1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Một số giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố Trà Vinh

128 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[11] Theo quan điểm của Đảng, trong giai đoạn 2011 – 2020, công tác ĐTN ở nước ta phải thực hiện được hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản, đó là: Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật trực tiếp

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI QUANG BÌNH

Đà Năng – Năm 2013

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cấu trúc của luận văn 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG 10

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 10

1.1.1 Lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn 10

1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề, các đặc trưng và hình thức của đào tạo nghề 14

1.1.3 Vai trò của đào tạo nghề đối với lao động nông thôn 19

1.2 NỘI DUNG CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 20

1.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn 20

1.2.2 Xác định ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn 22

1.2.3 Lựa chọn phương thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn 23

1.2.4 Đánh giá kết quả đào tạo 24

1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 25

1.3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 25

Trang 4

thôn 26

1.3.3 Cơ sở vất chất cho đào tạo nghề và đội ngũ giáo viên 27

1.3.4 Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động 29

1.3.5 Chính sách của chính quyền 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN, ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TRÀ VINH 34

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 34

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 34

2.1.2 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội 35

2.1.3 Thực trạng về lực lượng lao động nông thôn 36

2.1.4 Chính sách về đào tạo nghề và việc làm cho lao động nông thôn qua đào tạo nghề của nhà nước 45

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 51

2.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo 51

2.2.2 Xác định chương trình và hình thức đào tạo 54

2.2.3 Lựa chọn phương pháp và cơ sở đào tạo 55

2.2.4 Đánh giá kết quả đào tạo 58

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG NÔNG THÔN QUA ĐÀO TẠO NGHỀ 60

2.3.1 Những kết quả đạt được 60

2.3.2 Những tồn tại 63

2.3.3 Nguyên nhân tồn tại 65

Trang 5

LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TRÀ VINH

67

3.1 CÁC QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 67

3.1.1 Quan điểm: 67

3.1.2 Định hướng và nhiệm vụ phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn 69

3.1.3 Mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Trà Vinh đến năm 2020 72

3.2 DỰ BÁO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 73

3.2.1 Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo 73

3.2.2 Dự báo nhu cầu đào tạo lại 78

3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI THÀNH PHỐ TRÀ VINH ĐẾN NĂM 2020 81

3.3.1 Nhóm giải pháp cho công tác đào tạo nghề 81

3.3.2 Nhóm các giải pháp khác 94

3.4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

3.4.1 Kết luận 97

3.4.2 Kiến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO) PHỤ LỤC 105

Trang 6

Ký hiệu Ý nghĩa

Trang 8

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

theo giới tính, thành thị/nông thôn đến ngày 31/12/2012

37

phố Trà Vinh đến ngày 31/12/2012

39

ở nông thôn thành phố Trà Vinh

41

đoạn 2008 -2012

43

Trang 9

Số hiệu

giới tính, thành thị/nông thôn đến ngày 31/12/2012

38

Vinh đến ngày 31/12/2012

40

nông thôn thành phố Trà Vinh

trên địa bàn thành phố Trà Vinh

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, công tác đào tạo nghề (ĐTN) đã được phục hồi, ổn định và từng bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường lao động Nghị quyết đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” [11]

Theo quan điểm của Đảng, trong giai đoạn 2011 – 2020, công tác ĐTN

ở nước ta phải thực hiện được hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản, đó là: Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh có trình độ cao, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề; có đủ điều kiện và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Trong thời gian tới, việc mở rộng quy mô ĐTN cho người lao động, phục vụ có hiệu quả việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, tạo nhiều việc làm có thu nhập cao, cải thiện đời sống cho người lao động; giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông nghiệp, nông thôn

Hiện nay, một trong những khâu yếu nhất của giáo dục nói chung và của dạy nghề nói riêng ở nước ta là chất lượng và hiệu quả ĐTN còn thấp Mặt khác, chúng ta chưa quan tâm quản lý chất lượng ĐTN nên chất lượng ĐTN còn hạn chế, dẫn đến tình trạng lãng phí nhân lực và chi phí đào tạo Do thiếu quy hoạch hệ thống ĐTN, cho nên ĐTN hiện nay hầu như là tự phát, cơ cấu ngành nghề và dạy nghề mất cân đối, phân tán, chưa gắn kết với nhu cầu

Trang 11

thực tế, không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế Số trường dạy nghề có nhiều nhưng nhìn chung quy mô nhỏ Ở nước ta hiện nay đang tồn tại mất cân đối giữa đào tạo công nhân với đào tạo cán bộ trung cấp và đại học dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ khá phổ biến Mặc dù chất lượng và hiệu quả dạy nghề có bước chuyển biến tích cực, các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy nghề đã từng bước được cải thiện nhưng công tác ĐTN ở nước ta vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất và dịch vụ, thể hiện ở tác phong làm việc, thể lực của người lao động, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp của học viên

Mục tiêu đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặt ra cho các cơ

sở Giáo dục & Đào tạo nói chung, các cơ sở ĐTN nói riêng nhiệm vụ quan trọng nhưng trọng trách rất nặng nề, trong đó phải giải quyết có hiệu quả bài toán giữa phát triển nhanh quy mô và đảm bảo, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực Để hoàn thành sứ mệnh đào tạo đạt chuẩn, đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, của địa phương được xem như là những nội dung mang tính chất “sống còn” của các cơ sở Giáo dục & Đào tạo nói chung, các cơ sở ĐTN nói riêng trên cả nước

Để có thể cung cấp hàng chục ngàn lao động có trình độ chuyên môn,

kỹ thuật cao tại chỗ cho các dự án kinh tế lớn như: Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, kênh đào Quan Chánh Bố, khu kinh tế mở Định An - Trà Cú là một thách thức đối với các cơ sở Giáo dục & Đào tạo trong tỉnh Trà Vinh Do vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực nói chung, ĐTN cho người lao động nói riêng đóng vai trò rất quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu lao động và đáp ứng sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh

Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009

của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án Đào t o nghề cho ao động n ng th n đến năm 2020 cũng như thực hiện Quyết định số

Trang 12

2021/QĐ-UBND ngày 12 tháng 11 năm 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Trà

Vinh về việc phê duyệt đề án Đào t o nghề cho ao động n ng th n tỉnh Trà Vinh đến năm 2020 Trong thời gian vừa qua, công tác đào tạo nghề

của tỉnh Trà Vinh nói chung và thành phố Trà Vinh nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt đã tạo cơ hội cho người lao động nông thôn học nghề, lập nghiệp, góp phần giảm đói, nghèo

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay công tác đào tạo nghề của thành phố Trà Vinh vẫn còn một số tồn tại, bất cập; đó là: quy mô đào tạo nghề của Thành phố còn quá nhỏ so với nhu cầu đào tạo của xã hội; chủ yếu đào tạo nghề theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo; sự đa dạng các ngành nghề đào tạo để phù hợp với thực tế yêu cầu của sản xuất thì các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố chưa đủ điều kiện đáp ứng được một cách tốt nhất, hình thức dạy nghề trong doanh nghiệp chưa được phát triển mạnh đặc biệt chưa chú trọng nhiều đến đối tượng học nghề là lao động nông thôn trên địa bàn Thành phố

Xuất phát từ yêu cầu trên, Tôi chọn đề tài “Một số giải pháp đào tạo

nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Trà Vinh” làm luận

văn thạc sĩ Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế Phát triển

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Khái quát được lý luận về Đào tạo nghề cho lao động

Đánh giá được thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Trà Vinh

Kiến nghị được các giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Trà Vinh

3 Đối tƣợng và ph m vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Đào tạo nghề cho lao động nông

thôn trên địa bàn thành phố Trà Vinh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn thành phố Trà Vinh

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống

kê, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia và các phương pháp khác

5 Cấu trúc của uận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Chương 2: Thực trạng lao động nông thôn, đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Trà Vinh

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Trà Vinh

6 Tổng quan tài iệu nghiên cứu

Đào tạo lao động là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách Nói cách khác đào tạo là tiến trình cung cấp cho người học những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức cũng như mục tiêu và đào tạo được thiết kế

để giúp đỡ, hỗ trợ người học tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức

Có thể nói, đào tạo lao động là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế Vấn đề này là mãng đề tài được sự quan tâm của nhiều giới nghiên cứu, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn

Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu khoa học đã đề cập đến những khó khăn, thuận lợi, những nỗ lực và sự chuyển biến tích cực

Trang 14

của công tác ĐTN từ những hướng tiếp cận khác nhau

Ở Đức, các loại hình Trường của giáo dục nghề nghiệp rất đa dạng, đặc biệt là các loại hình Trường ĐTN hoặc giáo dục phổ thông kết hợp với ĐTN Trường chuyên nghiệp ở Đức bao gồm nhiều ngành học Trong hệ thống giáo dục của Đức, vị trí người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp xếp ngang hàng

vị trí người tốt nghiệp đại học, vì ưu thế họ đã có một số năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp hoặc là người có năng khiếu đặc biệt sau khi tốt nghiệp các loại hình Trường nghề

Còn ở Úc không có một hệ thống chuyên nghiệp riêng, tách rời hệ thống dạy nghề như ở Việt Nam, mà gắn bó chung trong một hệ thống giáo dục nghề nghiệp Trình độ đào tạo nguồn nhân lực từ sơ cấp đến tương đương Cao đẳng, tạo điều kiện cho người học có nhiều cơ hội học tập vì có thể chuyển đổi hệ thống một cách dễ dàng

Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1990, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, sự nỗ lực của toàn Ngành, công tác ĐTN ở nước ta đã được phục hồi và từng bước phát triển Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực ĐTN và chất lượng ĐTN được các nhà nghiên cứu giáo dục công bố như: “Giáo dục nghề nghiệp – những vấn đề và giải pháp” của PGS.TS Nguyễn Viết Sự (2005); “Đánh giá thực trạng tay nghề của công nhân Hà Nội” của Trường Đào tạo Cán bộ Công đoàn Hà Nội (1999); “Đánh giá chất lượng đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp” của ThS Nguyễn Đăng Trụ

(2007); “Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” của

PGS TS Trần Khánh Đức (2002) Với thể loại báo, tạp chí có nhiều bài viết

về đề tài đào tạo lao động như: bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Vinh trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh viết bài "Phát triển lao động chất lượng cao yếu tố quyết định trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" đăng trên tạp chí phát triển và hội nhập - số 3 (13) - Tháng 3-4/2012 đã phân

Trang 15

tích và khái quát khía cạnh giá trị vô hạn của lao động cũng như khả năng khai thác tiềm năng thời kỳ dân số vàng của Việt Nam [Nguyễn Ngọc Vinh (2012)]; Tác giả Nguyễn Văn Chiều, Trường Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn, Hà Nội có viết bài “Triết lý đầu tư cho đào tạo nhân lực kinh tế” đăng trên Tạp chí Nhà quản lý đã tổng kết kinh nghiệm của nhiều doanh nghiệp thành công nhờ chính sách đào tạo và huấn luyện người học và đã chỉ

ra 7 triết lý có ý nghĩa trong đầu tư cho đào tạo lao động đối với các doanh nghiệp hiện nay

Theo bảng xếp hạng chỉ số phát triển con người của United National - Human Development Index (HDI) - 2012 Rankings, Việt Nam xếp thứ 127/186 nước, nằm ở bậc trung , một chỉ số quá thấp trong đầu tư con người

Các khái niệm giáo dục, đào tạo và phát triển đều đề cập đến cùng một quá trình, quá trình này cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân Điều này có nghĩa là giáo dục, đào tạo và phát triển được áp dụng để thay đổi việc người lao động biết gì, làm như thế nào, quan điểm của họ đối với công việc và mối quan hệ với mọi người xung quanh [Phan Thủy Chi (2008)]

Đào tạo là quá trình rèn luyện học tập nhằm nâng cao khả năng thực hiện công việc hiện tại của người lao động giúp cho người lao động làm việc

có hiệu quả hơn

Vấn đề đào tạo nghề và tạo việc làm được nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau, từ nhiều tác giả và cơ quan nghiên cứu Giá trị lớn nhất của những công trình nghiên cứu có liên quan là nêu thực trạng và đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn, nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan đến đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động Có thể nêu một số công trình nghiên cứu có liên quan như:

Trang 16

- Nghiên cứu của Đỗ Minh Cương có tựa đề: “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam- Lý luận và thực tiễn” Nghiên cứu này đã đi sâu vào phân tích lực lượng lao động kỹ thuật nói chung trong đó có đề cập sâu đến hệ thống đào tạo nghề hiện nay và kết quả của quá trình đào tạo Nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh cung lao động kỹ thuật trong nền kinh tế và các giải pháp chủ yếu để phát triển đào tạo nghề thúc đẩy cung lao động kỹ thuật cho nền kinh tế, trong đó đã đề cập đến việc làm cho người lao động nhưng không tập trung vào tất cả các đối tượng lao động qua đào tạo nghề mà chủ yếu ở nhóm lao động kỹ thuật

- Một công trình trực tiếp giải quyết vấn đề việc làm đó là:"Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt nam" của tác giả TS.Nguyễn Hữu Dũng Nghiên cứu này đi sâu và phân tích toàn diện các chính sách giải quyết việc làm trong nền kinh tế trong những năm cuối thế kỷ 20 Tác giả đã trình bày phủ rộng hầu hết các vấn đề liên quan đến các chính sách giải quyết việc làm

và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta Tuy nhiên công trình này không đề cập riêng cho việc làm của lực lượng lao động thanh niên và các vấn đề liên quan đến đối tượng này

Bên cạnh đó còn có những tác giả nghiên cứu vấn đề thực trạng, giải pháp, mô hình và nguồn lực về đào tạo nghề cho lao động nông thôn như tác giả:

+ Hoàng Xuân Bang (2006), Tình hình lao động và việc làm 5 năm đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội

+ Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt hôm nay và mai sau, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội

Nam-+ Đồng Văn Tuấn (2006), Những giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn huyện Phú Bình – Thái Nguyên,

Đề tài cấp Bộ, Mã số: B2002-02-21

Trang 17

+ Vũ Xuân Hùng (2010), Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo trong hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phó vụ trưởng vụ chính

+ TSKH Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động-cơ sở lý luận

và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bàn chính trị quốc gia, Hà Nội

+ PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm (1997), Giáo trình Marketing căn bản, Nhà xuất bản giáo dục

+ GS.TS Nguyễn Văn Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Áng (2007), Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH- HĐH ở Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội

Song song đó còn có các thông tư, nghị quyết, đề án, kế hoạch về đào tạo nghề cho lao động nông thôn như sau:

+ Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; Thông tư liên tịch số 112/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 30/7/2010 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định 1956/QĐ-TTg + Ban chỉ đạo thực hiện đề án 1956 tháng 11 năm 2010: “Đề án đào tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2010-2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh đã nêu được tổng quát số chỉ tiêu kế hoạch dạy nghề cho lao động ở nông thôn Trà Vinh và có những chỉ thị rõ ràng cho các cấp địa phương thực hiện, tuy nhiên chưa nêu được những giải pháp việc làm cho những người lao động này

Trang 18

+ Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Trà vinh đến năm 2020 của Sở Kế hoạch và Đầu tư; Quyết định số 2021/QĐ-UBND ngày 12 tháng 11 năm 2010

của Uỷ ban nhân dân tỉnh Trà Vinh về việc phê duyệt đề án Đào tạo nghề

cho lao động nông thôn tỉnh Trà Vinh đến năm 2020”; Kế hoạch đào tạo nghề giai đoạn 2011-2015; Báo cáo sơ kết 03 năm (2010-2012) thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn và dự kiến kế hoạch 2013-2015; Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của Thành phố Trà Vinh; Nghị quyết Đại hội đại biệu Đảng bộ tỉnh Trà Vinh lần thứ IX nhiệm kỳ 2011-2015; Nghị quyết số 08/2010/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh (kỳ họp thứ 25) về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015

Đối với tỉnh Trà Vinh thì chưa có công trình nghiên cứu nào về giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn sẽ tập trung phân tích luận giải những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn đang đặc ra

Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về đào tạo nghề và việc làm của các hộ gia đình trong khu vực nông thôn, vùng sâu Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết nhằm phát hiện ra các tác động của cơ cấu lao động, việc làm của các hộ gia đình nằm trong vùng nông thôn Kết quả nghiên cứu này sẽ tìm ra giải pháp ĐTN cho LĐNT ở tỉnh Trà Vinh nói chung và thành phố Trà Vinh nói riêng

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO

LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1.1 Lao động n ng th n và đặc điểm của ao động n ng th n

Nguồn lao động: nguồn lực con người của một quốc gia hay lãnh thổ phản ánh khả năng lao động của xã hội được thể hiện qua hai mặt: số lượng

và chất lượng [3]

Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mới phản ánh khả năng lao động của nền kinh tế Nhưng không phải tất cả những người trong độ tuổi đều là những người tham gia lực lượng lao động Vì vậy, cung lao động sẽ phụ thuộc chủ yếu vào số lượng dân số trong độ tuổi có khả năng tham gia lao

động Cũng cần làm rõ khái niệm lực lượng lao động để làm cơ sở cho

việc tính toán lao động, việc làm trong xã hội cho chính xác Ở nước ta sử dụng khái niệm lực lượng lao động để chỉ những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp [3]

Để đánh gia tình hình cung lao động của một quốc gia ta xem xét thước đo “tỷ lệ tham gia lực lượng lao động” Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ giữa số người trong độ tuổi thuộc lực lượng lao động so với tổng dân số trong độ tuổi lao động Việt Nam là nước có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tương đối cao (khoảng 50%) Trong các nước ASEAN (Asia Pacific Economic Cooperation), tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam đứng thứ hai sau Thái Lan (tỷ lệ này của Thái Lan gần 55%) [3]

Nguồn LĐNT là một bộ phận của nguồn LĐ xã hội bao gồm toàn bộ những người LĐ đang làm việc trong nền KT quốc dân và những người có khả năng LĐ nhưng chưa tham gia hoạt động trong nền KT quốc dân thuộc

Trang 20

khu vực NT Cụ thể hơn, nguồn LĐNT bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên sống ở NT đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực như: nông, lâm, ngư nghiệp, CN, xây dựng, dịch vụ, hoặc các ngành phi NN khác; và những người trong độ tuổi có khả năng LĐ nhưng hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế [28]

Đặc điểm người nông dân và LĐNT nước ta là cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt động NN của mình Tuy nhiên, một trong những nhược điểm của LĐNT trong giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún, do tập quán làm việc theo cảm tính dẫn đến người nông dân không có định hướng phát triển hoạt động NN rõ ràng nếu như không có sự tư vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của những người có kinh nghiệm Trong thời gian qua, dưới tác động của các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, một bộ phận LĐNT đã tỏ ra năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với cơ chế mới đã vươn lên trở thành các chủ nhân, sản xuất giỏi, có ý thức về nghề nghiệp tạo việc làm cho bản thân góp phần làm thay đổi bộ mặt của NT Tuy nhiên hiện nay số lượng này không nhiều, còn mang tính tự phát, vai trò và vị trí của LĐNT trong KT NT chưa được phát huy mạnh mẽ Đặc biệt trong nền KT hiện nay, số đông LĐNT bước vào

cơ chế mới tỏ ra lúng túng, thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin, thiếu vốn, thiếu kiến thức về KT thị trường, thị trường LĐ và nghề nghiệp…,[24]

Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, nhiều vùng KT chưa phát triển, nhất là vùng sâu, vùng xa, đời sống thu nhập còn nhiều khó khăn Thiếu việc làm, không tìm được việc làm, thời gian nhàn rỗi, phần lớn chưa có nghề và chưa được ĐTN là những đặc trưng cơ bản của LĐNT

Chính đặc điểm của người nông dân như trên làm cho vai trò của đào tạo nghề càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa NN, NT nói chung và thành công của xây dựng nông thôn mới nói riêng

Trang 21

Đến năm 2006 cả nước có 30,6 triệu lao động nông thôn, trong đó hơn 91% chưa qua đào tạo, 3% được đào tạo ở mức sơ cấp và công nhân kỹ thuật,

4% có bằng trung cấp và cao đẳng và 1% có trình độ đại học trở lên [23]

Lao động nông thôn có những đặc điểm cơ bản sau:

- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế

- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường thấp Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn

- Lao động nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động Tất

cả những hạn chế trên cần được xem xét kỹ khi đưa ra giải pháp đào tạo nghề

và tạo việc làm cho lao động nông thôn [30]

Đặc điểm của ực ƣợng ao động ở n ng th n

- Lực lượng lao động nông thôn: bộ phận dân số trong và ngoài độ tuổi lao động thuộc khu vực nông thôn, có khả năng lao động và có nhu cầu lao động [1]

- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nông thôn: tỷ lệ giữa số người trong độ tuổi thuộc lực lượng lao động ở nông thôn so với tổng dân số trong

độ tuổi lao động ở nông thôn

- Nguồn lao động ở nông thôn: nguồn lực con người ở vùng nông thôn phản ánh khả năng lao động của xã hội được thể hiện qua hai mặt: số lượng

và chất lượng

+ Số lượng nguồn lao động nông thôn: bao gồm những người trong độ tuổi và ngoài độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn có tham gia lao động trong các ngành kinh tế (tức đang có việc làm) và còn bao gồm những người trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn có khả năng lao động, có nhu

Trang 22

cầu về việc làm nhưng còn đang đi học, làm nội trợ hay thất nghiệp…Độ tuổi lao động khác nhau ở các quốc gia, nhưng theo bộ luật lao động Việt Nam năm 2002 thì độ tuổi lao động đối với nam từ 15 đến 60 tuổi và nữ từ 15 đến

55 tuổi Số lượng nguồn lao động tăng lên là do dân số tăng lên

+ Chất lượng nguồn lao động nông thôn: tập hợp về trình độ thể chất, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất ở người lao động nông thôn Những năng lực phẩm chất này được thể hiện trong lao động của người lao động thông qua số sản phẩm đạt được trong một đơn vị thời gian lao động nhất định (tức năng suất lao động) Chất lượng nguồn lao động phụ thuộc vào các hoạt động của giáo dục đào tạo, dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe… Chất lượng nguồn lao động nông thôn không phải là yếu tố tự có mà

nó biến đổi cùng với quá trình phát triển kinh tế, chúng được xem vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế [3]

- Lực lượng lao động nông thôn ở đa số các nước kém phát triển thường chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động cả nước và tăng với quy

mô lớn so với lực lượng lao động ở thành thị

- Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa lực lượng lao động ở nông thôn có xu hướng chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ

- Lực lượng lao động ở nông thôn, bên cạnh các đặc tính phù hợp với

sự phát triển, cũng còn nhiều mặt hạn chế

Đặc điểm của việc àm ở n ng th n

- Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống và làm việc của người lao động Như vậy, có thể nói lao động trồng trọt và chăn nuôi là việc làm chính của người lao động ở nông thôn

Trang 23

- Điều kiện sản xuất bị chi phối trực tiếp bởi các quy luật của tự nhiên như: Gió mưa nắng, nhiệt độ, thổ nhưỡng dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc thấp

- Sản xuất theo mùa vụ, năm này theo năm khác, lặp đi lặp lại nên người lao động chỉ làm việc theo kinh nghiệm, ít cải tiến sáng tạo Quá trình

đó cứ diễn ra thường xuyên qua nhiều năm làm cho tiến trình phát triển kinh

tế xã hội ở nông thôn diễn ra một cách chậm chạp

- Loại công việc này có tính chất mùa vụ nên lao động ở nông thôn sẽ thiếu việc làm trong những lúc nông nhàn Mặt khác, cùng với quá trình đô thị hóa đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng làm cho người nông dân

bị mất tư liệu sản xuất và với trình độ học vấn tay nghề thấp họ sẽ gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm và phải làm những công việc nặng nhọc với mức lương thấp… Như vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, người lao động làm việc trong lĩnh vực thuần nông là những người có nguy

cơ bị thiếu việc làm và bị thất nghiệp cao nhất

1.1.2 Khái niệm đào t o nghề, các đặc trƣng và hình thức của đào

t o nghề

a Khái niệm và các đặc trưng của đào tạo nghề

Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn Ở Pháp, khái niệm nghề được định nghĩa là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó

Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống

Trang 24

nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại Bởi vậy nghề được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định về nghề như sau:

- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại;

- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội;

- Là phương tiện để sinh sống;

- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định

Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển KT – XH của mỗi quốc gia nói riêng Bởi vậy phạm trù nghề biến đổi

Trang 25

mạnh mẽ, sâu sắc và gắn chặt với xu hướng phát triển KT – XH của đất nước ĐTN là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng,

kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai ĐTN bao gồm hai quá trình là dạy nghề và học nghề, hai quá trình này có mối quan

hệ hữu cơ với nhau ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất để

họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm: ĐTN mới, đào tạo bổ sung

và đào tạo lại nghề

Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống GD quốc dân Theo Luật dạy nghề “Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [21]

Như vậy, chúng ta có thể thấy ĐTN có những đặc trưng có bản sau;

- ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là:

+ Dạy nghề: “Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp”

+ Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người LĐ để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”

- ĐTN cho người LĐ là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người LĐ để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm ĐTN mới, ĐTN bổ sung, đào tạo lại nghề, cụ thể như sau:

+ ĐTN mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi LĐ chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi LĐ nhưng trước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm LĐ qua ĐTN cho xã hội

+ Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có

Trang 26

chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người LĐ có cơ hội

để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề

+ Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng

cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn

Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn

b Các hình thức đào tạo nghề

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch ĐTN là xác định các hình thức đào tạo thích hợp Hình thức ĐTN là cơ sở để xây dựng kế hoạch ĐTN, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả KT của ĐTN Tùy theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác Những hình thức ĐTN đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là:

- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo tổ chức, đội sản xuất Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi người học nghề được một công nhân giỏi, thợ giỏi hoặc người có trình độ tay nghề cao hướng dẫn (Người hướng dẫn) Người hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch Với hình thức kèm cặp theo tổ, đội sản xuất, người học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những người hướng dẫn dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách trình độ nghề nghiệp và phương pháp

Trang 27

sư phạm nhất định Quá trình đào tạo được tiến hành qua các bước:

+ Bước 1: Người hướng dẫn vừa sản xuất vừa hướng dẫn người học nghề Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa phải giảng cho người học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành, qui trình công nghệ, phương pháp làm việc ( Chủ yếu phần thực hành) người học nghề theo dõi những thao tác, phương pháp làm việc của người hướng dẫn Đồng thời doanh nghiệp hoặc phân xưởng và tổ chức khác dạy lý thuyết liên quan đến nghề học cho người học (do kỹ sư hay kỹ thuật viên đảm nhận)

+ Bước 2: Giao việc làm thử, người học nghề bắt tay vào làm thử dưới

sự kiểm tra uốn nắn của người hướng dẫn

+ Bước 3: Giao việc hoàn toàn cho người học nghề khi người học nghề

có thể tiến hành công việc độc lập được, người hướng dẫn vẫn thường xuyên theo dõi giúp đỡ

- Hình thức mở các lớp cạnh doanh nghiệp, cơ sở sản xuất: Là các lớp

do doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất tổ chức nhằm đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp, cơ sở xuất cùng ngành, cùng lĩnh vực Chủ yếu ĐTN cho công nhân mới được tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách

mà dựa vào các điều kiện sẵn có của doanh nghiệp Chương trình đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành sản xuất, phần lý thuyết được giảng tập trung

do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách, phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng, cơ sở sản xuất do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn cho người học nghề

- Hình thức đào tạo ở các trường chính qui: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, các Bộ hoặc Ngành thường

tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mô lớn, đào tạo công nhân có trình

Trang 28

độ cao, chủ yếu là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên có trình

độ cao Thời gian đào tạo tùy theo nghề đào tạo và trình độ đào tạo, ra trường được cấp bằng nghề, chứng chỉ nghề Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

+ Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy

+ Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng thí nghiệm, xưởng trường Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản xuất vừa phục vụ cho giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất cho

xã hội Nếu không có điều kiện tổ chức xưởng sản xuất thì nên để gần các doanh nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học Các tài liệu và sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường

1.1.3 Vai trò của đào t o nghề đối với ao động nông thôn

Chiến lược phát triển KT – XH, giai đoạn 2011 - 2020 của Chính phủ

đề ra mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước CN theo hướng hiện đại ; Xây dựng cơ cấu KT CN, NN, dịch vụ hiện đại, hiệu quả; Tỷ lệ

LĐ qua đào tạo đạt trên 70%, ĐTN chiếm 55% tổng LĐ xã hội; Ðẩy mạnh ĐTN và tạo việc làm; Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chính sách, người nghèo, LĐNT và vùng đô thị hóa Ðây là định hướng rất

cơ bản nhưng cũng là thách thức rất lớn, vì hiện nay nguồn LĐ nước ta dồi dào, nhưng chất lượng thấp, đặc biệt là LĐNT có chất lượng rất thấp so với khu vực so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong 12

Trang 29

nước ở Châu Á được tham gia xếp hạng Việt Nam còn thiếu nhiều chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề; chỉ số KT tri thức (KEI) của nước ta còn thấp (đạt 3,02 điểm, xếp thứ 102/133 quốc gia được phân loại)

LĐNT chủ yếu chưa được ĐTN, năng suất thấp Năm 2009, với lực lượng LĐ tại NT có 36,4 triệu người chiếm 72,04% LLLĐ cả nước nhưng chỉ

có 9,1% LĐNT qua đào tạo và hằng năm tiếp tục được bổ sung khoảng trên một triệu LĐ bước vào tuổi LĐ Ðiều này cũng đã làm hạn chế năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền KT (năm 2009 chỉ số năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,39 điểm và năng lực cạnh tranh của nền KT giảm năm bậc, xếp thứ 75/133 nước xếp hạng) [25]

Thực tiễn quá trình phát triển KT tại Việt Nam, khi LĐNT được sử dụng tốt thì KT phát triển nhanh và bền vững, tránh rơi vào “ cái bẫy” đẩy nhanh công nghiệp hóa, không chú trọng đến phát triển NN, NT đã có những thời điểm rơi vào tình trạng khó khăn, gây lãng phí sức LĐNT và kéo theo hệ quả thu nhập của LĐNT thấp, mất ổn định xã hội Vì vậy, ĐTN và nâng cao chất lượng ĐTN cho LĐ nói chung và LĐNT nói riêng là yêu cầu cấp bách của nền KT [13]

1.2 NỘI DUNG CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

ĐTN cho LĐNT vừa có ý nghĩa KT, vừa có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc Chính vì vậy, việc tổ chức ĐTN thiết thực cho LĐNT, vừa đạt được hiệu quả KT - XH Do tính đặc thù của LĐNT, nên việc ĐTN cho LĐNT cần phải có những cách thức tổ chức phù hợp với từng nhóm đối tượng Để xây dựng được các mô hình ĐTN phù hợp, chúng ta phải triển khai một số nội dung chủ yếu sau:

1.2.1 Xác định nhu cầu đào t o nghề cho ao động nông thôn

Trang 30

Nhu cầu được hiểu là tất cả những đòi hỏi và mong muốn của con người cần được đáp ứng và thỏa mãn Về thực chất nhu cầu là một cảm giác thiếu thốn, là một trạng thái căn thẳng liên quan đến những đòi hỏi của cá

nhân, tự nhiên và xã hội [17]

Nhu cầu đào tạo nghề bao gồm: nhu cầu sử dụng lao động và nhu cầu học nghề

a Nhu cầu sử dụng lao động

Hiện nay, nhu cầu nhân lực cho sự phát triển các ngành kinh tế ở nước

ta, cụ thể:

+ Nhu cầu nhân lực cho sự phát triển công nghiệp, xây dựng

+ Nhu cầu nhân lực cho sự phát triển nông lâm ngư nghiệp, phát triển nông thôn, miền núi có xu hướng giảm dần

+ Nhu cầu nhân lực cho sự phát triển các ngành dịch vụ (giáo dục đào tạo, y tế, giao thông, bưu chính viễn thông, văn hóa nghệ thuật, khoa học công nghệ, quản lý nhà nước, quốc phòng, thương mại, du lịch ) có xu hướng tăng nhanh

+ Nhu cầu nhân lực cho việc xuất khẩu lao động đã qua đào tạo

+ Nhu cầu nhân lực cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

+ Nhu cầu nhân lực kỹ thuật cao cho sự phát triển một số ngành mũi nhọn được lựa chọn trong tương lai [18]

Vì vậy, việc xác định nhu cầu sử dụng lao động với những ngành nghề

cụ thể của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tại địa phương có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn

b Nhu cầu học nghề của lao động nông thôn

Nhu cầu học nghề: những đòi hỏi và mong muốn của con người cần được học nghề, thể hiện cảm giác thiếu hụt nghề nào đó mà người lao động

Trang 31

cảm nhận được Nhu cầu học nghề được hình thành là do trạng thái ý thức của người lao động về việc thấy thiếu một nghề nào đó để phục vụ cho bản thân

mình cũng như đáp ứng nhu cầu của xã hội

Các nghề đào tạo cho lao động nông thôn được chia thành hai lĩnh vực chính: lĩnh vực nông nghiệp và lĩnh vực phi nông nghiệp Vì vậy, khi tiến hành đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần phải khảo sát, đánh giá chi tiết nhu cầu học nghề của người lao động nông thôn để tiến hành đào tạo nghề cho hiệu quả

1.2.2 Xác định ngành nghề đào t o cho ao động nông thôn

Dựa trên kết quả điều tra nhu cầu sự dụng LĐNT qua ĐTN và nhu cầu của các đối tượng LĐNT học nghề, trên cơ sở phân tích các yếu tố về KT –

XH, đặc điểm của LĐNT theo từng vùng miền và từng thời điểm khác nhau

để xác định ngành nghề đào tạo của LĐNT, nhằm tạo cơ hội tìm được việc làm bao gồm cả việc làm tự tạo và việc làm nhận lương, làm công Tổng hợp

từ kết quả điều tra nhóm đối tượng LĐNT trẻ cho thấy có khoảng 64% số LĐ

có nhu cầu được đào tạo trung cấp, 22% LĐ cần trình độ sơ cấp và khoảng 15% LĐ muốn đạt trình độ CĐ-ĐH trở lên [28] (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Kết quả điều tra ngành nghề đào tạo của LĐNT

Trang 32

Các ngành nghề phi NN đòi hỏi trình độ LĐ cao hơn NN Đối với lĩnh vực ngành nghề Nông – Lâm – Thủy sản, nhu cầu được đào tạo sơ cấp của LĐNT chiếm 37.5%, đào tạo trung cấp chiếm 52.5%, và CĐ-ĐH trở lên chiếm khoảng 10% Đối với các ngành nghề CN- Xây dựng, nhu cầu đào tạo trung cấp chiếm 75%, CĐ-ĐH trở lên chiếm khoảng 11.4% và sơ cấp chỉ chiếm 13.6% Trong ngành dịch vụ, nhu cầu đào tạo CĐ-ĐH trở lên đạt khá cao 22.9%, đào tạo trung cấp chiếm 56.3% và sơ cấp chiếm 20.8%

Như vậy, kết quả điều tra trên phản ánh thực tế cần xác định cơ cấu chương trình ĐTN cho LĐNT ở các cấp trình độ đào tạo với các kỹ năng phù hợp Các ngành nghề cần xác định đào tạo và cũng là mong muốn được đào tạo của LĐNT như: trồng trọt, chăn nuôi, công nhân kỹ thuật, xây dựng, KT, tiểu thủ CN….Những ngành có tỷ lệ mong muốn cao như: trồng trọt, chăn nuôi, công nhân kỹ thuật (chiếm tới hơn 20% mỗi loại nghề) Tiếp đến là các loại nghề dệt may và KT, các loại nghề khác có nhu cầu đào tạo không đáng

kể

1.2.3 Lựa chọn phương thức đào t o nghề cho ao động nông thôn

Đối với nhóm đối tượng LĐNT đào tạo để có thể làm NN hiện đại, do đặc thù của sản xuất NN, người nông dân làm việc theo mùa vụ, nên các khoá đào tạo cần gắn với việc vừa học, vừa làm việc của người nông dân, hoặc phải lựa chọn thời gian nông nhàn của người dân để tổ chức khoá học cho phù hợp Mặt khác, do tính đa dạng của vật nuôi, cây trồng NN, các khoá học nên được tổ chức gắn với thời kỳ sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng Điều này

đòi hỏi việc xây dựng chương trình đào tạo phải rất linh hoạt và khoa học

Để nâng cao hiệu quả đào tạo, việc tổ chức các khoá học với các hình thức và phương thức khác nhau đối với LĐNT rất quan trọng ( khái quát lại là các mô hình ĐTN) ĐTN cho LĐNT có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như dạy tại các cơ sở dạy nghề; ĐTN theo đơn đặt hàng của

Trang 33

các tập đoàn, Tổng công ty; ĐTN lưu động (tại xã, thôn, bản); ĐTN tại doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ; ĐTN gắn với các vùng chuyên canh, làng nghề; Phương thức đào tạo cũng cần phải đa dạng hoá, phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện của từng vùng, miền , như đào tạo tập trung tại cơ sở dạy nghề đối với những nông dân chuyển đổi nghể nghiệp ( trung tâm dạy nghề, trường trung cấp, cao đẳng nghề, các trường khác có tham gia dạy nghề ); ĐTN lưu động cho nông dân làm nông dân hiện đại tại các làng, xã, thôn, bản; ĐTN tại nơi sản xuất, tại hiện trường theo kiểu FFS ( Farmer Fiel Schools) [20]

1.2.4 Đánh giá kết quả đào t o

Đánh giá: quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những lượng giá về

bản chất và phạm vi của kết quả học tập hay thành tích đạt được so với các tiêu chí và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra theo tiêu chuẩn đào tạo, làm cơ sở để cấp văn bằng chứng chỉ cho người đó [14]

Để đánh giá kết quả cần phải đánh giá chương trình đào tạo để xác định xem nó có đáp ứng được mục tiêu đưa ra không (nghĩa là hiệu quả làm việc của người học có thay đổi theo hướng mong muốn không), và những thay đổi

về hiệu quả đó của học viên có thể kết luận là do chương trình đào tạo mang lại không

Trong quá trình đào tạo, việc kiểm tra, đánh giá là một khâu cơ bản, là một nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường Việc xác nhận trình độ hay công nhận trình độ được thực hiện sau khi và trên cơ sở kiểm tra, đánh giá được đưa ra theo yêu cầu xác định trong tiêu chuẩn hay mục tiêu dạy học

Trong hoạt đầu tư vào vốn con người, đặc biệt khi đầu tư vốn con người vào LĐNT (Hỗ trợ ĐTN cho LĐNT), một khi chúng ta đầu tư, hỗ trợ cho LĐNT học nghề đúng thời điểm, đúng giai đoạn thì hiệu quả mang lại với kết quả cao Nếu LĐNT được ĐTN sớm và đúng độ tuổi khi đó LĐNT sẽ sớm

Trang 34

nhận được kiến thức kỹ năng lúc trẻ, điều đó giúp cho kết quả đào tạo là LĐNT tự tạo ra việc làm, tăng năng suất trong hoạt động nghề nghiệp, cải tiến

kỹ thuật và quản lý hiệu quả hơn [16]

Kết quả của ĐTN cho LĐNT là tạo cho họ có một nghề để có thể tự tạo việc làm trong NN ( tăng năng suất LĐ) hoặc tìm được việc làm phi NN ( ở

NT hoặc ngoài NT) Nói cách khác, kết quả của việc ĐTN cho LĐNT là đào tạo gắn với giải quyết việc làm cho người LĐ Đây là vấn đề cốt lõi đối với ĐTN cho LĐNT, nhất là đối với nhóm LĐ cần phải chuyển sang làm trong lĩnh vực phi NN, CN Nếu không gắn được với việc làm thì người nông dân

sẽ không tham gia học nghề nữa và nguồn lực xã hội sẽ bị lãng phí Do đó, trong quá trình ĐTN rất cần thiết có sự kết hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất để họ một mặt tham gia vào quá trình đào tạo; mặt khác có thể tạo cơ hội cho người học được tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp từ khi còn học và sau khi học nghề xong là có thể làm việc được ngay với nghề nghiệp của mình

1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội

Điều kiện tự nhiên các vùng có tác động đến sự phân bố LĐ, chất lượng

LĐ từ đó có ảnh hưởng đến công tác ĐTN Thông thường giữa các vùng, miền trong một nước cũng có sự phân bổ LĐNT không đều Vùng đồng bằng dân số, LĐNT thường cao hơn vùng miền núi Những vùng có số dân và LĐ

ít chủ yếu rơi vào các vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lại thường có trình độ phát triển thấp hơn so với các vùng KT khác

Điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết đã tạo ra các đặc điểm con người khác nhau giữa các địa phương, vùng, miền dẫn đến có những đặc điểm khác

Trang 35

nhau giữa LĐ các vùng, miền như LĐ thuộc các dân tộc khác nhau, LĐ ở các vùng sinh thái khác nhau, LĐ ở đồng bằng và miền núi, hải đảo,… đều có những đặc trưng về tập quán, phương thức sản xuất khác nhau Điều kiện về khí hậu, thời tiết giữa các vùng dẫn đến hệ sinh thái khác nhau, cây trồng, vật nuôi khác nhau, tạo ra nghề nghiệp, cách thức canh tác khác nhau của người

LĐ Vùng đồng bằng thường giỏi về nghề trồng lúa, vùng ven biển thường giỏi nghề thủy sản, vùng miền núi, trung du lại giỏi về nghề trồng cây CN, lâm nghiệp…Điều kiện về khí hậu, thời tiết cũng tạo ra tính chất mùa vụ khác nhau dẫn đến công việc và thời gian của LĐ làm nghề nông cũng khác nhau Điều kiện khí hậu, thời tiết làm một số vùng thường xuyên gặp bão lụt, thiên tai làm cho sản xuất hay gặp rủi ro, hơn nữa ngày công bảo vệ đê, chống bão

lũ lớn Tất cả các yếu tố về điều kiện tự nhiên đều ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức, danh mục nghề đào tạo… cho LĐNT

1.3.2 Quy mô, chất ƣợng lực ƣợng ao động và tình hình việc làm

ở nông thôn

Yếu tố học vấn và kỹ năng làm việc của LLLĐ là “nội sinh” của bản thân người LĐ, nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng học nghề trong việc kiến thức và kỹ năng nhất định; đạt được làm việc theo yêu cầu của doanh nghiệp Với trình độ KH - CN ngày một phát triển, phát triển và mở rộng kinh doanh, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn LLLĐ có trình độ học vấn và tay nghề cao, tính chuyên nghiệp cao Tình trạng LĐ thiếu đào tạo hay đào tạo chưa đầy đủ đang phổ biến hiện nay ở các vùng NT hiện nay là hiệu quả từ chất lượng của LĐNT

Để công tác ĐTN cho LĐNT đạt hiệu quả, LĐNT cần có một điều kiện

đó là phải có trình độ học vấn nhất định Điều kiện này có sự khác biệt đáng

kể giữa các ngành nghề đào tạo mà người LĐ mong muốn học nghề cho bản thân Như đối với ĐTN trong lĩnh vực NN, điều kiện học vấn chỉ đòi hỏi ở

Trang 36

mức tốt nghiệp THCS (chiếm 64%), đối với ngành CN và dịch vụ thì điều kiện về học vấn cao hơn, tối thiểu là tốt nghiệp THPT (chiếm 61%), đối với việc làm trong ngành dịch vụ thì điều kiện về học vấn đòi hỏi cao nhất (gần 80% yêu cầu tối thiểu tốt nghiệp THPT) Điều này thể hiện, muốn giúp cho người LĐNT học nghề và công tác tạo việc làm trong từng lĩnh vực mà họ mong muốn thì Nhà nước cần có kế hoạch và chương trình ĐTN cơ bản theo

đúng điều kiện, đòi hỏi về học vấn mà họ cần phải có để tạo được việc làm

1.3.3 Cơ sở vất chất cho đào t o nghề và đội ngũ giáo viên

Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề: Mạng lưới trường đào tạo nghề ở nước

ta bao gồm: các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề, các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có dạy nghề, một số trường đại học có dạy nghề, các cơ sở dạy nghề tư nhân đã đăng ký và chưa đăng ký, các hộ gia đình

+ Đội ngũ cán bộ công nhân viên đào tạo nghề: là yếu tố chủ đạo trong quá trình đào tạo Thông qua việc sử dụng các phương pháp, phương tiện đào tạo thích hợp và thông qua chính nhân cách của mình, đội ngũ cán bộ công nhân viên đào tạo nghề chỉ đạo và trực tiếp tác động lên quá trình cải biến nhân cách của người học [14]

Trang 37

Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý tại các cơ sở dạy nghề là chủ thể trong quá trình đưa lĩnh vực ĐTN phát triển theo yêu cầu của xã hội Do đặc điểm của đối tượng học nghề, hình thức đào tạo và chương trình đào tạo, nên đòi hỏi người giáo viên dạy nghề cần phải nắm rỏ đặc điểm tâm lý người học, vùng miền, kiến thức phổ thông và kỹ năng thực hành nghề thực tế…

Mặc dù Nhà nước đã nhận thấy được đồng nghĩa với việc qui hoạch mạng lưới cơ sở DN, tăng cường cơ sở vật chất thì công tác giáo viên là một trong những khâu quan trọng trong ĐTN, nhưng năm 2009 có 8.447 giáo viên dạy nghề ở các Trung tâm dạy nghề, để thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề cho LĐNT năm 2010 thì còn thiếu khoảng 2.900 người Một số nguyên nhân giáo viên dạy nghề thiếu đó là:

- Một số người được huy động tham gia dạy nghề có tay nghề chưa cao, kinh nghiệm ít nên không đáp ứng được yêu cầu của khóa học; trong khi đó có những người mặc dù có tay nghề cao nhưng chưa có bằng cấp hoặc chứng chỉ công nhận

là nghệ nhân, người lao động giỏi , nên không được huy động tham gia dạy nghề cho LĐNT

- Thiếu nguồn kinh phí trong việc chi trả lương (Chưa có qui định về phụ cấp đứng lớp rõ ràng cho giáo viên dạy nghề), trong việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên dẫn đến số lượng và chất lượng giáo viên chưa tốt

- Chương trình đào tạo và đối tượng học nghề chưa thực sự hấp dẫn đến người dạy nghề

- Chương trình, giáo trình đào tạo nghề: là hệ thống các môn học và bài học được dạy, cho thấy những kiến thức nào, kỹ năng nào cần được dạy và dạy trong bao lâu Chương trình đào tạo nghề bao gồm:

+ Mô-đun là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức chuyên môn,

kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một

Trang 38

nghề

+ Chương trình khung quy định về cơ cấu nội dung, số lượng, thời lượng các mô-đun, môn học, tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, bảo đảm mục tiêu cho từng ngành nghề đào tạo

Điều này đòi hỏi các cơ sở DN cùng với các cơ quan quản lý DN cần sớm nghiên cứu để có một lực lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đủ chuẩn khi tham gia vào lĩnh vực ĐTN

1.3.4 Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu ao động

a Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyến dịch cơ cấu là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo thời gian

từ trạng thái và trình độ này tới một trạng thái và trình độ khác phù hợp với

sự phát triển KT-XH và các điều kiện vốn có nhưng không lặp lại trạng thái

cũ [3]

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo ra sự chuyển dịch rất lớn đối với lao động nông thôn, từ dịch chuyển kỹ năng đến dịch chuyển nghề nghiệp, dịch

chuyển nơi sinh sống:

- Chuyển dịch kỹ năng: Từ nông dân sản xuất truyền thống sang nông dân

sản xuất hiện đại

- Chuyển dịch nghề nghiệp: Từ lao động nông nghiệp sang lao động phi

nông nghiệp ở nông thôn

- Chuyển dịch nghề nghiệp và nơi làm việc: Từ lao động nông nghiệp hoặc

lao động phi nông nghiệp ở nông thôn trở thành lao động công nghiệp tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nông thôn

- Chuyển dịch nghề nghiệp và nơi sinh sống: Từ lao động nông thôn

chuyển thành lao động công nghiệp, dịch vụ ở các đô thị (mới và cũ)

- Tạo ra một dòng di dân quốc tế mới, thông qua xuất khẩu lao động hoặc

ra định cư ở nước ngoài với người thân [29]

Trang 39

Do những yêu cầu chuyển dịch như trên đòi hỏi người lao động nông thôn phải có một nghề nghiệp thích ứng, do đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn đóng vai trò quan trọng hiện nay Vì vậy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ảnh hưởng lớn đến đào tạo nghề cho lao động, đặc biệt là lao động nông thôn

b Thị trường lao động

Thị trường lao động: tập hợp những quan hệ kinh tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn đề chỗ việc làm cụ thể, nơi mà hàng hóa và dịch vụ sẽ

được làm ra [6]

Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, là nơi cung cấp nhân công đắc lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp Tuy nhiên, thực tế hiện nay các doanh nghiệp không tuyển đủ số lao động có tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ cần thiết, trong khi đó lao động phổ thông, đặc biệt lao động nông thôn không có việc làm lại dư thừa khá nhiều Nguyên nhân chủ yếu ở đây là

do thị trường lao động tại khu vực này chưa phát triển, dẫn đến người nông dân không có được thông tin về những ngành nghề cho nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, điều này đồng nghĩa với việc tham gia học nghề của người nông dân thấp Vì vậy, công tác dự báo thị trường lao động có vai trò rất quan trọng đối với việc đào tạo nghề hiện nay Nó là công đoạn đầu tiên trước khi tiến hành triển khai đào tạo nghề

Trang 40

quy định pháp luật cũng như các chính sách này có tác dụng bước đầu tạo môi trường, hành lang pháp lý và chính sách thuận lợi để phát triển mạnh công cuộc ĐTN cho người LĐ, nâng cao khả năng tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch LĐNT, NT

- Tác động tích cực của hệ thống chính sách đến công tác ĐTN

Theo các báo cáo tổng kết và đánh giá của LĐ – TB & XH, Tổng cục Dạy nghề và một số các nghiên cứu khác của các Bộ ngành, các tổ chức trong nước và quốc tế về hoạt động DN ở Việt Nam, trong giai đoạn vừa qua, hệ thống chính sách liên quan đến lĩnh vực ĐTN đã được quan tâm phát triển khá đồng bộ và đã bao quát mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi vùng miền đã phần nào thúc đẩy được công tác ĐTN phát triển, đạt được những thành tựu đáng khích lệ Ðến nay, đã hình thành hệ thống ĐTN chính quy với ba cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề) và dạy nghề thường xuyên (không chính quy), thay thế ĐTN ngắn hạn và dài hạn; chuyển dần sang ĐTN theo định hướng cầu của thị trường LĐ và việc làm của người LĐ Mạng lưới cơ sở ĐTN được phát triển nhanh, rộng khắp trên toàn quốc Tính đến cuối năm 2010, cả nước có 123 trường cao đẳng nghề, 303 trường trung cấp nghề (tăng gấp 3,29 lần so với năm 1998); số trung tâm dạy nghề là 810 (tăng 5,18 lần) và hơn 1.000 cơ sở khác có tham gia dạy nghề, trong đó có gần 200 cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp Quy mô ĐTN tăng nhanh; trong

đó, ĐTN trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề (ĐTN dài hạn) tăng 4,77 lần (từ 75,6 nghìn lên 360 nghìn); nâng tỷ lệ LĐ qua ĐTN năm 2010 là 30%

[5]

Theo báo cáo của Bộ LĐ – TB & XH năm 2010, cả nước đã hỗ trợ ĐTN cho khoảng 345.140 người theo chính sách của Đề án từ nguồn kinh phí NSNN (kế hoạch đầu năm là 400.000 người), trong đó khoảng 48,6% học các nghề NN; khoảng 51,4% học các nghề phi NN Tỷ lệ có việc làm sau học

Ngày đăng: 23/11/2017, 23:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hoàng Xuân Bang (2006), Tình hình lao động và việc làm 5 năm đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình lao động và việc làm 5 năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Hoàng Xuân Bang
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2006
[3] Bùi Quang Bình (2009), Giáo trình kinh tế phát triển, Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Bùi Quang Bình
Năm: 2009
[4] Bùi Quang Bình (2010), “Vốn con người và đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các tỉnh Duyên hải Nam trung bộ”, Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng, (số 6), 154-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn con người và đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các tỉnh Duyên hải Nam trung bộ”, "Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng
Tác giả: Bùi Quang Bình
Năm: 2010
[5] Phan Thủy Chi (2008), Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các trường Đại học khối Kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình Hợp tác Đào tạo Quốc tế, Luận án Tiến sĩ Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các trường Đại học khối Kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình Hợp tác Đào tạo Quốc tế
Tác giả: Phan Thủy Chi
Năm: 2008
[6] Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động-cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động-cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Đức Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2005
[8] Cục thống kê tỉnh Trà Vinh (2012), “Niên giám thống kê 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Niên giám thống kê 2012
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Trà Vinh
Năm: 2012
[9] Trần Kim Dung (2011), Quản trị nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Tổng hợp, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Kim Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp
Năm: 2011
[10] Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 2011
[13] Lê Thế Giới (chủ biên), Nguyễn Xuân Lãn, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Thị Loan (2011), Quản trị học, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị học
Tác giả: Lê Thế Giới (chủ biên), Nguyễn Xuân Lãn, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Thị Loan
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2011
[14] Vũ Xuân Hùng (2010), Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo trong hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phó vụ trưởng vụ chính sách-pháp chế, Tổng cục dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo trong hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tác giả: Vũ Xuân Hùng
Năm: 2010
[16] Đoàn Văn Khải (2005), Nguồn lực con người trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Văn Khải
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận Chính trị
Năm: 2005
[17] Nguyễn Thị Như Liêm (1997), Giáo trình Marketing căn bản, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo trình Marketing căn bản
Tác giả: Nguyễn Thị Như Liêm
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1997
[18] Nguyễn Văn Nam - Nguyễn Văn Áng (2007), Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH ở Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Nam - Nguyễn Văn Áng
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2007
[19] Trần Thị Nhung - Nguyễn Duy Dũng (2005), Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay
Tác giả: Trần Thị Nhung - Nguyễn Duy Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2005
[21] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật Dạy nghề, Nhà xuất bản Lao động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dạy nghề
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2007
[23] Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt Nam-hôm nay và mai sau, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt Nam-hôm nay và mai sau
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2008
[24] Võ Xuân Tiến (2008), “Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế – kỹ thuật và ngành công nghiệp cao trên địa bàn thành phố ĐN” – Đề tài NCKH cấp thành phố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế – kỹ thuật và ngành công nghiệp cao trên địa bàn thành phố ĐN”
Tác giả: Võ Xuân Tiến
Năm: 2008
[25] Võ Xuân Tiến (2008), Quản trị nguồn nhân lực, Tập bài giảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Võ Xuân Tiến
Năm: 2008
[26] Võ Xuân Tiến (2010), “ Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”, Tập chí khoa học Đại học Đà Nẵng số 5 (40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”
Tác giả: Võ Xuân Tiến
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w