1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước qua kho bạc Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

98 194 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 539,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN chuẩn chi.- Các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án sử dụng kinh phí NSNN gọi chung là đơn vị sử dụng NSNN phải mở tà

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHAN THỊ HỒNG THANH

KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK

LUẬN VĂN THẠC SĨ : QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2012

Trang 2

PHAN THỊ HỒNG THANH

KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK

Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng

Mã số : 60.34.20 LUẬN VĂN THẠC SĨ : QUẢN TRỊ KINH DOANH Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Nguyễn Ngọc Vũ

Đà Nẵng – Năm 2012

LỜI CAM ĐOAN

Trang 3

của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ.

Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Phan Thị Hồng Thanh

MỤC LỤC

Trang 4

1.1 CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN. 4

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm chi thường xuyên NSNN 4

1.1.2 Phân loại chi thường xuyên NSNN 6

1.1.3 Phương thức cấp phát chi thường xuyên NSNN 8

1.1.4 Điều kiện cấp phát thanh toán chi thường xuyên NSNN 9

1.1.5 Những nguyên tắc trong cấp phát, thanh toán chi thường xuyên NSNN …… ……….………… ………11

1.1.6 Vai trò chi thường xuyên NSNN 13

1.2 KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CỦA KBNN.……… 14

1.2.1 Khái niệm kiểm soát chi thường xuyên NSNN 14

1.2.2 Sự cần thiết kiểm soát chi thường xuyên NSNN 16

1.2.3 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN 18

1.2.4 Nội dung kiểm soát chi thường xuyên NSNN 20

1.2.5 Vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên 21

1.2.6 Các tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN 24

1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN 25

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CỦA KBNN ĐĂK LĂK 29

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ KBNN ĐĂK LĂK……… 29

2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển 29

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 30

2.1.3 Kết quả hoạt động trong thời gian qua 31

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CỦA KBNN ĐĂK LĂK……… ……33

Trang 5

2.2.3 Tình hình cấp phát và kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk 44

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KIỂM SOÁT CHI

THƯỜNG XUYÊN NSNN CỦA KBNN ĐĂK LĂK……….49

2.3.1 Đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của

KBNN Đăk Lăk 49 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk 51 2.3.3 Một số kinh nghiệm trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk 64 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC………… ……….…… 66

3.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KBNN ĐẾN NĂM 2020.66

3.1.1 Mục tiêu tổng quát của KBNN 66 3.1.2 Mục tiêu cụ thể của KBNN đến năm 2020 66

3.2 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN

NSNN CỦA KBNN 67

3.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT

CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CỦA KBNN ĐĂK LĂK 69

3.3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk 69 3.3.2 Nhóm giải pháp liên quan đến quy trình và nghiệp vụ kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk 73 3.3.3 Nâng cao công tác tự kiểm tra, giám sát từ xa, công tác kiểm tra, kiểm soát của đội ngũ cán bộ Thanh tra KBNN 78

Trang 6

3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM

SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CỦA KBNN ĐĂK LĂK 80

3.4.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN 80 3.4.2 Nâng cao chất lượng dự toán chi của các đơn vị sử dụng

NSNN……… 83 3.4.3 Xây dựng và áp dụng phương thức quản lý chi NSNN theo kết quả đầu ra 83 3.4.4 Cần có chế tài để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi NSNN qua KBNN 85 KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

CQTC Cơ quan Tài chính

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 8

ngân sách của KBNN Đăk Lăk giai đoạn 2004-2010 44

2.2 Số liệu cấp phát chi thường xuyên NSNN theo nhóm

mục chi của KBNN Đăk Lăk giai đoạn 2004-2010 45

2.3 Số liệu từ chối thanh toán chi thường xuyên NSNN của

2.4 Số dư tạm ứng các cấp ngân sách của KBNN Đăk Lăk

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Trang 9

2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của KBNN Đăk Lăk

31

2.2 Sơ đồ quy trình giao dịch một cửa trong kiểm soát chi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 10

2.1 Biểu đồ quy mô hoạt động KBNN Đăk Lăk giai đoạn

2.2 Biểu đồ số đơn vị và tài khoản giao dịch KBNN Đăk Lăk

2.3 Biểu đồ tỷ trọng cấp phát chi thường xuyên NSNN theo

nhóm mục chi của KBNN Đăk Lăk giai đoạn 2004-2010 46

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chi ngân sách nhà nước là công cụ chủ yếu của Đảng, nhà nước và cấp

uỷ, chính quyền cơ sở thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước

Chi NSNN ở nước ta hàng năm rất lớn nên việc tiết kiệm một phần nhỏ trong chi tiêu NSNN cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Do đó, tiết kiệm chi tiêu, nâng cao hiệu quả các khoản chi là một nhu cầu có tính nguyên tắc đối với các cấp, các ngành, các đơn vị có liên quan đến công tác quản lý và sử dụng NSNN Để góp phần nâng cao hiệu quả chi NSNN, đảm bảo chi một cách tiết kiệm, chống lãng phí cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp Một trong những biện pháp quan trọng là tăng cường kiểm soát chi NSNN qua KBNN

Thực hiện Luật NSNN năm 2002 và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN, KBNN đã không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách kiểm soát đối với các khoản chi NSNN của các đơn vị sử dụng NSNN Trong suốt quá trình triển khai thực hiện cơ chế kiểm soát chi NSNN, KBNN đã tạo nên bước đột phá để khẳng định vị trí, vai trò, chức năng của mình trong quản lý quỹ NSNN Chi NSNN ở các đơn vị sử dụng NSNN ngày càng đảm bảo tốt hơn, đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả; các khoản chi sai nguyên tắc, chế độ tài chính KBNN kiên quyết từ chối; ý thức sử dụng NSNN của các đơn vị sử dụng NSNN ngày càng nâng cao Tuy vậy, bên cạnh những thành công không thể phủ nhận, đứng trước yêu cầu cải cách tài chính công thuộc chương trình cải cách tổng thể nền hành chính nhà nước theo Quyết định 136/2001/QĐ-

Trang 12

TTg ngày 17 tháng 09 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ thì kiểm soát chi NSNN qua KBNN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng ngân sách, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong xu thế đẩy mạnh mở cửa và hội nhập quốc tế cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Mặt khác lý luận về cơ chế kiểm soát chi NSNN nói chung và KSC thường xuyên NSNN qua KBNN nói riêng trong nền kinh tế thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ để áp dụng Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài “Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về công tác KSC thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk, đề tài đánh giá một cách tổng quát công tác KSC thường xuyên NSNN, rút ra những hạn chế từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chi thường xuyên và kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

Chi thường xuyên NSNN gồm nhiều nội dung chi đa dạng và phức tạp, cho nhiều đối tượng thụ hưởng NSNN khác nhau Vì vậy, về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN, luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu về kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách cấp xã và những lĩnh vực đặc thù như an ninh, quốc phòng… không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trang 13

Về thực trạng chi và kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Đăk Lăk luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ năm

2004 đến năn 2010

Những đề xuất về phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Đăk Lăk được xem xét nghiên cứu áp dụng cho giai đoạn 2011- 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài chủ yếu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh, rút ra kết luận về những vấn đề nghiên cứu theo yêu cầu của đề tài đặt ra

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Hệ thống hoá có chọn lọc và bổ sung làm rõ thêm những vấn đề lý luận

cơ bản về chi và KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

Phân tích, đánh giá thực trạng KSC thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Đăk Lăk Từ đó, chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu, những vấn đề bất cập đang đặt ra trong KSC thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Đăk Lăk

Đề xuất giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Đăk Lăk trong thời gian tới

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chi thường xuyên và kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN

Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk

Trang 14

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk.

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN

VÀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1.1 CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm chi thường xuyên NSNN

1.1.1.1 Khái niệm chi thường xuyên NSNN

Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế,

xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường

và các hoạt động sự nghiệp khác Nói tóm lại, chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội

1.1.1.2 Đặc điểm chi thường xuyên NSNN

Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên luôn gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ Các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét Nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bổ tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý và giữa các năm trong kỳ kế hoạch

Thứ hai, cũng như các khoản chi khác của NSNN, việc sử dụng kinh

Trang 15

phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả Tính hiệu quả được xem xét trên tầm vĩ mô Với đặc điểm trên cho thấy vai trò chi thường xuyên có ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống KT-XH của một quốc gia.

Thứ ba, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội Khi nghiên cứu cơ cấu chi NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát, người ta thường phân loại các khoản chi thành 2 nhóm: Chi tích lũy và chi tiêu dùng Theo tiêu thức này thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên được xếp vào chi tiêu dùng Bởi vì, trong từng niên

độ ngân sách đó, các khoản chi chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước; về quốc phòng, an ninh; về các hoạt động sự nghiệp; các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức

Thứ tư, các khoản chi thường xuyên đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp Kết quả các hoạt động chi tiêu dùng hầu như không tạo ra của cải vật chất hoặc không gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất cho

xã hội ở mỗi năm đó Song, điều đó cũng không thể làm mất đi ý nghĩa chiến lược của một số khoản chi thường xuyên Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển Hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị – xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước

Thứ năm, phạm vi và mức độ chi thường xuyên phụ thuộc vào khả năng đảm nhận của NSNN Phụ thuộc vào phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng của nhà nước Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nên tất yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN luôn

Trang 16

phải hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước

đó

1.1.2 Phân loại chi thường xuyên NSNN

Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, các nhiệm vụ thường xuyên mà Nhà nước phải đảm nhận ngày càng tăng đã làm phong phú thêm nội dung chi thường xuyên của NSNN

Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi Nội dung của chi thường xuyên rất đa dạng và phức tạp, sự phân loại ở các nước thường không giống nhau Tuỳ thuộc vào các mục tiêu khác nhau mà có các cách phân loại khác nhau, cụ thể:

1.1.2.1 Phân loại chi thường xuyên NSNN theo mục đích sử dụng

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, chi thường xuyên bao gồm các khoản chi cụ thể sau:

- Chi cho sự nghiệp kinh tế: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý KT-XH và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi Mục đích hoạt động của đơn vị SN kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậy NSNN cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của các đơn vị này Chi SN kinh tế bao gồm:

+Chi SN nông nghiệp, SN thủy lợi, SN ngư nghiệp, SN lâm nghiệp, SN giao thông, SN kiến thiết thị chính và SN kinh tế công cộng khác

Trang 17

+ Chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp.

+ Chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính

+ Chi định canh, định cư và kinh tế mới

- Chi sự nghiệp văn hoá-xã hội: Chi SN giáo dục, đào tạo; Chi SN y tế;

SN VHTT; SN TDTT; SN phát thanh, truyền hình; SN khoa học, công nghệ

và môi trường; SN xã hội; SN văn xã khác

- Chi quản lý hành chính: Là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan HCNN thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương

- Chi về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam

- Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội CCB Việt Nam, Hội LHPN, Hội Nông dân Việt Nam

- Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước

- Chi các chương trình quốc gia

- Chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội

- Chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật

- Chi trả lãi tiền do Nhà nước vay

- Chi viện trợ cho các Chính phủ và các tổ chức nước ngoài

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

1.1.2.2 Phân loại chi thường xuyên NSNN theo tính chất kinh tế

Trang 18

Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm mục

cụ thể như sau:

- Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân gồm: tiền lương; phụ cấp lương; học bổng học sinh, sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; chi về công tác người có công với cách mạng và xã hội; chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội; các khoản thanh toán khác cho cá nhân

- Nhóm các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dịch vụ công cộng; vật tư văn phòng; thông tin tuyên truyền liên lạc; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê mướn; chi sửa chữa thường xuyên; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành

- Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ gồm: sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công trình cơ sở hạ tầng; chi mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn

- Nhóm các khoản chi thường xuyên khác gồm: các nhóm mục của mục lục Ngân sách nhà nước không nằm trong 3 nhóm mục trên và các mục từ mục 147 đến mục 150 thuộc khoản chi thường xuyên trong mục lục Ngân sách nhà nước

1.1.3 Phương thức cấp phát chi thường xuyên NSNN

Hiện nay có hai hình thức cấp phát cơ bản là cấp phát bằng dự toán và bằng lệnh chi tiền Cụ thể như sau:

- Cấp phát bằng lệnh chi tiền : Bao gồm các đơn vị không thường

xuyên giao dịch với ngân sách, đó là các tổ chức kinh tế, xã hội, các doanh nghiệp được ngân sách hỗ trợ; các khoản chi đặc biệt cho anh ninh, quốc phòng và các khoản chi khác theo quy định

Trang 19

- Cấp phát dự toán : Áp dụng cho các khoản chi thường xuyên của các

đơn vị, cơ quan hành chính Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức chính trị, xã hội được Nhà nước cấp kinh phí thông qua giao dự toán chi hằng năm

Cấp phát bằng dự toán là kết quả của quá trình hoàn thiện cơ chế KSC theo Luật Ngân sách, nhưng trong quá trình quản lý chi hay phát sinh những nhiệm vụ chi đột xuất như thiên tai, hoả hoạn hoặc bí mật quốc gia thì cần thiết phải sử dụng hình thức cấp phát bằng Lệnh chi tiền

Tuy nhiên không nên lạm dụng hình thức cấp phát này bởi nó làm giảm khả năng KSC NSNN, dễ dẫn đến thất thoát

1.1.4 Điều kiện cấp phát thanh toán chi thường xuyên NSNN

Điều kiện 1: Đã có trong dự toán chi NSNN năm được duyệt

Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh

Cơ quan Tài chính cùng cấp có trách nhiệm thẩm tra kết quả giao dự toán ngân sách của các đơn vị Trường hợp cơ quan tài chính đề nghị điều chỉnh thì cơ quan đơn vị phân bổ, tiếp thu, điều chỉnh và gửi lại cơ quan tài chính để thống nhất; trường hợp không thống nhất nội dung điều chỉnh thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định

Dự toán chi ngân sách của các đơn vị dự toán, các cấp chính quyền, các

Bộ, ngành phải phản ánh đầy đủ các khoản chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành, kể các các khoản chi từ nguồn viện trợ và các khoản vay

Các trường hợp cụ thể không có trong dự toán chi NSNN năm nhưng vẫn được cấp phát thanh toán như:

Trang 20

- Dự toán và phương án phân bổ dự toán NSNN chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh dự toán ngân sách theo quy định.

- Chi từ nguồn tăng thu so với dự toán NSNN được giao và từ nguồn

dự phòng NSNN theo quy định của cấp có thẩm quyền để khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn; các khoản chi đột xuất ngoài dự toán được duyệt, nhưng không thể trì hoãn được

- Chi ứng trước dự toán NSNN năm sau

Điều kiện 2: Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức

Định mức tiêu chuẩn chi là giới hạn tối đa các mức chi tiêu cho một mục đích cụ thể của đơn vị sử dụng NSNN được cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành Định mức tiêu chuẩn chi là căn cứ quan trọng để lập dự toán chi NSNN hằng năm và là căn cứ kiểm soát chi NSNN của KBNN

Những khoản chi đã có định mức, tiêu chuẩn thì dự toán ngân sách của các đơn vị phải tuân theo định mức, tiêu chuẩn đó và KBNN căn cứ vào tiêu chuẩn định mức để kiểm soát khi cấp phát thanh toán cho đơn vị sử dụng NSNN Những khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì KBNN căn cứ vào dự toán được cơ quan cấp trên trực tiếp của đơn vị sử dụng ngân sách phê duyệt làm căn cứ để kiểm soát

Điều kiện 3: Đã được người có thẩm quyền quyết định chi

Trong quản lý và điều hành ngân sách, chuẩn chi là sự cho phép, đồng

ý chi Khi kiểm soát hồ sơ thanh toán, KBNN phải kiểm soát việc quyết định chi của chủ tài khoản đối với bất kỳ khoản chi nào hay gọi là kiểm tra lệnh chuẩn chi Thẩm quyền chuẩn chi phải là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị hoặc người được ủy quyền (gọi chung là chủ tài khoản) đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Tất cả các chủ tài khoản phải đăng ký chữ ký

Trang 21

bằng tay, mẫu dấu của cơ quan, đơn vị và các văn bản pháp lý chứng minh quyền lực (quyết định đề bạt, văn bản ủy quyền) với cơ quan KBNN nơi giao dịch

Đối với các khoản chi theo hình thức chi theo dự toán từ KBNN, lệnh chuẩn chi là “Giấy rút dự toán NSNN” của đơn vị sử dụng NSNN Giấy rút

dự toán NSNN phải ghi rõ ràng, đầy đủ yếu tố theo mẫu quy định Khi có nhu cầu chi, đơn vị sử dụng NSNN lập và gửi KBNN giấy rút dự toán NSNN Đối với các khoản chi được cơ quan Tài chính cấp trực tiếp bằng “Lệnh chi tiền”;

cơ quan Tài chính có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất của từng khoản chi đảm bảo các điều kiện cấp phát NSNN theo quy định KBNN

có trách nhiệm thanh toán, chi trả cho đơn vị sử dụng NSNN theo nội dung ghi trong “Lệnh chi tiền” của cơ quan Tài chính

Điều kiện 4: Có đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán hợp pháp, hợp lệ

Hồ sơ, chứng từ thanh toán chứng minh cho nhu cầu chi thực tế của đơn vị trong việc sử dụng ngân sách Mỗi khoản chi đều phải lập theo mẫu chứng từ đã được quy định KBNN có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ chứng từ thanh toán trước khi thanh toán, chi trả kinh phí NSNN cho đơn vị sử dụng [3]

1.1.5 Những nguyên tắc trong cấp phát, thanh toán chi thường xuyên NSNN

Trong quá trình thực hiện cấp phát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN phải chấp hành những nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước

Trang 22

có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN chuẩn chi.

- Các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án sử dụng kinh phí NSNN (gọi chung là đơn vị sử dụng NSNN) phải mở tài khoản tại KBNN; chịu sự kiểm soát, kiểm soát của cơ quan Tài chính, KBNN trong quá trình cấp phát, thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toán NSNN

- Cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét, thẩm định và giao

dự toán của các đơn vị sử dụng ngân sách; đồng thời thường xuyên kiểm tra việc sử dụng kinh phí, định ký xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN

- KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định; tham gia với cơ quan Tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị sử dụng NSNN Thủ trưởng cơ quan KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho các đơn vị sử dụng NSNN biết, đồng gửi cơ quan Tài chính cùng cấp giải quyết trong các trường hợp sau:

+ Không có trong dự toán ngân sách được giao;

+ Không phù hợp với cơ chế quản lý tài chính mà đơn vị được phép áp dụng đối với mỗi khoản chi;

+ Chưa được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc được người ủy quyền quyết định chi;

+ Không đủ các điều kiện chi theo quy định hiện hành về chi trực tiếp qua KBNN

Trang 23

- Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách, từng cấp ngân sách và theo mục lục NSNN Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động

do cơ quan có thẩm quyền quy định

- Trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi Căn cứ vào quyết định của cơ quan Tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi giảm chi NSNN[3]

1.1.6 Vai trò chi thường xuyên NSNN

Chi thường xuyên có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của NSNN Thông qua chi thường xuyên giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạt động bình thường để thực hiện tốt chức năng QLNN; đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc gia tăng tiêu dùng Chính phủ hay kiềm chế tiêu dùng của khu vực công Chi thường xuyên NSNN là nguồn lực tài chính nhằm bảo đảm, duy trì

sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước Hoạt động của bộ máy của chính quyền các cấp, không chỉ nhằm mục đích thống nhất quản lý các hoạt động của nền kinh tế quốc dân mà còn nhằm đảm bảo sự ổn định về chính trị

Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng Chi thường xuyên của NSNN mặc dù có tính chất là dùng cho mục đích tiêu dùng song

nó lại có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc mở rộng sản xuất Chi thường xuyên hiệu quả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn NSNN để chi cho đầu tư phát

Trang 24

triển, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hành của nhà nước.

Các khoản chi thường xuyên của Chính phủ ngoài ảnh hưởng đến gia tăng sản xuất, phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học kỹ thuật, từ đó phát triển kinh tế Phát triển kinh tế còn bao hàm một xã hội có chính trị ổn định Chi thường xuyên của NSNN còn có vai trò trong đảm bảo thực hiện công bằng xã hội Cơ chế thị trường đã tạo ra sự phân hóa giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp trong xã hội Nhà nước bằng việc sử dụng các hình thức chi trợ cấp đã giảm khoảng cách đó Do vậy, các khoản chi thường xuyên là công cụ ổn định kinh tế, xã hội và điều chỉnh thu nhập

1.2 KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.2.1 Khái niệm kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Hoạt động quản lý của một tổ chức có thể chia thành 4 chức năng: hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiểm soát Trong khi tiến hành hoạch định, tổ chức, điều hành quá trình tác nghiệp tại đơn vị vẫn có thể có nhiều sự cố xảy ra do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan Vì vậy, hoạt động kiểm soát được thực hiện nhằm đảm bảo cho quá trình tác nghiệp được tiến hành như kế hoạch ban đầu, điều chỉnh kịp thời cho các sai sót trong quá trình hoạt động Như vậy, kiểm soát là một hoạt động vô cùng quan trọng trong công tác quản lý

Kiểm soát không phải là một giai đoạn của quá trình quản lý mà được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này Do đó, kiểm soát được quan niệm là một chức năng của quản lý Kiểm soát là quá trình đo lường kết quả thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn nhằm phát hiện sự sai lệch, đưa

ra biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm khắc phục sự sai lệch hoặc nguy cơ sai

Trang 25

lệch Nói cách khác, kiểm soát là công việc nhằm soát xét lại những quy định, quá trình thực thi các quyết định quản lý đươc thể hiện trên các nghiệp

vụ để nắm bắt, điều hành và quản lý Nói một cách chung nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm bắt và điều hành đối tượng quản lý Như vậy có thể hiểu cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách và biện pháp cụ thể; nội bộ đơn vị tự kiểm soát; cơ quan quản lý Nhà nước kiểm soát việc tuân thủ pháp luật đối với đối tượng quản lý

Kiểm soát được thực hiện trong mọi mặt của một nền kinh tế, từ các hoạt động trong các doanh nghiệp đến các hoạt động trong nền kinh tế Như vậy, kiểm soát chi NSNN là một chức năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực chi NSNN Trong đề tài này chỉ đề cập đến việc kiểm soát của KBNN đối với các khoản chi thường xuyên NSNN

Kiểm soát chi NSNN là quá trình những cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng giai đoạn trên cơ sở hồ sơ, chứng từ do đơn vị sử dụng ngân sách và các đơn

vị có quan hệ với ngân sách để đảm bảo các khoản chi đúng nguyên tắc, đúng chế độ, tiết kiệm chi phí với mục đích cuối cùng là sử dụng tối ưu hiệu quả nguồn vốn NSNN

Với khái niệm trên thì kiểm soát chi NSNN qua KBNN được quy định

theo nguyên tắc kiểm soát tuân thủ (tuân thủ nguyên tắc quản lý tài chính,

tuân thủ chế độ, tuân thủ chính sách, tiêu chuẩn, định mức của cấp có thẩm

quyền ) và kiểm soát chuẩn theo quy định pháp lý Nhà nước được biểu hiện

qua hình thức chuẩn biểu mẫu chứng từ và các quy định mã hoá đơn vị theo

hệ thống mục lục NSNN[6, tr 16]

Theo Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn dưới luật, kiểm soát chi

Trang 26

NSNN bao gồm 3 hình thức: kiểm soát trước khi chi, kiểm soát trong khi chi, kiểm soát sau khi chi Cụ thể như sau:

- Kiểm soát trước khi chi: Kiểm soát trước khi chi NSNN là kiểm soát

việc lập, quyết định và phân bổ dự toán chi NSNN Kiểm soát việc lập, quyết định và phân bổ dự toán là khâu đầu tiên của chu trình quản lý ngân sách nhằm bảo đảm cho việc bố trí ngân sách tiết kiệm ngay từ đầu và đảm bảo được việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trước khi bước vào thực chi

- Kiểm soát trong khi chi: hay còn gọi là kiểm soát quá trình cấp phát,

thanh toán các khoản chi của NSNN Đây có thể nói là giai đoạn có tính chất quyết định đến tính hiệu quả và tiết kiệm của chi ngân sách và kiểm soát chi Việc kiểm soát trước khi cấp phát có thể ngăn ngừa, loại bỏ các khoản chi không đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn, đơn giá, đối tượng, mục đích đảm bảo vốn NSNN sử dụng có hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí

- Kiểm soát sau khi chi: là kiểm soát tình hình sử dụng NSNN sau khi

được xuất tiền ra khỏi quỹ NSNN Kiểm soát sau khi chi được tiến hành thông qua các báo cáo kế toán, quyết toán và do các cơ quan chức năng và cơ quan có thẩm quyền quyết định quyết toán như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Cơ quan Tài chính, thanh tra, kiểm toán nhà nước thực hiện

Thực tế cho thấy, các hình thức KSC nêu trên có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt mục tiêu thực hành tiết kiệm chống lãng phí

và tăng hiệu quả trong sử dụng NSNN

1.2.2 Sự cần thiết kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Hiện nay, KSC NSNN nói chung và KSC thường xuyên NSNN nói riêng là việc vô cùng cần thiết và quan trọng bởi những lý do sau:

Trang 27

- Do quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính và cơ chế quản lý NSNN đòi hỏi mọi khoản chi phải đảm bảo tiết kiệm và có hiệu quả

Điều này là một tất yếu khách quan, bởi vì nguồn lực của NSNN bao giờ cũng có hạn Bởi lẽ, quỹ NSNN được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của nhân dân khi họ nộp các loại thuế, phí, lệ phí, các khoản đóng góp khác Chính vì vậy, khi các khoản chi NSNN được KBNN kiểm soát chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả qua đó củng cố lòng tin của nhân dân, khuyến khích họ thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào NSNN một cách tự giác và tích cực hơn, tạo ra sự ổn định về chính trị Mặt khác, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi thường xuyên NSNN có ý nghĩa to lớn trong việc thực hành tiết kiệm, chống các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, góp phần lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế

- Do hạn chế của cơ chế quản lý chi thường xuyên NSNN

Cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán tuy đã được thường xuyên sửa đổi

và từng bước hoàn thiện nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn đề chung nhất, mang tính nguyên tắc Vì vậy, nó không thể bao quát hết tất cả những hiện tượng nảy sinh trong quá trình thực hiện chi thường xuyên NSNN Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế, xã hội, công tác chi NSNN cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Điều này làm cho cơ chế quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với sự biến động và phát triển của hoạt động chi NSNN, trong đó một số nhân tố quan trọng như:

hệ thống tiêu chuẩn định mức chi tiêu còn xa rời thực tế, thiếu đồng bộ; chưa

có một cơ chế quản lý chi phù hợp và chặt chẽ đối với một số lĩnh vực đã tạo

ra những kẻ hở Chính điều đó đã làm cho một số đơn vị, cá nhân tìm cách lợi dụng, khai thác để tham ô, trục lợi gây thất thoát tài sản và công quỹ của nhà nước Từ thực tế trên đòi hỏi những cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời

Trang 28

những hiện tượng tiêu cực đồng thời có những giải pháp, kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung những cơ chế, chính sách quản lý ngày càng chặt chẽ và hoàn thiện.

- Do ý thức của đơn vị sử dụng kinh phí NSNN

Tình trạng chi tiêu của đơn vị sử dụng ngân sách còn lãng phí, sai chế độ; trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị, kế toán đơn vị trong việc sử dụng NSNN chưa cao Những khoản chi đã có chế độ, tiêu chuẩn, định mức cụ thể nhưng khi chi nhất là các khoản thanh toán công tác phí, hội nghị, tiếp khách vẫn còn tình trạng chi vượt định mức Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải có một cơ quan chức năng có thẩm quyền, độc lập và khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và hướng dẫn cho các đơn

vị chấp hành đúng các quy định, tránh sai sót dẫn đến lãng phí, thất thoát kinh phí NSNN

- Do tính đặc thù của các khoản chi thường xuyên NSNN đều mang tính chất không hoàn trả trực tiếp

Các khoản chi thường xuyên NSNN đều mang tính chất không hoàn trả trực tiếp do vậy để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là rất khó khăn và thiếu tính chính xác Vì vậy, phải có một cơ quan chức năng để thực hiện việc kiểm tra các khoản chi NSNN, đảm bảo tương xứng giữa khoản tiền nhà nước đã chi ra với kết quả công việc mà các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN thực hiện

- Do yêu cầu mở cửa hội nhập với nền tài chính khu vực và thế giới.Theo kinh nghiệm quản lý NSNN của các nước và khuyến nghị của các

tổ chức tài chính quốc tế thì việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN chỉ thực hiện có hiệu quả trong điều kiện thực hiện cơ chế chi

Trang 29

trả trực tiếp từ cơ quan quản lý quỹ NSNN đến từng đối tượng sử dụng ngân sách, kiên quyết không chuyển kinh phí qua các cơ quan quản lý trung gian

Có như vậy mới đảm bảo kỷ cương, kỷ luật tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí NSNN[6, tr 17-20]

1.2.3 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Công tác KSC thường xuyên NSNN đối với các cơ quan quản lý tài chính nói chung mà trực tiếp là Cơ quan Tài chính và KBNN nói riêng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Chính sách và cơ chế KSC thường xuyên phải làm cho các hoạt động của tài chính nhà nước đạt hiệu quả cao, có tác động kích thích các hoạt động kinh tế xã hội, không để cho quỹ NSNN bị cắt khúc, phân tán gây căng thẳng giả tạo trong quá trình điều hành NSNN Vì vậy, chính sách và cơ chế KSC thường xuyên phải quy định rõ điều kiện và trình tự cấp phát, thanh toán theo hướng: khi cấp phát kinh phí cơ quan Tài chính dự toán NSNN và xem xét,

bố tri mức chi cho từng đơn vị sử dụng ngân sách đảm bảo cân đối giữa khả năng ngân sách và các nhiệm vụ chi Về phương thức thanh toán phải đảm bảo các khoản chi đều được chi trả trực tiếp cho các đơn vị, đối tượng là thực

sự là các chủ nợ của quốc gia trên cơ sở dự toán được duyệt Trong quá trình

sử dụng NSNN phải được Thủ trưởng đơn vị chuẩn chi, phù hợp với chính sách, chế độ, tiêu chuần định mức chi tiêu do Nhà nước quy định

- Công tác quản lý chi NSNN là một quy trình phức tạp, bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn ( lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán cho các đơn vị thụ hưởng NSNN, kế toán và quyết toán NSNN) đồng thời liên quan đến các Bộ, ngành, cơ quan địa phương Vì vậy KSC thường xuyên NSNN cần phải được tiến hành một cách thận trọng, thực hiện dần từng bước Sau mỗi bước cần tiến hành đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để cải tiến

Trang 30

quy trình, thủ tục cho phù hợp với tình hình thực tế Mặt khác, cần tôn trọng thực tế khách quan, không nên cứng nhắc, máy móc mà đòi hỏi cần có sự linh hoạt, mềm dẻo để không gây phiền hà, ách tắc cho các đơn vị sử dụng NSNN.

- Tổ chức bộ máy KSC phải gọn nhẹ theo hướng cải cách hành chính, thu gọn các đầu mối, đơn giản hóa quy trình, thủ tục hành chính; đồng thời cần phân định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý ngân sách, quản lý tài chính Nhà nước, đặc biệt là Thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trong quá trình lập dự toán, cấp phát, báo cáo và quyết toán chi NSNN để tránh sự trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện Qua

đó tạo điều kiện để thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình KSC thường xuyên NSNN

- KSC thường xuyên NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với quy trình quản lý NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành đến khâu quyết toán NSNN Đồng thời phải có sự phối hợp thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lý tài chính khác như chính sách thuế, phí và lệ phí, cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị thực hiện cơ chế khoán chi, đơn vị sự nghiệp có thu

1.2.4 Nội dung kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Mọi khoản chi thường xuyên NSNN đều được kiểm soát trước khi thanh toán chi trả Việc kiểm soát của KBNN dựa trên cơ sở hồ sơ, chứng từ

và các điều kiện chi sau đó thực hiện xuất quỹ NSNN thanh toán cho đối tượng thụ hưởng

Kiểm soát chi thường xuyên NSNN được thực hiện như sau:

- Hồ sơ thanh toán: Khi có nhu cầu chi tiêu, ngoài các hồ sơ gửi KBNN một lần(dự toán chi NSNN, bản đăng ký biên chế quỹ lương, học bổng, sinh

Trang 31

hoạt phí…) đơn vị sử dụng kinh phí NSNN lập và gửi KBNN các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán có liên quan theo qui định: Giấy rút dự toán NSNN, các hồ sơ khác tùy theo tính chất của từng khoản chi

- Cán bộ KSC sẽ kiểm tra các điều kiện chi trên cơ sở các hồ sơ, tài liệu

và chứng từ chi của đơn vị,cụ thể:

+ Kiểm tra điều kiện 1: Đối chiếu khoản chi với dự toán, đảm bảo khoản chi có trong dự toán được duyệt

+ Kiểm tra điều kiện 2: Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của lệnh chuẩn chi

+ Kiểm tra điều kiện 3: Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, bảo đảm chấp hành đúng các định mức, chế độ, tiêu chuẩn chi NSNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Đối với các khoản chi chưa có định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi NSNN, KBNN kiểm tra, kiểm soát căn cứ theo dự toán chi của đơn vị được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

+ Kiểm tra điều kiện 4: Kiểm tra sự đầy đủ, tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ có liên quan

- Các công đoạn này gọi là kiểm soát chi ngân sách Từ đó có thể thấy : thực chất của nội dung KSC thường xuyên NSNN của KBNN là kiểm soát sự đáp ứng các điều kiện nói trên đối với từng khoản chi cụ thể của đơn vị sử dụng NS căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, chứng từ do đơn vị nộp cho KBNN[1, tr68]

1.2.5 Vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Quỹ ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản tiền của nhà nước, kể cả tiền vay, có trên tài khoản của ngân sách nhà nước các cấp Quản lý quỹ ngân sách nhà nước là trách nhiệm của cơ quan tài chính và KBNN các cấp

Trang 32

KBNN là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước…

Việc thành lập hệ thống KBNN đánh dấu một bước thay đổi lớn trong quá trình quản lý quỹ NSNN thông qua việc tách biệt chức năng kinh doanh tiền tệ của hệ thống ngân hàng với chức năng quản lý NSNN của cơ quan Tài chính

Trong giai đoạn đầu, do cơ chế quản lý tài chính chưa được cải tiến một cách đồng bộ, vì vậy việc thực hiện các nhiệm vụ của hệ thống KBNN có phần bị hạn chế Công tác quản lý chi NSNN vẫn chủ yếu dừng ở mức độ xuất quỹ NSN, chưa kiểm tra được chặt chẽ việc sử dụng kinh phí của các đơn vị sử dụng NSNN; tình trạng sử dụng lãng phí công quỹ còn phổ biến, hiệu quả chưa cao Luật NSNN ra đời với những quy định rõ ràng về toàn bộ quá trình phân cấp, lập, chấp hành và quyết toán NSNN; trong đó, nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN được thống nhất giao cho hệ thống KBNN đảm nhiệm Đây là một văn bản có tính pháp lý cao nhất nhằm tạo điều kiện cho việc quản

lý và điều hành NSNN trong tình hình mới

Để phù hợp với phân cấp quản lý ngân sách và tổ chức hoạt động hệ thống KBNN, công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN qua hệ thống KBNN được thực hiện như sau:

-KBNN TW thống nhất quản lý quỹ ngân sách TW trong toàn bộ hệ thống KBNN; trực tiếp thực hiện kiểm soát và thanh toán, chi trả một số khoản chi thuộc NSTW phát sinh tại Sở Giao dịch KBNN; tổng hợp và kiểm tra, giám sát tình hình quản lý, KSC NSNN của các cấp chính quyền địa phương

Trang 33

- KBNN tỉnh thực hiện kiểm soát hiện kiểm soát và thanh toán, chi trả các khoản chi của NS tỉnh và các khoản chi NSTW theo uỷ quyền hoặc các nhiệm vụ chi do KBNN thông báo; tổng hợp và kiểm tra việc quản lý, KSC NSNN của KBNN huyện trực thuộc.

- KBNN huyện thực hiện kiểm soát hiện kiểm soát và thanh toán, chi trả các khoản chi của NS huyện, NS xã và các khoản chi NSTW, NS tỉnh đóng tại địa phương theo uỷ quyền hoặc các nhiệm vụ chi do KBNN tỉnh thông báo

Mục tiêu của việc KSC thường xuyên của NSNN qua KBNN là nhằm đảm bảo việc sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả Thực hiện tốt công tác KSC thường xuyên của NSNN có ý nghĩa rất lớn trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của đất nước; tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng; tăng cường kỷ luật tài chính; nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý, điều hành của cơ quan chính quyền các cấp Đồng thời, thông qua quá trình này, Nhà nước sử dụng nó như là một công cụ để thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế, điều tiết định hướng phát triển thông qua xác định cơ cấu chi cho từng mục đích trong những giai đoạn nhất định và thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội khác

Đến nay hệ thống KBNN đã xây dựng được cơ chế, quy trình quản lý, kiểm soát chi NSNN qua KBNN phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng cường phương thức cấp thanh toán trực tiếp cho các đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong công tác kiểm soát chi, thông qua công tác này đã góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng

Trang 34

Vì vậy có thể khẳng định rằng, KBNN có một vai trò hết sức quan trọng đối với công tác KSC thường xuyên NSNN KBNN là “trạm canh gác cuối cùng” khi đồng vốn của nhà nước ra khỏi quỹ NSNN KBNN có quyền

từ chối cấp phát, thanh toán đối với các khoản chi không có trong dự toán, không đúng mục đích, không có hiệu quả hoặc không đúng chế độ của Nhà nước qua đó đảm bảo cho quá trình quản lý, sử dụng ngân quỹ quốc gia được chặt chẽ, đặc biệt là việc sử dụng các nguồn vốn thường xuyên có tính chất đầu tư như mua sắm, sửa chữa, xây dựng…đồng thời với cơ chế thanh toán chuyển khoản cho đối tượng thụ hưởng trực tiếp NSNN góp phần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán, đảm bảo sự ổn định lưu thông tiền tệ Thông qua quá trình cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN, KBNN còn tổng hợp, phân tích, đánh giá, kiến nghị, rút kinh nghiệm từ đó cùng cơ quan hữu quan nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế thanh toán, chi trả và kiểm soát NSNN qua hệ thống KBNN

1.2.6 Các tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN

Để đánh giá công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN là một công việc hết sức phức tạp, khó định lượng và thiếu tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá, bởi hoạt động KSC thường xuyên NSNN qua KBNN là hoạt động đa dạng, phức tạp và mang tính chất đặc thù riêng trong từng nội dung kiểm soát

Do vậy, những tiêu chí đưa ra để đánh giá công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN chỉ là những tiêu chí chung mang tính chất khái quát và định tính

Theo quan điểm đó, thì để đánh giá công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN dựa trên hệ thống các tiêu chí cơ bản sau:

Trang 35

Chất lượng: Với tư cách là cơ quan Nhà nước có trách nhiệm thực

hiện kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN, đảm bảo việc sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, chính vì thế tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá công tác KSC thường xuyên NSNN của KBNN

là chất lượng kiểm soát chi

Thông qua việc kiểm soát để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hiện tượng vi phạm định mức, chế độ trong quản lý và sử dụng ngân sách

Tiến độ: Công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN không chỉ

cần đảm bảo chất lượng mà còn phải đáp ứng yêu cầu về thời gian, thoả mãn điều kiện thanh toán một cách đầy đủ, nhanh chóng và đúng thời hạn quy định

Thuận lợi: Tiêu chí này thể hiện qua sự đơn giản, gọn nhẹ và thông

thoáng trong thủ tục hành chính sẽ tạo điều kiện thuận lợi, giảm phiền hà cho các đơn vị giao dịch, đồng thời giúp KBNN rút ngắn thời gian thanh toán trong điều kiện số lượng hồ sơ, chứng từ thanh toán ngày càng nhiều

1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN

1.2.7.1 Cơ chế quản lý Ngân sách Nhà nước

Hiện nay cơ chế quản lý ngân sách là cấp phát theo dự toán, đây là một phương thức cấp phát tiên tiến, khắc phục được những nhược điểm cơ bản của phương thức cấp phát theo hạn mức kinh phí trước đây Thực chất của phương thước này là từ bỏ việc điều hành ngân sách theo hạn mức quý/tháng

để thực hiện để điều hành ngân sách theo dự toán năm được duyệt[1, tr42] Phương thức này góp phần quan trọng trong cải cách quy trình chi bởi vì dự

Trang 36

toán NSNN, dù ở mức độ tổng hợp hay chi tiết cũng đều nhằm tạo ra khuôn khổ tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phát triển kinh tế xã hội trong năm kế hoạch đồng thời tạo căn cứ cho việc điều hành thu, chi ngân sách một cách khoa học và hợp lý Dự toán NSNN đã được phê duyệt phải là căn cứ pháp lý quan trọng để KBNN tiến hành kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành và quyết toán NSNN của các đơn vị thụ hưởng phải đảm bảo tính kịp thời, chính xác Nếu việc lập, duyệt và phân bổ dự toán chi NSNN hằng năm được kịp thời, chính xác, đầy đủ, chi tiết, cân đối với nguồn thu thì công tác KSC thường xuyên NSNN của KBNN gặp nhiều thuận lợi, công tác kế toán và quyết toán đảm bảo chất lượng và đúng thời gian Ngược lại, nếu công tác này thiếu chính xác thì công tác KSC gặp nhiều khó khăn

Bên cạnh phương thức cấp phát bằng dự toán thì vẫn còn tồn tại một số phương thức cấp phát như: Cấp bằng lệnh chi tiền từ cơ quan Tài chính, ghi thu- ghi chi theo lệnh CQTC, cấp phát kinh phí ủy quyền Vì vậy, quy trình chuyển kinh phí, kiểm soát hạch toán chưa được quy định thống nhất giữa CQTC và KBNN dẫn đến quy trình, nội dung kiểm soát các khoản chi từ NSNN có thể không thống nhất do các cơ quan KSC khác nhau; đồng thời cũng gây khó khăn cho công tác tổng hợp, thống kê, báo cáo

Để hoạt động KSC thường xuyên NSNN của KBNN đạt hiệu quả thì nhân tố khách quan, ảnh hưởng lớn nhất là hệ thống văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn đối với công tác KSC thường xuyên NSNN

Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện, cùng các văn bản pháp quy khác vừa là nhân tố quan trọng, vừa là điều kiện quyết định đến chất lượng công tác kiểm soát chi Bởi vì, trên cơ sở pháp lý KBNN mới có thể xây dựng được quy trình nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ của mình, bảo đảm cho mọi khoản chi NSNN phải được kiểm soát chặt chẽ, sử dụng đúng mục

Trang 37

đích

Một môi trường pháp lý ổn định, đồng bộ, thống nhất, đầy đủ và những quy định rõ ràng, cụ thể sẽ tạo điều kiện để KBNN kiểm soát chặt chẽ, minh bạch qua đó nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi NSNN Ngược lại, chính sách chồng chéo, không cụ thể, chậm đổi mới sẽ cản trở hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN

1.2.7.2 Ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng NSNN

Nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành luật của các đơn vị sử dụng NSNN có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chi tiêu tiết kiệm, chống lãng phí nguồn lực của Nhà nước Do vậy, cần làm cho họ thấy rõ KSC là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp và các đơn vị cá nhân đều có liên quan đến quản lý quỹ NSNN mà đơn vị sử dụng NSNN là đối tượng chịu trách nhiệm chính trước Nhà nước về phần kinh phí được cấp chứ không phải

là công việc riêng của ngành tài chính, KBNN Các ngành, các cấp cần thấy

rõ vai trò của mình trong quá trình quản lý chi NSNN từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, chấp hành dự toán, kế toán và quyết toán các khoản chi NSNN

1.2.7.3 Năng lực tổ chức kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước của KBNN

Đây là các nhân tố chủ quan thuộc về bản thân KBNN gồm các nhân tố ảnh hưởng đến việc thiết kế bộ phận KSC từ mô hình tổ chức KSC, số lượng, chất lượng nhân viên làm công tác KSC, phương pháp kiểm soát áp dụng, quy trình KSC, yếu tố khoa học công nghệ áp dụng…

Hiện nay, bộ máy KSC được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương Tổ chức bộ máy phải gọn nhẹ, phù hợp với thực tế và mục tiêu quản

lý trong từng thời kỳ, tránh trùng lắp nhưng vẫn kiểm tra, kiểm soát được lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Nếu tổ chức bộ máy không phù hợp thì công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN sẽ kém hiệu quả, chất lượng

Trang 38

thấp, dễ gây thất thoát lãng phí cho NSNN.

Chất lượng và trình độ của con người là yếu tố then chốt quyết định sự hoàn thành nhiệm vụ của một tổ chức Vì vậy, chất lượng công tác kiểm soát chi NSNN phụ thuộc rất lớn vào trình độ cán bộ của cán bộ KBNN nói chung

và đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ KSC nói riêng Ảnh hưởng bởi đội ngũ cán

bộ làm công tác KSC thể hiện về số lượng, chất lượng và mức độ đảm bảo các nguyên tắc cho hoạt động kiểm soát chi Số lượng cán bộ làm công tác KSC nếu quá ít sẽ không đảm bảo kiểm tra được toàn bộ, nhanh chóng, kịp thời Ngược lại nếu số lượng cán bộ làm công tác KSC quá nhiều thì chi phí cho công tác KSC lớn (gồm cả chi phí tiền lương, thưởng, phụ cấp và chi phí đào tạo ), thậm chí đôi lúc công tác kiểm soát còn bị chồng chéo Do đó cần thiết phải có số lượng cán bộ KSC phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của mỗi đơn vị KBNN

Hoạt động kiểm soát chi NSNN đòi hỏi đội ngũ cán bộ KBNN phải có trình độ chuyên sâu về quản lý tài chính, am hiểu về các lĩnh vực chuyên ngành mình quản lý, có khả năng phân tích, xử lý thông tin được cung cấp và giám sát đối chiếu với các quy định hiện hành của Nhà nước, có phẩm chất đạo đức tốt đảm bảo "vừa có tâm, vừa có tài" để có thể đảm đương nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN qua KBNN một cách chặt chẽ, đồng thời không lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm được giao để phát sinh các hiện tượng cửa quyền, sách nhiễu trong quá trình kiểm soát chi

Quy trình và phương pháp KSC cũng ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chi, cụ thể KBNN cần áp dụng phương pháp kiểm soát đảm bảo giảm được thiểu được thời gian thực hiện kiểm soát và kết quả thu được, mức độ phát hiện sai phạm cao hơn Phương pháp kiểm soát phải được áp dụng một cách có hệ thống cho toàn ngành và cho từng hoạt động nghiệp vụ Quy trình KSC cần thiết phải xây dựng, cập nhật thường xuyên Trong quá trình thực hiện phát hiện những hạn chế của quy trình để hoàn thiện nhằm đạt được

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày những lý luận cơ bản về chi thường xuyên NSNN và công tác KSC thường xuyên NSNN của KBNN Những vấn đề được trình bày ở chương 1 làm cơ sở cho phân tích và đánh giá thực trạng công tác KSC thường xuyên NSNN của KBNN Đăk Lăk ở chương 2

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

ĐĂK LĂK 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ KBNN ĐĂK LĂK

2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển

Trang 40

Cùng với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (năm 1945), Nha ngân khố trực thuộc Bộ Tài chính đã được thành lập theo sắc lệnh số 45/TTg của Thủ tướng Chính phủ, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là in tiền, phát hành tiền của Chính phủ, quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước, quản lý một

số tài sản quý của Nhà nước bằng hiện vật như vàng, bạc, kim khí quý, đá quý Từ năm 1951, nhiệm vụ của Nha Ngân khố được chuyển giao sang hệ thống Ngân hàng cùng với việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (sau đổi tên là Ngân hàng Nhà nước) Những năm cuối của thập kỷ 90, công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đất nước diễn ra một cách sâu sắc và toàn diện

Ðể phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới, cơ chế quản lý tài chính tiền tệ đã

có sự thay đổi, đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của Tài chính và Ngân hàng Nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà nước được chuyển giao từ Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài chính để hệ thống Tài chính thực hiện chức năng quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước tài chính quốc gia

Để đáp ứng tình hình và yêu cầu mới của công tác tài chính, tiền tệ, tín

dụng, ngày 04 tháng 01 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) đã

có quyết định số 07/HĐBT thành lập hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính Cùng với sự ra đời của hệ thống KBNN, KBNN Đăk Lăk cũng đã được thành lập và đi vào hoạt động Hệ thống KBNN Đăk Lăk đã thể hiện tốt vai trò là một công cụ quản lý tài chính quan trọng của chính quyền địa phương các cấp, góp phần đắc lực phục vụ nhiệm vụ chính trị - kinh tế; văn hoá - xã hội; an ninh - quốc phòng của tỉnh cũng như công cuộc đổi mới xây dựng và phát triển đất nước

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Ngày đăng: 23/11/2017, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm