đồng có yếu tố nước ngoài Hợp đồng cóyếu tố nước ngoài được xác định dựa vào yếu tố kinh tế thìhợp đồng này phải liên quan đến lợi ích thương mại quốc tế
Ví dụ như hợp đồng mua bán giữa một công ty thực phẩmđông lạnh của Pháp và công ty Anh được coi là hợp đồng cóyếu tố nước ngoài nếu có sự chuyển dịch tài sản ra khỏi phạm
vi lãnh thổ của Pháp [25, tr 26]
Hệ thống pháp luật Nga cũng không có định nghĩa cụ thể
về hợp đồng có yếu tố nước ngoài Theo pháp luật Nga, hợpđồng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng căn cứ vào các bêntham gia hợp đồng là người nước ngoài hoặc pháp nhân nướcngoài, căn cứ vào trụ sở kinh doanh của các bên và căn cứvào yếu tố điều chỉnh công đối với các giao dịch ngoại thương
[55, tr 73-74]
Trang 21Theo quy định của pháp luật Việt Nam, yếu tố “quốc tế”
trong một hợp đồng đã được xác định và ghi nhận trong nhiềuvăn bản pháp lí khác nhau Tuy nhiên các quy định về dấuhiệu nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế làm cơ sở đểxác định quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế nói chung
và trong quan hệ hợp đồng nói riêng, cần xem xét một số quyđịnh trong Bộ luật Dân sự 2015
Quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghinhận tại Khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015 Theo đó,quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộcmột trong các trường hợp sau đây:
“a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Từ quy định này có thể thấy việc xác định các yếu tốnước ngoài theo Bộ luật Dân sự 2015 dựa trên ba dấu hiệu cơ
bản: Một là, có ít nhất một bên chủ thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; Hai là, các bên tham gia hợp đồng đều là công
dân, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập , thay đổi, thựchiện hoặc chấm dứt quan hệ hợp đồng đó xảy ra ở nước
ngoài; Ba là, các bên tham gia hợp đồng đều là công dân,
pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ hợp đồng
đó ở nước ngoài
Từ những nội dung trên đây có thể thấy một trong cáctiêu chí để xác định yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt
Trang 22Nam hiện hành là dấu hiệu chủ thể tham gia quan hệ tư phápquốc tế Về mặt lí luận, chủ thể trong tư pháp quốc tế khôngchỉ bao gồm cá nhân, pháp nhân mà còn là quốc gia nướcngoài Trong quan hệ hợp đồng này, quốc gia là chủ thể đặcbiệt Quốc gia có thể tham gia các quan hệ hợp đồng có yếu
tố nước ngoài liên quan đến việc mua sắm công, mua sắmcho Chính phủ Quốc gia được coi là một chủ thể đặc biệttrong quan hệ tư pháp quốc tế và trong đó có quan hệ hợpđồng có yếu tố nước ngoài nói riêng do được phát sinh từ yếu
tố chủ quyền của quốc gia mà không một chủ thể nào kháccủa tư pháp quốc tế có được Theo đó quốc gia được hưởngquyền miễn trừ tư pháp và điều này được ghi nhận trong hầuhết các điều ước quốc tế và quyền miễn trừ này cũng đượcxác định khi quốc gia là chủ thể trong quan hệ hợp đồngtrong tư pháp quốc tế [53, tr 414]
Từ những quy định quốc tế và quy định của pháp luậtViệt Nam cũng như lí luận được đề cập trên đây, có thể kháiquát các dấu hiệu nước ngoài trong mối quan hệ hợp đồngcủa tư pháp quốc tế được thể hiện ở một số trường hợp sau:
- Có ít nhất một bên chủ thể của quan hệ hợp đồng làngười nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài, trong trườnghợp đặc biệt có thể là quốc gia nước ngoài;
- Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có nơi cư trú ở cácnước khác nhau, nếu là cá nhân, hoặc có trụ sở thương mại ởcác nước khác nhau nếu là pháp nhân;
- Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợpđồng theo pháp luật nước ngoài;
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản đang tồn tại ở nướcngoài
Tóm lại, hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân
sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài [53, tr 415]
Trang 231.1.2 Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới vàcác điều ước quốc tế thừa nhận trong quan hệ pháp luật vềhợp đồng nói chung và hợp đồng có yếu tố nước ngoài nóiriêng thì các bên đều có quyền tự do thỏa thuận và thốngnhất ý chí tất cả các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của bên.Các thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực ràng buộc các bêntrong quan hệ hợp đồng nếu các bên vi phạm các thỏa thuậntrong hợp đồng sẽ có chế tài pháp luật để bảo đảm thi hành.Tuy nhiên, nội dung của thỏa thuận không được trái với cácquy định của pháp luật Để được pháp luật công nhận và bảođảm thi hành cũng như bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cácbên thì hợp đồng phải được sự điều chỉnh của một hệ thốngpháp luật nhất định Vì thế, việc xác định pháp luật áp dụngđối với hợp đồng là vô cùng cần thiết Bởi ngoài mục đích đểxác định giá trị pháp lý của hợp đồng còn có ý nghĩa điềuchỉnh những tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình xáclập, giao kết và thực hiện hợp đồng mà các bên không thể dựtính hết được khi ký kết hợp đồng Hơn nữa, điều này rất quantrọng vì các chủ thể trong hợp đồng có yếu tố nước ngoàithường đến từ các quốc gia khác nhau và được sự điều chỉnh
Pháp luật quốc gia
Pháp luật quốc gia là nguồn phổ biến và chủ yếu củaquan hệ pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài Loạinguồn này còn được biết đến với tên gọi khác là luật quốc nội
Trang 24bao gồm hệ thông các văn bản pháp luật do quốc gia banhành và các án lệ của quốc gia được hình thành trong quátrình xét xử của Tòa án Pháp luật quốc gia được coi là nguồnchủ yếu của quan hệ pháp luật hợp đồng có yếu tố nướcngoài bởi hai lí do chính Thứ nhất, quan hệ hợp đồng có yếu
tố nước ngoài thuần túy là các quan hệ dân sự vì vậy cácquốc gia trước tiên sẽ xây dựng những quy định phù hợp vớiđiều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia mình để điều chỉnh cácquan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài Thứ hai, mặc dù điềuước quốc tế cũng có thể là nguồn điều chỉnh của quan hệ hợpđồng có yếu tố nước ngoài nhưng việc xây dụng điều ướcquốc tế để điều chỉnh mọi nội dung trong quan hệ pháp luậthợp đồng có yếu tố nước ngoài là rất khó khăn và không khảthì thì mỗi một quốc gia sẽ có những điều kiện kinh tế, xã hộirất khác nhau
Mặc dù các bên trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài cóthể tự do thỏa thuận lựa chọn hệ thống luật quốc gia củamình để làm luật điều chỉnh Nhưng sự thỏa thuận này phảinằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật Việc các bênlựa chọn một hệ thống pháp luật quốc gia để điều chỉnh hợpđồng nhằm đảm bảo hợp đồng được các bên phù hợp với quyđịnh của pháp luật và được được pháp luật bảo vệ trong quátrình thực hiện hợp đồng Một trong những văn bản pháp luậtquốc gia điều chỉnh về quan hệ hợp đồng có yếu tố nướcngoài phải kể đến: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại
2005, Bộ luật Hàng Hải 2005, Luật Đầu tư 2010 và hàngloạt các văn bản dưới luật khác
Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng
Theo công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tếthì: Điều ước quốc tế là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằngvăn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc tế
Trang 25điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghinhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hay nhiều văn kiện
có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi
cụ thể của những văn kiện đó Như vậy, điều ước quốc tế làvăn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thể khác củaluật quốc tế thoả thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổihoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thôngqua các quy phạm gọi là quy phạm điều ước Điều ước quốc
tế có thể là phổ cập hoặc không phổ cập, toàn cầu hoặc khuvực, đa phương hoặc song phương
Bên cạnh pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế cũng lànguồn quan trọng để điều chỉnh quan hệ pháp luật về hợpđồng có yếu tố nước ngoài Sự xuất hiện ngày càng nhiều cácđiều ước quốc tế để điều chỉnh các quan hệ từ hợp đồng cóyếu tố nước ngoài thể hiện sự nỗ lực to lớn của các quốc giatrong việc thống nhất hóa các quan hệ pháp luật nhằm đơngiản hóa và hài hòa hóa các quan hệ pháp luật điều chỉnh mốiquan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài Từ đó góp phần thứcđậy giao lưu dân sự, thương mại quốc tế phát triển
Điều ước quốc tế thường chia thành hai loại đó là cácđiều ước quốc tế song phương và các điều ước quốc tế đaphương
Điều ước quốc tế đa phương: Các điều ước quốc tế trong
lĩnh vực hợp đồng thường chứa các quy phạm thực chất thốngnhất (trong những điều ước quốc tế loại này thì một vấn đềphát sinh từ hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì sẽ có quy địnhtrực tiếp điều chỉnh) và các quy phạm xung đột (trong đó quyđịnh các nguyên tắc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng).Hiện nay có tất nhiều các điều ước quốc tế đa phương để điềuchỉnh các quan hệ pháp luật về hợp đồng có yếu tố nướcngoài, trong có thể kể đến như:
Trang 26- Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế;
- Công ước Lahaye 1955 về Luật áp dụng đối với các độngsản hữu hình;
- Công ước Rome 1980 về Luật áp dụng đối với các nghĩa
vụ theo hợp đồng;
- Nghị định (Regulation) số 864/2007 của Liên minh châu
Âu ngày 11/7/2007 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ ngoàihợp đồng (Rome II);
- Nghị định (Regulation) số 593/2008 của Liên minh châu
Âu ngày 17/6/2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ của hợpđồng (Rome I);
Điều ước quốc tế song phương: Điều ước quốc tế song
phương mà trong đó bao gồm hiệp định tương trợ tư pháp,bản cam kết thỏa thuận giữa các quốc gia kí kết cũng làmột trong những nguồn luật quan trọng trong việc điều chỉnhquan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài Việt Nam hiện nay đã
ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý với nhiềuquốc gia khác trên thế giới để chiều chỉnh các quan hệ phápluật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài Trong đó có thể kểđến như:
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đềdân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Liên bang Nga;
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, giađình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam và nước Cộng hòa nhân dân Hunggari;
- Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữanước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoàdân chủ nhân dân Lào;
Trang 27- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữanước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoàPháp;
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự vàhình sự giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoànhân dân Trung Hoa;
- Hiệp định về tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, giađình và hình sự giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàMông Cổ;
Tập quán quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng
Bên cạnh pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tếthì tập quán quốc tế cùng là một trong các nguồn quan trongtrọng để điều chỉnh đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài.Tập quán quốc tế là những quy tắc ứng xử sự được hình thành
từ lâu đời, được sử dụng thường xuyên, liên tực và được cácquốc gia trên thế giới thừa nhận rông rãi Tập quán quốc tếxuất hiện chủ yếu trong lĩnh vực thương mại và hàng hải [53,
tr 43]
Các quy phạm tập quán phổ biến được áp dụng tronglĩnh vực thương mại quốc tế và lĩnh vực hợp đồng nói riêngnhư: Ví dụ: Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế củaUNIDROIT (PICC) do Viện thống nhất về tư pháp quốc tếUNIDROIT ban hành đưa ra những quy phạm chung nhằmđiều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế; Quy tắc về các điềukiện thương mại quốc tế Incorterms ( internationalcommerical terms) - Incorterms quy định những điều kiệnthương mại thông dụng nhất trong mua bán hàng hóa quốc tếnhư FOB, CIF, EXW, DAP, DAT… nhằm giúp các bên trong muabán hàng hóa quốc tế có cách hiểu thống nhất về tập quánmua bán hàng hóa quốc tế; hay các tập quán và thực hànhthống nhất về tín dụng chứng từ (UCP – The uniform customs
Trang 28and practice for documentary credits) của Phòng Thương mạiQuốc tế (ICC)
Án lệ quốc tế và các nguồn bổ trợ khác trong lĩnh vực hợp đồng
Bên cạnh các văn bản pháp luật, án lệ quốc tế cũngđược xem là nguồn quan trọng để điều chỉnh các quan hệpháp luật nói chung và quan hệ tư pháp quốc tế về hợp đồngnói riêng Đặc biệt ở các quốc gia theo hệ thống pháp luậtCommon Law như Hoa Kì, Anh mặc dù cũng có hệ thốngpháp luật thành văn để điều chỉnh các quan hệ về hợp đồngnhưng án lệ cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc điềuchỉnh pháp luật và coi là nguồn chủ yếu của pháp luật.Nguyên tắc chung của án lệ là mọi quy tắc đã được đưa ratrong một phán quyết của Tòa án trước đó, đều có hiệu lựcràng buộc đối với các Tòa án cũng cấp và cấp dưới khi xét xửmột vụ việc tương tự Còn ở các nước theo hệ thống pháp luậtCivil Law như Pháp, Đức, án lệ cũng đang dần được Tòa án sửdụng thường xuyên hơn cho dù mức độ ảnh hưởng của mỗiquốc gia là khác nhau
Ngoài ra, các học thuyết pháp lý, các lý thuyết về tưpháp quốc tế, sách, tư thưởng, quan điểm của các học giả nổitiếng trong lĩnh vực tư pháp quốc tế cũng có sự ảnh hưởngnhất định đến nền tư pháp quốc tế Đây được coi là nguồn bổtrợ của tư pháp quốc tế Tuy nhiên nguồn này chỉ mang tínhchất tham khảo mà không có tình ràng buộc nhất định
1.2 Khái quát chung về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng
1.2.1 Khái niệm xung đột pháp luật về hợp đồng
Hiện nay, Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập
về kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng Điều đó được thể hiện
Trang 29bằng việc Việt Nam đã chính thức gia nhập vào một số tổchức, diễn đàn và hiệp định thương mại lớn trên thế giới nhưASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á); ASEM (Diễn đànhợp tác kinh tế Á - Âu); APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương); WTO (Tổ chức thương mại thế giới) ; vàgần đây nhất Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương(TPP) đã cơ bản được ký kết (đầu tháng 10/2015) giữa ViệtNam và 11 quốc gia Việc này sẽ làm cho việc thúc đẩy giaothương hàng hóa và phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ
Việc hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến các quan hệ phápluật ngày càng phát triển và không còn bị giới hạn trongphạm vi Việt Nam mà còn liên quan đến nhiều hệ thống phápluật của nhiều quốc gia khác nhau và các quan hệ pháp luậtphát sinh không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật ViệtNam mà còn chịu sự điều chỉnh của hai hay nhiều quốc giakhác nhau Do đó, dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luậtgiữa các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng
“Xung đột pháp luật” (conflict of laws) là một thuật ngữthuộc chuyên ngành tư pháp quốc tế được sử dụng ở một sốquốc gia với mục đích dùng để giải quyết các quan hệ dân sựtheo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
Theo PGS.TS Nguyễn Bá Diến thì “Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ Tư pháp Quốc tế cụ thể và giữa các hệ thống pháp luật này có sự khác biệt về các quy định khi giải quyết vấn đề” [21, tr 93]
Còn theo TS Vũ Thị Phương Lan thì “Xung đột pháp luật
là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan
hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài-quan hệ tư
Trang 30pháp quốc tế pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác” [53,
tr 50]
Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể nhận thấy xungđột là hiện tượng xảy ra khi có từ hai hay nhiều hệ thống phápluật cùng điều chỉnh một quan hệ pháp luật mà nội dung điềuchỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật có sự khác nhau và quan
hệ pháp luật này là quan hệ có yếu tố nước ngoài Và cũng từcách hiểu về xung đột pháp luật này mà có thể định nghĩaxung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hiệntượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc giakhác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệhợp đồng
1.2.2 Đặc điểm của giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng
Xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tếđược hiểu là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luậtcủa các quốc gia khác nhau cùng có thể được áp dụng để điềuchỉnh quan hệ hợp đồng Vấn đề đặt ra là khi có hai hay nhiều
hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng điềuchỉnh về quan hệ hợp đồng thì pháp luật của quốc gia nào sẽđược áp dụng để xác định tính hợp pháp của hợp đồng đó
Khi xem xét tính hợp pháp của hợp đồng phải dựa trênnhiều yếu tố Nhưng đầu tiên cần phải dựa trên những tiêu chíđược coi là bản chất của hợp đồng mà buộc các bên chủ thểtrong quan hệ hợp đồng phải tuân theo trong quá trình giaokết và thực hiện hợp đồng, đó là một số nguyên tắc như: Tự
do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạođức xã hội, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợptác, trung thực trong giao kết và thực hiện hợp đồng Nhữngnguyên tắc này được ghi nhận trong pháp luật của hầu hếtcác quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Mà cụ thể là
Trang 31được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” Cùng với sự
tuân thủ các nguyên tắc chung của hợp đồng như đã nêutrên, khi giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tốnước ngoài thường được xem xét dưới ba khía cạnh đó là:năng lực giao kết hợp đồng của các bên chủ thể, nội dung củahợp đồng và hình thức của hợp đồng [53, tr 415]
Thứ nhất, về năng lực giao kết hợp đồng của các bên chủ
thể Điều đầu tiên để xem xét tính hợp pháp của một hợpđồng không phải là xem xét căn cứ vào hình thức và nội dunghợp đồng mà phải xem xét đến đến năng lực giao kết hợpđồng của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng Bởi theo phápluật của hầu hết các quốc gia trên thế giới sẽ bị coi hợp đồng
vô hiệu nếu hợp đồng đó được giao kết bởi một hoặc cả haibên chủ thể không đủ điều kiện giao kết theo quy định củapháp luật Như vậy, chỉ có những chủ thể có đủ điều kiện theoquy định của pháp luật mới được có thể tham gia quan hệ hợpđồng nhất định Trong tư pháp quốc tế, hiện tượng xung độtpháp luật trong việc xác định năng lực của các chủ thể đối vớigiao kết hợp đồng có yếu tố nước ngoài thường xảy ra vì mỗimột quốc gia khác nhau sẽ có những quy định khác nhau vềxác định năng lực chủ thể khi giao kết hợp đồng [53, tr 416 -417]
Thứ hai, về nội dung hợp đồng trong tư pháp quốc tế.
Nội dung hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bêntham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Theo quy định củahầu hết các quốc gia trên thế giới thì các bên trong quan hệhợp đồng có thế tự do lựa chọn luật áp đối với hợp đồng Tuy
Trang 32nhiên trên thực tế, các bên thường có xu hướng lựa chọn hệthống pháp luật quen thuộc với mình đó chính là pháp luậtcủa quốc gia mình hoặc lựa chọn các điều ước, công ước quốc
tế phổ biến trên thế giới, vì các quy định của những công ước,điều ước này rõ ràng đã được thừa nhận chung để làm luật ápdụng đối với hợp đồng Việc lựa chọn luật áp dụng này có thểdẫn đến xung đột pháp luật vì pháp luật quốc gia của các chủthể có những quy định khác nhau
Trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài do bị sự điều chỉnhcủa nhiều hệ thống pháp luật khác nhau nên hiện tượng xungđột pháp luật về nội dung của hợp đồng xảy ra là điều kháthường xuyên Cho nên khi xem xét tính hợp pháp về nộidung của hợp đồng cần phải xác định luật của nước nào sẽđược áp dụng sẽ được đặt ra Về mặt lí luận, sẽ có nhiều hệthống pháp luật có thể được áp dụng như: luật nhân thân củacác bên giao kết hợp đồng (Lex personalis), luật nơi giao kếthợp đồng (lex loci contractus), luật nơi có tài sản (Lex reisitae), luật tòa án (Lex fori)… và việc lựa chọn hệ thống phápluật nào được áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật về nộidung hợp đồng sẽ phụ thuộc và quy định của pháp luật củamỗi quốc gia [53, tr 416]
Thứ ba, về hình thức hợp đồng trong tư pháp quốc tế.
Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện sự thỏa thuậncủa các bên Nó ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội dung hợpđồng Trên thực tế, hình thức của hợp đồng rất đa dạng và tồntại ở một số dạng như văn bản, ghi âm, ghi hình, lời nói, hànhvi… Để xem xét tính hợp pháp của hợp đồng thì hình thức củahợp đồng hợp pháp cũng là một yêu cầu bắt buộc [53, tr 415-416]
Hiện nay, hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoàiđược các nước quy định khá khác nhau và có nhiều nước quy
Trang 33định hợp đồng có yếu tố nước ngoài buộc phải được thể hiệndưới hình thức văn bản mới có giá trị pháp lý Tuy nhiên, xuthế chung trên thế giới thì hình thức của hợp đồng có yếu tốnước ngoài được công nhận dưới mọi hình thức kể cả lời khaicủa nhân chứng Diều này đã được ghi nhận ở một số điềuước quốc tế như Công ước Viên năm 1980 và Công ước Rome
1980 và pháp luật của nhiều nước là thành viên của các Côngước
1.2.3 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng
Phương pháp điều chỉnh là tổng hợp các biện pháp cáchthức mà nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ dân
sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài làm cho các quan
hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trịtrong xã hội Để giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồnghiện nay có hai phương pháp đó là phương pháp điều chỉnhtrực tiếp (hay còn được gọi là phương pháp thực chất) vàphương pháp điều chỉnh gián tiếp (hay còn được gọi làphương pháp xung đột)
Phương pháp điều chỉnh trực tiếp (hay còn được gọi là phương pháp thực chất).
Phương pháp thực chất là phương pháp trực tiếp giảiquyết ngay các quan hệ pháp lý phát sinh bằng cách xác địnhtrực tiếp quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệpháp luật có yếu tố nước ngoài Phương pháp này được thựchiện trên cơ sở các quy phạm thực chất được dựa trên phápluật quốc gia, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có liênquan đến lĩnh vực hợp đồng có yếu tố nước ngoài Như vậy,khi áp dụng phương pháp thực chất để điều chỉnh các quan
hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng có yếu tố nướcngoài sẽ được giải quyết ngay bằng các quy phạm thực chất
Trang 34đã xây dựng sẵn trong đó chỉ ra rõ quyền cà nghĩa vụ của cácbên tham gia trong quan hệ hợp đồng.
Quy phạm thực chất gồm hai loại: quy phạm thực chấtthống nhất trong điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và quyphạm thực chất nội địa trong pháp luật của quốc gia
Quy phạm thực chất thống nhất: được chứa đựng trong
các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế Trong xu hướng củacác quốc gia hiện nay là càng ngày càng gắn bó với nhau vềmặt kinh tế nên các quốc gia ngày càng có xu hướng sử dụngcác quy phạm thực chất bằng cách ký kết và gia nhập cácđiều ước quốc tế để điều chỉnh các quan hệ hợp hợp đồng cóyếu tố nước ngoài
Ví dụ: Điều 11 Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về
mua bán hàng hóa quốc tế quy định: “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể
cả những lời khai của nhân chứng” hay các điều kiện giao
hàng mang tính tập quán trong thương mại quốc tế như: FOB,CIF, DAF, trong Incoterms; hay Quy tắc thực hành thốngnhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practicefor Documentary Credits – UCP) cũng là một trong các quyphạm thực chất thống nhất
Quy phạm thực chất nội địa: được quy định trong luật
của quốc gia Trong quá trình xây dựng pháp luật, các quốcgia tự mình xây dựng các quy phạm thực chất để điều chỉnhcác quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài trong đó có quan
hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong các văn bản phápluật của quốc gia sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chínhtrị và xã hội của quốc gia mình Các quy phạm thực chất nàytrực tiếp điều chỉnh các quan hệ pháp luật đã được các quốc
Trang 35gia thống nhất áp dụng và được dùng để điều chỉnh các quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Ví dụ: Khoản 2 và 3 Điều 674 Bộ luật Dân sự 2015 quy
định: “ 2 Trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam 3.Việc xác định cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.”
Tóm lại, phương pháp thực chất có những ưu điểm là giảiquyết trực tiếp quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoài vàthường được áp dụng trong một lĩnh vực cụ thể nhất định(như mua bán hàng hóa, sở hữu trí tuệ, đầu tư, …) Những quyphạm đó là cơ sở pháp lý rõ ràng giúp các bên dễ dàng tuầnthủ và giảm thiểu nguy cơ xung đột, mâu thuẫn Các chủ thểcủa quan hệ đó và các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyếttranh chấp sẽ tiết kiệm được thời gian, tránh được việc phảitìm hiểu pháp luật nước ngoài là vấn đề rất phức tạp Hơnnữa, khi áp dụng các quy phạm thực chất trong các điều ướcquốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc đã được nội luật hóathành các quy phạm pháp luật của quốc gia thì việc thực thiđược nâng cao bảo đảm thi hành bằng quyền lực Nhà nước
Bên cạnh ưu điểm đó thì phương pháp thực chất vẫn cómột số hạn chế nhất định như do quy phạm thực chất thốngnhất có số lượng không nhiều vì mỗi nước có những lợi íchkhác nhau nên khó cùng nhau thoả thuận ký kết hoặc thamgia các điều ước quốc tế, hoặc cùng sử dụng các tập quánquốc tế; một số lĩnh vực hiện nay hầu như rất ít quy phạmthực chất thống nhất, như hợp đồng , không đáp ứng được
Trang 36yêu cầu điều chỉnh hết quan hệ hợp đồng có yếu tố nướcngoài diễn ra rất đa dạng, phức tạp.
Phương pháp điều chỉnh gián tiếp (hay còn được gọi là phương pháp xung đột)
Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh quan
hệ pháp luật một cách gián tiếp Phương pháp này không đưa
ra cách giải quyết trực tiếp ngay quan hệ pháp luật phát sinh
mà điều chỉnh bằng cách lựa chọn một hệ thống pháp luật cụthể trong số những hệ thống pháp luật có liên quan rồi dùng
hệ thống pháp luật được lựa chọn để giải quyết các vấn đềliên quan đến hợp đồng Bằng phương pháp này, các quan hệpháp luật phát sinh sẽ được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luậtđược dẫn chiếu đến Để lựa chọn được hệ thống pháp luật cần
áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật phát sinh có yếu tốnước ngoài cần phải thực hiện dựa trên các quy phạm xungđột Quy phạm xung đột được xây dựng không quy định sẵncác quyền, nghĩa vụ các biện pháp chế tài đối với các chủ thểtham gia tư pháp quốc tế mà nó chỉ có vai trò xác định hệthống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng
Phương pháp điều chỉnh gián tiếp là đặc trưng cơ bảncủa tư pháp quốc tế vì trong thực tiễn tư pháp quốc tế sốlượng các quy phạm thực chất ít không đáp ứng được yêu cầuđiều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế phát sinh ngày càng
đa dạng trong khi đó quy phạm xung đột được xây dựng mộtcách đơn giản hơn nên có số lượng nhiều hơn Do có nhiềuquy phạm xung đột nên đã điều chỉnh được hầu hết các quan
hệ pháp luật trong tư pháp quốc tế
Quy phạm xung đột được chia thành hai lại: quy phạmxung đột trong nước (các quốc gia tự ban hành hệ thống phápluật của nước mình) và quy phạm xung đột thống nhất (đượcxây dựng bằng cách các quốc gia kí kết các điều ước quốc tế)
Trang 37Quy phạm xung đột trong nước có thể lấy ví dụ như: Điều 677 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản” hay Khoản 1 Điều 673 Bộ luật Dân sự
2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch”
Quy phạm xung đột thống nhất có thể lấy ví dụ tại
Khoản 1 Điều 36 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý vềcác vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và Liên bang Nga quy định: “Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước do các bên lựa chọn, nếu điều đó không trái với pháp luật của các Bên ký kết Nếu các bên không lựa chọn pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật của Bên ký kết nơi bên phải thực hiện nghĩa
vụ chính của hợp đồng thường trú, được thành lập hoặc có trụ
sở Đối với hợp đồng thành lập doanh nghiệp, thì áp dụng pháp luật của Bên ký kết nơi doanh nghiệp đó cần được thành lập” hay Khoản 1 Điều 40 Hiệp định tương trợ tư pháp và
pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và Ucraina quy định: “Quan hệ pháp lý phát sinh từ việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ lao động, cũng như các yêu cầu liên quan do pháp luật của bên
ký kết nơi cá nhân đang, đã hoặc cần phải thực hiện công việc điều chỉnh”
Tất cả các điều luật trên đều là các quy phạm xung độtđưa ra những nguyên tắc để lựa chọn hệ thống pháp luậtđược áp dụng mà không điều chỉnh trực tiếp các quan hệ phátsinh
Từ đó có thể thấy tính chất phức tạp của phương phápđiều chỉnh này thể hiện do phải thông qua khâu trung gian
“chọn luật” áp dụng nên việc điều chỉnh quan hệ tư pháp
Trang 38quốc tế mất nhiều thời gian Nhiều trường hợp quy phạmxung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài, việc tìm hiểunội dung pháp luật nước ngoài là rất khó khăn đối với các bênđương sự và cơ quan có thẩm quyền vì do các nước có cácđiều kiện kinh tế, chính trị - xã hội khác nhau nên việc xâydựng pháp luật cũng có những điểm khác nhau như đã trìnhbày Đây chính là tính hạn chế của phương pháp này.
Tuy nhiên, do việc xây dựng quy phạm thực chất thốngnhất rất phức tạp, số lượng các quy phạm này không đáp ứngđược yêu cầu điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế, trongkhi đó việc xây dụng các quy phạm xung đột là dễ dàng hơn
và có số lượng tương đối nhiều hơn Nên có thể điều chỉnhhầu hết các quan hệ trong tư pháp quốc tế và đặc biệt làtrong lĩnh vực hợp đồng; bởi vậy phương pháp điều chỉnh gián
là phương pháp chủ yếu hiện nay
Trang 39Chương 2 GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Hiện nay, để giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồngtheo quy định của pháp luật Việt Nam được quy định tại
Khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật
áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này Trường hợp các bên không có thoả thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên
hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng” Theo quy
định này các bên có quyền được lựa chọn luật áp dụng đối vớitất cả các khía cạnh của hợp đồng như: năng lực của thể khigiao kết hợp đồng, nội dung của hợp đồng và hình thức củahợp đồng đều được giải quyết theo nguyên tắc lựa chọn luật
áp dụng Như vậy, các việc giải quyết xung đột pháp luật đốivới hợp đồng có yếu tố nước ngoài được giải quyết theonguyên tắc lựa chọn luật áp dụng Trong trường các bênkhông lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng thì sẽ được giảiquyết theo pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất đốivới hợp đồng
2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể khi giao kết hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng cóhiệu lực là các bên trong quan hệ hợp đồng phải có năng lựccủa chủ thể khi giao kết hợp đồng Nếu các bên không đápứng được điều kiện này thì hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu Điềunày hiện nay được pháp luật của hầu hết các quốc gia đềuquy định đó là điều kiện bắt buộc Ví dụ: tại Điều 1123-5 Bộ
luật Dân sự Pháp quy định: “các bên giao kết phải là người có năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng” hay tại Điều
Trang 40104-10 Bộ luật Dân sự Đức quy định: “cá nhân xác lập giao dịch dân sự phải có năng lực pháp luật” Hay như trong pháp
luật Anh Mĩ cũng quy định các bên phải có năng lực giao kếthợp đồng thì hợp đồng mới có hiệu lực Pháp luật Việt Namcũng đưa ra những nguyên tắc đối với việc xác định năng lựcpháp luật và năng lực hành vi của chủ thể tham gia giao kếthợp đồng có yếu tố nước ngoài là người nước ngoài và phápnhân nước ngoài [25, tr 58-59]
Như vậy, có thể thấy việc xác định năng lực chủ thể khigiao kết hợp đồng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việcxác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, trong đó có hợpđồng dân sự có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, việc xác địnhnăng lực chủ thể khi giao kết hợp đồng của các quốc gia,vùng lãnh thổ khác nhau cũng còn có một số khác biệt và đó
là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật
2.1.1 Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ
thể khi giao kết hợp đồng theo pháp luật của một
số quốc gia trên thế giới
Khi xem xét vấn đề năng lực chủ thể khi giao kết hợpđồng có yếu tố nước ngoài thì có thể phân chia thành hai loạichủ thể đó là chủ thể là cá nhân và chủ thể là pháp nhân Mỗiloại sẽ có các cách xác định năng lực chủ thể riêng biệt và rấtkhác nhau
Thứ nhất, giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ
thể giao kết hợp đồng đối với trường hợp chủ thể là cá nhân
Để giải quyết xung đột pháp luật về năng lực giao kết hợpđồng của các bên chủ thể là cá nhân đa số các nước đều sửdụng hệ thuộc luật nhân thân (Lex personalis) Tuy nhiên,việc áp dụng hệ thuộc luật nhân thân (Lex personalis) như thếnào để xác định tính hợp pháp về năng lực giao kết hợp đồngcủa mỗi quốc gia là khác nhau và phụ thuộc vào pháp luật