MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tàiViện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là một trong những hoạt động thực hiện chức năng của ngành trong lĩnh vực tố tụng hình sự được quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND 2014, Điều 112 và Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003, Điều 165 và Điều 166 BLTTHS 2015. Nếu VKSND thực hiện tốt hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can thì mọi hành vi phạm tội, người phạm tội mới được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Ngược lại, nếu VKSND không thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn thì sẽ dẫn đến việc oan sai, bỏ lọt tội phạm, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử sau này. Trong những năm qua, ngành KSND đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Một số Kiểm sát viên (KSV) còn chưa nắm vững quy định của pháp luật, chưa vận dụng linh hoạt và sáng tạo các quy định của pháp luật cùng với kỹ năng nghiệp vụ dẫn đến tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm vẫn còn diễn ra ở một số địa phương. Bên cạnh đó, tuy BLTTHS đã quy định khá đầy đủ về khởi tố bị can nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số bất cập, đặc biệt là những quy định liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trong việc áp dụng những quy định này. Từ thực tế nêu trên cho thấy, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là một trong những vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ, trên cơ sở đó tạo ra nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của VKS trong việc khởi tố bị can, đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động này. Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứuTừ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài, có thể kể đến những công trình sau: (i)Nhóm các tài liệu là giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo gồm có: Tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng (Chủ biên), Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2014), Giáo trình luật Tố tụng Hình sự Việt Nam Nhà xuất bản Chính Trị Quốc gia, Hà Nội; PGS.TS Võ Khánh Vinh, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2004. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2006. PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.(ii)Nhóm tài liệu là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luật tốt nghiệp, đề tài khoa học các cấp: Chức năng kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, Luận án cao học Luật, Hà Nội (1999), Đặng Văn Minh. Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội (2002), tr.4748, Lê Thị Tuyết Hoa. Phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân đối với các quyết định của Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội (2008), tr.5885, Đào Thị Diệp. Một số vướng mắc và hướng giải quyết trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Đề tài khoa học cấp trường, Hà Nội (2008), tr. 1322, Th.S. Phạm Quang Luyện. Công tác điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, thực trạng và phương hướng đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội (2010), tr. 6773, Viện Khoa học Kiểm sát. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội (2013), Cao Việt Cường. (iii)Nhóm tài liệu là bài viết trên các tạp chí khoa học luật:Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về khởi tố bị can, Tạp chí Tòa án – Tòa án nhân dân tối cao, số 72006, tr.2224. Áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc quyết định khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 022007, tr.2246, Tiến sĩ Trần Quang Tiệp. Một số vấn đề về khởi tố bị can và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 022007, tr.1821, Tiến sĩ Đỗ Văn Đương. Cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 232008, tr.1317, Nguyễn Tiến Sơn. Bàn về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc quyết định khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số Tân Xuân (022009), tr.3538, Nguyễn Ngọc Khánh.Những bài viết, công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến hoạt động khởi tố bị can dưới góc độ BLTTHS chứ chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can. Trong khi đó, BLTTHS 2015 đã được thông qua nên việc nghiên cứu về thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là hết sức cần thiết, vẫn có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn.3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu3.1. Mục đích nghiên cứuKhóa luận nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can, từ đó làm căn cứ đánh giá thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của VKS trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Phân tích một số vấn đề lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can. Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can.3.3. Phạm vi nghiên cứuPhạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can của VKSND, số liệu nghiên cứu trên toàn quốc và trong phạm vi mười năm trở lại đây.4. Phương pháp nghiên cứu đề tàiĐề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, logic. 5. Ý nghĩa của đề tàiĐề tài đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can; đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can nhằm phục vụ cho công tác nghiệp vụ của ngành.6. Kết cấu khóa luậnNgoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương: Chương 1:Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị canChương 2:Thực trạng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị canChương 3: Giải pháp nâng caochất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ BỊ CAN1.1.Khái niệm, đối tượng, phạm vi của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can1.1.1. Khái niệmVKSND là một thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước. Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Như vậy, theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND 2014, VKSND có hai chức năng: Chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Hai chức năng này được thực hiện trong nhiều khâu công tác khác nhau của VKS. Thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là một nội dung thuộc khâu công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự. Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can có ý nghĩa rất quan trọng đối với các hoạt động tố tụng tiếp theo. Quyết định khởi tố bị can là sự xác định một người (hoặc pháp nhân) đã thực hiện hành vi phạm tội, là cơ sở để tiến hành các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người (hoặc pháp nhân) đó. Vì thế, khởi tố bị can sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mạng chính trị của người bị khởi tố, đụng chạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, việc khởi tố bị can phải chịu sự chế ước và giám sát chặt chẽ của VKS thông qua vai trò thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Sự thật khách quan của vụ án có được làm sáng tỏ hay không, việc khởi tố bị can có đúng người đúng tội hay không, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền tự do dân chủ khác của công dân được pháp luật thừa nhận có được tôn trọng hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can. Để góp phần từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành, điều không thể thiếu được là cần phải có nhận thức đúng về các vấn đề cơ bản đó là khái niệm về thực hành quyền công tố trong quá trình khởi tố bị can và khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can. Việc làm rõ khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can được thực hiện qua làm rõ các khái niệm sau đây:Thứ nhất, về khái niệm thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can. Để tìm hiểu khái niệm thực hành quyền công tố trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm Quyền công tố bởi vì khái niệm thực hành quyền công tố thuộc nội dung của khái niệm quyền công tố (quyền công tố rộng hơn). Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất Nhà nước, nó tồn tại trong bất kỳ các kiểu Nhà nước nào. Quyền công tố đến nay đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong tố tụng hình sự của các nhà nước pháp quyền. Ở nước ta, quyền công tố xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945. Tháng 7 năm 1967, sau khi nghe báo cáo công tác của ngành Kiểm sát nhân dân trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhấn mạnh “Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố” 18.Từ điển Luật học giải thích quyền công tố là “quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” 12. Quyền buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội thể hiện ở quyền của Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để tìm ra người phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa. Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKSND thực hiện và chỉ được thực hiện trong tố tụng hình sự.Thuật ngữ thực hành quyền công tố lần đầu tiên được quy định tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980, sau đó là Điều 137 Hiến pháp năm 1992; Nghị quyết số 512001QH10 về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; Điều 107 Hiến pháp năm 2013; BLTTHS các năm 1988, 1990 (sửa đổi, bổ sung), 2003, 2015; Luật tổ chức VKSND các năm 1981, 1988 (sửa đổi, bổ sung), 2002, 2014; Quy chế về thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự các năm 2004, 2008. Ở nước ta, khái niệm thực hành quyền công tố đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu, bàn luận nhiều trong khoa học pháp lý ở các công trình khoa học, bài viết dưới nhiều góc độ, ở nhiều phạm vi khác nhau, gây ra không ít tranh cãi. Tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã đưa ra khái niệm về thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Khái niệm này được đa số các nhà khoa học, công chức các cơ quan tư pháp nhất trí cao. Mặc dù vậy, quyền công tố và thực hành quyền công tố đang còn là vấn đề phức tạp, có nhiều luồng quan điểm khác nhau, có khi còn trái ngược nhau, do đó cần phải tiếp tục nghiên cứu. Trên cơ sở khái niệm về thực hành quyền công tố đã được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND 2014 như đã nêu ở trên, thì có thể hiểu rằng “Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng thuộc nội dung thực hành quyền công tố được quy định trong BLTTHS để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong quá trình khởi tố bị can.”Thứ hai, về khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can. Theo từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì “kiểm sát” có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước.Theo từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn, thì “kiểm sát” là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước. Với cách giải thích khái niệm “kiểm sát” của hai cuốn từ điển trên thì kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và kiểm tra. Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi phạm đó. Hoạt động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của con người, cơ quan bị kiểm tra 2.Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những hình thức kiểm soát quyền lực tư pháp của Nhà nước để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. Ở nước ta, quyền kiểm sát hoạt động tư pháp được Nhà nước giao cho VKS thực hiện. Tại Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp .Khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can có nguồn gốc từ thuật ngữ “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật”. Tuy nhiên, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có phạm vi rộng hơn. Từ khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp nêu trên, có thể hiểu rằng“Kiểm sát việc khởi tố bị can là việc VKSND sử dụng tổng hợp các quyền hạn thuộc nội dung kiểm sát được quy định trong BLTTHS để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình khởi tố bị can nhằm đảm bảo việc khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền là có căn cứ, hợp pháp, đúng người, đúng tội để tiến hành điều tra và xử lý theo pháp luật.”Từ đó có thể thấy, “thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là hoạt động của VKS trong việc sử dụng những quyền năng mà pháp luật quy định để đảm bảo việc khởi tố bị can của các chủ thể có thẩm quyền là có căn cứ và hợp pháp”.
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan duy nhất có chức năngthực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Hoạt động thực hànhquyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là một trong những hoạt động thựchiện chức năng của ngành trong lĩnh vực tố tụng hình sự được quy định tạiĐiều 14 Luật tổ chức VKSND 2014, Điều 112 và Điều 113 Bộ luật tố tụnghình sự (BLTTHS) 2003, Điều 165 và Điều 166 BLTTHS 2015 Nếu VKSNDthực hiện tốt hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can thìmọi hành vi phạm tội, người phạm tội mới được phát hiện, khởi tố, điều tra,truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Ngượclại, nếu VKSND không thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn thì sẽ dẫn đến việcoan sai, bỏ lọt tội phạm, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xửsau này
Trong những năm qua, ngành KSND đã có nhiều cố gắng thực hiện tốtchức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được nhiều thành tích đáng kể tronghoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can Tuy nhiên, bêncạnh những kết quả đã đạt được thì hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế,thiếu sót Một số Kiểm sát viên (KSV) còn chưa nắm vững quy định của phápluật, chưa vận dụng linh hoạt và sáng tạo các quy định của pháp luật cùng với
kỹ năng nghiệp vụ dẫn đến tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm vẫn còn diễn ra
ở một số địa phương Bên cạnh đó, tuy BLTTHS đã quy định khá đầy đủ vềkhởi tố bị can nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số bất cập, đặcbiệt là những quy định liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trongviệc áp dụng những quy định này
Từ thực tế nêu trên cho thấy, hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát khởi tố bị can là một trong những vấn đề cần được nghiên cứu, làm
rõ, trên cơ sở đó tạo ra nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của VKStrong việc khởi tố bị can, đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt
Trang 2động này Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công
bố liên quan đến đề tài, có thể kể đến những công trình sau:
(i)Nhóm các tài liệu là giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảogồm có:
- Tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng (Chủ biên), Trường Đại học Kiểm sát Hà
Nội (2014), Giáo trình luật Tố tụng Hình sự Việt Nam Nhà xuất bản Chính Trị
Quốc gia, Hà Nội;
- PGS.TS Võ Khánh Vinh, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội -2004.
- Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội -2006.
- PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001
(ii)Nhóm tài liệu là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luật tốtnghiệp, đề tài khoa học các cấp:
- Chức năng kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, Luận án cao học Luật, Hà Nội (1999), Đặng Văn Minh.
- Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện nghiên cứu
Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội (2002), tr.47-48, Lê Thị Tuyết Hoa
- Phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân đối với các quyết định của Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội
Trang 3- Công tác điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, thực trạng và phương hướng đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội (2010), tr 67-73, Viện Khoa
học Kiểm sát
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội
(2013), Cao Việt Cường
(iii)Nhóm tài liệu là bài viết trên các tạp chí khoa học luật:
-Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về khởi tố bị can, Tạp chí Tòa án –
Tòa án nhân dân tối cao, số 7/2006, tr.22-24
- Áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc quyết định khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố
bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 02/2007,
tr.22-46, Tiến sĩ Trần Quang Tiệp
- Một số vấn đề về khởi tố bị can và phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 02/2007, tr.18-21,
Tiến sĩ Đỗ Văn Đương
- Cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 23/2008, tr.13-17,
Nguyễn Tiến Sơn
- Bàn về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc quyết định khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số Tân Xuân
(02/2009), tr.35-38, Nguyễn Ngọc Khánh
Những bài viết, công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến hoạt độngkhởi tố bị can dưới góc độ BLTTHS chứ chưa có công trình nào nghiên cứuriêng về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can.Trong khi đó, BLTTHS 2015 đã được thông qua nên việc nghiên cứu về thựchành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là hết sức cần thiết, vẫn có ýnghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn
Trang 43 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc khởi tố bị can, từ đó làm căn cứ đánh giá thực trạnghoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can và đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của VKS trong thựchành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích một số vấn đề lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc khởi tố bị can
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố vàkiểm sát việc khởi tố bị can, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồntại, hạn chế trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng,Nhà nước về cải cách tư pháp Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụthể như phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, logic
5 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thựchành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can; đưa ra một số giải pháp
Trang 5để nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việckhởi tố bị can nhằm phục vụ cho công tác nghiệp vụ của ngành.
6 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của khóaluận bao gồm 3 chương:
Chương 1:Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc khởi tố bị can
Chương 2:Thực trạng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc khởi tố bị can
Chương 3: Giải pháp nâng caochất lượng hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
Trang 6CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ BỊ CAN
1.1.Khái niệm, đối tượng, phạm vi của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
1.1.1 Khái niệm
VKSND là một thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước Khoản 1
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp".Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm
2014 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".Như vậy, theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND 2014,
VKSND có hai chức năng: Chức năng thực hành quyền công tố và chức năngkiểm sát hoạt động tư pháp Hai chức năng này được thực hiện trong nhiềukhâu công tác khác nhau của VKS Thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi
tố bị can là một nội dung thuộc khâu công tác thực hành quyền công tố vàkiểm sát việc điều tra vụ án hình sự
Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can có ýnghĩa rất quan trọng đối với các hoạt động tố tụng tiếp theo Quyết định khởi
tố bị can là sự xác định một người (hoặc pháp nhân) đã thực hiện hành viphạm tội, là cơ sở để tiến hành các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sựđối với người (hoặc pháp nhân) đó Vì thế, khởi tố bị can sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến sinh mạng chính trị của người bị khởi tố, đụng chạm trực tiếp đếnquyền và lợi ích hợp pháp của họ Do đó, việc khởi tố bị can phải chịu sự chếước và giám sát chặt chẽ của VKS thông qua vai trò thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Sự thật khách quan của vụ án có đượclàm sáng tỏ hay không, việc khởi tố bị can có đúng người đúng tội hay không,tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền tự do dân chủ khác củacông dân được pháp luật thừa nhận có được tôn trọng hay không phụ thuộc rấtnhiều vào chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can Đểgóp phần từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ củangành, điều không thể thiếu được là cần phải có nhận thức đúng về các vấn đề
Trang 7cơ bản đó là khái niệm về thực hành quyền công tố trong quá trình khởi tố bịcan và khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can Việc làm rõ khái niệm thựchành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can được thực hiện qua làm rõcác khái niệm sau đây:
Thứ nhất, về khái niệm thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị
can Để tìm hiểu khái niệm thực hành quyền công tố trước hết chúng ta cầntìm hiểu khái niệm Quyền công tố bởi vì khái niệm thực hành quyền công tốthuộc nội dung của khái niệm quyền công tố (quyền công tố rộng hơn)
Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất Nhànước, nó tồn tại trong bất kỳ các kiểu Nhà nước nào Quyền công tố đến nay
đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong tố tụnghình sự của các nhà nước pháp quyền Ở nước ta, quyền công tố xuất hiệncùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945.Tháng 7 năm 1967, sau khi nghe báo cáo công tác của ngành Kiểm sát nhândân trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủyban Thường vụ Quốc hội đã nhấn mạnh “Không có cơ quan nhà nước nào cóthể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố” [18]
Từ điển Luật học giải thích quyền công tố là “quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [12] Quyền buộc tội
của Nhà nước đối với người phạm tội thể hiện ở quyền của Nhà nước áp dụngcác biện pháp cần thiết để tìm ra người phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người đó ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội tạiphiên tòa Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKSND thựchiện và chỉ được thực hiện trong tố tụng hình sự
Thuật ngữ thực hành quyền công tố lần đầu tiên được quy định tại Điều
138 Hiến pháp năm 1980, sau đó là Điều 137 Hiến pháp năm 1992; Nghịquyết số 51/2001/QH10 về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; Điều 107Hiến pháp năm 2013; BLTTHS các năm 1988, 1990 (sửa đổi, bổ sung), 2003,2015; Luật tổ chức VKSND các năm 1981, 1988 (sửa đổi, bổ sung), 2002,2014; Quy chế về thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luậttrong điều tra các vụ án hình sự các năm 2004, 2008 Ở nước ta, khái niệm
Trang 8thực hành quyền công tố đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu, bànluận nhiều trong khoa học pháp lý ở các công trình khoa học, bài viết dướinhiều góc độ, ở nhiều phạm vi khác nhau, gây ra không ít tranh cãi
Tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã đưa ra khái
niệm về thực hành quyền công tố như sau: "Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự" Khái niệm này được đa số các
nhà khoa học, công chức các cơ quan tư pháp nhất trí cao Mặc dù vậy, quyềncông tố và thực hành quyền công tố đang còn là vấn đề phức tạp, có nhiềuluồng quan điểm khác nhau, có khi còn trái ngược nhau, do đó cần phải tiếptục nghiên cứu
Trên cơ sở khái niệm về thực hành quyền công tố đã được quy định tạiKhoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND 2014 như đã nêu ở trên, thì có thể hiểu
rằng “Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng thuộc nội dung thực hành quyền công tố được quy định trong BLTTHS để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong quá trình khởi tố bị can.”
Thứ hai, về khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can Theo từ điển tiếng
Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ - Trung tâm khoa học
xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì “kiểm sát” có nghĩa là
kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước.Theo từ điển báchkhoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn,
thì “kiểm sát” là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân
thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước
Với cách giải thích khái niệm “kiểm sát” của hai cuốn từ điển trên thì
kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và kiểm tra Hoạt độnggiám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị giám sát vàkhi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để yêu cầu người, cơquan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi phạm đó Hoạt
Trang 9động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của con người, cơquan bị kiểm tra [2].
Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những hình thứckiểm soát quyền lực tư pháp của Nhà nước để kiểm sát tính hợp pháp của cáchành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp Ởnước ta, quyền kiểm sát hoạt động tư pháp được Nhà nước giao cho VKS thựchiện
Tại Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: "Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp"
Khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can có nguồn gốc từ thuật ngữ
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật” Tuy nhiên, kiểm sát việc tuân theo phápluật có phạm vi rộng hơn Từ khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp nêu
trên, có thể hiểu rằng“Kiểm sát việc khởi tố bị can là việc VKSND sử dụng tổng hợp các quyền hạn thuộc nội dung kiểm sát được quy định trong BLTTHS để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong quá trình khởi tố bị can nhằm đảm bảo việc khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền là có căn cứ, hợp pháp, đúng người, đúng tội
để tiến hành điều tra và xử lý theo pháp luật.”
Từ đó có thể thấy, “thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can
là hoạt động của VKS trong việc sử dụng những quyền năng mà pháp luật quy định để đảm bảo việc khởi tố bị can của các chủ thể có thẩm quyền là có căn cứ và hợp pháp”.
1.1.2 Đối tượng
Theo cách hiểu chung nhất, đối tượng của bất kỳ hoạt động của mộtchủ thể nào cũng đều là những cái (gì) mà hoạt động đó tác động đến nhằmđạt được mục đích, yêu cầu cụ thể đặt ra trước chủ thể đó Trong khởi tố bịcan, mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố
bị can là nhằm đảm bảo việc khởi tố bị can kịp thời, nghiêm minh, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội
Trang 10phạm và người phạm tội Vì vậy, đối tượng của thực hành quyền công tốtrong việc khởi tố bị can là người phạm tội, nhằm mục đích truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với họ một cách đúng đắn, có căn cứ Trong khi đó, đốitượng của kiểm sát việc khởi tố bị canlà sự tuân thủ pháp luật của CQĐT, cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, những người
có thẩm quyềnvà người tham gia tố tụng trong việckhởi tố bị can
Sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể nêu trên chính là sự tuân thủ phápluật trong việc ban hành các quyết định tố tụng, thực hiện các hành vi tố tụng
là cơ sở pháp lý cho việc khởi tố bị can (Ví dụ: các biên bản, tài liệu là căn cứ
để khởi tố bị can ), là sự tuân thủ pháp luật trong ban hành quyết định khởi
tố bị can Sự tuân thủ pháp luật này thể hiện ở thẩm quyền, thủ tục, hình thức,trình tự ban hành Việc tuân thủ pháp luật ở đây không chỉ là tuân theo Hiếnpháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS, BLTTHS, các văn bản pháp luật khác màcòn dựa trên các văn bản dưới luật có liên quan như Nghị quyết của Hội đồngthẩm phán TANDTC, Thông tư liên tịch…
1.1.3 Phạm vi
Theo nghĩa thông thường, phạm vi là khoảng được giới hạn của mộthoạt động, một vấn đề hay một cái gì Phạm vi của công tác thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc khởi tố bị can được hiểu là giới hạn hoạt động màVKSND tiến hành để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội vàkiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hành vi, quyết định tố tụng của cácchủ thể nhằm đảm bảo cho việc khởi tố bị can kịp thời, đúng pháp luật Xácđịnh phạm vi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can cũng làxác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của công tác thực hànhquyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can Hoạt động thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc khởi tố bị can thực hiện trong phạm vi gắn liền vớicác hoạt động tố tụng của chủ thể có thẩm quyền theo luật định liên quan đếnviệc khởi tố bị can
Trang 111.2 Nội dung hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
1.2.1 Nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 126 và Khoản 2 Điều 127 BLTTHS2003thì thời hạn VKS nghiên cứu hồ sơ là 03 ngày kể từ ngày nhận đượcquyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can Tại BLTTHS 2015 có bổ sung về trường hợp VKS yêu cầu bổ sungchứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ,tài liệu bổ sung, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏquyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can.Khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can,quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, KSV được phâncông phải tiến hành nghiên cứu, kiểm tra các văn bản, tài liệu, chứng cứ sauđây:
- Công văn đề nghị xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyếtđịnh thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can;
- Quyết định khởi tố vụ án, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố vụ án;
- Quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố bị can;
- Biên bản giao quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố bị can cho bị can trừ các trường hợp không thểgiao ngay các quyết định này cho bị can như trường hợp bắt bị can tại ngoại
để tạm giam hoặc phải khám xét chỗ ở, nơi làm việc của bị can, bị can trốn, bịcan tại ngoại do không triệu tập hoặc gặp ngay được…
- Các tài liệu làm căn cứ khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết địnhkhởi tố bị can bao gồm: Đơn tố giác, tin báo về tội phạm và các tài liệu banđầu do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; tài liệu do CQĐT kiểm tra, xácminh; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi (nếu có); biênbản, kết luận giám định; biên bản, kết quả định giá tài sản (nếu có); biên bản
Trang 12ghi lời khai của người làm chứng, người bị hại; biên bản nhận dạng, đối chất(nếu có); biên bản bắt, khám xét khẩn cấp; biên bản phạm tội quả tang; biênbản ghi lời khai của người bị tình nghi thực hiện tội phạm, người bị bắt, bịtạm giữ; biên bản hỏi cung bị can (nếu có); trích, sao quyết định xử phạt hànhchính (nếu có), quyết định hoặc bản án của tòa án (nếu có).
- Bản kê các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài liệu được đánh dấubút lục của CQĐT
Để hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị canđược chặt chẽ, đúng với yêu cầu của pháp luật, trước hết VKS phải xác địnhđược hành vi của bị can qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu liên quan để đảmbảo tính có căn cứ của việc khởi tố bị can Về kiểm tra tính có căn cứ thì quacác tài liệu nêu trên, KSV cần xác định xem có đầy đủ chứng cứ để chứngminh người hoặc pháp nhân bị khởi tố chính là người hoặc pháp nhân đã thựchiện hành vi phạm tội hay không Muốn vậy, KSV cần xác định hành vi phạmtội của bị can xem có đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của BLHShay không Ngoài ra còn phải xác định các yếu tố về năng lực trách nhiệmhình sự và các tình tiết khác loại trừ khả năng phải chịu trách nhiệm hình sự.Đối với bị can là pháp nhân, phải xác định điều kiện truy cứu trách nhiệmhình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 75 và Điều 76 BLHS 2015
Bảo đảm tính hợp pháp của việc khởi tố bị can cũng là nội dung quantrọng mà VKS phải quán triệt Để kiểm tra tính hợp pháp thì trước hết KSVcần kiểm tra xem hình thức của quyết định khởi tố bị can đã đúng theo mẫuban hành hay chưa, sau đó là kiểm tra về nội dung xem đã đầy đủ, chính xáccác nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 126 BLTTHS 2003(các thông tin vềthời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên,ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghềnghiệp của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS;thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm Bị can bịkhởi tố về nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từngtội danh và điều, khoản của BLHS được áp dụng) hay chưa;đối với bị can làpháp nhân cần kiểm tra xem đã đầy đủ các nội dung về thời gian, địa điểm raquyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; tên và địa chỉ của pháp nhân
Trang 13theo quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền; tội danh, điều khoảncủa BLHS đã áp dụng; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết kháccủa tội phạm hay chưa; kiểm tra xem thẩm quyền ra quyết định có đúng haykhông, thời hạn gửi quyết định có tuân theo quy định của BLTTHShay không(trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửiquyết định này kèm theo các tài liệu có liên quan cho VKS cùng cấp để xétphê chuẩn) Ngoài ra, KSV cần kiểm tra xem các trình tự, thủ tục tiến hànhcác hoạt động điều tra như: khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lờikhai, bắt, khám xét… xem có tuân theo pháp luật hay không.
1.2.2 Xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Theo quy định của pháp luật thì sau khi ra quyết định khởi tố bị can,quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửiquyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho VKS cùng cấp để xétphê chuẩn Quy định này thể hiện rõ vai trò của VKS trong việc xét phê chuẩnquyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can, chỉ có VKS mới có thẩm quyền xét và quyết định phê chuẩn hoặc hủy
bỏ quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết địnhkhởi tố bị can
Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố
bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, KSVgiảiquyết như sau:
Một là, nếu thấy quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì KSV báo cáo Việntrưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền để quyết địnhphê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố bị can và gửi ngay cho cơ quan đã khởi tố để tiến hành điều tra
Hai là,nếu thấy chưa rõ, chưa đầy đủ căn cứ xác định bị can phạm tội
thì KSV yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ
Trang 14khởi tố KSV thụ lý giải quyết vụ án có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai ngườilàm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi báo cáoViện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền xem xét,quyết định việc phê chuẩn hay huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can Biên bản ghilời khai những người này do KSV lập được chuyển cho cơ quan đã khởi tố đểđưa vào hồ sơ vụ án
Ba là, nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn có người khác đã thực
hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì VKS ra văn bản yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó; trongtrường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà phát hiện có ngườikhác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án mà chưa bị khởi tố thì VKSxem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại Khoản 5 Điều 126BLTTHS 2003
Bốn là, nếu thấy việc khởi tố bị can rõ ràng là không có căn cứ thì KSV
thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Việntrưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can Trường hợpngười bị khởi tố bị can đang bị tạm giữ mànếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không
đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đó thì KSV thụ
lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng
uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan
đã khởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ
1.2.3 Yêu cầu khởi tố bị can
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình
sự, tùy từng trường hợp VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tự mình khởi tố
bị can hoặc yêu cầu CQĐT khởi tố bị can theo quy định của BLTTHS Theoquy định của BLTTHS và cả trên thực tế thì việc khởi tố bị can do CQĐTthực hiện là chủ yếu còn VKS chỉ trực tiếp khởi tố trong một số trường hợp
Theo Khoản 5 Điều 126 BLTTHS 2003 và Điểm c Khoản 1 Điều 13của Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì trong trườnghợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm
Trang 15chưa bị khởi tố thì KSV thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởnghoặc KSV được Viện trưởng ủy quyền ra văn bản yêu cầu CQĐT ra quyếtđịnh khởi tố bị can
1.2.4 Trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can
Bên cạnh việc quy định về thẩm quyền quyết định phê chuẩn hoặchủy bỏ quyết định khởi tố bị can, yêu cầu CQĐT khởi tố bị can, so vớiBLTTHS 2003 thì BLTTHS 2015 còn quy định rõ thẩm quyền của VKS trongviệc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can Khoản 4 Điều 179 BLTTHS 2015
đã quy định cụ thể các trường hợp VKS trực tiếp ra quyết định khởi tố bị cannhư sau:
“Trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố
bị can nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho
Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra nếu Viện kiểm sát phát hiện
có người khác đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.”
Như vậy, BLTTHS 2015 đã mở rộng thẩm quyền khởi tố bị can củaVKS hơn so với BLTTHS 2003 trong trường hợp trước khi nhận hồ sơ và kếtluận điều tra mà VKS phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà BLHS quyđịnh là tội phạm chưa bị khởi tố thì VKS trực tiếp ra quyết định khởi tố bị cannếu đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện Quy định đó cho thấy vai tròcủa VKS trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị cannói riêng và trong giai đoạn điều tra nói chung đã được nâng lên một bước.Qua đó, quy định này cũng là một cách thức đểtăng cường trách nhiệm công
tố của VKS trong giai đoạn điều tra, góp phần xử lý nhanh chóng và kịp thờicác hành vi phạm tội và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng tiếptheo
Trang 161.2.5 Yêu cầu thay đổi, bổ sung hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can
Trong hoạt động tiến hành tố tụng hình sự, thay đổi quyết định khởi tố
bị can là sự kiện pháp lý do CQĐT, VKS có thẩm quyền quyết định bằng cáchthay quyết định khởi tố bị can đã được ban hành và có hiệu lực pháp luật bằngmột quyết định khởi tố bị can về tội danh khác trong BLHS
Bổ sung quyết định khởi tố bị can là một sự kiện pháp lý do CQĐT,VKS có thẩm quyền quyết định bằng việc bổ sung vào quyết định khởi tố bịcan đã ban hành và có hiệu lực pháp luật bằng một hoặc một số tội danhmớicần phải điều tra làm rõ với bị can đã được làm rõ mà khi khởi tố bị canchưa có căn cứ để quyết định như vậy [1]
Theo Khoản 1 Điều 180 BLTTHS 2015 thì “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố;
b) Quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can.”
Theo Khoản 2 Điều 180 BLTTHS 2015 thì “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải bổ sung quyết định khởi tố bị can nếu có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.”
So với BLTTHS 2003 thì BLTTHS 2015 đã quy định rõ hơn, cụ thểhơn về căn cứ thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can và đã phân định rõràng trường hợp nào là thay đổi quyết định khởi tố bị can, trường hợp nào là
bổ sung quyết định khởi tố bị can Bên cạnh đó còn bổ sung thêm căn cứ thayđổi quyết định khởi tố bị can đó là quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên,tuổi, nhân thân bị can Trước đây, việc ghi nhận các thông tin trong quyết địnhkhởi tố bị can như các thông tin về họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghềnghiệp, bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào của BLHS…ở một sốnơi còn thiếu chính xác, điều đó dẫn đến những vướng mắc trong quá trìnhtruy tố, xét xử Tồn tại này đã được BLTTHS 2015 khắc phục
Trang 17Việc yêu cầu thay đổi, bổ sung hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi, bổsung quyết định khởi tố bị can của VKS được tiến hành như sau:
- Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy hành vi phạm tội của bịcan không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn có hành
vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố hoặc quyết định khởi tố ghi khôngđúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can thì KSV thụ lý vụ án báo cáo Việntrưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầuCQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặctrực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửicho CQĐT để tiến hành điều tra trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết địnhthay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
- Nếu quá trình điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tộiđược quy định tại khoản khác với khoản trong cùng một điều luật về cùngmột tội danh đã khởi tố đối với bị can thì không phải thay đổi quyết định khởi
tố bị can Nếu thấy cần tạm giam bị can theo thời hạn của tội phạm quy địnhtại khoản của điều luật có khung hình phạt nặng hơn hoặc chuyển vụ án đểđiều tra, truy tố theo thẩm quyền thì phải ghi rõ lý do này trong lệnh tạm giamhoặc trong quyết định chuyển vụ án
1.3 Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và các chủ thể có liên quan trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can
1.3.1 Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can
1.3.1.1 Mối quan hệ phối hợp
Trong tố tụng hình sự, CQĐT và VKS tuy có chức năng, nhiệm vụ khácnhau nhưng đều có mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thờicác hành vi phạm tội, do đó, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng làtất yếu, khách quan
Khi tiến hành tố tụng hình sự, CQĐT và VKS vừa tiến hành các hoạtđộng tố tụng độc lập, vừa có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng Trongquá trình khởi tố bị can, CQĐT có chức năng nhiệm vụ thực hiện hoạt độngkhởi tố bị can, còn VKS có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và
Trang 18kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động khởi tố bị can Sự phối hợpgiữa CQĐT và VKS trong khởi tố bị can là sự hợp tác trong việc thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của VKS và của CQĐT nhằm mục đích bảo đảm hoạtđộng khởi tố bị can đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Việc phối hợpdựa trên căn cứ quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT vàVKS trong đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ nhà nước, tổ chức, xãhội và cá nhân Về hình thức phối hợp có thể theo quy chế hai bên ký kết,theo chương trình kế hoạch công tác hoặc đột xuất thông qua việc giải quyết
vụ án cụ thể Về chủ thể có thể phối hợp giữa lãnh đạo hai cơ quan hoặc giữaĐTV với KSV thông qua văn bản hoặc trao đổi trực tiếp [16]
Trách nhiệm của CQĐT phối hợp với VKS thể hiện như sau:
- CQĐT phải thông báo cho VKS về tiến độ giải quyết án, các vấn đềphức tạp phát sinh để VKS giám sát và phối hợp giải quyết
- CQĐT phải chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu, quyết định củaVKS trong việc khởi tố bị can
Trách nhiệm phối hợp của VKS với CQĐT trong tố tụng hình sự khôngphải là VKS làm cùng, làm thay, hoặc hỗ trợ CQĐT Sự phối hợp của VKSthông qua các hoạt động sau:
-Đề ra yêu cầu điều tra làm cho việc điều tra được thực hiện một cáchtoàn diện, đầy đủ
- Kiểm tra các thủ tục tố tụng thông qua hoạt động kiểm sát hoặc giántiếp (nghiên cứu tài liệu), phát hiện và yêu cầu CQĐT khắc phục, bổ sungnhững vi phạm, thiếu sót, đảm bảo cho việc khởi tố bị can được tiến hành mộtcách khách quan và hợp pháp
Ngoài ra, VKS cũng phải tuân thủ những quy định của BLTTHS: thờihạn, căn cứ áp dụng, phải cân nhắc một cách toàn diện giữa yêu cầu trongpháp luật, yêu cầu điều tra và yêu cầu trong tình hình chính trị cụ thể trongcác trường hợp cụ thể để phối hợp với CQĐT bảo đảm cho việc khởi tố bị can
có hiệu quả VKS có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với CQĐT để việc xétphê chuẩn quyết định khởi tố bị can được nhanh chóng, kịp thời phúc đáp yêucầu điều tra Trường hợp không nhất trí với quyết định hủy bỏ quyết định khởi
Trang 19tố bị can của VKS, CQĐT vẫn phải chấp hành và kiến nghị lên VKS cấp trêntrực tiếp theo quy định nếu thấy cần thiết
1.3.1.2 Mối quan hệ chế ước
Giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự nói chung và trong quá trìnhkhởi tố bị can nói riêng có mối quan hệ tố tụng đặc biệt, trong đó VKS cóquyền giám sát, yêu cầu, hủy bỏ các quyết định, hành vi không có căn cứ vàtrái pháp luật của CQĐT và ĐTV Quyền này của VKS có hiệu lực rất cao vàCQĐT phải chấp hành nên có thể nói nó mang tính chế ước của VKS đối vớiCQĐT Tính chế ước của VKS nhằm bắt buộc CQĐT, ĐTV thực hiện đúngcác quy định của pháp luật về khởi tố bị can, không bỏ lọt tội phạm và khônglàm oan người vô tội, ngăn ngừa, loại bỏ các vi phạm pháp luật trong quátrình giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm các lợi ích hợp pháp của người thamgia tố tụng [16]
Sự chế ước chỉ được thực hiện một chiều giữa VKS đối với CQĐT Cónghĩa là VKS là cơ quan chế ước, còn CQĐT là cơ quan bị chế ước Quyềnchế ước của VKS chỉ được tiến hành đối với hoạt động của CQĐT, có nghĩa
là đối tượng của sự chế ước chính là quyết định, hành vi của CQĐT vàĐTV,Cán bộ điều tra trong quá trình tố tụng còn những nội dung khác như tổchức, kỷ luật nội bộ…không phải là đối tượng chịu sự điều chỉnh của VKS[16]
Mối quan hệ chế ước của VKS với CQĐT trong quá trình khởi tố bị canđược thể hiện qua việc VKS phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can,quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; VKS yêu cầu bổsung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố
bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Tuy nhiên quyền chế ước của VKS cũng có giới hạn nhất định, nếuCQĐT không nhất trí với quyết định của VKS cùng cấp thì cùng với việcchấp hành quyết định, CQĐT đề nghị Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp xemxét quyết định
Trang 201.3.2 Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và một số chủ thể khác trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 111 BLTTHS 2003 thì khi phát hiện hành
vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì đối vớitội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lýlịch người phạm tội rõ ràng, các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan,Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi
tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho VKS có thẩm quyềntrong thời hạn 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
BLTTHS 2003 không quy định về trách nhiệm của cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu,quyết định của VKS trong giai đoạn điều tra mà chỉ quy định về trách nhiệmcủa CQĐT Điều này đã được BLTTHS 2015 khắc phục Tại Điều 167
BLTTHS 2015 có quy định “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra Đối với quyết định quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều
165 của Bộ luật này nếu không nhất trí, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.”Do đó, mối quan hệ giữa
VKS với Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tratrong quá trình khởi tố bị can cũng tương tự như mối quan hệ giữa VKS vớiCQĐT đó là sự đan xen giữa mối quan hệ phối hợp và mối quan hệ chế ước
Ngoài CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra thì so với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 cũng quy định rõ hơn,
cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiệnquyết định, yêu cầu của VKS Theo đó, tại Điều 168 BLTTHS 2015 đã quy
Trang 21định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; trường hợp không chấp hành mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.”
Trang 22CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT KHỞI TỐ BỊ CAN 2.1 Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
Trong những năm gần đây, ngành KSND đã có nhiều cố gắng và từngbước có những tiến bộ mới trong việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng thựchành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đấu tranh phòng, chốngtội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân
Công tác thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can được cácVKS các cấp tổ chức thực hiện khá hiệu quả Thông qua hoạt động xét phêchuẩn, VKS đã phát hiện trực tiếp hủy bỏ nhiều quyết định khởi tố bị cankhông đúng pháp luật, không có căn cứ của CQĐT hoặc yêu cầu CQĐT thayđổi quyết định khởi tố bị can cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị can;yêu cầu bổ sung tội danh và khởi tố thêm bị can trong nhiều vụ án Công táckiểm sát cũng được thực hiện khá chặt chẽ ngay từ đầu, nhất là đối với những
vụ án phức tạp, được dư luận quan tâm VKS đã kiểm sát ngay từ khâu tiếpnhận, phân loại và xử lý tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố nên
đã có những biện pháp để khắc phục được tình trạng khởi tố oan, sai hoặc bỏlọt tội phạm Tuy hằng năm, số vụ án mà VKS các cấp kiểm sát điều tra tănglên nhưng số vụ được quyết định truy tố đạt tỷ lệ cao, số bị can bị đình chỉđiều tra vì không phạm tội và số bị cáo VKS truy tố nhưng Tòa án tuyên phạtkhông phạm tội hằng năm đều giảm.Đây chính là yếu tố phản ánh rõ nét nhấtchất lượng của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị cancủa VKSND các cấp Đồng thời, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm
vụ, VKS đã chú trọng theo dõi và tập hợp các vi phạm của CQĐT để kịp thờikiến nghị khắc phục, hầu hết các kiến nghị đều được CQĐT tiếp thu, sửachữa
Mặc dù, tỷ lệ tội phạm gia tăng trên nhiều lĩnh vực, nhiều loại tội phạmmới xuất hiện, tình hình tội phạm ngày càng nguy hiểm và có những diễn biếnphức tạp, nhưng VKS đã tích cực phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 23khởi tố, điều tra, đưa ra truy tố, xét xử nhiều vụ án xâm phạm trật tự an toàn
xã hội nghiêm trọng như: giết người, tội phạm có tổ chức hoạt động theo băngnhóm xã hội đen, sử dụng vũ khí, hoạt động dưới dạng bảo kê, xiết nợ thuê,cho vay nặng lãi, cưỡng đoạt tài sản, tổ chức các hoạt động cờ bạc, cá độbóng đá, tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn và các khu vực, địa bàngiáp ranh; nhiều vụ tính chất côn đồ, manh động, hành vi phạm tội phi nhântính, tội đánh bạc, chống người thi hành công vụ với tính chất thách thức,chống đối ngày càng cao…Một số vụ đối tượng thực hiện hành vi giết nhiềungười, giết người rất dã man như vụ Nguyễn Công Dụng (ở Việt Trì, PhúThọ) giết 4 người; vụ Nguyễn Đức Nghĩa (Hà Nội) giết người với hành vi dãman để phi tang che giấu tội phạm; vụ Dương Anh Đức tổ chức đánh bạc tạikhách sạn Tuấn Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh bị cơ quan điều tra bắt tại chỗ 104người (khởi tố 91 bị can), thu giữ hơn 5 tỷ đồng; vụ một số đối tượng ở xãKim Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang tụ tập gây rối đập phá tài sản của trường bắnquốc gia, gây thiệt hại hơn 4 tỷ đồng và gây thương tích cho một số cán bộ,chiến sĩ; vụ Nguyễn Văn Hiếu điều khiển mô tô đâm vào tổ tuần tra của Đạiđội 16 Trung đoàn Cảnh sát Cơ động đang làm nhiệm vụ trên đường ThăngLong, Nội Bài làm một cán bộ công can tử vong…Nhiều vụ tai nạn giaothông đường bộ xảy ra làm chết và bị thương nhiều người như vụ tai nạn xekhách trên Quốc lộ 14 lao xuống sông Sê-rê-pok thuộc địa bàn thành phốBuôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lak làm 34 người chết và 22 người bị thương; vụtai nạn trên quốc lộ 20 (Lâm Đồng) làm 7 người chết, 1 người bị thương; vụtai nạn trên Quốc lộ 1A (Khánh Hòa) làm 12 người chết, 50 người bịthương…Nhiều vụ án mua bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy trái phép với sốlượng rất lớn và đặc biệt lớn (chủ yếu là heroin) đã được đưa ra truy tố, xét xửnhư vụ Vàng A Khua là kẻ có quyết định truy nã đặc biệt về tội vận chuyểntrái phép chất ma túy tại xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình vàongày 05-02-2010, Vàng A Khua đã chống trả quyết liệt và dùng súng tiểu liên
AK bắn vào lực lượng truy bắt khiến 3 chiến sĩ công an hy sinh; vụ Lê QuangĐông (Hòa Bình) tàng trữ vận chuyển trái phép 140 bánh heroin và 180 viên
ma túy đá; vụ Tráng A Tàng và Tràng A Nếnh (Mộc Châu, Sơn La) vẫnchuyển trái phép 265 bánh heroin; vụ vận chuyển 600 bánh heroin qua đườnghàng không tại sân bay Tân Sơn Nhất và hàng trăm vụ vận chuyển, mua bán
Trang 24hàng chục bánh heroin [18], vụ siêu lừa Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạthơn 4000 tỷ đồng của Vietinbank; vụ thảm sát ở Quảng Ninh do Doãn TrungDũng thực hiện hành vi phạm tội giết người, cướp tài sản, vụ thảm sát ở LàoCai do Tấn Láo Lở thực hiện hành vi, Lở đã giết chết chị Tẩn Thị Mẩy cùnghai con nhỏ của chị Mẩy và một cháu gái, vụ án hoa hậu Phương Nga, vụthảm sát ở Hà Giang khiến 4 người tử vong và hàng loạt các vụ án thamnhũng lớn như vụ Vinashin, vụ Vinalines, vụ PVC Trịnh Xuân Thanh…
Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã pháthiện nhiều vụ án thuộc các nhóm tội phạm: xâm phạm hoạt động tư pháp,tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp…Điển hình là các vụ: vụTrịnh Ngọc Chung phạm tội ra quyết định trái pháp luật, xảy ra tại Chi cụcThi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng Thành phố Hà Nội; vụ Trần Nhật Luật
và 2 bị can khác phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, xảy ra tại tỉnh Bắc Giang;
vụ Nguyễn Hoàng Quân và 2 bị can khác phạm tội dùng nhục hình, xảy ra tạitỉnh Sóc Trăng; vụ Nguyễn Duy Hiệp phạm tội nhận hối lộ xảy ra tại Tòa ánnhân dân huyện Thanh Liêm, Hà Nội; vụ Ngô Thanh Phong và 2 bị can khácphạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tạiCông an tỉnh Tiền Giang…[18]
Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bịcan, VKS cũng đã thực hiện rất tốt chức năng, vai trò của mình, chủ độngphối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án hình
sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
2.2 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can
2.2.1 Một số tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì trong công tác thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc khởi tố bị can của VKS vẫn còn những tồn tại nhấtđịnh cần được khắc phục Việc VKS phát hiện vi phạm của CQĐT trong xétphê chuẩn khởi tố bị can, việc thực hiện quyền yêu cầu khởi tố bị can, trựctiếp khởi tố bị can; quyền yêu cầu thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bịcan, trực tiếp thay đổi bổ sung quyết định khởi tố bị can vẫn còn hạn chế