1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại Việt Nam

16 494 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất - Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp Thương Mại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 71,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất . Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất , quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất

Trang 1

Lời mở đầu

Mỗi xã hội đợc đặc trng bằng một phơng thức sản xuất nhất định, đó là sự thống nhất giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất

t-ơng ứng Pht-ơng thức sản xuất có tiến bộ, có phù hợp thì xã hội mới phát triển phồn vinh, đất nớc mới mạnh giàu, chính vì thế việc xây dựng lực lợng sản xuất

và mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn là vấn đề trung tâm xiên suốt trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội Nó quyết

định sự tồn vong, trình độ phát triển của mỗi xã hội

Việt Nam chuẩn bị gia nhập vào WTO, con đờng hội nhập kinh tế thế giới

đầy cam go, thử thách nhng cũng tràn đầy hi vọng về một nền kinh tế phát triển

Sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố bên ngoài đặt ra yều cầu không thể duy trì phơng thức sản xuất cũ, thay vào đó cần phải từng bớc phát triển lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với thời đại, đặc biệt cần phải duy trì tốt mối quan hệ tốt giữa chúng Vậy cần phải phát huy vai trò của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất nh thế nào cho phù hợp với thời cuộc ? Làm thế nào để củng cố và duy trì mối quan hệ giữa chúng? Đó là câu hỏi lớn đặt ra cho các ngành và cho toàn xã hội

Bài tiểu luận xin đặt ra và giải quyết một khía cạnh nhỏ của mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất để phân tích hoạt động của doanh nghiệp thơng mại Việt nam trớc ngỡng cửa hội nhập

vận dụng nguyên lý về mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất

và quan hệ sản xuất - phân tích hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp thơng mại việt nam

Trang 2

Nội dung chính

A Cơ sở lý luận

1 Lực lợng sản xuất là gì?

"Lực lợng sản xuất là mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên trong quá trình sản xuất Nó thể hiện năng lực thực tiễn của con ngời của con ngời trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao

động với kỹ năng lao động của họ và t liệu sản xuất, trớc hết là công cụ lao

động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con ngời và t liệu sản xuất

tr-ớc hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lợng sản xuất."

Trong các yếu tố của lực lợng sản xuất, ngời lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng t liệu lao động, trớc hết là công cụ lao động tác động vào đối tợng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và

kỹ năng lao động của con ngời ngày càng đợc tăng lên đặc biệt là trí tuệ của con ngời không ngừng phát triển, hàm lợng trí tuệ của lao động ngày càng cao

Cùng với lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực l-ợng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất Công cụ lao động do con ngời sáng tạo ra, là sức mạnh của tri thức đã đợc vật thể hoá, nó nhân sức mạnh của con ngời trong quá trình lao động sản xuất Cùng với quá trình tích luỹ kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng đợc cải tiến và hoàn thiện Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ t liệu sản xuất Xét cho đến cùng đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội Trình độ phát triển của công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử

Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp Những phát minh khoa học đã trở thành điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới, nguyên vật liệu mới, năng lợng mới Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào trong sản xuất, trở thành một yếu tố không thể thiếu đợc của sản xuất đã làm cho lực lợng sản xuất có bớc nhảy vọt, tạo thành

Trang 3

cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đai Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trng cho lực lợng sản xuất hiện đại

2 Quan hệ sản xuất là gì ?

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu

đối với t liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra.

Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra, nhng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời Giữa ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tơng đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lợng sản xuất

Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng nh các quan hệ xã hội khác

Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất Quan hệ tổ chức và quản lý do quan hệ sở hữu quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu Tuy nhiên có trờng hợp, quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu

Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu về

t liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con ngời, nên nó tác động đến thái độ của con ngời trong lao động sản xuất, và do đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển

3 Vì sao phải xây dựng lực lợng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất

Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại với nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất-quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.

Trang 4

Sự vận động, phát triển của lực lợng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phơng thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là ‘hình thức phát triển’ của lực l-ợng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều ‘tạo

địa bàn đầy đủ’cho lực lợng sản xuất phát triển Nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối u giữa ngời lao động với t liệu sản xuất và do đó lực lợng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng đó Sự phát triển của lực lợng sản xuất

đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành ‘xiềng xích’ của lực lợng sản xuất, kìm hãm lực lợng sản xuất phát triển

Lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tơng đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lợng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con ngời trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội,

đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ … và do đó tác động đến sự và do đó tác động đến sự phát triển của lực lợng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển

Ng-ợc lại quan hệ sản xuất lỗi thời lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực l-ợng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực ll-ợng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ đợc thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất để thúc đẩy lực l-ợng sản xuất phát triển Tuy nhiên việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực ll-ợng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con ngời Trong xã hội có giai cấp phải thông qua

đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội

B Thực trạng

Nh chúng ta đã biết lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau Mối quan hệ giữa chúng quyết định đến sự phát triển của xã hội Việt Nam chuẩn bị gia nhập vào WTO, trong bối cảnh quốc tế, hóa toàn cầu hoá thì lực lợng sản xuất có những biến đổi nhất định, chính vì thế vấn đề

Trang 5

xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với nó là hết sức cấp thiết Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, bài viết xin trình bày thực trạng hoạt động và phơng hớng phát triển của doanh nghiệp thơng mại trớc ngỡng cửa hội nhập

1 Vai trò của doanh nghiệp thơng mại

Doanh nghiệp thơng mại tồn tại khách quan trong nền kinh tế và có vai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh Qua các thời kỳ phát triển của đất nớc, doanh nghiệp thơng mại đã có những đóng góp đáng kể vào việc phục vụ sản xuất, đời sống, tăng trởng kinh tế – xã hội, tự thân đã có những chuyển biến to lớn để tồn tại và phát triển Những thành công của hoạt động thơng mại sau 18 năm đổi mới đặc biệt là trong những năm gần đây ảnh hởng lớn sự phát triển của đất nớc:

Thứ nhất, sự phát triển của doanh nghiệp thơng mại đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của ngời lao động Tính từ năm 2000-2003 doanh nghiệp thơng mại đã thu hút thêm 148.800 lao động đa thu nhập bình quân của ngời lao động trong các doanh nghiệp thơng mại lên 1.196.000 đồng/ ngời/ tháng

Hai là, sự phát triển của các doanh nghiệp thơng mại đã thúc đẩy tăng tr-ởng cao và ổn định của nền kinh tế trong những năm qua Năm 2003 doanh thu của các doanh nghiệp thơng mại đạt 606.733 tỷ đồng chiếm 42.5 % tổng doanh thu của toàn bộ doanh nghiệp Việt Nam

Ba là, thông qua hoạt động của các doanh nghiệp thơng mại, các hoạt

động, các vấn đề về xã hội đợc giải quyết ngày một tốt hơn Năm 2003 mức nộp ngân sách của doanh nghiệp thơng mại đạt 25.9 % tổng thu ngân sách của toàn

bộ doanh nghiệp

Cùng với sự phát triển nhanh về số lợng doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh của hệ thống doanh nghiệp thơng mại Việt Nam tuy còn rất khiêm tốn nhng bớc đầu có những tiến bộ mang tính đột phá quan trọng

2 Thực trạng phát triển của doanh nghiệp thơng mại

Mặc dù có tiến bộ về tăng trởng và hiệu quả kinh doanh song so với nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế hệ thống doanh nghiệp thơng mại còn bộc lộ yếu kém bất cập về lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất

Về lực l ợng sản xuất:

Trang 6

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp còn mang tính tự phát, cha có quy hoạch định hớng Tính đến năm 2003

có đến 27.380 doanh nghiệp thơng mại tập trung ở những địa bàn thuận lợi, với hàng cần vốn đầu t ít chuyển đổi nhanh, lãi suất cao và rủi ro ít, còn mặt hàng với vốn đầu t lớn cần nhập khầu cho nền kinh tế lại cha đợc các doanh nghiệp tập trung đầu t xây dựng

Số lợng doanh nghiệp thơng mại lớn nhng quy mô lại nhỏ và phân tán, đi kèm với trang thiết bị lạc hậu chính vì thế hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh không cao Tỷ suất lợi nhuận/ vốn đầu t thấp, sản xuất kinh doanh thua lỗ chiếm 7.73% so với tổng doanh nghiệp trong cả nớc

Việc thực hiện chính sách đối với ngời lao động còn cha đảm bảo, lao

động trong doanh nghiệp thơng mại còn yếu về trình độ nghiệp vụ, cha có nhà quản lý, chuyên gia giỏi để kinh doanh trong và ngoài nớc Cũng có thể đề cập thêm một số yếu kém về các doanh nghiệp nh:

Doanh nghiệp nhận thức cha cao: Mặc dù doanh nghiệp của Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh, nhận thức của xã hội và doanh nhân về những lợi ích trong việc sử dụng BDS còn cha cao Các chủ doanh nghiệp, vì nhiều lý

do, thờng vẫn ngại cung cấp thông tin cho các t vấn độc lập Các doanh nghiệp nhỏ hơn thì thiếu các nguồn lực cần thiết để thu thập đợc những thông tin về các dịch vụ kinh doanh đang có trên thị trờng Nói chung là những khách hàng tiềm năng của BDS đều thiếu thông tin đầy đủ và chính xác về những dịch vụ đang

có trên thị trờng

Điều đáng mừng là gần đây từ phía Nhà nớc đã có những xu hớng tích cực hơn, thể hiện bằng việc Chính phủ ghi nhận mục tiêu phát triển BDS trong Chính sách Tăng trởng và Giảm nghèo của Việt Nam và ban hành một nghị định

về cung cấp và sử dụng dịch vụ t vấn nhằm chính thức công nhận và phát triển nghề này

Nhà cung cấp thiếu thông tin: Dữ liệu thống kê về các ngành nghề và thị trờng cụ thể của Việt Nam cha đợc hệ thống hóa và cha thống nhất Thông tin về thị trờng nớc ngoài và kinh tế thế giới, hay sách kỹ thuật chuyên môn và thông tin chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ BDS không phải lúc nào cũng có sẵn Đ ây cũng là một cản trở đáng kể vì những thông tin và công cụ này là đầu vào quan trọng để các nhà cung cấp dịch vụ BDS cung cấp đợc dịch

vụ chất lợng cao và kịp thời cho doanh nghiệp

Trang 7

Về quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất còn cha đợc mở rộng, giữa các doanh nghiệp thơng mại còn cha có sự liên kết, hợp tác cùng phát triển Hình thức kinh doanh, liên kết với nớc ngoài còn nhiều hạn chế

Với chủ trơng phát huy tối đa nội lực để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động hội nhập quốc tế, trong năm

2004 Chính phủ Việt Nam đã không ngừng cố gắng cải thiện môi trờng kinh doanh và đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ Điều này thể hiện qua một số tín hiệu khả quan nh tổng vốn đầu t nớc ngoài năm 2004 dự kiến sẽ là 4 tỷ USD,

đứng thứ ba trong khu vực, chỉ thấp hơn Singapore, Malaysia và tơng đơng với Thái Lan Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những tín hiệu đáng lo ngại nh chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trởng (Growth Competitiveness Index - GCI) của Việt Nam tụt 17 bậc và là mức tụt hạng mạnh nhất trong tất cả các nền kinh tế đợc xếp hạng so với năm 2003 Điều này gợi lên suy nghĩ rằng phải chăng Việt Nam tuy đạt đợc nhiều cải thiện về môi trờng kinh doanh, song vẫn cha đủ để duy trì

và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Hệ thống pháp luật yếu kém vẫn còn là một cản trở lớn: Theo Điều tra

về Cảm nhận của Doanh nghiệp năm 2004 do Diễn đàn Doanh Nghiệp Việt Nam thực hiện, các doanh nghiệp đợc phỏng vấn vẫn cha hài lòng với môi trờng pháp lý và chính sách hiện tại, với điểm trung bình là 2, 09 trên thang điểm tối

đa là 4, thể hiện mức nói chung không hài lòng Hệ thống pháp luật và chính sách về kinh doanh hiện nay còn nhiều mâu thuẫn và thiếu đồng bộ Mâu thuẫn không chỉ tồn tại trong bản thân các luật và chính sách mà còn xuất hiện thêm

khi các luật và chính sách mới ra đời tồn tại song song với các văn bản cũ

Việc thực thi pháp luật là một khâu yếu nhất trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Cũng trong điều tra nói trên của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt nam, các doanh nghiệp đã bày tỏ mức độ hài lòng với việc thực thi luật pháp chỉ ở mức điểm trung bình là 1, 85 trên thang điểm 4 Ví dụ, chế tài thực thi các quy

định bảo đảm hiệu lực hợp đồng của Việt Nam là một chế tài đợc coi là kém hiệu quả nhất trong khu vực Thời gian trung bình để giải quyết tranh chấp hợp

đồng ở Việt Nam là 404 ngày với 37 thủ tục và chi phí lên đến 30% GDP trên

đầu ngời - trong khi đó số liệu tơng ứng ở Thái Lan là 390 ngày, 26 thủ tục và chi phí ở mức 13,4%

Trang 8

Vẫn còn khá nhiều rào cản pháp lý: Môi trờng pháp lý thuận lợi là một

trong những tiền đề để hỗ trợ sự phát triển hiệu quả của thị trờng BDS ở Việt Nam Những cải cách pháp lý gần đây (ví dụ nh Luật Doanh nghiệp) và quá trình tự do hoá nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, đã giúp thúc đẩy thị trờng BDS ở Việt Nam từ cả phía cung và cầu Chính phủ đã có nhiều nỗ lực cải thiện môi trờng đầu t và kinh doanh để củng cố niềm tin của giới doanh nghiệp, tuy nhiên, vẫn còn có nhiều rào cản đối với thị trờng BDS ở Việt Nam Nổi bật nhất là các vấn đề nh chi phí gia nhập thị trờng quá cao đối với một số các loại hình BDS nh dạy nghề, kiểm toán và sở hữu trí tuệ Ngoài ra, vẫn có những mâu thuẫn giữa một số quy định và văn bản pháp lý với Luật Doanh nghiệp làm hạn chế những giao dịch BDS Ví dụ nh giới hạn chi phí quảng cáo

và xúc tiến thơng mại đợc phép khấu trừ thuế ở mức 10% trên tổng chi phí của doanh nghiệp có thể không khuyến khích các DNNVV sử dụng những dịch vụ này vì những chi phí vợt quá hạn mức này sẽ không đợc khấu trừ khi tính thuế

Khung pháp luật cha hoàn chỉnh

Trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã có những cố gắng đáng kể để xây dựng hệ thống pháp luật về s hu trí tu (SHTT) Bộ luật Dân sự đợc thông qua năm 1995 có một phần về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (Phần VI) và sau đó là hàng loạt các nghị định và thông t hớng dẫn thi hành đợc ban hành Tuy nhiên, SHTT chỉ là một phần nhỏ trong Bộ luật Dân sự cho nên còn chung chung và tơng đối sơ sài, bên cạnh đó nhiều văn bản hớng dẫn thi hành dới luật cha cụ thể và chi tiết Thông thờng ở các nớc phát triển, luật SHTT

là một bộ luật riêng biệt rất chi tiết, rõ ràng và đợc chia ra các nhánh cụ thể (bao gồm: quyền tác giả và sở hữu công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp ) Các doanh nghiệp Việt Nam cũng th-ờng đề cập đến một số chính sách bất cập trong việc phát triển thơng hiệu, ví dụ

nh quy định về chi phí cho hoạt động tiếp thị và quảng cáo không đợc quá 10% tổng chi phí để tính thuế thu nhập trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Cơ chế xử lý vi phạm còn quá yếu

Hiện tại, có nhiều cơ quan cùng tham gia việc thực thi bảo hộ thơng hiệu

nh Cục SHTT, Quản lý thị trờng, Công an Kinh tế, Thanh tra khoa học công nghệ, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Toà án Tuy nhiên, không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về vấn đề này Các thẩm phán thờng thiếu kiến thức chuyên môn về SHTT, vì vậy khi xét xử, phải phụ thuộc vào ý kiến của nhiều cơ

Trang 9

quan khác trớc khi đa ra phán quyết Điều này làm cho quy trình xử lý vi phạm của toà án kéo dài và không hiệu quả Do vậy, nhiều doanh nghiệp là nạn nhân của tình trạng đánh cắp và nhái thơng hiệu đã buộc phải đàm phán trực tiếp với

đối tợng vi phạm Cách giải quyết không chính thức nh thế này không những gây tốn kém về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp mà còn tạo cơ hội cho tham nhũng Nhiều doanh nghiệp cho rằng mức xử phạt hành chính đối với vi phạm thơng hiệu hiện nay từ 2 triệu đến 100 triệu đồng là còn quá thấp và không có tác dụng nhiều đến việc ngăn ngừa tình trạng làm hàng nhái hoặc hành vi đánh cắp thơng hiệu Việc xử phạt hình sự lại rất ít khi đợc áp dụng mà mức phạt cũng chỉ từ 20 đến 200 triệu đồng

Năng lực hạn chế của các cơ quan quản lý việc đăng ký và thực thi bảo

hộ SHTT

Gần đây số lợng hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đã tăng nhiều

do các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhận thức tốt hơn về tầm quan trọng của thơng hiệu Trong năm 2003, Cục SHTT đã nhận đợc tổng số gần 16.000 hồ sơ xin đăng ký sở hữu công nghiệp Hiện Cục cha có chi nhánh tại các tỉnh thành và với tổng số 140 cán bộ thì khối lợng công việc nh vậy là quá tải Vào năm 2002, Cục đã xây dựng trang web của mình, cung cấp một số thống kê cơ bản về số lợng hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệp và một số rất ít các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp Tuy nhiên trang web này vẫn cha đăng tải những thông t hớng dẫn chi tiết, những thủ tục hay biểu mẫu để ngời dùng có thể tham khảo và đăng ký, và các thông tin cha đợc cập nhật thờng xuyên

Hiểu biết hạn chế về thơng hiệu từ phía doanh nghiệp và thiếu vắng các chuyên gia giỏi về thơng hiệu

Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhận thức đợc tầm quan trọng của thơng hiệu, song việc đầu t cho thơng hiệu vẫn còn rất dè dặt Theo các chuyên gia, việc phát triển thơng hiệu là vô cùng quan trọng, cần phải có thời gian và hệ thống; trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam thờng chỉ đăng

ký nhãn hiệu khi sản phẩm của mình bán chạy trên thị trờng Một kết quả khảo sát gần đây do báo Sài Gòn Tiếp thị cho thấy: chỉ khoảng 16% doanh nghiệp có

bộ phận chuyên phụ trách công tác tiếp thị, hơn 80% doanh nghiệp không có chức danh quản lý nhãn hiệu, và 74% doanh nghiệp chỉ đầu t dới 5% doanh thu cho việc xây dựng và bảo vệ thơng hiệu

Trang 10

Không chỉ các doanh nghiệp mà các nhà cung cấp dịch vụ t vấn trong lĩnh vực này cũng ít về số lợng, thiếu kỹ năng và chuyên môn Phần lớn các công ty

t vấn chỉ đơn thuần giúp các doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu; rất ít công ty chuyên sâu về phát triển thơng hiệu Còn các công ty t vấn nớc ngoài tuy có tính chuyên nghiệp và chuyên môn cao song còn hạn chế về hiểu biết tâm lý và văn hoá bản địa nên cũng cha cung cấp đợc dịch vụ hỗ trợ hiệu quả

Hệ thống hành chính nặng nề, làm tăng chi phí cho doanh nghiệp

Trong năm qua, đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực cải cách hành chính công, một ví dụ cụ thể là cho đến tháng 10 năm 2004, mô hình Một cửa -Một dấu đã đợc triển khai ở 40% các tỉnh, 86% các huyện và 12% các xã Tuy nhiên, các thủ tục hành chính công vẫn đợc coi là một trong những yếu tố ảnh hởng chính tới môi trờng kinh doanh và những vấn đề thờng đợc nhắc đến nhiều nhất là: Thủ tục hành chính cho kinh doanh còn quá nhiều, có thủ tục không cần thiết Sự can thiệp hành chính thái quá và tuỳ tiện của các cơ quan nhà n ớc vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Tình trạng cán bộ nhà nớc sách nhiễu và gây khó khăn cho doanh nghiệp cha giảm Sự thiếu minh bạch và thiếu trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính Một ví dụ cụ thể là việc đăng ký kinh doanh, mặc dù đã có rất nhiều cải thiện kể từ khi có Luật Doanh nghiệp, nhng hiện nay để đăng ký kinh doanh

ở Việt Nam, doanh nghiệp vẫn cần phải chờ 56 ngày để hoàn thành 11 thủ tục với tổng chi phí chiếm khoảng 29% thu nhập bình quân đầu ngời /năm Cũng với công việc đó ở Singapore, doanh nghiệp chỉ cần đợi 8 ngày, hoàn thành 7 thủ tục với chi phí chiếm khoảng 1% thu nhập bình quân đầu ngời /năm

Chiến lợc phát triển thị trờng vốn của Chính phủ và khuôn khổ pháp lý liên quan còn có nhiều bất cập: Mặc dù Chính phủ đã thể hiện quyết tâm phát

triển thị trờng chứng khoán Việt Nam (qua Quyết định số 163/2003/QD-TTg ra ngày 5/8/2003 định ra các mục tiêu chiến lợc nh đa tổng giá trị thị trờng chứng khoán đạt 2-3% GDP vào năm 2005 và 10-15% GDP vào năm 2010), nhng các quy định pháp lý hiện hành cũng nh những biện pháp triển khai dờng nh lại không thống nhất với chiến lợc này Ví dụ nh theo văn bản Nhà nớc gần đây nhất về cổ phần hóa (Chỉ thị số 01 Chính phủ tháng 1 năm 2003), Nhà nớc vẫn

sẽ nắm giữ ít nhất 51% cổ phần đối với các DNNN cổ phần hóa có vốn trên 5 tỷ

đồng và sản xuất kinh doanh có lãi Nh vậy, trong số gần 2.000 DNNN nằm

Ngày đăng: 23/07/2013, 08:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w