Với những lợi thế như vậy, tuy nhiên việc thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội trong thời gian qua vẫn còn chậm, kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương, s
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ 4
1.1 Vốn đầu tư 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Phân loại đầu tư 5
1.1.3 Các nguồn vốn đầu tư 6
1.2 Khu kinh tế 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Đặc điểm của Khu kinh tế 9
1.3 Nội dung thu hút vốn đầu tư 11
1.3.1 Khái niệm về thu hút vốn đầu tư 11
1.3.2 Vai trò của thu hút vốn đầu tư 11
1.3.3 Các chính sách thu hút vốn đầu tư 12
1.3.4 Các tiêu chí phản ánh tình hình thu hút vốn 16
Trang 21.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư 18
1.4.1 Sự phát triển kinh tế 18
1.4.2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên 19
1.4.3 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng 19
1.5 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của các địa phương khác ở Việt Nam 20
1.5.1 Kinh nghiệm của các KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh 20
1.5.2 Kinh nghiệm Khu kinh tế Dung Quất 22
1.5.3 Kinh nghiệm của Khu kinh tế mở Chu Lai 25
1.5.4 Kinh nghiệm của Khu kinh tế Vũng Áng 26
1.6 Nhận xét chung và bài học kinh nghiệm đối với KKT Nhơn Hội 28
1.6.1 Nhận xét chung 28
1.6.2 Bài học kinh nghiệm đối với khu kinh tế Nhơn Hội 29
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ NHƠN HỘI 31
2.1 Sự hình thành và mục tiêu phát triển KKT Nhơn Hội 31
2.1.1 Sự hình thành phát triển KKT Nhơn Hội 31
2.1.2 Mục tiêu phát triển KKT Nhơn Hội 33
2.2 Kết quả thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội 34
2.2.1 Số lượng các dự án và quy mô vốn thu hút được 36
2.2.2 Số lượng vốn thực hiện 43
2.3 Thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tư của tỉnh 45
2.3.1 Chính sách quảng bá hình ảnh Khu kinh tế 45
2.3.2 Chính sách xúc tiến đầu tư 46
2.3.3 Chính sách cải thiện môi trường đầu tư 49
2.3.4 Chính sách hỗ trợ đầu tư 52
Trang 32.3.5 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực 54
2.4 Những nhân tố ảnh hưởng thu hút vốn đầu tư KKT Nhơn Hội 56
2.4.1 Hạ tầng đồng bộ 57
2.4.2 Nguồn tài nguyên và tiềm năng phong phú 60
2.4.3 Tình hình phát triển 60
2.4.4 Chính sách phát triển 63
2.5 Đánh giá kết quả thực hiện KKT Nhơn Hội 65
2.5.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - Xã hội 65
2.5.2 Những thành công 67
2.5.3 Những tồn tại, hạn chế 69
2.5.4.Nguyên nhân 70
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG III NHỮNG GIẢP PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ NHƠN HỘI 75
3.1 Những căn cứ để đưa ra giải pháp 75
3.1.1 Định hướng phát triển KKT Nhơn Hội 75
3.1.2 Lợi thế so sánh 75
3.2 Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư ở thời kỳ năm 2011 đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025 79
3.2.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách quảng bá, công tác xúc tiến đầu tư 79
3.2.2 Nhóm giải pháp về cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ đầu tư 85
3.2.3 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 88
3.2.4 Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng 90
3.2.5 Nhóm giải pháp về khai thông các nguồn vốn 94
Kết luận chương 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
Trang 41 Kết luận 99
2 Một số kiến nghị 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC 105
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Huỳnh Anh Tuấn
Trang 6GDP: Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
NGO: Nguồn vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ( Non – Government Organization)
ODA: Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance) PCI: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ( Provincial Competitive Index) WTO: Tổ chức thương mại thế giới ( World Trade Organization)
SXCN: Sản xuất công nghiệp
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
TNCN: Thu nhập cá nhân
TTĐ,GTĐ: Tiền thuê đất, giá thuê đất
UBND: Uỷ ban nhân dân
XTĐT: Xúc tiến đầu tư
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các kỹ thuật xúc tiến đầu tư ………14
Bảng 2.1: Các dự án và vốn đầu tư trong nước từ năm 2006 - 2010… 36
Bảng 2.2: Vốn đầu tư trong nước theo lĩnh vực đầu tư………37
Bảng 2.3: Các dự án và vốn đầu tư nước ngoài từ năm 2006 – 2010… 39
Bảng 2.4: Vốn đầu tư nước ngoài theo chủ thể đầu tư……….40
Bảng 2.5: Vốn đầu tư nước ngoài theo lĩnh vực đầu tư………41
Bảng 2.6: Vốn thực hiện theo lĩnh vực hoạt động………43
Bảng 2.7: Kết quả xếp hạng chỉ số năng lực cấp tỉnh……… 51
Bảng 3.1: Bảng so sánh lợi thế các Khu kinh tế……… .76
Bảng 3.2: Bảng ưu đãi các khoản thuế KTT Nhơn Hội……… 81
Bảng 3.3: Dự kiến vốn đầu tư hỗ trợ từ Ngân sách……… 96
Phụ lục 1: Danh mục các dự án hạ tầng, SXCN, Du lịch……… 105
Phụ lục 2: Đánh giá vốn thực hiện theo tiến độ quy định……… 108
Phục lục 3: Danh mục dự án mời gọi đầu tư vào KKT Nhơn Hội …… 109
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình phát triển nguồn nhân lực ……… 16 Hình 2.1: Biểu đồ cơ cấu vốn đầu tư của Ngân sách nhà nước…… 35 Hình 2.2: Biểu đồ vốn đầu tư trong nước theo ngành nghề………… 38 Hình 2.3: Biểu đồ vốn thực hiện so với vốn đăng ký……… 43 Hình 2.4: Biểu đồ thăm trang Web của UBND tỉnh Bình Định…… 45 Hình 2.5: Biểu đồ PCI năm 2009 – 2010……… 52 Hình 2.6: Biểu đồ đánh giá chất lượng dịch vụ……… 55 Hình 2.7: Biểu đồ cơ cấu kinh tế năm 2010……… 61 Hình 2.8: Biểu đồ vốn đầu tư của các dự án trong và ngoài nước …… 67 Hình 3.1: Biểu đồ PCI năm 2010 của các tỉnh duyên hải miền Trung…78
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, vốn đầu tư có vai trò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất và những tiến bộ trong xã hội, nó là nhân tố rất quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế
Bình Định là một trong 5 tỉnh của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, nằm ở trung tâm của trục Bắc - Nam Việt Nam trên cả ba tuyến đường
bộ, đường sắt và đường hàng không, là cửa ngõ ra biển gần nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Thái Lan thông qua quốc lộ 19 và cảng biển quốc tế Quy Nhơn Sau lưng Bình Định là cả tiểu vùng sông Mê Kông Trong những năm gần đây Bình Định đã đầu tư xây dựng cầu Thị Nại là cầu dài nhất Việt Nam bắc qua biển từ thành phố Quy Nhơn đến Nhơn Hội, nâng cấp nhiều công trình hạ tầng như cảng biển quốc tế Quy Nhơn, cảng nước sâu Nhơn Hội, sân bay Phù Cát là nhằm mục đích để mời gọi các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến với Khu kinh tế Nhơn Hội
Với những lợi thế như vậy, tuy nhiên việc thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội trong thời gian qua vẫn còn chậm, kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương, số lượng các nhà đầu tư trong nước
và nước ngoài đến tìm hiểu cơ hội đầu tư, số dự án đăng ký dự định đầu tư khá nhiều nhưng số dự án thực sự cấp phép và đi vào hoạt động còn thấp
Để Khu kinh tế Nhơn Hội thực sự “cất cánh” thì nhu cầu các nguồn lực tài chính đầu tư cho Nhơn Hội ngày càng gia tăng, trong khi đó khả năng cấp vốn của Ngân sách tỉnh không nhiều, vốn từ Trung ương mỗi năm cũng chỉ
“rót” về rất hạn chế Nếu chỉ chú trọng đến nguồn vốn này mà không đề ra
Trang 10các giải pháp để thu hút vốn từ các nguồn lực tài chính khác như khu vực doanh nghiệp, trong dân cư, vốn đầu tư nước ngoài thì không thể đáp ứng vốn đầu tư để phát triển cho Khu kinh tế Nhơn Hội
Xuất phát từ những lý do như trên cùng với những ước muốn để Khu kinh tế Nhơn Hội được mọi người trong nước và quốc tế biết đến và là chỗ dựa vững chắc để nền kinh tế tỉnh nhà ngày càng phát triển bền vững, tôi chọn
đề tài "Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội" làm luận văn tốt nghiệp Hy vọng sẽ có ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực
tiễn góp phần nhất định vào việc giải quyết những vấn đề cơ bản và cấp bách trong việc thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội
2 Mục tiêu của đề tài
Hệ thống một số vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tư
Đánh giá và phân tích thực trạng tình hình thu hút vốn trong nước và nước ngoài vào Khu kinh tế Nhơn Hội
Luận chứng được giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng thu hút nguồn vốn đầu
tư trong nước và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để đề xuất các giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp; kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn
- Phương pháp thu thập số liệu: Các báo cáo tổng kết của các ngành, nguồn số liệu thống kê có liên quan về thu hút vốn đầu tư, các sách nghiên cứu, Website và các tạp chí, báo cáo của các chuyên gia, nhà quản lý liên quan đến đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội Chương 3: Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào Khu kinh tế Nhơn Hội
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ
Trong tác phẩm nổi tiếng “ Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” John Maynard Keynes đã chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng [17, tr 50] Tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
Như vậy: Đầu tư = Tiết kiệm
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao giờ cũng thiết lập Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động từ nước ngoài [17, tr 51] Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư nhưng nói chung các quan điểm đều có chung nội dung: Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực có thể
là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra [17, tr 7]
Trang 13Vốn hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm năng tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia, còn vốn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám, tiền bạc và cả quan hệ đã tích luỹ của một doanh nghiệp, một cá nhân hay một quốc gia [10, tr 15]
Vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.Trong tác phẩm “ Của cải của các dân tộc”, Adam Smith, một đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên” [17, tr 49]
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp [14]
1.1.2 Phân loại đầu tư
Hoạt động đầu tư thường tiến hành dưới hai hình thức: đầu tư trực tiếp
và đầu tư gián tiếp
Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra Hoạt động đầu tư này có thể thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư này được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu…
Trang 141.1.3 Các nguồn vốn đầu tư
Nguồn huy động vốn đầu tư: là việc tổ chức khai thác các nguồn vốn tài chính nhằm mục đích tăng thêm lượng vốn mới cho đầu tư phát triển nền kinh tế Đối với mỗi quốc gia, thì việc huy động vốn đầu tư theo các phương thức như sau:
1.1.3.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích luỹ của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp
và tiết kiệm của Chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội Biểu hiện cụ thể của vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư của nhà nước, nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân
Nguồn vốn đầu tư của nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư Nguồn này được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, quốc phòng an ninh, hỗ trợ các dự án doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự
án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng
đô thị và nông thôn
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Các đơn vị sử dụng nguồn vốn này đảm bảo nguyên tắc phải hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Trang 15Nguồn vốn của dân cư và tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã
Tóm lại: Tiết kiệm là nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư Nền kinh
tế càng phát triển càng có điều kiện gia tăng tiết kiệm và đầu tư Tuy nhiên đối với nước ta hiện nay, thu nhập bình quân của người dân còn thấp, nên quy
mô và tỷ lệ tiết kiệm trong nước còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư rất lớn và ngày càng gia tăng để phát triển kinh tế[ 6, tr 137-138] Do đó cần phải thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài để tạo đà phát triển cho nền kinh tế
1.1.3.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích luỹ của các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại Theo tính chất luân chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngoài chính như sau:
- Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA)
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các Chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp với các nước đang phát triển Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ 2006-
2010, Chính phủ Việt Nam tiếp tục chủ trương huy động mọi nguồn vốn trong
đó có nguồn vốn ODA vẫn tiếp tục đóng vị trí quan trọng Tổng nguồn vốn ODA thực hiện dự kiến khoảng 11- 12 tỷ USD trong 5 năm 2006 đến 2010 chiếm khoảng 80% tổng ODA cam kết [17, tr 57]
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn Chủ đầu tư nước ngoài có thể đầu tư dưới hình thức cho vay và hưởng lãi suất hoặc đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu và hưởng lợi tức [5, tr 140]
Trang 16Với hình thức huy động vốn này, người đi vay chủ động hơn trong việc
sử dụng vốn Song, việc trả lãi lẫn gốc với lãi suất tương đối cao, nhất là không tiếp nhận được các nguồn vốn ở thị trường vốn chính thức và thông qua xuất khẩu để trả nợ là những vấn đề các nhà đi vay cần phải cân nhắc
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình của đầu tư quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn [5, tr 145]
Về thực chất nguồn vốn FDI chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn tư nhân, vốn của các công ty nhằm mục đích thu lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài Nguồn vốn này có tác dụng quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng ở nước nhận đầu tư
- Thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên toàn cầu, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng gia tăng mạnh
mẽ Riêng năm 1999, dòng vốn đầu tư dưới dạng cổ phiếu vào châu Á đã tăng gấp 3 lần năm 1988 đạt 15 tỷ USD, năm 2005, dòng vốn đầu tư cổ phần gián tiếp đạt 42,3 tỷ USD vượt qua con số kỷ lục lập trong năm 2004 là 35,3 tỷ USD Riêng khu vực châu Á –Thái Bình Dương đã thu hút được gần 30 tỷ USD [17, tr 59]
- Nguồn vốn tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau một thời gian phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay Các nước cho vay vốn thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay Khi sử dụng nguồn vốn tín dụng
Trang 17thương mại, các nước tiếp nhận vốn không phải chịu bất cứ ràng buộc nào về chính trị, xã hội, có toàn quyền sử dụng vốn Đây là nguồn vốn cho vay với lãi suất thương mại nên nếu các nước tiếp nhận không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này thì có nguy cơ dẫn đến mất khả năng chi trả, dẫn đến nguy cơ
1.2.2 Đặc điểm của Khu kinh tế
Khu kinh tế là nơi có môi trường kinh doanh thuận lợi, được hưởng những quy chế riêng, ưu đãi hơn so với các vùng khác của đất nước Các Khu kinh tế sẽ là những hạt nhân để góp phần hình thành các Khu kinh tế năng động, thúc đẩy sự phát triển chung, nhất là đối với các vùng nghèo trên các vùng ven biển của Việt Nam; đồng thời tạo tiền đề thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế biển [25, tr 35] Cụ thể trong năm 2010, các KKT ven biển thu hút được hơn 30
dự án đầu tư nước ngoài, kể cả các dự án tăng vốn, mở rộng sản xuất và dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư gần 20 nghìn tỷ đồng Các KKT cả nước hiện thu hút được gần 700 dự án trong nước và nước ngoài với tổng vốn đầu tư gần 33 tỷ USD và 330.000 tỷ đồng Trong đó, có một số dự án lớn và quan trọng tại KKT Nghi Sơn, KKT Vũng Áng, KKT Dung Quất gồm nhà máy lọc dầu số 1 và số 2, nhà máy đóng tàu Dung Quất, nhà máy thép Quảng
Trang 18Liên, Khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương, nhà máy cơ khí nặng Doosan, các nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn và Vũng Áng, cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong [31 ]
Góp phần đổi mới thiết bị khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, tạo việc làm cho người lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong năm 2009, các KCN đã giải quyết việc làm cho 1,34 triệu lao động, các doanh nghiệp KCN đã tạo ra 12,2 tỷ USD và 67,9 nghìn tỷ đồng doanh thu; xuất khẩu đạt 12,3 tỷ USD và 21,7 nghìn tỷ đồng; nhập khẩu 6,6 tỷ USD và 2,6 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách đạt 689 triệu USD và 4 nghìn tỷ đồng Trong 3 tháng đầu năm 2010, các doanh nghiệp KCN tạo ra 3,1 tỷ USD
và 18,9 nghìn tỷ đồng doanh thu, xuất khẩu đạt 2,3 tỷ USD và 5,6 nghìn tỷ đồng, nhập khẩu 1,5 tỷ USD và 0,6 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách 157 triệu USD và 1.000 tỷ đồng Nhìn chung các KCN đã đóng góp tích cực trong việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng công nghiệp hóa [16, tr 16]
Không gian thành lập Khu kinh tế có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật Khu kinh tế được thành lập trên cơ sở diện tích đất tự nhiên rộng lớn và đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp của Khu kinh tế Thêm vào đó hình thành được đội ngũ công nhân có tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật lao động cao, có kỹ năng làm việc, có trình độ quản lý
Lĩnh vực đầu tư có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tư với quy
mô lớn, quan trọng và có tác động tới phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực Có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hưởng phát triển lan
Trang 19toả đến các khu vực xung quanh Khu kinh tế cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng có mục tiêu trọng tâm phù hợp từng Khu kinh tế được thành lập ở mỗi địa bàn khác nhau
1.3 Nội dung thu hút vốn đầu tư
1.3.1 Khái niệm về thu hút vốn đầu tư
Để phát triển nền kinh tế của đất nước vấn đề thu hút các nhà đầu tư với mục đích có được nguồn vốn đầu tư dồi dào cho các quốc gia là việc làm cực
kỳ quan trọng, vì vậy thu hút nhà đầu tư là các hoạt động hay chính sách của chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ và tạo các điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đến thực hiện các dự án Thu hút vốn đầu tư có nghĩa là làm gia tăng sự chú ý và quan tâm của các nhà đầu tư qua sự phát triển và xúc tiến các dự án đầu tư cụ thể có thể đem lại những lợi ích thương mại cho các nhà đầu tư [32]
1.3.2 Vai trò của thu hút vốn đầu tư
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, là yếu tố cấu thành chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng cầu, chủ yếu là cầu đầu tư về tư liệu sản xuất Vốn đầu tư cũng có tác động đến tổng cung, về dài hạn nó quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế Mô hình Harrod - Dorma nghiên cứu hệ số ICOR đã chỉ ra rằng:
I =ICOR x GDP
Trong đó : ICOR là hệ số đầu tư, I là tổng vốn đầu tư cho xã hội và
GDP là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội
Những kinh nghiệm của quốc gia thành đạt, cho thấy tốc độ tăng trưởng cao thường đi đôi với hệ số ICOR thấp ( thường không quá 3) Theo các chuyên gia quốc tế tính toán thì có nghĩa là phải bỏ ra 3 đô la mới tạo ra được 1 đô la GDP hàng năm Tăng trưởng kinh tế đến lượt nó lại là cơ sở cho việc tăng vốn đầu tư đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 20nước nhanh hơn [ 10, tr 25] Như vậy, kết quả của quá trình thu hút vốn đầu
tư sẽ làm tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy, thiết bị đưa vào sản xuất, làm tăng sản xuất của nền kinh tế, sự thay đổi này sẽ tác động đến tổng cung
Vốn tác động không chỉ đối với tăng trưởng kinh tế, mà ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngành và vùng nào gia tăng nhanh về vốn
sẽ có điều kiện tăng nhanh về năng lực sản xuất, điều kiện thiết yếu để gia tăng sản lượng Do đó ngành và vùng đó sẽ có khả năng tăng trưởng nhanh hơn và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cơ cấu của nền kinh tế
Trong điều kiện trang bị kỹ thuật cho lao động không đổi, việc gia tăng trang bị vốn cho nền kinh tế sẽ lôi cuốn thêm lực lượng lao động vào hoạt động kinh tế, nhờ đó mà tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống cho người lao động Vốn cũng có vai trò to lớn trong xóa đói giảm nghèo Nhiều người nghèo, vùng rất nghèo thiếu vốn và khó có điều kiện tiếp cận vốn làm cho họ càng nghèo thêm Vì lẽ đó, chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng cho vùng nghèo, hỗ trợ vốn hoặc tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận các nguồn vốn tín dụng gắn với sự hỗ trợ về kỹ thuật, quản lý, tiêu thụ sản phẩm đã trở thành biện pháp có hiệu quả trong việc gắn tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội [6, tr 136 - 137]
1.3.3 Các chính sách thu hút vốn đầu tư
1.3.3.1 Chính sách quảng bá hình ảnh Khu kinh tế
Trong bối cảnh của đổi mới, mở cửa, một khung khổ chung về cơ chế thông thoáng với tư duy mới cũng được khẳng định đó là huy động mọi nguồn lực cho phát triển Vì vậy, việc quảng bá hình ảnh Khu kinh tế là nhằm thu hút các nguồn lực, trước hết là nguồn lực vốn đầu tư từ khắp mọi nơi, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư từ các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới
Trang 21Quảng bá Khu kinh tế nhằm tạo thuận lợi cho các tập đoàn kinh tế lớn hội tụ và hoạt động trong điều kiện toàn cầu hoá không những mất đi, mà vẫn tiếp tục có sức hấp dẫn lớn và tạo ra những đột phá cả về quy mô kinh tế lẫn
bố trí không gian lãnh thổ
1.3.3.2 Chính sách xúc tiến đầu tư
Xúc tiến đầu tư là các biện pháp để giới thiệu, quảng cáo cơ hội đầu tư với bên ngoài, các cơ quan xúc tiến đầu tư địa phương thường tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát ở các địa phương khác và nước ngoài; tham gia, tổ chức các hội thảo khoa học, diễn đàn đầu tư, kinh tế ở khu vực và quốc tế Đồng thời, họ tích cực sử dụng các phương tiện truyền thông, xây dựng mạng lưới các văn phòng đại diện ở các địa phương khác và nước ngoài để cung cấp các thông tin nhanh chóng và giúp đỡ kịp thời các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm hiểu cơ hội đầu tư ở địa phương mình
Trang 22Bảng 1.1: Các kỹ thuật xúc tiến đầu tư
Các kỹ thuật xây dựng
hình ảnh
Các kỹ thuật tạo nguồn đầu tư
Các kỹ thuật dịch
vụ đầu tư
1.Quảng cáo trên các phương
tiện truyền thông chung
6 Tham gia các chiến dịch qua điện thoại hoặc thư tín trực tiếp
10 Cung cấp dịch
vụ tư vấn đầu tư
2.Tham gia các cuộc triển
lãm, hội thảo đầu tư
7 Phái đoàn tham quan riêng về ngành hoặc khu vực từ nước đầu tư sang nước sở tại và ngược lại
11 Xem xét giải quyết các đơn xin đầu tư và giấy phép đầu tư
3.Quảng cáo trên các phương
tiện truyên truyền riêng của
ngành hoặc khu vực
4.Các đoàn khảo sát tới nước
có nguồn đầu tư và từ nước
đầu tư tới nước sở tại
8 Hội thảo thông tin về ngành hay một khu vực
cụ thể
12 Cung cấp các dịch vụ sau đầu tư
5.Hội thảo thông tin chung
về cơ hội đầu tư
9 Tham gia nghiên cứu những công ty cụ thể
Nguồn: Trích dẫn từ Wells và Wint(1991)
1.3.3.3 Chính sách cải thiện môi trường đầu tư
Theo cách hiểu rộng nhất, môi trường đầu tư là tập hợp những điều kiện bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp Theo một số nghiên cứu tại Việt Nam còn cho rằng môi trường đầu tư chủ yếu là các chính sách quy định mà Chính phủ áp dụng để điều tiết các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kể cả những hoạt động sắp xếp về mặt tổ chức xung quanh doanh nghiệp Mặc dù có nhiều định nghĩa về môi trường đầu tư nhưng điểm chính của môi trường đầu tư là các thủ tục hành chính và quản lý, hoạt động và chi
Trang 23phí không chính thức, các chính sách hỗ trợ/can thiệp của nhà nước, khả năng tiếp cận các nguồn lực,… vẫn là trọng tâm để nghiên cứu môi trường của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng [3]
Môi trường đầu tư được coi là yêu cầu quan trọng để khơi thông các nguồn vốn trong nước và nước ngoài.Việc cải thiện môi trường đầu tư hoặc hướng tới một môi trường kinh doanh lành mạnh, đủ sức cạnh tranh là đích đến để phát triển kinh tế, xã hội của bất cứ quốc gia nào Môi trường đầu tư thuận lợi sẽ là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho sự phát triển của nền kinh
tế, thúc đẩy cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tập trung nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh nhằm góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
1.3.3.4 Chính sách hỗ trợ đầu tư
Tất cả các quốc gia đều sử dụng chính sách tài chính như một công cụ đắc lực để khuyến khích và kêu gọi đầu tư Sự ưu đãi về thuế rất linh hoạt, có nhiều dạng ưu đãi và các mức thuế khác nhau Chính phủ sẽ áp dụng các mức thuế đặc biệt cho các vùng trọng điểm để ưu tiên phát triển Ví dụ như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu hay thuế giá trị gia tăng Các chính sách này đã làm tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp, làm tăng tính hấp dẫn của các vùng nhà nước khuyến khích đầu tư
1.3.3.5 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực
Để giành được lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn; cạnh tranh trong những phân đoạn cao cấp hơn và trong những ngành công nghiệp mới đòi hỏi phải
có nguồn nhân lực với kỹ năng và năng lực ngày càng cải thiện Chất lượng nguồn nhân lực không ngừng được tăng lên nếu muốn nâng cấp nền kinh tế quốc gia [ 20, tr 888] Chất lượng của nguồn nhân lực ảnh hưởng đến năng suất lao động, đến sự chuyển đổi cơ cấu việc làm Chất lượng của nguồn nhân
Trang 24lực được đánh giá qua trình độ học vấn chuyên môn và kỹ năng lao động cũng như sức khỏe của người lao động
Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng trong đó các hoạt động lao động thông qua việc tuyển, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách hợp lý, v.v…), môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người, để họ mang hết sức mình hoàn thành các nhi ệm vụ được giao
Hình 1.1 Mô hình phát triển nguồn nhân lực Nguồn Phan Văn Kha, Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam, 2007
1.3.4 Các tiêu chí phản ánh tình hình thu hút vốn
1.3.4.1 Số lượng của các dự án và quy mô vốn thu hút được
Trong bối cảnh có sự cạnh tranh thu hút vốn của các địa phương trong một quốc gia với nhau hoặc có sự cạnh tranh thu hút vốn của các quốc gia thực tế diễn ra rất gay gắt Việc cải thiện môi trường đầu tư cũng là giải pháp chiến lược để nhằm thu hút được các dự án và quy mô vốn Cùng với việc thu hút được các dự án mới, nhiều dự án sau khi hoạt động sẽ phát huy hiệu quả
đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư
Đào tạo nhân lực Tuyển, sử dụng
xã hội + Chính sách lương, đãi ngộ
- Chăm sóc sức khoẻ
Trang 25Số lượng của các dự án và quy mô vốn thu hút được sẽ bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, các địa phương qua từng thời kỳ theo mục tiêu kế hoạch đã đề ra
Để có cơ sở đánh giá và phân tích quy mô vốn thu hút được vào Khu kinh tế so với tổng vốn đầu tư của một địa phương thu hút được thì cần đánh giá qua chỉ tiêu như sau:
Tỷ trọng vốn đầu tư vào các Khu kinh tế:
Iv: Tỷ trọng thu hút vốn đầu tư của Khu kinh tế so với vốn đầu tư toàn tỉnh Iv
là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung vốn đầu tư vào Khu kinh tế của một địa phương nghiên cứu
VKKT: Vốn đầu tư của Khu kinh tế
∑V: Tổng vốn đầu tư của toàn tỉnh
1.3.4.2 Số lượng vốn đầu tư thực hiện
Là tổng số vốn đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây lắp, chi phí cho công tác mua sắm thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế dự án và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt
Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện đối với những công cuộc đầu tư quy mô lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài thì vốn đầu tư thực hiện là số vốn đã chi cho từng hoạt động hoặc từng giai đoạn của mỗi công cuộc đầu tư đã hoàn thành Đối với công cuộc đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắn thì số vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư
Trang 26thực hiện khi toàn bộ các công việc của quá trình thực hiện đầu tư kết thúc [17, tr 179]
1.3.4.3 Danh mục dự án đầu tư
Quá trình lập danh mục dự án đầu tư được xem như một quá trình phát triển từ hình thành các ý tưởng cho đến việc xây dựng một kế hoạch mô tả chi tiết đó là ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Tại sao? Như thế nào và bao nhiêu? những mô tả này là cơ sở cho việc thu hút vốn của các nhà đầu tư Lập danh mục dự án đầu tư phải dựa vào quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, ngành, địa phương, dựa trên những căn cứ khoa học về khả năng thực trạng vốn đầu tư, tình hình cung, cầu sản phẩm thị trường
1.3.4.4 Trình độ công nghệ các dự án
Là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nó có vai trò mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng sức cạnh tranh hàng hoá, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường Hiện nay, đóng góp của trình độ công nghệ vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển đạt tới 60 – 70%, còn ở một số nước đang phát triển cũng
Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Một
là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập
Trang 27bình quân trên đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện các mục tiêu khác của phát triển Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế quốc gia Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội và mục tiêu cuối cùng là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, trình độ dân trí giáo dục [19, tr 22-23]
1.4.2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn thế giới nếu không có tài nguyên, đất đai thì không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của loài người Tài nguyên thiên nhiên chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả
Đối với hầu hết các nước, việc tích luỹ vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu
tư từ nước ngoài Tuy nhiên có nhiều quốc gia nhờ sự ưu đãi của nguồn tài nguyên lớn, đa dạng nên có thể rút ngắn quá trình tích luỹ vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hoá nền kinh tế tạo nguồn tích luỹ vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt là về năng lượng giúp cho một quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới bị rơi vào tình trạng bất ổn [19, tr 205]
Trang 28phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có sức cạnh tranh hơn Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kết cấu hạ tầng như là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế, có thực hiện mối liên hệ giữa các bộ phận và giữa các vùng của nền kinh tế
Phát triển cơ sở hạ tầng một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng tốt nhất những tiềm năng của đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế Mặt khác, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội đồng đều, rộng khắp theo vùng lãnh thổ, làm giảm bớt sự khác biệt về dân trí, mức sống giữa các vùng Trong kinh tế học hiện đại, tính hệ thống, mức độ hiện đại và phí sử dụng của
hệ thống kết cấu hạ tầng trở thành tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá môi trường cạnh tranh quốc gia
1.5 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của các địa phương khác ở Việt Nam
1.5.1 Kinh nghiệm của các KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh [8,
tr 80-83]
Từ khi hình thành khu chế xuất đầu tiên – khu chế xuất Tân Thuận từ năm 1991 theo quyết định số 394/CT của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng, đến nay trên địa bàn thành phố hình thành hệ thống 16 KCX, KCN với diện tích đất đã thực hiện 3.614 ha Trong đó đã có 13 KCX, KCN đi vào hoạt động, 2 KCN đang triển khai hạ tầng và 1 KCN đang làm quy hoạch Sau 18 năm hình thành và phát triển, các KCN, KCX đã tạo ra động lực phát triển mới
- Về thu hút vốn đầu tư: Tại 13 KCX, KCN đang hoạt động trên địa bàn thành phố đã thu hút được 1.168 dự án, chiếm 16% tổng số dự án tại các KCX, KCN trên cả nước và thu hút 4,68 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 8% tổng
số vốn đầu tư thu hút tại các KCX, KCN cả nước
Đối với thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các KCX, KCN thành phố trong
18 năm qua đã đạt được kết quả quan trọng Tổng dự án đầu tư nước ngoài tại
Trang 29các KCX, KCN là 473 dự án, vốn đăng ký là 2,7 tỷ USD, chiếm 10% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố
Đối với thu hút vốn đầu tư trong nước, có 695 dự án, vốn đầu tư đăng
ký 1,98 tỷ USD Các doanh nghiệp này thuộc các thành phần kinh tế khác nhau bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty Cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân, Hợp tác xã
- Về trình độ kỹ thuật, công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý: Công nghệ của các doanh nghiệp trong KCX, KCN thời gian đầu thường là các loại công nghệ thâm dụng lao động, sử dụng nguồn nguyên liệu dễ tìm trên thị trường như các ngành dệt may, lắp ráp điện tử; chủ yếu là gia công Càng về sau khi độ an toàn môi trường đầu tư cho phép, các nhà đầu tư nâng trình độ công nghệ lên, đi vào lĩnh vực công nghệ cao như cơ khí chính xác, tự động hoá Mặt khác, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp trong KCX, KCN
đã chuyển giao dần việc quản lý và điều hành sản xuất cho người Việt Nam
- Về giải quyết việc làm: Việc hình thành các KCX, KCN và việc gia tăng của khu vực đầu tư nước ngoài đã thu hút, giải quyết việc làm ngày càng nhiều cho người lao động Tính đến tháng 5/2010, các KCX, KCN đã thu hút được 252.068 lao động Lực lượng lao động trẻ, có độ tuổi trung bình từ 18 đến 25
- Về thu ngân sách, một kết quả đáng ghi nhận là trong những năm qua, các KCX, KCN cũng đóng góp vào nguồn thu ngân sách thành phố liên tục tăng qua các năm, tốc độ bình quân đạt 35%/ năm
Nhìn chung qua 18 năm hình thành và phát triển, hiệu quả thu hút đầu
tư tại các KCX, KCN được thể hiện trên 1 ha đất cụ thể như sau: 1 ha đất thu hút được khoảng 4 triệu USD vốn đầu tư cho SXCN, tạo ra 17 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn 200 lao động
Trang 30Bài học kinh nghiệm của các KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh đó là những kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình phát triển KCX, KCN:
Công tác quy hoạch là khâu đầu tiên quyết định cho sự phát triển bền vững các KCX, KCN thành phố Thực tế trong thời gian qua, các KCX, KCN còn nằm rải rác, chưa tạo sự kết nối về hạ tầng, các KCN có quy mô nhỏ Bên cạnh đó, KCN không quy hoạch đủ đất dành cho các dự án du lịch, hạ tầng phúc lợi xã hội Các hạ tầng ngoài tường rào KCN như đường xá, trạm xe buýt, đường truyền internet, điện thoại, nước sạch, điện, khu tái định cư… chưa được quy hoạch và xây dựng đồng bộ với quy hoạch và xây dựng KCN
Lựa chọn dự án đầu tư vào KCX, KCN để tạo các sản phẩm có chất lượng cao Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển KCX, KCN tiêu chí
“lấp đầy” đặt lên hàng đầu để giải quyết lao động thất nghiệp, tiếp cận với công nghệ, nguồn vốn trình độ quản lý từ nước ngoài Do đó chưa chọn lọc các dự án đầu tư, các dự án có chứa hàm lượng công nghệ cao còn ít, giá trị gia tăng sản phẩm chưa cao Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị quỹ đất cần khẩn trương và tiến hành đồng bộ một lần để tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng và giao đất cho nhà đầu tư với các dự án có quy mô lớn
Cơ chế “một cửa, tại chỗ” có ý nghĩa trực tiếp thúc đẩy quá trình phát triển KCX, KCN là nhân tố quan trọng trong quá trình quản lý KCX, KCN
Cơ chế “một cửa, tại chỗ” đã tác dụng đơn giản tối đa hoá các thủ tục hành chính, tiết kiệm được rất lớn về thời gian, tiền bạc và giảm thiểu phiền hà cho nhà đầu tư, xoá được hành chính quan liêu bao cấp, tạo điều kiện cho ban quản lý tiếp cận với nền kinh tế thị trường và phương thức quản lý hiện đại tiên tiến
1.5.2 Kinh nghiệm Khu kinh tế Dung Quất [11]
Được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, sự quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện của Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi,
Trang 31Khu kinh tế Dung Quất đã và đang bừng sáng, khẳng định được vị thế của mình trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và được ghi nhận là một Khu kinh tế thành công nhất của cả nước hiện nay
Đến cuối năm 2010, Khu kinh tế Dung Quất đã có 113 dự án được cấp chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 8 tỷ USD, trong đó có 101 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 4,03 tỷ USD; 12 dự án nước ngoài tổng vốn đăng ký gần 4 tỷ USD, vốn thực hiện gần 5 tỷ USD, có 60 dự án đầu tư
đã đi vào hoạt động, tạo ra hơn 12 ngàn việc làm Đặc biệt, giai đoạn 2006
-2010, qua 5 năm xây dựng và phát triển, đã hình thành tại Khu kinh tế Dung Quất tổ hợp công nghiệp nặng đầu tiên của Việt Nam bao gồm: Nhà máy lọc dầu Dung Quất - trái tim của Khu kinh tế, nhà máy đóng tàu, nhà máy chế tạo thiết bị công nghiệp nặng Doosan, nhà máy nhựa Polypropylene, nhà máy luyện cán thép, nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất
Sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi theo hướng tăng mạnh tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng và đang từng bước trở thành hạt nhân tăng trưởng của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Khu kinh tế Dung Quất hiện nay có 3 nhà máy có qui mô lớn trên 300 triệu USD đó là: Nhà máy lọc dầu Dung Quất - nhà máy lọc dầu đầu tiên tại Việt Nam với vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD, từ khi nhận bàn giao (30/5/2010), nhà máy luôn vận hành ổn định ở 100% công suất Tính từ thời điểm bắt đầu chạy thử đến hết tháng 12/2010, nhà máy đã tiếp nhận khoảng 8,3 triệu tấn dầu thô, chế biến và cung cấp cho thị trường 7,2 triệu tấn sản phẩm các loại đạt chất lượng Tuy mới bàn giao cuối tháng 5/2010, nhưng trong năm 2010 vừa qua Nhà máy có tổng doanh thu 60.000 tỷ đồng, lợi nhuận đạt trên 237 tỷ đồng và nộp ngân sách 10.000 tỷ đồng
Sự phát triển nhanh chóng của Khu kinh tế Dung Quất đã tác động nhiều mặt đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi, trong đó thu
Trang 32ngân sách năm 2010 đạt hơn 16.500 tỷ đồng, tăng 28 lần so với năm 2005 Đây cũng là giai đoạn chứng kiến sự phát triển bứt phá của tỉnh ở một số chỉ tiêu cơ bản: Tốc độ tăng GDP bình quân 5 năm là 18,66%; giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 có tốc độ tăng bình quân 58,1%, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 30% năm 2005 lên 58,95% năm 2010 Năm
2011 này tỉnh Quảng Ngãi thực hiện đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế 14%, phấn đấu vượt dự toán thu ngân sách trên 18.600 tỷ đồng
13,5-Sự thành công trên là kết quả khẳng định đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc định hướng phát triển Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trong đó trọng tâm là các ngành lọc hoá dầu, ngành công nghiệp nặng gắn với biển và chiến lược kinh tế biển tại Khu kinh tế Dung Quất Từ những định hướng phát triển trong giai đoạn mới, Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất đề ra mục tiêu phát triển lâu dài của Khu kinh tế Dung Quất là ngày càng khẳng định vai trò của một khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó trọng tâm là phát triển Công nghiệp lọc dầu - hoá dầu - hoá chất và công nghiệp nặng với các ngành chủ đạo như luyện-cán thép, cơ khí, đóng và sửa chữa tàu biển và các ngành công nghiệp khác gắn với việc khai thác cảng nước sâu Dung Quất I và Dung Quất II, hướng tới trở thành Thành phố công nghiệp Dung Quất; là một trong những trung tâm đô thị - công nghiệp - dịch vụ cảng của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, trong đó cơ cấu kinh tế công nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu; là một trong những đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng khu vực miền Trung và Tây Nguyên; và có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của quốc gia
Với vai trò là một trong những Khu kinh tế tiên phong và thành công trong cả nước, việc phát triển Khu kinh tế Dung Quất vừa là cơ hội cũng vừa
là thách thức đối với Đảng bộ và nhân dân Quảng Ngãi
Trang 331.5.3 Kinh nghiệm của Khu kinh tế mở Chu Lai [12]
Năm 2005 - 2010 đánh dấu những bước chuyển lớn trong đầu tư phát triển của Khu Kinh tế mở Chu Lai Viễn cảnh về một Chu Lai phát triển, làm đầu tàu kinh tế của tỉnh đang ngày càng rộng mở
Đến nay nhiều công trình hạ tầng quan trọng, góp phần hình thành diện mạo ban đầu của KKTM Chu Lai như: đường Thanh niên ven biển (giai đoạn 1), đường Nguyễn Văn Trỗi nối dài đến Khu công nghiệp Tam Thăng, đường trục chính qua Khu công nghiệp Tam Hiệp, đường nối quốc lộ 1A với đường cao tốc, đường vào sân bay và một số khu tái định cư Bên cạnh đó cũng đang tiếp tục triển khai thi công một số công trình lớn như Dự án cầu Cửa Đại, 3 tuyến đường phòng tránh lụt bão, cứu hộ, cứu nạn, nạo vét sông Trường Giang; luồng và bến cảng Kỳ Hà; các trục giao thông chính, các khu tái định cư, các khu công nghiệp
Ban Quản lý KKTM Chu Lai và cộng đồng các doanh nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt KKTM đầu tiên của Việt Nam Những hoài nghi về mô hình này đang dần dần được khắc phục và hướng những nhà chiến lược, nhà chính sách đi đến cách tiếp cận mới về KKTM Chu Lai Từ chỗ một mảnh đất vốn cằn cỗi giữa cát trắng và gió biển thì nay đã xuất hiện hàng loạt các công trình, nhà máy hiện đại và có quy mô lớn như Khu Liên hợp Sản xuất và lắp ráp ô tô Chu Lai - Trường Hải, Nhà máy Kính nổi, Nhà máy Sản xuất tấm thu năng lượng mặt trời Hạ tầng kỹ thuật và xã hội ngày càng được đầu tư hoàn thiện, tạo ra được những huyết mạch cho phát triển các phân khu chức năng
Giá trị sản xuất công nghiệp của KKTM Chu Lai chiếm gần 20% so với cả tỉnh, thu ngân sách bình quân đạt 800 tỷ đồng/năm Năm 2009 chiếm gần 40%, năm 2010 ước trên 50% tổng thu ngân sách tỉnh Giải quyết việc làm thường xuyên cho gần 8.000 lao động, giá trị xuất nhập khẩu bình quân đạt 22,4 triệu USD… Tính đến tháng 6 năm 2010, Chu Lai có tổng cộng 61
Trang 34dự án đã cấp phép, tổng vốn đăng ký là 1.561 triệu USD, trong đó có 36 dự án đang hoạt động với 500 triệu USD
Đạt được thành quả đó, ngay từ những ngày đầu Ban Quản lý KKTM Chu Lai đã tập trung cho công tác quy hoạch vùng và ngành làm cơ sở để triển khai các dự án Đồng thời tích cực làm việc với các bộ, ngành Trung ương ban hành nhiều cơ chế chính sách như Quy chế hoạt động của KKTM Chu Lai, Quy chế tổ chức và hoạt động của khu thương mại tự do; cơ chế khuyến khích đầu tư vào KKTM Chu Lai; Quy chế phối hợp giữa Ban Quản
lý KKTM Chu Lai với các ngành và địa phương trong việc quản lý quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường Đồng thời xin cơ chế tài chính cho các
dự án lớn như nạo vét luồng từ phao số 0 đến cảng Kỳ Hà, cầu Cửa Đại, 3 tuyến đường cứu hộ, cứu nạn, nạo vét thoát lũ khẩn cấp sông Trường Giang Ngoài ra, Ban Quản lý KKTM Chu Lai đã rút kinh nghiệm và khắc phục những tồn tại, thiếu sót về bố trí vốn đầu tư dàn trải trước đây để điều chỉnh vốn đầu tư hợp lý cho các công trình cần thiết và giãn tiến độ hoặc dừng đối với các dự án chưa cần thiết để tập trung đầu tư cho các công trình trọng điểm
1.5.4 Kinh nghiệm của Khu kinh tế Vũng Áng [30]
Sau 3 năm thành lập khu kinh tế Vũng Áng đã có 84 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong, ngoài nước đăng ký đầu tư với số vốn trên 190 ngàn tỷ đồng Sự có mặt của những “đại gia” trong nước và quốc tế như Tập đoàn Formosa, Công ty TNHH Quốc tế Đài Loan, Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tập đoàn thép Vạn Lợi… đã và đang “biến” KKT Vũng Áng như thỏi nam châm thu hút các nhà đầu tư
Tuy đang “chập chững” ở tuổi lên 3, song với cơ chế ưu đãi vượt trội, KKT Vũng Áng hiện khá hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và quốc tế Với những đề án đã được quy hoạch và cho phép đầu tư của Chính phủ trong
Trang 35tương lai gần KKT Vũng Áng sẽ trở thành trung tâm công nghiệp nặng lớn nhất khu vực Đông Nam Á với các dự án: trung tâm cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương 62 cầu cảng, năng lực thông quan trên 100 triệu tấn/năm, trung tâm luyện cán thép công suất 22 triệu tấn/ năm, trung tâm nhiệp điện 6.300MW, trung tâm lọc hoá dầu 16 triệu tấn/ năm Sự ra đời và phát triển của các ngành công nghiệp nặng nói trên sẽ kéo theo hàng loạt các ngành nghề dịch vụ, du lịch, công nghiệp phụ trợ phát triển theo
Ông Hồ Anh Tuấn, Phó trưởng ban thường trực Ban quản lý KKT Vũng Áng: “Trong thời gian tới, để KKT Vũng Áng xứng đáng là Trung tâm công nghiệp nặng của cả khu vực và đầu tàu xâu chuỗi các hoạt động kinh tế của Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung, chúng tôi sẽ tập trung quy hoạch phát triển KKT Vũng Áng theo hướng đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực (Công nghiệp, đô thị, dịch vụ ) trong đó, hạt nhân là Trung tâm luyện cán thép, lọc hoá dầu, Trung tâm nhiệt điện Vũng Áng gắn với cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương Để những chiến lược đó nhanh chóng trở thành hiện thực, trước hết chúng tôi sẽ phối hợp với các bộ ngành Trung ương, địa phương dồn sức tập trung hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết các khu chức năng trong KKT; đa dạng hoá huy động mọi nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng như hệ thống cầu, cảng, đường giao thông nội bộ Bên cạnh đó, chúng tôi còn phải tính toán nhằm có chiến lược dài hạn về phát triển nguồn nhân lực đủ cung cấp cho các
dự án lớn, quan tâm phát triển kết cấu hạ tầng xã hội (cơ sở đào tạo, văn hoá, sinh hoạt, chữa bệnh v.v ) Mặt khác, chúng tôi còn phải đẩy mạnh việc xúc tiến, thu hút đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư theo hướng hội nhập kinh tế Quốc tế và khu vực.”
Trang 361.6 Nhận xét chung và bài học kinh nghiệm đối với KKT Nhơn Hội 1.6.1 Nhận xét chung
Các Khu kinh tế có được những thành công bước đầu là do có sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước và có sự nỗ lực, quyết tâm của Đảng bộ
và nhân dân của các tỉnh, thành phố Các Khu kinh tế dần dần đã khẳng định
vị thế của mình, có những đóng góp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương
Tuy nhiên mô hình KKT ở Việt Nam hiện nay vẫn mang tính "tuần tự", chưa bắt kịp nhịp sống thời đại, thiếu tính vượt trội, chưa thể hiện được sự "đi tắt, đón đầu" Điển hình như KKTM Chu Lai phản ánh rất rõ điều đó vì thực chất là sự "cấy ghép" giữa khu công nghiệp, khu chế xuất và khu cảng tự do thương mại được hình thành và phổ biến vào những năm 1960 - 1970 trên thế giới
Các ưu đãi trong các KKT hiện nay chủ yếu vẫn là ưu đãi đất đai, thuế, trong điều kiện hội nhập kinh tế, các ưu đãi như vậy không phải khi nào và đối với nhà đầu tư nào cũng thực sự hấp dẫn Hơn nữa, một số ưu đãi này cũng phải sớm chấm dứt, nếu không sẽ có nguy cơ vi phạm pháp luật quốc tế, các nguyên tắc của WTO Ngoài ra, trên thế giới, như ở Trung Quốc, người ta
đã bắt đầu chuyển từ ưu đãi ban đầu (về đất đai, lao động, thuế ) sang phát huy lợi thế so sánh (kết hợp ưu đãi về chi phí với ưu đãi theo ngành, áp dụng chính sách miễn, giảm thuế linh hoạt), đó là điều cũng cần phải rút kinh nghiệm khi ban hành các cơ chế chính sách
Ngoại trừ một số Khu kinh tế, việc phát triển nhiều KKT hiện nay mang tính "phong trào", hoặc với mục đích "nằm chờ" vốn của Nhà nước Hiện tại, có 15 KKT trên cả nước, trong đó có những khu nằm sát nhau Trong lúc các địa phương vẫn còn tình trạng thiếu sự phối kết hợp để cùng phát huy lợi thế của nhau, nên rất dễ trùng lặp, dẫn tới cạnh tranh thiếu lành
Trang 37mạnh trong việc thu hút đầu tư Nhiều dự án KKT chưa thể hiện được lợi thế
so sánh, có quy mô khá nhỏ Nếu tiếp tục phát triển theo hướng này thì dễ rơi vào "mô hình Ấn Độ" với khá nhiều KKT quy mô nhỏ, không mang lại lợi ích
gì đáng kể cho quốc gia, mà chỉ có lợi ích cho các nhà trung gian do lợi dụng các ưu đãi về đất công
Các Khu kinh tế vùng ven biển có lợi thế tự nhiên vô cùng quý giá sẽ bị các nhà đầu tư trong nước chia nhau chiếm cứ, họ sẽ xây dựng ở đây những khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí thuộc đẳng cấp nội địa, với sức hấp dẫn kém, hiệu quả thấp Nhưng khi những mảnh đất này đã có chủ thì việc thay đổi các "ông chủ" này, chuyển hướng kinh doanh cao cấp hơn cho những nhà đầu tư lớn, có thương hiệu mạnh, công nghệ tiên tiến sẽ cực kỳ khó khăn, nếu không nói là không khả thi
1.6.2 Bài học kinh nghiệm đối với khu kinh tế Nhơn Hội
Phải tạo được sự đồng thuận của nhân dân trong vùng quy hoạch Khu kinh tế, phải có sự quyết tâm cao của các cấp uỷ đảng, cơ sở, ngành, địa phương trong tập trung nguồn lực để xây dựng và phát triển Khu kinh tế
Hiện nay cả nước đang có 15 KKT, nhưng vẫn còn quá lúng túng trong việc tạo ra những hạt nhân phát triển, chưa có định hướng lớn một cách rõ ràng, chưa chọn được mũi đột phá, ưu tiên cho mỗi Vùng kinh tế trọng điểm
Vì vậy, để Khu kinh tế phát triển bền vững nên thuê tập đoàn tư vấn hàng đầu thế giới quy hoạch toàn bộ Khu kinh tế; mời gọi các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đề xuất các thể chế hành chính và kinh tế cần thiết
Cần có hệ thống các cơ chế chính sách ưu đãi vượt trội, một cơ chế đặc thù thông thoáng, hấp dẫn, đặc biệt nhằm huy động tổng hợp các nguồn lực tạo ra hạ tầng hoàn thiện, khắc phục được những tồn tại hiện nay để thu hút được những nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước vào Khu kinh tế
Trang 38Khu kinh tế phải khẳng định rõ nét lợi thế so sánh so với các tỉnh và thành phố khác và đồng thời quan tâm đến ngành nghề nào là thế mạnh của địa phương mình để kêu gọi đầu tư Qua đó sẽ tạo được sự chủ động trong quy hoạch và tránh ảnh hưởng đến các dự án khác đã đầu tư vào Khu kinh tế
Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước theo hướng tăng cường tính tự chủ, hình thành khung chính sách cho phép "được làm những cái mà pháp luật không cấm" Khi có những vấn đề phát sinh "vượt khung" pháp luật mà có lợi cho sự phát triển của tỉnh thì phải xin ý kiến của Trung ương trước khi thực hiện Với những chính sách của chính quyền ban hành ổn định sẽ là cơ sở rất quan trọng để các nhà đầu tư an tâm trong vấn đề định hướng và phát triển kinh doanh của doanh nghiệp mình
Kết luận chương 1
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Do đó để thu hút được nguồn vốn đầu tư dồi dào thì địa phương phải đề ra những chính sách thật thông thoáng, hấp dẫn để quảng bá hình ảnh của Khu kinh tế, xúc tiến đầu tư, hỗ trợ đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực với mục đích tạo cho nhà đầu tư gia tăng sự chú ý và quan tâm đến những dự án mà họ có ý định đầu tư vào địa phương, thông qua các dự án này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà đầu tư
Ngoài ra, tác giả tìm hiểu một số kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu kinh tế của các địa phương trong nước như: KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh, Khu kinh tế Dung Quất, Khu kinh tế Chu Lai, Khu kinh tế Vũng Áng Qua đó đã có những nhận xét và rút ra một số bài học kinh nghiệm thiết thực cho Khu kinh tế Nhơn Hội
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ NHƠN HỘI 2.1 Sự hình thành và mục tiêu phát triển KKT Nhơn Hội
2.1.1 Sự hình thành phát triển KKT Nhơn Hội
Được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 141/2005/QĐ-TTg ngày 14/6/2005 với mục tiêu phát triển từng bước trở thành hạt nhân tăng trưởng, trung tâm đô thị công nghiệp – dịch vụ – du lịch của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Khu kinh tế Nhơn Hội được biết đến như một địa chỉ đầy tiềm năng phát triển kinh tế ở khu vực Nam Trung
bộ, còn với Bình Định đây sẽ là khu vực động lực thúc đẩy và tạo những đột phá trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh nhà
Khu Kinh tế Nhơn Hội là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia nhưng có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng, với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài
và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Khu kinh tế Nhơn Hội nằm trên bán đảo Phương Mai, tỉnh Bình Định
có diện tích đất tự nhiên khoảng 12.000 ha, bao gồm các xã: Nhơn Hội, Nhơn
Lý, Nhơn Hải và khu vực 9 của phường Hải Cảng thuộc thành phố Quy Nhơn; một phần các xã Phước Hòa, Phước Sơn, Phước Thắng thuộc huyện Tuy Phước; một phần các xã Cát Tiến, Cát Chánh, Cát Hải thuộc huyện Phù Cát; có ranh giới địa lý được xác định trong khoảng tọa độ địa lý từ 13o45’
Trang 40đến 14o01’ vĩ độ Bắc và từ 109o11’ đến 109o17’ kinh độ Đông, được giới hạn như sau:
Phía Bắc giáp núi Bà, xã Cát Hải, huyện Phù Cát;
Phía Nam giáp biển Đông;
Phía Đông giáp biển Đông;
Phía Tây giáp đầm Thị Nại
Khu kinh tế Nhơn Hội gồm hai khu chức năng chính là Khu phi thuế quan và Khu thuế quan
Khu phi thuế quan (diện tích xây dựng khoảng 545 ha) là khu vực có hàng rào cứng, ra vào có kiểm tra liên ngành, được bố trí tại xã Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, bao gồm Khu cảng và hậu cảng (55 ha), Khu trung tâm (90 ha), Khu chế xuất (300 ha) và Khu kho tàng (100 ha)
Khu thuế quan (diện tích xây dựng khoảng 4.720 ha), trong đó:
Các khu công nghiệp (tổng diện tích khoảng 1.683 ha) gồm: Khu công nghiệp Nhơn Hội (khoảng 1.328 ha); Khu phong điện (khoảng 280 ha), KCN gắn cảng nước sâu 75 ha; cụm Cảng tổng hợp, kho tàng 170 ha
Các khu du lịch (diện tích khoảng 1.585 ha) gồm: du lịch sinh thái đầm, biển, rừng ngập mặn và du lịch núi được bố trí tại đầm Thị Nại, núi Phương Mai - Nhơn Lý, Núi Bà - Cát Hải
Các khu dân cư đô thị (tổng diện tích khoảng 1.105 ha) gồm: Khu đô thị mới Nhơn Hội (quy mô dân số khoảng 84.000 người, diện tích khoảng 750 ha); Khu dân cư dịch vụ du lịch Cát Tiến (quy mô dân số khoảng 32.000 người, diện tích khoảng 230 ha); Khu dân cư dịch vụ du lịch Nhơn Lý (quy
mô dân số khoảng 8.000 người, diện tích khoảng 65 ha); Khu dân cư dịch vụ
du lịch Cát Hải (quy mô dân số khoảng 6.000 người, diện tích khoảng 60 ha)
Dân cư nông thôn: giai đoạn đầu giữ nguyên các khu dân cư nông thôn hiện có và xây dựng các khu tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng xây