1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản tại công ty TNHH kiểm toán và tư vấn S & S

145 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 668,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1 Khái quát về công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S 49 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S 49 2.2 Thực trạng việc áp dụng các kỹ thuật thu

Trang 1

TRẦN THỊ YẾN PHƯỢNG

Tên đề tài:

CHỨNG TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN S&S

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 3

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Đường Nguyễn Hưng

Đà Nẵng - Năm 2012

Trang 4

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, ngày…… tháng… năm 2012

Tác giả

Trần Thị Yến Phượng

Trang 5

TrangTrang phụ bìa

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG

TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN

12

1.2 Các thủ tục kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán 23

1.4 Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC 28 1.5 Vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản 31

Trang 6

2.1 Khái quát về công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S 49 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư

Vấn S&S

49

2.2 Thực trạng việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử

nghiệm cơ bản tại công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S

57

2.2.2 Thực trạng việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử

nghiệm cơ bản tại công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S

60

2.2.2.1 Các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản đối

với khoản mục doanh thu

61

2.2.2.2 Các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản đối

với đối với khoản phải thu khách hang

70

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC

KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN

TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN S&S

86

3.1.1.1 Đối với kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản 86

3.1.2.1 Đối với kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản 88

3.2.1 Đối với kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

PHỤ LỤC

Trang 7

Chữ viết tắt Nội dung

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Trang 8

Số hiệu

bảng

1.1 Ví dụ về mối quan hệ giữa CSDL, mục tiêu kiểm toán chung và

mục tiêu kiểm toán đặc thù

17

1.2 Tóm tắt việc lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp (1) 351.3 Tóm tắt việc lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp (2) 351.4 Mối quan hệ giữa kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán và

mục tiêu kiểm toán

38

1.5 Ví dụ về mục tiêu kiểm toán, kỹ thuật thu thập bằng chứng và

bằng chứng cần thu thập trong thử nghiệm chi tiết số dư khoản

phải thu khách hàng tại một khách hàng

39

1.6 Ví dụ về mục tiêu kiểm toán, kỹ thuật thu thập bằng chứng và

bằng chứng thu thập đối với khoản doanh thu tại một khách

hàng

41

2.1 Thống kê số lượng khách hàng của công ty và số lượng khách

hàng được lựa chọn để khảo sát theo nhóm lĩnh vực hoạt động

kinh doanh

59

2.2 Các kỹ thuật thu thập bằng chứng được áp dụng trong thử

nghiệm chi tiết đối với khoản mục doanh thu

66

2.3 Các kỹ thuật thu thập bằng chứng được áp dụng trong thử

nghiệm chi tiết đối với khoản phải thu khách hàng

74

2.4 Số lượng phần tử được lựa chọn để thử nghiệm trong thử

nghiệm chi tiết đối với khoản mục doanh thu

80

2.5 Số lượng phần tử được lựa chọn để thử nghiệm trong thử

nghiệm chi tiết đối với khoản phải thu khách hàng

82

3.2 Mẫu giấy tờ làm việc của thủ tục “kiểm tra chi tiết và đối chiếu

với sổ chi tiết và sổ cái”

103

3.3 Mẫu giấy tờ làm việc liên quan đến việc xác định, thực hiện và

theo dõi mức trọng yếu

105

3.4 Mẫu giấy tờ làm việc liên quan đến việc lựa chọn phần tử thử 109

Trang 10

Số hiệu

hình vẽ

2.2 Đồ thị mô tả mức độ áp dụng các kỹ thuật trong thủ tục phân

tích đối với khoản mục doanh thu

62

2.3 Các nhân tố ảnh huởng đến việc lựa chọn các kỹ thuật phân

tích đối với khoản mục doanh thu của KTV

64

2.4 Chi tiết việc áp dụng kỹ thuật kiểm tra tài liệu đối với khoản

mục doanh thu

66

2.5 Các nhân tố ảnh huởng đến quyết định của KTV trong việc lựa

chọn kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản

đối với khoản mục doanh thu

69

2.6 Đồ thị mô tả mức độ áp dụng các kỹ thuật trong thủ tục phân

tích đối với khoản phải thu khách hàng

2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của KTV trong việc lựa

chọn kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm chi tiết

đối với khoản phải thu khách hàng

78

2.10 Phương pháp lựa chọn các phần tử thử nghiệm trong thử

nghiệm chi tiết đối với khoản mục doanh thu

81

2.11 Phương pháp lựa chọn các phần tử thử nghiệm khi áp dụng kỹ

thuật “xác nhận” đối với khoản phải thu khách hàng

84

2.12 Phương pháp lựa chọn các phần tử thử nghiệm khi áp dụng kỹ

thuật “kiểm tra tài liệu” và “tính toán” đối với khoản phải thu

khách hàng

85

Trang 11

MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt Nam đang ngày càng phát triển Yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng cao đòi hỏi các công ty kiểm toán phải cân nhắc trong việc lựa chọn các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán Việc nên chọn những kỹ thuật nào cho từng giai đoạn kiểm toán và áp dụng chúng ra sao cho phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp được kiểm toán để đạt được hiệu quả kinh doanh và chất lượng dịch vụ cao nhất đã và đang là vấn đề đang được nhà quản lý các doanh nghiệp kiểm toán, các KTV và trợ lý kiểm toán rất quan tâm, đặc biệt là các tập thể, cá nhân hoạt động tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ Đó là lý do tác giả chọn nghiên cứu về đề tài kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán tại một công

ty kiểm toán vừa và nhỏ

Việc khảo sát, nghiên cứu các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán đang được các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên cả nước áp dụng trong các giai đoạn của quá trình kiểm toán đối với tất cả các khoản mục trong BCTC chắc chắn sẽ đem lại kết quả và ý nghĩa cao hơn Tuy nhiên, do thời gian có hạn, tác giả chỉ chọn tìm hiểu về kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán do một công ty kiểm toán vừa và nhỏ áp dụng trong một giai đoạn của quá trình kiểm toán và đối với một vài khoản mục cụ thể

Công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S (công ty S&S) là một công ty kiểm toán có quy mô vừa và nhỏ đặt trụ sở tại Tp Hồ Chí Minh Tại công ty, thử nghiệm

cơ bản là thủ tục kiểm toán chủ yếu Do vậy, qua việc khảo sát các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong thử nghiệm cơ bản, tác giả nghĩ rằng mình có thể hình dung một các khá bao quát về kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong công

ty

Thêm vào đó, là một trong những doanh nghiệp kiểm toán nhỏ, còn non trẻ, các

kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán đang được công ty áp dụng có thể chưa thật

sự hoàn thiện Việc khảo sát, nghiên cứu vì thế có thể đóng góp một ý kiến nhằm

Trang 12

nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh của công ty nói riêng, của các đơn vị kiểm toán vừa và nhỏ nói chung.

Vì những lý do trên, tác giả xin chọn đề tài: “Kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản tại công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S” để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trong đề tài nghiên cứu của mình, tác giả hướng đến 02 mục tiêu sau:

Một là, khảo sát các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán đang được công ty S&S áp dụng trong thử nghiệm cơ bản khi thực hiện kiểm toán BCTC

Hai là, đưa ra nhận xét và ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản khi thực hiện kiểm toán BCTC tại công ty

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Những câu hỏi cần được trả lời trong đề tài nghiên cứu này bao gồm:

Một là, đối với khoản mục được chọn để khảo sát (khoản mục doanh thu và khoản phải thu khách hàng), khi thực hiện thử nghiệm cơ bản, các KTV của công ty S&S thường sử dụng những kỹ thuật thu thập bằng chứng nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định của KTV khi lựa chọn những kỹ thuật đó?

Hai là, đối với khoản mục được chọn để khảo sát (khoản mục doanh thu và khoản phải thu khách hàng), các KTV của công ty đã lựa chọn phần tử thử nghiệm như thế nào?

Ba là, cần có những giải pháp nào để hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản và để hoàn thiện kỹ thuật lựa chọn các phần tử thử nghiệm đối với khoản mục được chọn để khảo sát (khoản mục doanh thu và phải thu khách hàng) tại công ty?

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm

toán được các KTV của công ty S&S áp dụng khi thực hiện các thử nghiệm cơ bản đối với khoản mục doanh thu và phải thu khách hàng

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

Trang 13

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hồ sơ kiểm toán được công ty thực hiện trong mùa kiểm toán năm 2012 Số lượng hồ sơ khảo sát là 30 hồ sơ.

Công ty hiện có trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh và 01 chi nhánh tại Hà Nội Tuy nhiên, doanh thu từ trụ sở chính chiếm khoảng ba phần tư trong tổng doanh thu của công ty Hơn nữa, trụ sở chính là nơi quyết định các vấn đề liên quan đến chương trình kiểm toán của công ty Do vậy, việc phỏng vấn và khảo sát hồ sơ kiểm toán sẽ được tiến hành ở trụ sở chính của công ty tại thành phố Hồ Chí Minh

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là phương pháp nghiên cứu thực chứng, cụ thể là tác giả sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn và điều tra để thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan đến các kỹ thuật thu thập bằng chứng và việc lựa chọn các phần tử thử nghiệm trong thử nghiệm cơ bản Trên cơ sở phân tích những kết quả có được từ việc phỏng vấn và điều tra, tác giả sẽ đưa ra những nhận xét và giải pháp nhằm hoàn thiện các các nội dung nghiên cứu nói trên

Đối tượng phỏng vấn là trưởng phòng kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán và các

KTV thực hiện việc kiểm toán khoản mục doanh thu và khoản phải thu khách hàng của những khách hàng có hồ sơ kiểm toán được chọn để khảo sát

Phương pháp phỏng vấn được áp dụng nhằm hai mục đích sau:

Một là, để nắm bắt sơ bộ về việc tổ chức công tác kiểm toán trong công ty, qua

đó xác định các nội dung sau để làm cơ sở thiết kế phiếu khảo sát hồ sơ kiểm toán:

- Đối với các khoản mục được chọn để khảo sát (khoản mục doanh thu và phải thu khách hang), khi thực hiện thử nghiệm cơ bản, KTV của công ty S&S thường sử dụng những kỹ thuật thu thập bằng chứng nào và những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định của KTV khi lựa chọn những kỹ thuật đó

- Các KTV thường lựa chọn các phần tử thử nghiệm đối với khoản mục được chọn để khảo sát (doanh thu và phải thu khách hang) như thế nào

Hai là để thu thập thêm thông tin mà khi khảo sát hồ sơ kiểm toán tác giả chưa thu thập được thông tin hoặc có thắc mắc

Trang 14

Đối tượng điều tra là các hồ sơ kiểm toán được công ty thực hiện trong mùa

kiểm toán năm 2012 của những khách hàng tại chi nhánh Tp Hồ Chí Minh của công ty bằng phiếu khảo sát Số lượng hồ sơ khảo sát là 30 hồ sơ

Mục đích của việc khảo sát là để nắm bắt được trong thực tế, khi thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với các khoản mục được khảo sát (doanh thu và phải thu khách hàng), KTV của công ty S&S đã sử dụng những kỹ thuật thu thập bằng chứng nào; các phần tử thử nghiệm đã được các KTV của công ty lựa chọn như thế nào

Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển Các công ty được thành lập ngày càng nhiều, các loại hình kinh doanh, đầu tư ngày càng đa dạng, thị trường chứng khoán ngày càng phát triển… đã làm cho nhu cầu về sự chính xác của các thông tin tài chính ngày càng tăng Yêu cầu của xã hội

về chất lượng của dịch vụ kiểm toán vì thế ngày càng cao Chỉ bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ của mình thì các công ty kiểm toán mới có thể tạo được chỗ đứng cho mình trên thị trường, giữ vững được niềm tin đối với khách hàng và từ đó mới có thể tiếp tục phát triển

Thực chất của kiểm toán BCTC là quá trình sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng theo đúng qui định nhằm thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về mức

độ thỏa mãn mục tiêu kiểm toán Chất lượng của kiểm toán BCTC quan trọng nhất

là ở chỗ đưa ra ý kiến kiểm toán có phù hợp hay không Do vậy, kỹ thuật thu thập bằng chứng là một yếu tố có tính chất quyết định rất lớn đến ý kiến kiểm toán, đến chất lượng của BCTC được kiểm toán Việc hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng vì thế sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng công tác kiểm toán BCTC

Qua việc nghiên cứu đề tài này, tác giả hy vọng rằng mình có thể đưa ra được một bức tranh về thực trạng việc thực hiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong khi thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với khoản mục doanh thu và khoản phải thu khách hàng tại công ty S&S Qua đó, các KTV của công ty S&S nói riêng, của các

Trang 15

công ty kiểm toán vừa và nhỏ nói chung có thể nhìn vào và biết được những ưu điểm và những tồn tại trong phương pháp kiểm toán của mình

Đồng thời, mặc dù sẽ còn nhiều hạn chế, song tác giả cũng mong muốn sẽ đưa

ra được một số phương hướng nhằm hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản đối với khoản mục doanh thu và phải thu khách hàng và nhằm hoàn thiện phương pháp lựa chọn các phần tử thử nghiệm tại công ty S&S Tác giả hy vọng rằng những giải pháp này có thể góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm toán BCTC, nâng cao chất lượng của báo cáo kiểm toán tại công ty

Từ đó sẽ góp phần nâng cao uy tín và vị thế cạnh tranh của công ty S&S nói riêng, các công ty kiểm toán vừa và nhỏ nói chung trên thương trường

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Cho đến thời điểm này, chưa có đề tài nghiên cứu nào về kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản tại công ty S&S

Hiện tại, cũng chưa có luận văn thạc sĩ nào viết về đề tài kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán

Ở một vài website trên mạng internet hiện có một số chuyên đề, luận văn tốt nghiệp đại học cũng viết về đề tài này Các luận văn này đã mô tả khá hoàn chỉnh

kỹ thuật thu thập bằng chứng đối với một vài khoản mục trong BCTC Tuy nhiên, các đề tài chỉ dừng lại ở việc mô tả lại cách kiểm tra các tài khoản kế toán của một khách hàng cụ thể một cách chung chung mà chưa thực hiện việc khảo sát đối với nhiều khách hàng được kiểm toán, do vậy, chưa thể hiện được kết quả làm việc chung của cả công ty kiểm toán

Thêm vào đó, trong các bài luận văn tốt nghiệp đại học này cũng chưa thể hiện được sự gắn kết giữa các kỹ thuật kiểm toán được mô tả với các mục tiêu kiểm toán

cụ thể Vì vậy, tính hữu hiệu của việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng cũng chưa được đề cập, đánh giá và xây dựng một cách toàn diện

Trong các khóa luận này cũng chưa có sự phân nhóm khách hàng được kiểm toán khi áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán Do vậy, tính khoa học của các đề tài này chưa được cao và ít thuyết phục được người đọc

Trang 16

Ngoài ra, để phục vụ cho bài viết, tác giả đã tham khảo các tài liệu sau:

- Giáo trình Kiểm Toán của Bộ Môn Kiểm Toán, Khoa Kế Toán – Kiểm Toán trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, do nhà xuất bản Lao Động – Xã Hội xuất bản vào quý I/2009

Đây là giáo trình của trường đại học Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh Trong giáo trình này đã trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến bằng chứng kiểm toán, các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán cũng như kỹ thuật kiểm toán các khoản mục cơ bản trong BCTC

- Giáo trình Lý Thuyết Kiểm Toán của Học Viện Tài Chính do TS Nguyễn Viết Lợi và Ths Đậu Ngọc Châu chủ biên, do nhà xuất bản Tài Chính xuất bản quý III/2007

Đây là giáo trình của trường Học viện Tài Chính Trong giáo trình này, ngoài các khái niệm cơ bản liên quan đến kiểm toán, phân loại kiểm toán…tác giả của giáo trình cũng đã trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến bằng chứng kiểm toán, các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán cũng như kỹ thuật kiểm toán các khoản mục cơ bản trong BCTC

- Giáo trình Kiểm Toán, Lý Thuyết Và Thực Hành của ThS Phan Trung Kiên,

Bộ Môn Kiểm Toán, Khoa Kế Toán trường Đại học kinh tế Quốc Dân, do nhà xuất bản Tài Chính xuất bản vào quý IV/2006

Tương tự như hai giáo trình trên, giáo trình này cũng đề cập đến nhiều khái niệm mang tính nền tảng của kiểm toán Tác giả đã tham khảo trong giáo trình này các nội dung liên quan đến bằng chứng kiểm toán, các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán, các yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá tính đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán Tác giả cũng đã tham khảo các kỹ thuật thu thập bằng chứng

áp dụng đối với các khoản mục liên quan đến đề tài của mình

- Sách Auditing của tác giả Alvin A.Arens, dịch giả Đặng Kim Cương, do Nhà

xuất bản Thống Kê Hà Nội xuất bản năm 2000

Trong giáo trình này, tác giả Alvin A.Arens đã giới thiệu những vấn đề xoay quanh lĩnh vực kiểm toán từ khái niệm tổng quát Tác giả đã đề cập đến cách thức

Trang 17

kiểm toán theo các chu trình nghiệp vụ Tác giả đã tham khảo cách thức kiểm toán các chu trình bán hàng và thu tiền.

Ngoài ra, tác giả còn tham khảo:

- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Chuẩn mực kiểm toán là quy định về các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đó trong quá trình kiểm toán BCTC Chuẩn mực kiểm toán là các quy định làm mực thước, là cơ sở cho kiểm toán viên chuyên nghiệp và công ty kiểm toán kiểm tra, đánh giá các thông tin tài chính một cách trung thực, khoa học và khách quan Chuẩn mực kiểm toán đồng thời là cơ sở cho việc chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán

Trong hệ thống chuẩn mực này, tác giả đã tham khảo các chuẩn mực sau:

Chuẩn mực số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC

Trọng tâm tham khảo của tác giả là nội dung mục tiêu kiểm toán BCTC

Chuẩn mực số 500 “Bằng chứng kiểm toán” Chuẩn mực đề cập đến các khái

niệm cơ bản về bằng chứng kiểm toán, các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán Tác giả đã tham khảo tất cả các nội dung thuộc chuẩn mực này

Chuẩn mực số 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác”.

Bằng chứng kiểm toán được thu thập bằng sự kết hợp thích hợp giữa các thủ tục kiểm toán Chuẩn mực này đã đề cập đến các thủ tục kiểm toán, các rủi ro trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán và các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán Tác giả đã tham khảo các nội dung chủ yếu liên quan đến phương pháp thu

thập bằng chứng kiểm toán

- Chương trình kiểm toán mẫu do VACPA ban hành

Chương trình kiểm toán mẫu được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được cơ cấu lại và các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành hoặc đang trình Bộ Tài chính ban hành mới, có hiệu lực từ 15/12/2009

Chương trình kiểm toán mẫu này là tài liệu hướng dẫn, được thiết kế nhằm trợ giúp các công ty kiểm toán, KTV Việt Nam trong việc tuân thủ Chuẩn mực kiểm

Trang 18

toán quốc tế và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, áp dụng đối với các cuộc kiểm toán cho doanh nghiệp độc lập thuộc ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ Các công ty có thể dựa vào Chương trình kiểm toán mẫu này để phát triển cho các cuộc kiểm toán của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề khác (trừ tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…có thể sử dụng hạn chế); áp dụng cho các doanh nghiệp không có sự phụ thuộc ở mức độ cao vào công nghệ thông tin trong hoạt động cũng như công tác kế toán và lập BCTC.

Chương trình kiểm toán mẫu này có thể áp dụng cho cuộc kiểm toán doanh nghiệp chưa niêm yết, đã niêm yết, hoặc soát xét BCTC giữa kỳ với những điều chỉnh phù hợp

Mục tiêu chính của Chương trình kiểm toán mẫu này là giải thích, minh họa giúp công ty kiểm toán và KTV hiểu rõ hơn về việc thực hiện kiểm toán để tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, nhưng không nhằm mục đích thay thế các Chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và các hướng dẫn có liên quan

Tác giả đã tham khảo ở chương trình kiểm toán mẫu này các nội dung liên quan đến việc kiểm toán khoản mục doanh thu, nợ phải thu

- Qui trình kiểm toán BCTC, tài liệu đào tạo nội bộ của công ty S&S

Trong các tài liệu này, Tác giả đã tham khảo các quy định liên quan đến chương trình kiểm toán chung của công ty, chương trình kiểm toán các khoản mục doanh thu, nợ phải thu cũng như các hướng dẫn về phương pháp lựa chọn các phần tử thử nghiệm…

- Các tài liệu thu thập trên website http ://www.vacpa.org.vn và http

http:// www.webketoan.com,http://www.mof.gov.vn

Các website này cung cấp và cập nhật các thông tin liên quan đến kiểm toán

CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Cấu trúc của luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản

Trang 19

Trong chương này, tác giả sẽ trình bày những cơ sở lý luận về kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản khi kiểm toán BCTC như: tổng quan về kiểm toán BCTC, các thủ tục kiểm toán, bằng chứng kiểm toán, các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC, vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản và kỹ thuật lựa chọn phần tử thử nghiệm.

Chương 2: Thực trạng việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản tại công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S.

Trong chương này, tác giả sẽ mô tả những kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong thử nghiệm cơ bản và phương pháp lựa chọn các phần tử thử nghiệm được các KTV của công ty S&S thực tế áp dụng đối với khoản mục được lựa chọn khảo sát (khoản mục doanh thu và phải thu khách hàng)

Chương 3: Một số nhận xét và kiến nghị về việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản tại công ty TNHH Kiểm Toán Và Tư Vấn S&S.

Trong chương này, tác giả sẽ trình bày những nhận xét có được của mình từ kết quả khảo sát thực tế và đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện những kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong thử nghiệm cơ bản và hoàn thiện phương pháp lựa chọn các phần tử thử nghiệm đối với khoản mục được khảo sát tại công ty

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG

TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN 1.1 Tổng quan về kiểm toán BCTC

1.1.1 Khái niệm kiểm toán BCTC

Theo luật kiểm toán độc lập được Quốc hội khoá 12 thông qua ngày 29/3/2011,

“Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán”

Trong kiểm toán BCTC, đối tượng kiểm toán chủ yếu là các BCTC Do BCTC bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành nên chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán BCTC Ngoài ra, cơ sở đánh giá của kiểm toán BCTC còn bao gồm cả các quy định pháp lý khác có liên quan đến quá trình tổ chức và hoạt động kinh doanh của đơn vị như những quy định về trao đổi, mua bán sản phẩm, quản lý lao động, vật tư, nghĩa

vụ với ngân sách

Kết quả của kiểm toán BCTC là các báo cáo kiểm toán, trong đó nêu rõ ý kiến của KTV về mức độ trung thực và hợp lý của BCTC được kiểm toán Ngoài ra, kết quả kiểm toán còn có thể gồm cả thư quản lý, trong đó, nêu lên những tồn tại trong việc thiết lập và vận hành HTKSNB, trong việc tổ chức công tác kế toán và lập BCTC ở đơn vị, đồng thời đề xuất hướng khắc phục để đơn vị nâng cao chất lượng của BCTC

Kết quả của kiểm toán BCTC có thể phục vụ cho đơn vị, nhà nước và các bên thứ ba nhưng chủ yếu là phục vụ cho những bên thứ ba như các cổ đông, nhà đầu

tư, ngân hàng để họ đưa ra những quyết định kinh tế của mình

1.1.2 Vai trò của kiểm toán BCTC

BCTC của doanh nghiệp được rất nhiều đối tượng quan tâm, sử dụng và những đối tượng đó luôn muốn có được những thông tin đáng tin cậy nhằm giúp họ đánh

Trang 21

giá về thực trạng tài chính của doanh nghiệp để ra các quyết định kinh tế Thế nhưng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường chứng khoán thì khả năng nhận được những thông tin không đáng tin cậy cũng gia tăng Rủi ro về thông tin gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau chẳng hạn như:

- Động cơ của người cung cấp thông tin Người cung cấp thông tin thường có

xu hướng trình bày thông tin theo chiều hướng thuận lợi nhất cho mình Ví dụ như khi doanh nghiệp muốn tối thiểu hoá số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, các thông tin về doanh thu, lợi nhuận có thể sẽ bị khai giảm giả tạo hay không được cung cấp đầy đủ Ngược lại, khi doanh nghiệp muốn bán cổ phần để thu hút cổ đông, các thông tin về doanh thu, lợi nhuận có thể sẽ bị khai tăng giả tạo

- Sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin Trong nền kinh tế hiện đại, người sử dụng thông tin khó có thể tiếp cận trực tiếp với thông tin tại đơn vị mà họ đầu tư, chọn làm đối tác kinh doanh hay chọn để ra các quyết định kinh tế khác Điều này làm tăng rủi ro có thông tin bị sai lệch khi được cung cấp cho người sử dụng

- Lượng thông tin phải xử lý và độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế gia tăng, nhất là khi hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, quy mô của các tổ chức ngày càng lớn

Chính vì thế, cần có những giải pháp để làm giảm rủi ro, ví dụ như:

- Người sử dụng thông tin tài chính sẽ trực tiếp kiểm tra thông tin Cách này thường được áp dụng trong một số trường hợp, ví dụ như khi các KTV thuế xác minh về số thuế của một doanh nghiệp Tuy nhiên, cách này lại rất khó áp dụng đối với đa số người sử dụng vì sẽ rất tốn kém về chi phí, gây trở ngại cho đơn vị và nhất

là đòi hỏi kiến thức chuyên môn và kỹ năng kiểm tra của người thực hiện

- Tăng cường trách nhiệm pháp lý của hội đồng quản trị hay ban giám đốc Họ

là những người đại diện chính thức của doanh nghiệp trước các cổ đông và pháp luật nên pháp luật thường bắt buộc họ phải chịu trách nhiệm về độ tin cậy của những thông tin tài chính do họ công bố Tuy nhiên, giải pháp này không thể là một

Trang 22

giải pháp kịp thời và hiệu quả một khi các thành viên này cố ý cung cấp những thông tin không chính xác cho người sử dụng vì động cơ trục lợi cho mình.

- Bắt buộc BCTC phải được kiểm toán bởi những KTV độc lập Lúc này, KTV độc lập có trách nhiệm kiểm tra và cung cấp nhận xét về BCTC và họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu nhận xét không xác đáng về BCTC

Trong các giải pháp trên thì cách “bắt buộc BCTC phải được kiểm toán bởi những KTV độc lập” được xem là có hiệu quả nhất vì với kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và sự độc lập của mình, KTV sẽ cung cấp sự đánh giá xác đáng về độ tin cậy của BCTC, đồng thời, giúp tiết kiệm chi phí kiểm tra cho đông đảo người sử dụng BCTC

Như vậy, đứng dưới góc độ xã hội, hoạt động kiểm toán BCTC, khi được luật pháp quy định, đã trở thành một công cụ hữu hiệu để tăng cường sự minh bạch, lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, thúc đẩy sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là đối với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện tại Như vậy, ta có thể nói rằng, nếu như kế toán cung cấp thông tin cho người

sử dụng thì kiểm toán đem lại niềm tin cho những người sử dụng các thông tin đó.Thêm vào đó, đối với những nhà quản lý doanh nghiệp, kiểm toán tạo nên giá trị gia tăng cho các BCTC Dựa trên cơ sở những quan sát trong khi thực hiện kiểm toán BCTC, KTV độc lập có thể trình bày những đề xuất để nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm soát và của bản thân các hoạt động trong đơn vị được kiểm toán

1.1.3 Mục tiêu của kiểm toán BCTC

Đối tượng của kiểm toán BCTC là các BCTC và các sổ sách, tài liệu kế toán Dựa trên các bằng chứng thu thập được, đối chiếu với các tiêu chuẩn, chuẩn mực và những quy định pháp lý về kế toán và các quy định khác có liên quan, KTV phải đưa ra được ý kiến của mình về mức độ trung thực và hợp lý của BCTC được kiểm toán Do vậy, mục tiêu tổng quát của kiểm toán BCTC “là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và

Trang 23

có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” [4, đoạn 11]

Ngoài ra, mục tiêu của kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy được những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị

Để đạt được mục tiêu tổng quát nói trên, KTV sẽ thực hiện các thủ tục kiểm toán để đánh giá rằng có sai lệch trọng yếu trong các chỉ tiêu được trình bày trong BCTC của đơn vị hay không Đây chính là mục tiêu chung của kiểm toán BCTC Mục tiêu chung của kiểm toán BCTC được đặt ra dựa vào các cơ sở dẫn liệu của BCTC

Cơ sở dẫn liệu là những giải trình (hoặc khẳng định) của các nhà quản lý để chứng minh về các dữ liệu được trình bày trên BCTC CSDL được hình thành xuất phát từ trách nhiệm của các nhà quản lý đối với việc soạn thảo, trình bày và công bố BCTC theo đúng với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 (VSA 500) “Bằng chứng kiểm toán” xác định các CSDL của BCTC bao gồm:

- Hiện hữu: một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC thực tế phải tồn

tại (có thực) vào thời điểm lập báo cáo

- Quyền và nghĩa vụ: một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC, đơn

vị phải có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo

- Phát sinh: một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải đã xảy ra và có

liên quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét

- Đầy đủ: toàn bộ tài sản, các khoản nợ, nghiệp vụ hay giao dịch đã xảy ra có

liên quan đến BCTC phải được ghi chép hết các sự kiện liên quan

- Đánh giá: một tài sản hay một khoản nợ phải được ghi chép theo giá trị thích

hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận)

- Chính xác: một nghiệp vụ hay một sự kiện được ghi chép theo đúng giá trị

của nó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và đúng về toán học

Trang 24

- Trình bày và công bố: các khoản mục được phân loại, diễn đạt và công bố phù

hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận)

[5, đoạn 14]

Từ các mục tiêu kiểm toán chung này, tùy thuộc vào từng khoản mục kiểm toán

cụ thể mà các KTV thiết lập các mục tiêu kiểm toán đặc thù cho từng khoản mục Dưới đây là ví dụ về mối quan hệ giữa CSDL, mục tiêu kiểm toán chung và mục tiêu kiểm toán đặc thù:

Bảng 1.1: Ví dụ về mối quan hệ giữa CSDL, mục tiêu kiểm toán chung và mục

tiêu kiểm toán đặc thù

CSDL Mục tiêu

kiểm toán

chung

Mục tiêu kiểm toán đặc thù

khách hàng được phản ánh trên BCTC phải thực tế tồn tại tại thời điểm lập BCTC

hàng được phản ánh trên BCTC thuộc quyền sở hữu của đơn vị và đơn vị có quyền được thu các khoản này vào thời điểm lập BCTC

Đầy đủ Đầy đủ Các nghiệp vụ liên quan đến

doanh thu thuộc về đơn vị trong thời kỳ xem xét đều phải được ghi nhận và báo cáo

Các khoản phải thu khách hàng liên quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét đều phải được ghi nhận và báo cáo

Phát sinh Phát sinh Các nghiệp vụ liên quan đến

doanh thu chỉ được ghi nhận

Trang 25

-khi nó có liên quan đến đơn vị

và xảy ra trong thời kỳ xem xét

Đánh giá Đánh giá Giá trị của các nghiệp vụ liên

quan đến doanh thu phải được ghi nhận theo giá trị thích hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ

kế toán hiện hành

- Các khoản phải thu khách hàng được ghi chép theo đúng giá trị thuần

- Các khoản nợ phải thu có gốc ngoại tệ phải được quy đổi theo tỷ giá quy định tại ngày lập BCTC

Các khoản phải thu khách hàng phải được ghi nhận đúng về toán học, đúng số tiền, đúng kỳ, thống nhất giữa sổ chi tiết và tổng hợp

và chỉ tiêu tương ứng trên BCĐKT

- Phân loại đúng khoản phải thu khách hàng

- Các khoản phải thu khách hàng đem đi cầm cố, thế chấp phải được thuyết minh đầy đủ thông tin

1.1.4 Qui trình kiểm toán BCTC

Qui trình tổng thể cho kiểm toán BCTC gồm 03 giai đoạn: giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn kết thúc kiểm toán

1.1.4.1 Lập kế hoạch kiểm toán

Để đảm bảo cuộc kiểm toán có hiệu quả, mọi cuộc kiểm toán cần phải được lập

kế hoạch kiểm toán Việc lập kế hoạch kiểm toán một cách đúng đắn sẽ giúp KTV

Trang 26

thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, giúp giữ chi phí kiểm toán ở mức hợp lý và để tránh những bất đồng với khách hàng.

Phạm vi kế hoạch kiểm toán thay đổi tùy theo quy mô khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, kinh nghiệm và hiểu biết của KTV về đơn vị và hoạt động của đơn vị được kiểm toán Các phần việc chính trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán bao gồm:

- Những công việc chuẩn bị trước khi lập kế hoạch: trước khi lập kế hoạch

kiểm toán cần quyết định việc chấp nhận khách hàng mới hoặc tiếp tục với khách hàng cũ, nhận diện các lý do kiểm toán của khách hàng, đạt được hợp đồng kiểm toán và bố trí nhân sự cho cuộc kiểm toán

- Thu thập thông tin cơ sở: Các thông tin cơ sở như ngành nghề kinh doanh,

lĩnh vực kinh doanh, các bên liên quan là những thông tin hết sức cơ bản cho việc tiến hành kiểm toán Đồng thời, ở nội dung này còn phải đánh giá nhu cầu sử dụng chuyên gia bên ngoài trong những tình huống cần thiết

- Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng: Những thông tin này

được thu thập thông qua việc tìm hiểu điều lệ công ty, các quy chế của công ty khách hàng, các biên bản họp ban giám đốc và hội đồng quản trị

- Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ: Sau khi đã đạt được các thông tin theo

các nội dung trên cần thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ nhằm để hiểu biết về ngành nghề kinh doanh và công việc kinh doanh của khách hàng, đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động kinh doanh, chỉ ra các sai phạm có thể và giảm công việc kiểm tra chi tiết

- Đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro kiểm toán có thể chấp

nhận được, thiết lập mức trọng yếu để làm cơ sở xây dựng chương trình kiểm toán

- Xây dựng chương trình kiểm toán Chương trình kiểm toán thực chất là một

tập hợp các thủ tục kiểm toán chỉ dẫn cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán theo các CSDL cụ thể, trong đó xác định cả quy mô mẫu, phần tử lựa chọn và thời gian thực hiện cho mỗi thủ tục kiểm toán

1.1.4.2 Thực hiện kiểm toán

Trang 27

Đây là quá trình KTV sử dụng phương pháp, thủ tục kiểm toán để thu thập những bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và thích hợp nhằm làm cơ sở cho ý kiến nhận xét của KTV Nội dung chi tiết của các phương pháp, thủ tục kiểm toán sẽ được đề cập cụ thể ở nội dung sau

1.1.4.3 Kết thúc kiểm toán

Sau khi các công việc ở hai giai đoạn trên được thực hiện, cần thiết phải tổng hợp kết quả và phát hành báo cáo kiểm toán Nội dung chủ yếu ở giai đoạn này gồm: soát xét những khoản nợ tiềm ẩn, soát xét các sự kiện phát sinh sau niên độ, đánh giá kết quả làm việc để xác định loại báo cáo kiểm toán phù hợp, phát hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý Báo cáo kiểm toán về BCTC được tiêu chuẩn hóa

và sử dụng rộng rãi

1.1.5 Các phương pháp kiểm toán

1.1.5.1 Các phương thức tiếp cận kiểm toán

Từ những năm 1900, mục đích kiểm toán đã chuyển từ phát hiện và ngăn chặn các gian lận sang xác nhận về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC Để đáp ứng mục tiêu này, KTV không nhất thiết phải kiểm tra tất cả các nghiệp vụ phát sinh Các phương thức tiếp cận kiểm toán cũng đã biến đổi như sau:

- Tiếp cận kiểm toán theo BCĐKT: Phương thức này tiếp cận dựa trên phương

trình kế toán: Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả Tiếp cận kiểm toán theo BCĐKT là kiểm toán các khoản mục tài sản và nợ phải trả như tiền mặt, nợ phải thu, tài sản dài hạn, các khoản nợ phải trả mà không chú trọng đến các khoản mục trên BCKQHĐKD Đến nay, phương thức này vẫn được sử dụng khi kiểm toán các doanh nghiệp nhỏ, có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém

- Tiếp cận kiểm toán theo chu trình nghiệp vụ: theo phương thức tiếp cận này,

với việc kiểm tra quá trình xử lý các nghiệp vụ thường xuyên, KTV có thể giảm bớt việc kiểm tra các khoản mục trên BCĐKT, có nghĩa là KTV phải tăng cường việc kiểm tra các thủ tục kiểm soát trong các chu trình nghiệp vụ

- Tiếp cận kiểm toán theo phân tích rủi ro tài chính: Một trong những đặc điểm

của phương thức này là thủ tục phân tích được áp dụng trong mọi giai đoạn của

Trang 28

cuộc kiểm toán để xác định xem liệu các xu hướng và các mối quan hệ tài chính hay các hoạt động có hợp lý không Cách tiếp cận này đòi hỏi KTV phải xem xét một cách thận trọng những vấn đề về rủi ro và trọng yếu trong quá trình chuẩn bị chương trình kiểm toán cho từng chu trình nghiệp vụ của doanh nghiệp Chương trình kiểm toán phải nhấn mạnh vào những khu vực có rủi ro cao và các khoản mục trọng yếu trong cuộc kiểm toán.

- Tiếp cận kiểm toán theo rủi ro kinh doanh chiến lược: Theo phương thức này,

KTV phải hiểu các rủi ro kinh doanh chiến lược mà khách hàng đang gặp phải bên cạnh những hiểu biết về rủi ro tác động đến việc xử lý và ghi chép các nghiệp vụ KTV sẽ không còn tập trung vào các nghiệp vụ thường xuyên dựa trên giả định rằng các nghiệp vụ này thường được kiểm soát chặt chẽ bởi HTKSNB của khách hàng Thay vào đó, KTV sẽ tập trung kiểm tra các nghiệp vụ bất thường, những ước tính

kế toán và các đánh giá của nhà quản lý vì đây là những vấn đề có thể tạo nên các sai lệch trọng yếu trên BCTC

1.1.5.2 Các phương pháp kiểm toán

Có các phương pháp kiểm toán khác nhau dựa vào các quan điểm khác nhau Theo quan điểm xem xét quá trình kiểm toán có dựa vào các số liệu, sổ sách do

hệ thống kế toán của đơn vị xử lý và cung cấp hay không Theo quan điểm này, phương pháp kiểm toán bao gồm phương pháp kiểm toán chứng từ và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ

- Phương pháp kiểm toán chứng từ: đặc trưng của phương pháp này là các thử

nghiệm và kiểm tra đều dựa vào hệ thống sổ sách, chứng từ của đơn vị được kiểm toán

- Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ: đặc trưng của phương pháp này là

việc thực hiện các thử nghiệm và kiểm tra trong quá trình kiểm toán không dựa vào

hệ thống sổ sách, chứng từ của đơn vị được kiểm toán

Theo quan điểm phân loại phụ thuộc vào việc xem xét quá trình kiểm toán có dựa vào HTKSNB của đơn vị được kiểm toán hay không Theo quan điểm này,

Trang 29

phương pháp kiểm toán bao gồm phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ.

- Phương pháp kiểm toán cơ bản: đặc trưng của phương pháp này là việc tiến hành các thử nghiệm, các đánh giá đều được dựa vào các số liệu, các thông tin trên BCTC và hệ thống sổ sách của đơn vị

- Phương pháp kiểm toán tuân thủ: đặc trưng của phương pháp này là các thử

nghiệm và kiểm tra đều dựa vào các quy chế kiểm soát trong HTKSNB của đơn vị được kiểm toán Nếu HTKSNB được đánh giá là hiện hữu và hữu hiệu, KTV có thể tin tưởng thì công việc kiểm toán có thể và cần dựa vào các quy chế kiểm soát

1.2 Các thủ tục kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

Như đã đề cập ở phần 1.1.4, một cuộc kiểm toán BCTC thường trải qua 03 giai đoạn Mỗi giai đoạn có mỗi vai trò khác nhau, nhưng có thể nói rằng, giai đoạn thực hiện kiểm toán là giai đoạn có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của báo cáo kiểm toán

Thực hiện kiểm toán là quá trình các KTV thực hiện các thủ tục kiểm toán để thu thập các bằng chứng kiểm toán nhằm làm cơ sở để đưa ra những ý kiến kiểm toán của mình Các thủ tục kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán bao gồm thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản Trình tự thực hiện hoặc kết hợp thực hiện giữa các thử nghiệm này trước hết tùy thuộc vào nhận định ban đầu của KTV

về HTKSNB của đơn vị

1.2.1 Thử nghiệm kiểm soát

Thử nghiệm kiểm soát là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và HTKSNB [5, đoạn 6]

Thử nghiệm kiểm soát được áp dụng trong trường hợp nhận định ban đầu của KTV về HTKSNB của đơn vị là tốt Đây là loại thủ tục kiểm toán được KTV áp dụng nhằm thu thập bằng chứng về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của

hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ Nếu kết quả của thử nghiệm này cho thấy rằng HTKSNB của đơn vị thực sự tốt như nhận định ban đầu của KTV thì

Trang 30

KTV có thể giảm bớt các thử nghiệm cơ bản Trong trường hợp ngược lại, KTV sẽ tăng cường các thử nghiệm cơ bản

1.2.2 Thử nghiệm cơ bản

Thử nghiệm cơ bản là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán liên quan đến BCTC nhằm phát hiện ra những sai sót trọng yếu làm ảnh hưởng đến BCTC [5, đoạn 7]

Thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết

Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, thủ tục phân tích được các KTV sử dụng

để so sánh các thông tin và nghiên cứu các xu hướng nhằm phát hiện ra các biến động bất thường, từ đó dự đoán nguyên nhân và khoanh vùng rủi ro Thủ tục phân tích cũng được sử dụng để kiểm tra tính hợp lý chung của số dư hay nghiệp vụ Trong thử nghiệm chi tiết, KTV đi sâu vào kiểm tra các số dư, nghiệp vụ để phát hiện ra các sai sót trọng yếu trong các khoản mục, các chỉ tiêu được trình bày trong BCTC

1.3 Tổng quan về bằng chứng kiểm toán

1.3.1 Khái niệm bằng chứng kiểm toán

Bằng chứng kiểm toán là một trong những khái niệm quan trọng của kiểm toán

"Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do KTV thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này KTV hình thành nên ý kiến của mình " [5, đoạn 5]

Khái niệm trên đã chỉ rõ đặc tính cơ bản của BCKT và quan hệ của BCKT với kết luận kiểm toán Đặc tính cơ bản của BCKT đó là BCKT có tính đa dạng BCKT bao gồm các tài liệu, chứng từ, sổ sách kế toán, BCTC và các tài liệu, thông tin từ những nguồn khác

Quan hệ của BCKT với kết luận kiểm toán đó là BCKT là cơ sở hình thành của

ý kiến kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán đã yêu cầu: “KTV và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về BCTC của đơn vị được kiểm toán”

Trang 31

Nội dung trên cho thấy không phải bằng chứng nào cũng là cơ sở cho ý kiến của KTV mà đó phải là những bằng chứng thỏa mãn những tiêu chuẩn nhất định

Đó là các yêu cầu của bằng chứng kiểm toán sẽ được đề cập ở nội dung 1.3.3

1.3.2 Vai trò của bằng chứng kiểm toán

BCKT có vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra ý kiến, quyết định của KTV

về BCTC của đơn vị kiểm toán BCKT là cơ sở để chứng minh cho ý kiến của KTV trên báo cáo kiểm toán và là một trong những yếu tố quyết định độ chính xác và rủi

ro trong ý kiến của KTV Một khi KTV không thu thập đầy đủ và không đánh giá đúng các bằng chứng thích hợp thì KTV khó có thể đưa ra một nhận định chính xác

về đối tượng được kiểm toán Sự thành công của cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập và sau đó là đánh giá bằng chứng của KTV

Trong trường hợp có xảy ra tranh chấp, kiện tụng giữa công ty kiểm toán với người sử dụng thông tin trên BCTC được kiểm toán thì BCKT còn là cơ sở để cơ quan chức năng kiểm tra, đánh giá lại công việc của KTV và công ty kiểm toán

1.3.3 Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán

Như đã đề cập ở nội dung 1.3.1, không phải bằng chứng nào cũng là cơ sở cho

ý kiến của KTV mà các bằng chứng đó phải là những bằng chứng thỏa mãn những tiêu chuẩn nhất định Đó là những tiêu chuẩn về mặt chất lượng và số lượng Hai khái niệm thích hợp và đầy đủ được sử dụng để chỉ về hai yêu cầu này

1.3.3.1 Thích hợp

Thích hợp là tiêu chuẩn thể hiện chất lượng, độ tin cậy của BCKT BCKT được xem là thích hợp khi nó đáng tin cậy và có liên quan đến mục tiêu kiểm toán

Để xem xét tính đáng tin cậy của BCKT, KTV cần chú ý đến các nhân tố sau:

- Nguồn gốc của BCKT: Bằng chứng có nguồn gốc càng độc lập với đơn vị sẽ càng có độ tin cậy cao Dưới đây là các loại bằng chứng được sắp xếp theo thứ tự với độ tin cậy giảm dần:

 Các bằng chứng do bên ngoài cung cấp trực tiếp cho KTV như các văn bản xác nhận nợ của khách hàng, xác nhận số dư tiền gởi của ngân hàng

Trang 32

 Bằng chứng do bên ngoài lập nhưng được lưu trữ tại đơn vị như hoá đơn của nhà cung cấp, sổ phụ của đơn vị

 Bằng chứng do đơn vị phát hành và luân chuyển ra ngoài đơn vị, sau đó trở về đơn vị như các ủy nhiệm chi đã thanh toán

 Các bằng chứng do đơn vị phát hành và luân chuyển trong nội bộ đơn

vị ví dụ như phiếu xuất kho, bảng tính lương

- Dạng BCKT: Độ tin cậy còn phụ thuộc vào dạng của BCKT, chẳng hạn như:

 Các bằng chứng vật chất và hiểu biết trực tiếp của KTV về đối tượng kiểm toán được xem là dạng bằng chứng có độ tin cậy cao nhất

 Bằng chứng tài liệu có độ tin cậy thấp hơn bằng chứng vật chất

 Bằng chứng thu thập qua phỏng vấn có độ tin cậy thấp hơn bằng chứng tài liệu

- Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị: Bộ phận nào có HTKSNB hữu hiệu thì các bằng chứng kiểm toán có liên quan đến tài liệu kế toán, quy chế kiểm soát của bộ phận đó sẽ có độ tin cậy cao hơn

- Sự kết hợp giữa các loại bằng chứng: một nhóm bằng chứng kiểm toán thu thập được từ những nguồn khác nhau, dưới dạng khác nhau nhưng cùng xác nhận như nhau về một vấn đề sẽ có độ tin cậy lớn hơn so với bằng chứng riêng lẽ và ngược lại

Bên cạnh độ tin cậy, sự thích hợp của BCKT trong các thử nghiệm cơ bản còn

đòi hỏi sự phù hợp giữa bằng chứng với mục tiêu kiểm toán mà KTV muốn xác

minh Bởi lẽ, một bằng chứng kiểm toán có thể có độ tin cậy cao nhưng vẫn không thích hợp với CSDL cần xem xét Ví dụ, thư xác nhận của khách hàng về khoản phải thu khách hàng tuy là một bằng chứng có độ tin cậy cao do được cung cấp trực tiếp cho KTV nhưng nó chỉ chứng minh rằng khoản phải thu đó là có thật (mục tiêu hiện hữu và quyền) nhưng lại không thể chứng minh cho khả năng thu hồi của khoản phải thu đó (mục tiêu đánh giá)

1.3.3.2 Đầy đủ

Trang 33

Đầy đủ là tiêu chuẩn thể hiện về số lượng bằng chứng kiểm toán Yêu cầu này liên quan đến số lượng bằng chứng cần thiết, chủ yếu là cỡ mẫu và thời gian thực hiện các thủ tục kiểm toán Một bằng chứng tuy đạt yêu cầu thích hợp nhưng sẽ không thể sử dụng làm cơ sở cho ý kiến của KTV nếu không đáp ứng yêu cầu đầy đủ.

Sự đầy đủ của bằng chứng kiểm toán là vấn đề thuộc về sự xét đoán nghề nghiệp của KTV Những nhân tố có thể ảnh hưởng đến sự xét đoán của KTV về yêu cầu đầy đủ là tính trọng yếu, mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

- Tính trọng yếu: Bộ phận nào càng trọng yếu thì càng đòi hỏi phải được quan tâm nhiều hơn và phải thu thập nhiều BCKT hơn Nếu xét dưới góc độ trọng yếu, nghĩa là số tiền sai lệch tối đa chấp nhận được, khi KTV thiết lập mức trọng yếu càng thấp thì số lượng BCKT cần thiết càng phải tăng thêm

- Mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát: Số lượng bằng chứng cần phải tăng lên ở những bộ phận hay các trường hợp có mức rủi ro tiềm tàng hoặc rủi ro kiểm soát cao Nói cách khác, khi KTV xác định mức rủi ro phát hiện chấp nhận được là thấp thì số lượng bằng chứng cần thiết sẽ tăng thêm

Điều cần lưu ý là do hạn chế tiềm tàng của cuộc kiểm toán, KTV chỉ có thể thu thập BCKT ở mức độ thuyết phục chứ không nhằm chứng minh tuyệt đối Mức độ đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán nhằm giúp KTV đưa ra các kết luận

về cuộc kiểm toán tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTV

1.4 Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, KTV có thể thu thập bằng chứng kiểm toán bằng các phương pháp: kiểm tra, quan sát, điều tra, xác nhận, tính toán và quy trình phân tích

Kiểm tra là việc soát xét chứng từ, sổ kế toán, BCTC và các tài liệu có liên quan

hoặc việc kiểm tra các tài sản hữu hình

Kỹ thuật kiểm tra gồm 02 loại: kiểm tra tài liệu và kiểm tra vật chất

Kiểm tra tài liệu bao gồm việc xem xét, đối chiếu các tài liệu, sổ sách, chứng từ

có liên quan Loại kiểm tra này thường được tiến hành theo 02 cách:

Trang 34

- Từ một kết luận có trước, KTV thu thập tài liệu để làm cơ sở cho kết luận này.

- Kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ Quy trình này có thể được tiến hành theo 02 hướng: thứ nhất, từ chứng từ gốc, kiểm tra việc ghi chép chúng trên sổ sách; thứ hai từ sổ sách, kiểm tra ngược lại các chứng từ gốc có liên quan Hai hướng kiểm tra trên sẽ cung cấp hai loại bằng chứng để thỏa mãn các mục tiêu khác nhau Việc kiểm tra từ chứng từ gốc cho đến sổ sách sẽ cho thấy các nghiệp vụ đã phát sinh đều đã được ghi vào sổ sách hay chưa (mục tiêu sự đầy đủ) Ngược lại, việc kiểm tra các nghiệp vụ khởi đầu từ sổ sách quay về chứng

từ gốc sẽ cho biết có phải các nghiệp vụ ghi trên sổ sách đều thực sự xảy ra hay không (mục tiêu sự phát sinh) Như vậy, tuỳ theo từng mục tiêu kiểm toán, KTV

sẽ chọn hướng kiểm tra khác nhau

Việc kiểm tra nói trên cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao hay thấp tuỳ thuộc vào nội dung, nguồn gốc của các bằng chứng và tuỳ thuộc vào hiệu quả của HTKSNB đối với quy trình xử lý tài liệu đó

Kiểm tra vật chất: bao gồm việc kiểm kê hoặc tham gia kiểm kê tài sản thực tế

về hàng hóa, vật tư tồn kho, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tiền mặt tồn quỹ Kỹ thuật này cho biết về sự hiện hữu của một số tài sản nhưng cần phải đi kèm với một

số bằng chứng khác để chứng minh về quyền sở hữu hoặc giá trị của chúng

Quan sát là việc theo dõi một hiện tượng, một chu trình hoặc một thủ tục do

người khác thực hiện Ví dụ như KTV quan sát việc kiểm kê thực tế hoặc quan sát các thủ tục kiểm soát do đơn vị tiến hành

Phương pháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bộ phận được kiểm toán nhưng

tự nó khó có thể cung cấp đầy đủ bằng chứng mà phải đi kèm với các thủ tục khác KTV cần chú ý rằng, việc quan sát chỉ cho bằng chứng về cách thức thực thi công việc ngay vào thời điểm quan sát chứ không chắc chắn cũng sẽ được thực hiện ở các thời điểm khác

Điều tra là việc tìm kiếm thông tin từ những người có hiểu biết ở bên trong

hoặc bên ngoài đơn vị Điều tra được thực hiện bằng việc chính thức gởi văn bản,

Trang 35

phỏng vấn hoặc trao đổi kết quả điều tra và sẽ cung cấp cho KTV những thông tin chưa có hoặc những thông tin bổ sung để củng cố các bằng chứng đã có.

Như vậy, đây là việc thu thập thông tin thông qua sự trao đổi với những người

có liên quan đến vấn đề cần tìm hiểu, ví dụ như yêu cầu người quản lý giải thích những quy định về kiểm soát nội bộ hoặc hỏi các nhân viên về việc thực hiện các quy chế này Thủ tục này quan trọng vì nó giúp cho KTV thu thập được những bằng chứng chưa có hoặc củng cố các luận cứ của mình

Xác nhận là sự trả lời cho một yêu cầu cung cấp thông tin nhằm xác minh lại

những thông tin đã có trong các tài liệu kế toán Ví dụ như KTV yêu cầu đơn vị gởi thư cho khách hàng xác nhận trực tiếp đối với số dư các khoản phải thu khách hàng Đây là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán thông qua việc liên hệ trực tiếp với bên thứ ba để nhận được phúc đáp của họ về các thông tin cụ thể ảnh hưởng đến CSDL được Ban Giám Đốc lập và trình bày trong BCTC của đơn vị được kiểm toán

Độ tin cậy của bằng chứng xác nhận từ bên ngoài phụ thuộc vào các thủ tục và thể thức KTV áp dụng khi yêu cầu xác nhận từ bên ngoài và đánh giá kết quả của thủ tục này Những nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của bằng chứng này bao gồm: tiến trình kiểm soát của KTV đối với thủ tục xác nhận và thư phúc đáp, tính chất và các hạn chế của việc phúc đáp

Tính toán là việc kiểm tra tính chính xác về mặt toán học của số liệu trên chứng

từ, sổ kế toán, BCTC và các tài liệu liên quan khác hay việc thực hiện các tính toán độc lập của KTV Ví dụ như kiểm tra việc tính toán trên các hoá đơn, kiểm tra lại những số tổng cộng từ sổ chi tiết lên sổ cái

KTV còn thu thập bằng chứng kiểm toán bằng các tính toán độc lập của mình đối với khấu hao, dự phòng nợ khó đòi Nếu xét riêng về mặt số học, kỹ thuật tính toán cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao

Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan

trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có

Trang 36

tính mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.

Mỗi kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán sẽ cung cấp những loại bằng chứng khác nhau với độ tin cậy khác nhau và từng kỹ thuật có ưu điểm và hạn chế riêng Do đó, trong nhiều trường hợp, KTV cần phối hợp sử dụng nhiều kỹ thuật để đạt được các mục tiêu kiểm toán Nói cách khác, trong từng trường hợp cụ thể, tùy theo sự xét đoán nghề nghiệp của mình, KTV sẽ chọn lựa các kỹ thuật để thu thập BCKT

1.5 Vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong thử nghiệm cơ bản

1.5.1 Trong thủ tục phân tích

Trong thủ tục phân tích, kỹ thuật tính toán và phân tích được sử dụng Trong đó,

kỹ thuật tính toán được xem như kỹ thuật hỗ trợ cho kỹ thuật phân tích

Kỹ thuật phân tích là một kỹ thuật thu thập bằng chứng có hiệu quả cao vì tốn ít thời gian, chi phí thấp nhưng có thể cung cấp bằng chứng về sự đồng bộ, hợp lý chung của số liệu, đồng thời giúp không sa vào các nghiệp vụ cụ thể

Thủ tục phân tích được áp dụng trong cả 03 giai đoạn của quá trình kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng để có thể đi đến một kết luận về sự hợp lý hay sự bất thường của số liệu

Trong thử nghiệm cơ bản, thủ tục phân tích giúp KTV nhận định được sự biến động, suy đoán nguyên nhân và nhận diện được vùng rủi ro cần phải tăng cường thử nghiệm chi tiết

1.5.1.1 Phương pháp phân tích

Có nhiều phương pháp phân tích khác nhau, dưới đây là một số phương pháp thường được sử dụng:

* Phân tích xu hướng: là quá trình phân tích những thay đổi của một số dư tài

khoản hay một loại hình nghiệp vụ giữa kỳ hiện tại và những kỳ trước đó hoặc qua nhiều kỳ kế toán

Khi phân tích xu hướng, KTV có thể áp dụng các phương pháp sau:

Trang 37

- Tính toán chênh lệch so với năm trước: theo phương pháp này, KTV lập một

bảng phân tích ngang, tính toán khoản chênh lệch giữa số liệu năm hiện hành so với số liệu đã được kiểm toán của năm trước Khi phát hiện được các biến động lớn, KTV sẽ tìm hiểu nguyên nhân và thu thập bằng chứng để hỗ trợ cho những giải thích đề ra

- Sử dụng đồ thị: để xem xét tính hợp lý và các biến động bất thường, KTV có thể sử dụng biểu đồ hay đồ thị Biểu đồ hay đồ thị phản ánh sự thay đổi hay biến động của một khoản mục hay số dư trong một thời kỳ và so với kỳ trước

* Phân tích tỷ số: là việc tính toán các tỷ số dựa trên thông tin tài chính và phi

tài chính của kỳ hiện tại, đối chiếu với các tỷ số này của kỳ trước, của các đơn vị cùng ngành hay bình quân ngành để nhận diện những điểm bất thường, những biến động lớn cần tập trung nghiên cứu

Khi phân tích tỷ số, KTV sử dụng thông tin của khách hàng, các công ty cùng ngành và các thông tin có liên quan Phương pháp này giúp hiểu rõ về môi trường hoạt động của doanh nghiệp và các rủi ro tiềm tàng, từ đó, tập trung thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung vào những vùng có rủi ro đồng thời cảnh báo về những rủi ro trong tương lai

Để lựa chọn các tỷ số cần tính toán, KTV phải nghiên cứu tổng thể thông tin, khoản mục hay BCTC Các tỷ số thường được chọn để tính là các tỷ số ít thay đổi theo thời gian hay ít biến đổi giữa các doanh nghiệp Thông thường, KTV có thể sử dụng các tỷ số sau:

- Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán: cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của đơn vị Các tỷ số có thể được sử dụng bao gồm:

Tỷ số thanh toán hiện hành = Tổng tài sản / Nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán nhanh = (Tài sản ngắn hạn – HTK) / Nợ ngắn hạn

Tỷ số thanh toán bằng tiền = Vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn/Nợ ngắn hạn

- Nhóm tỷ số về cơ cấu tài chính: cho biết cơ cấu nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của đơn vị Các tỷ số có thể được sử dụng bao gồm:

Tỷ số nợ = Tổng nợ / Tổng tài sản

Trang 38

Tỷ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn

Tỷ số đầu tư = Tài sản dài hạn / Tổng tài sản

Tỷ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Lãi vay

- Nhóm tỷ số về hoạt động: phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị Các tỷ số có thể được sử dụng bao gồm:

Vòng quay HTK = Giá vốn hàng bán / HTK bình quân

Vòng quay NPT khách hàng = DT thuần / Số dư NPT khách hàng bình quân

Số ngày thu tiền bình quân = 360 / Số vòng quay NPT trong năm

Hiệu suất sử dụng TSCĐ = DT thuần / TSCĐ

Vòng quay tài sản = DT thuần / Tổng tài sản

- Nhóm tỷ số về doanh lợi: phản ánh hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo ra lợi nhuận của đơn vị Các tỷ số có thể được sử dụng bao gồm:

Tỷ lệ lãi gộp = (DT thuần - Giá vốn hàng bán) / DT thuần

Lợi nhuận trên tài sản = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản

Lợi nhuận trên VCSH = Lợi nhuận sau thuế / VCSH

* Phân tích tính hợp lý (phân tích dự báo): là phương pháp tính toán dựa trên

những dữ liệu sẵn có (kể cả dữ liệu tài chính và dữ liệu hoạt động) nhằm đưa ra một ước tính về số dư tài khoản hay một loại hình nghiệp vụ rồi so với giá trị ghi sổ của chúng nhằm phát hiện các chênh lệch bất thường cần nghiên cứu

Phương pháp này thường hiệu quả khi ước tính các số liệu trên BCKQHĐKD hơn là đối với các khoản mục trên BCĐKT, nguyên nhân là do kết quả hoạt động kinh doanh luôn có mối tương quan với số liệu hoạt động của đơn vị

Trên cơ sở các dữ liệu tài chính và dữ liệu hoạt động thu thập được, dựa vào những hiểu biết về những thay đổi chủ yếu trong hoạt động của khách hàng, KTV tính toán các giá trị ước tính để so sánh với số liệu của đơn vị, nếu có chênh lệch bất thường sẽ tìm hiểu nguyên nhân Có 02 phương pháp ước tính:

- Ước tính giá trị của khoản mục trong năm hiện hành dựa trên số liệu của khoản mục đó ở năm trước có điều chỉnh theo những thay đổi của năm nay Ví

dụ như việc ước tính doanh thu của một khách sạn trong năm hiện hành dựa

Trang 39

trên doanh thu năm trước và những thay đổi về tỷ lệ thuê phòng, đơn giá thuê phòng.

- Xây dựng mô hình dự đoán với những biến số cần thiết: theo phương pháp này, KTV có thể ước tính số dư tài khoản hay khoản mục bằng cách kết hợp với một số tài khoản hay khoản mục khác có liên quan để tính toán số liệu ước tính

Ví dụ như ước tính chi phí lãi vay bằng cách nhân số dư nợ vay hàng tháng với lãi suất bình quân

1.5.1.2 Quy trình thực hiện thủ tục phân tích

Thông thường, quy trình phân tích trải qua các giai đoạn sau:

- Lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp với mục tiêu phân tích: đây là một bước quan trọng trong quá trình vận dụng thủ tục phân tích vì nó góp phần quyết định tính hiệu quả mà thủ tục phân tích đem lại Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp, do đó, đòi hỏi KT phải thận trọng khi lựa chọn và cần phải hiểu rõ về khách hàng

Trong thực tế, việc lựa chọn thủ tục phân tích còn tùy thuộc vào xét đoán của KTV Tùy vào mục tiêu cần đạt, KTV có thể lựa chọn một trong ba hoặc kết hợp các phương pháp phân tích trên Việc lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp có thể tóm tắt như bảng sau:

Bảng 1.2: Tóm tắt việc lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp (1)

Một tài khoản, khoản mục Nhiều tài khoản, khoản mụcTrong cùng một kỳ Phân tích tính hợp lý Phân tích tỷ số

Qua 2 hay nhiều kỳ Phân tích xu hướng Kết hợp phân tích xu hướng và

tỷ sốNgoài ra, tùy theo vị trí của khoản mục trên BCTC, KTV có thể lựa chọn phương pháp thích hợp:

Bảng 1.3: Tóm tắt việc lựa chọn phương pháp phân tích thích hợp (2)

Vị trí trên BCTC Phân tích Loại thủ tục phân tích

xu hướng Phân tíchtỷ số tính hợp lýPhân tích

Trang 40

Tuy nhiên, không có một nguyên tắc cứng nhắc duy nhất nào khi lựa chọn phương pháp phân tích Mỗi phương pháp áp dụng sẽ có hiệu quả đối với từng trường hợp cụ thể Chính vì vậy, kiến thức và kinh nghiệm của KTV là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của thủ tục phân tích.

- Thu thập thông tin thích hợp: đây cũng là một khâu rất quan trọng của thủ tục phân tích Các vấn đề cần chú ý là: thứ nhất, thông tin thu thập cần phù hợp với mục tiêu phân tích; thứ hai, các thông tin thu thập từ các nguồn càng độc lập thì việc ước tính càng đáng tin cậy, kết quả phân tích sẽ càng đáng tin cậy hơn; thứ ba, trong một

số trường hợp cần thiết, trước khi sử dụng thông tin để phân tích, cần phải kiểm tra lại thông tin

- Xử lý chênh lệch phát hiện: khi so sánh số liệu, KTV sẽ có thể phát hiện được các chênh lệch Để phân biệt chênh lệch có thể bỏ qua và chênh lệch cần tập trung nghiên cứu, KTV cần xác định mức sai lệch cho phép và mức này có thể là số tuyệt đối hay số tương đối

Mức sai lệch cho phép tính theo số tuyệt đối thường dựa vào mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục đã được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Mức sai lệch cho phép tính theo số tương đối được áp dụng trong trường hợp việc sử dụng số tuyệt đối là không thích hợp

Khi so sánh các chênh lệch thực tế với mức sai lệch cho phép, có 02 trường hợp xảy ra:

Trường hợp thứ nhất, mức chênh lệch giữa số liệu ước tính với số liệu trên sổ sách thấp hơn mức sai lệch cho phép: chênh lệch này là không trọng yếu

Trường hợp thứ hai, mức chênh lệch giữa số liệu ước tính với số liệu trên sổ sách xấp xỉ hoặc lớn hơn mức sai lệch cho phép: chênh lệch này là trọng yếu

- Tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch: các chênh lệch trọng yếu cần tập trung nghiên cứu, nguyên nhân thường là do:

Ngày đăng: 23/11/2017, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w