LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên sàn giao dịch chứng khoán thà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ THỊ ANH THƠ
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ THỊ ANH THƠ
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Quyết định giao đề tài: 356/QĐ-ĐHNT ngày 04/5/2016
Quyết định thành lập hội đồng: 1163/QĐ-ĐHNT ngày 29/12/2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chƣa từng
đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Nha Trang, ngày 14 tháng 01 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Anh Thơ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Võ Văn Cần đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn!
Nha Trang,ngày 14 tháng 01 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Anh Thơ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Đóng góp của đề tài 3
1.6.1 Về mặt lý luận 3
1.6.2 Về mặt thực tiễn 4
1.7 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 6
2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 6
2.1.1 Khái niệm 6
2.1.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 8
2.1.3 Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp 10
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 11
2.2.1 Các nhân tố tài chính 11
2.2.2 Các nhân tố phi tài chính 17
Trang 62.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 20
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.3.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 22
Tóm tắt chương 2 25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Quy trình nghiên cứu 26
3.2 Mô tả dữ liệu 27
3.3 Các biến nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 27
3.3.1 Các biến nghiên cứu 27
3.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 29
3.3.3 Thiết lập mô hình nghiên cứu 31
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 33
3.5 Kiểm định mô hình 33
3.5.1 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 33
3.5.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 34
3.5.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 35
3.5.4 Kiểm định hệ số hồi quy 35
Tóm tắt chương 3 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Đặc điểm của ngành bất động sản 37
4.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM 40
4.2.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) 40
4.2.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) 41
4.2.3 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) 42
4.3 Phân tích tình hình biến động của các yếu tố có khả năng ảnh hưởng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM 43
4.3.1 Tỷ số tổng nợ 43
4.3.2 Cơ hội tăng trưởng 46
Trang 74.3.3 Quy mô công ty 48
4.3.4 Tỷ lệ tài sản cố định 51
4.3.5 Vòng quay tổng tài sản 53
4.3.6 Khả năng thanh toán hiện hành 56
4.4 Thống kê tổng hợp các biến nghiên cứu 59
4.5 Phân tích tương quan 59
4.6 Phân tích hồi quy 61
4.6.1 Kết quả phân tích hồi quy ROA 61
4.6.2 Kết quả phân tích hồi quy ROE 64
4.6.3 Kết quả phân tích hồi quy ROS 66
Tóm tắt chương 4 69
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHO CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM 70
5.1 Bàn luận kết quả nghiên cứu 70
5.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các công ty bất động sản trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM 72
5.2.1 Cơ cấu lại tỷ lệ nợ 72
5.2.2 Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng 74
5.2.3 Mở rộng quy mô doanh nghiệp, đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động 75
5.2.4 Duy trì tính thanh khoản hợp lý 75
5.2.5 Đầu tư tài sản cố định hợp lý 75
5.2.6 Quản trị tốt và giảm thiểu hàng tồn kho 75
5.2.7 Nâng cao năng lực quản lý điều hành của doanh nghiệp 76
5.2.8 Đề xuất với cơ quan nhà nước 76
5.3 Một số hạn chế của đề tài nghiên cứu 77
Tóm tắt chương 5 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Biến phụ thuộc 27
Bảng 3.2 Biến độc lập 28
Bảng 3.3 Tóm tắt các giả thiết nghiên cứu 31
Bảng 4.1 Thống kê ROA của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 41
Bảng 4.2 Thống kê ROE của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 42
Bảng 4.3 Thống kê ROS của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 43
Bảng 4.4 Tổng hợp về Tỷ lệ nợ của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán tp.HCM giai đoạn 2010-2015 44
Bảng 4.5 Tổng hợp về Tốc độ tăng trưởng doanh thu của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán tp.HCM giai đoạn 2010-2015 46
Bảng 4.6 Tổng hợp về Tình hình chung về tổng tài sản của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán tp.HCM giai đoạn 2010-2015 49
Bảng 4.7 Tổng hợp về Tỷ lệ Tài sản cố định của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán tp.HCM giai đoạn 2010-2015 51
Bảng 4.8 Tổng hợp về Vòng quay tổng tài sản của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán tp.HCM giai đoạn 2010-2015 54
Bảng 4.9 Tổng hợp về Khả năng thanh toán hiện hành của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán tp.HCM giai đoạn 2010-2015 56
Bảng 4.10 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 59
Bảng 4.11 Tương quan giữa các biến trong mô hình 60
Bảng 4.12 Kết quả phân tích hồi quy ROA 61
Bảng 4.13 Kết quả phân tích hồi quy ROE 64
Bảng 4.14 Kết quả phân tích hồi quy ROS 67
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 26
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu 32
Hình 4.1 Thống kê ROA của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 41
Hình 4.2 Thống kê ROE của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 42
Hình 4.3 Thống kê ROS của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 43
Hình 4.4 Thống kê tỷ lệ nợ của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 45
Hình 4.5 Thống kê tốc độ tăng doanh thu của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 48
Hình 4.6 Thống kê về tổng tài sản của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 – 2015 50
Hình 4.7 Thống kê về tỷ lệ tài sản cố định của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 53
Hình 4.8 Thống kê về vòng quay tổng tài sản của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 56
Hình 4.9 Thống kê về khả năng thanh toán hiện hành của các công ty BĐS trên HOSE năm 2010 - 2015 58
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Ngành bất động sản là ngành có nhiều tiềm năng phát triển, chiếm tỷ trọng và đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam Trong những năm gần đây, ngành bất động sản Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi kinh tế rơi vào suy thoái, thị trường BĐS đóng băng Trong giai đoạn khó khăn này có không ít công ty BĐS thua lỗ thậm chí đóng cửa Bên cạnh đó cũng có rất nhiều công ty BĐS khác đã
và đang nỗ lực không ngừng để duy trì hoạt động và phát triển Như vậy sự khác biệt
về hiệu quả hoạt động của các công ty BĐS là do đâu Đến cuối năm 2013, thị trường BĐS đã có những dấu hiệu khởi sắc khi nhận được nhiều sự hỗ trợ từ Nhà nước Đây
là cơ hội để các công ty BĐS tìm kiếm cơ hội để phát triển sau giai đoạn khó khăn
Để giải quyết vấn đề trên cần phải tiến hành phân tích, nghiên cứu đánh giá toàn
bộ quá trình và kết quả họat động kinh doanh của công ty dựa trên số liệu kế toán - tài chính Qua phân tích công ty mới thấy rõ nguyên nhân, nguồn gốc của các vấn đề phát sinh và các giải pháp cụ thể để cải tiến quản lý Kết quả của phân tích hiệu quả hoạt động là cơ sở để các nhà quản trị ra quyết định ngắn hạn hay dài hạn Ngoài ra, phân tích hiệu quả hoạt động của công ty có thể đề phòng và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh, đồng thời cũng có thể dự đoán được các điều kiện kinh doanh trong thời gian sắp tới Kết quả từ phân tích còn là nguồn thông tin hỗ trợ cho những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán quan tâm đến các công ty ngành BĐS
Từ thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu
của đề tài đặt ra như sau:
- Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty BĐS trên
Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010-2015
- Kiểm định tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các
công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Nghiên cứu thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính: Qua việc thu thập thông tin, dữ liệu dùng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua Nghiên cứu định lượng: thực hiện bằng bộ dữ liệu thu thập từ các báo cáo tài chính của 35 công ty BĐS trên HOSE trong giai đoạn 2010-2015, sử dụng phần mềm SPSS 20 để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty BĐS trên HOSE
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến dựa vào phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 35 công ty BĐS trên HOSE trong giai đoạn 2010-2015 thông qua ba chỉ tiêu
là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên doanh thu (ROS) Kết quả mô hình cho thấy, ROA chịu tác động ngược chiều của tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản cố định và chịu tác động cùng chiều của quy mô doanh nghiệp, vòng quay tổng tài sản, khả năng thanh toán; ROE chịu tác động ngược chiều của tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản cố định và chịu tác động cùng chiều của quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán; ROS chịu tác động ngược chiều của tỷ lệ nợ và chịu tác động cùng chiều của quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán
Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng phù hợp với một số kết quả nghiên cứu có liên quan trên thế giới và phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành BĐS trên HOSE giai đoạn 2010-2015 Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị phù hợp đối với các doanh nghiệp ngành BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán tp.HCM và đối với nhà nước nhằm cải thiện cơ cấu vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Từ khóa: “Hiệu quả hoạt động”, “công ty bất động sản”
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường bất động sản (BĐS) là một trong những thị trường có vị trí và vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, có quan hệ trực tiếp với các thị trường tài chính tiền tệ, thị trường xây dựng, thị trường vật liệu xây dựng, thị trường lao động Phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường này sẽ góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đóng góp thiết thực vào quá trình phát triển đô thị và nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
Nước ta đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới theo cả chiều sâu và chiều rộng Nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), có rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho tiến trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam Việc tạo ra cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật để đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội là một điều tất yếu, đi đôi với việc phát triển kinh tế cần chú trọng tới phát triển các ngành phụ trợ một cách đồng bộ Vì vậy, việc phát triển thị trường bất động sản trong những năm gần đây diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng Bên cạnh sự phát triển kinh tế nói chung thì thị trường BĐS Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng và cơ hội Nhiều nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài đang nhìn thấy nhiều cơ hội đầu tư vào lĩnh vực này Hiện nay,
có rất nhiều dự án về BĐS lớn đang thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Hàng loạt các khu đô thị mới, siêu thị, khách sạn, trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê được mọc lên ở các thành phố lớn vừa đáp ứng các nhu cầu ăn ở và các dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống, vừa tạo ra một diện mạo cảnh quan đô thị khang trang sạch đẹp
Thị trường BĐS nước ta trong thời gian qua đã có bước phát triển, tuy nhiên chưa thật ổn định, thường xuyên có những biến động Từ năm 2010 đến giữa năm
2013 tình tình thị trường BĐS gặp nhiều khó khăn, sự sụt giảm về giá cả xảy ra ở hầu hết các phân khúc của thị trường, số lượng giao dịch giảm mạnh, tồn kho BĐS tăng cao Nhiều doanh nghiệp BĐS, kinh doanh dịch vụ BĐS thực sự gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế, khi thị trường suy thoái, không bán được hàng, không có khả năng trả nợ ngân hàng Trong năm 2014 và 2015,
Trang 14thị trường bất động sản có dấu hiệu phục hồi tích cực, thể hiện qua lượng giao dịch tăng; giá cả tương đối ổn định; lượng tồn kho bất động sản tiếp tục giảm; cơ cấu hàng hóa bất động sản chuyển dịch theo hướng hợp lý, phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường…
Bất động sản là một ngành có những đặc thù riêng như quy mô lớn, thâm dụng vốn, nhạy cảm với chu kỳ kinh tế và xã hội; bởi vậy vấn đề đặt ra đó là đòi hỏi nhà quản lý phải giải quyết những vấn đề trên thật tốt để giúp các doanh nghiệp ngành bất động sản đạt được hiệu quả kinh doanh sao cho tốt nhất Muốn đạt được hiệu quả kinh doanh cao, các doanh nghiệp BĐS phải xác định được “những nhân tố nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp? Mức độ tác động như thế nào?” Sau khi trả lời được hai câu hỏi trên, doanh nghiệp cần xác định “Doanh nghiệp cần làm gì để giảm bớt những tác động xấu đến hiệu quả kinh doanh? Làm thế nào để sử dụng vốn hiệu quả và các nguồn lực khác của doanh nghiệp? Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như vậy, làm thế nào để duy trì, cải thiện và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.” Đây là một câu hỏi lớn và không
dễ trả lời đối với các doanh nghiệp nói chung và các nhà quản trị của các công ty ngành BĐS nói riêng
Xuất phát từ thực tế đó tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Từ đó,
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong ngành BĐS
ở HOSE nói riêng và Việt Nam nói chung
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản
trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010-2015
- Kiểm định tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các
công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010-2015 như thế nào?
- Nhân tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh?
- Cần có những giải pháp tài chính và kinh doanh nào để có thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất về hiệu quả hoạt động
và các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2010 - 2015 Luận văn sử dụng số liệu dựa trên các báo cáo tài chính của 35 doanh nghiệp BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2010–2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính: Qua việc thu thập thông tin, dữ liệu dùng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh trong thời gian qua
- Phương pháp định lượng: thực hiện bằng bộ dữ liệu thu thập từ các báo cáo tài chính của các công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng phần mềm SPSS 20 để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
1.6 Đóng góp của đề tài
1.6.1 Về mặt lý luận
Luận văn tổng quan các lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
Trang 16quả hoạt động của doanh nghiệp và ứng dụng các kết quả này để xây dựng mô hình
lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
1.6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu luận văn có ý nghĩa thực tiễn trên các mặt sau đây:
Thứ nhất, giúp cho các nhà quản trị công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận đầy đủ hơn về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trên cở
sở đó có những giải pháp liên quan đến quyết định tài chính và chính sách kinh doanh giúp cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Thứ hai, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các tổ chức tín dụng làm cơ
sở xác định đối tượng cho vay, hạn mức tín dụng cho vay phù hợp nhằm hạn chế rủi ro xảy ra khi cho vay
Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên chuyên ngành quản trị kinh doanh
1.7 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần như: kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục,… Luận văn được kết cấu thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài mà tác giả đã lựa chọn, đồng thời nêu
ra đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, tình hình nghiên cứu đề tài và kết cấu luận văn
Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận dựa trên việc tổng hợp lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và công trình nghiên cứu trên thế giới để làm nền tảng nghiên cứu chương 3 tiếp theo
Trang 17Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Tác giả trình bày các phương pháp nghiên cứu và xây dựng mô hình dựa trên kết quả chương 2 Để tiến hành phân tích mô hình, tác giả xác định rõ các biến, thiết lập các dạng hàm mô hình nghiên cứu và đưa ra giải thuyết nghiên cứu cụ thể
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Từ mô hình nghiên cứu đã xây dựng ở chương 3, tác giả trình bày các vấn đề gồm
mô tả thống kê, mô tả hệ số tương quan, kiểm định mô hình, kết quả phân tích hồi quy Chương 5: Kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh
Tác giả đề xuất một số kiến nghị đối với các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Nhà nước sau khi phân tích và xác định được các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động ở các chương trước đó
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu
tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp nhằm thu được kết quả cao nhất với một chi phí thấp nhất Hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh Tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà người ta đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh Dưới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh:
Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt
được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" (Trích từ tác giả Đặng
Đình Đào, 1998) Theo quan điểm này, Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh Hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này cũng có hiệu quả Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất
Quan điểm thứ hai cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần
tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí", (Đặng Đình Đào, 1998)
Quan điểm này đã xác định hiệu quả trên cơ sở so sánh tương đối giữa kết quả đạt được với phần chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Nhưng xét trên quan niệm của triết
Trang 19học Mác-Lênin thì sự vật hiện tượng đều có quan hệ ràng buộc có tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một các riêng lẻ Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố có sẵn Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi Hạn chế của quan điểm này là nó chỉ xem xét hiệu quả trên cơ sở so sánh phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, và nó không xem xét đến phần chi phí và phần kết quả ban đầu Do đó theo quan điểm này chỉ đánh giá được hiệu quả của phần kết quả sản xuất kinh doanh mà không đánh giá được toàn bộ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Quan điểm thứ ba cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết
quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó", (Đặng Đình Đào, 1998) Quan niệm này
có ưu điểm là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh
tế biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để
có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó Tuy nhiên quan điểm này chưa phản ánh được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí Để phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả đầu ra hoặc chi phí bỏ ra, nhưng trên thực tế thì các yếu tố này không ở trạnh thái tĩnh mà luôn biến đổi và vận động
Để làm sáng tỏ bản chất và đi đến một khái niệm hiệu quả kinh doanh hoàn chỉnh chúng ta phải xuất phát từ luận điểm của triết học Mác - Lênin và những luận điểm của
lý thuyết hệ thống Hiệu quả hoạt động SXKD cần xét đến hiệu quả kinh tế của một
hiện tượng, do đó, “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định” (Ngô Đình Giao,1997)
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao
Thực chất của hiệu quả SXKD là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu
tố đầu vào của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh Nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh thì H được thể hiện theo công thức toán học như sau:
Trang 20Kết quả đầu ra
H = Yếu tố đầu vào
Công thức trên phản ánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) thì tạo ra được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận… trong một kỳ kinh doanh, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt
2.1.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ với tất
cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động); doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi các yếu tố cơ bản này được sử dụng có hiệu quả
Để đánh giá chính xác và có cơ sở khoa học về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các DN cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu đầy đủ, hoàn chỉnh vừa phản ánh một cách tổng hợp, vừa phản ánh được mức sinh lợi, và phản ánh hiệu quả của từng yếu tố sản xuất, từng loại vốn đầu tư v.v
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được phản ánh qua các chỉ tiêu sau đây:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu và thu nhập – Tổng chi phí
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả tuyệt đối phần lợi nhuận, tức là phần chênh lệch giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào và là số tiền doanh nghiệp thực thu sau một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của chỉ số này
là rất khó để so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề với nhau Ví dụ, những doanh nghiệp có quy mô lớn (tổng tài sản, nguồn vốn lớn) tất nhiên sản xuất tạo ra lợi nhuận lớn hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ Điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp lớn hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhỏ Như vậy, chỉ số hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các chi phí đầu vào Để khắc phục được nhược điểm này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các chỉ số hiệu quả biểu diễn dưới dạng
số tương đối sau:
Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)
ROA là công cụ đo lường cơ bản của việc điều phối và quản lý các nguồn lực ở công ty Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà không quan
Trang 21tâm đến cấu trúc tài chính Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
từ một đồng tài sản
Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời của một đồng tài sản được đầu tư, phản ánh hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết cứ một đồng tài sản được sử dụng trong sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng cao (Nguyễn Văn Công, 2009)
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE là tỷ lệ của tổng số lợi nhuận sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm của doanh nghiệp chia cho vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Chỉ số này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ số này phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty cổ phần với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành (Nguyễn Văn Công, 2009) Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cho thấy cứ một đồng doanh thu thuần thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt, chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hợp lệ và ngược lại Nếu đem so sánh tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp với ngành mà cho thấy thấp hơn điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đang bán với giá thấp hơn, hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn (có chi phí sản xuất kinh doanh cao hơn) so với các doanh nghiệp khác cùng ngành (Nguyễn Văn Công, 2009)
Trang 22Lợi nhuận sau thuế
có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định cho mình một phương thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lược, các phương án kinh doanh phù hợp và có hiệu quả
Như vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến doanh nghiệp, được thể hiện thông qua các vai trò sau:
Hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp: Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự
tạo ra hàng hóa, của cải vật chất và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội Do đó doanh nghiệp phải đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động Ngoài ra doanh nghiệp còn phải có sự tích lũy cho quá trình tái sản xuất
mở rộng Nhưng trong điều kiện các yếu tố của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng
có điều kiện tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tiên tiến hiện đại…Sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng là tiền đề để nâng cao phúc lợi cho người lao động từ đó kích thích người lao động tăng năng suất lao động
Hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh
doanh: Cạnh tranh là yếu tố làm doanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể khiến
doanh nghiệp không thể tồn tại được trên thị trường Thị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về số lượng mà cạnh tranh cả về chất lượng sản phẩm, giá cả và các yếu tố khác Do đó doanh nghiệp phải cung cấp được sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tốt, giá cả hợp lý Mặt khác hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng doanh thu, nhưng chất lượng không ngừng được nâng cao, Vì vậy, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các phương thức quản lý hiện đại sẽ được
áp dụng thúc đẩy sự tiến bộ trong sản xuất kinh doanh
Trang 23Hiệu quả kinh doanh là điều kiện thực hiện mục tiêu bao trùm của doanh
nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận: Để có được lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng một số nguồn lực nhất định Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên đây là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả các nhân tố tài chính và các nhân tố phi tài chính Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đòi hỏi phải đánh giá đầy đủ cả các nhân tố tài chính và các nhân tố phi tài chính này:
2.2.1 Các nhân tố tài chính
2.2.1.1 Cấu trúc tài chính
Cấu trúc tài chính được hiểu là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần
ưu đãi và cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp Cơ cấu tài chính được đo bằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, nó cho thấy việc kinh doanh của công ty đang phải vay tiền nhiều hay ít Nợ không phải lúc nào cũng xấu, nó có thể làm tăng lợi nhuận cho cổ đông nhờ sử dụng lợi ích của lá chắn thuế
Lý thuyết Modigliani and Miller (1958) gọi tắt là lý thuyết M&M giả định rằng khi các DN hoạt động trong một môi trường không có thuế, không có chi phí giao dịch, không có chi phí phá sản và không có bất cân xứng thông tin thì cơ cấu vốn không có ảnh hưởng gì đến giá trị DN hay nói cách khác DN không thể tăng giá trị của mình bằng cách thay đổi cơ cấu vốn Rõ ràng lý thuyết này không thể áp dụng được vào thực tế vì môi trường hoạt động kinh doanh của bất kỳ DN ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng tồn tại thông tin bất cân xứng, chi phí giao dịch và thuế thu nhập Năm 1963, Modigliani và Miller tiếp tục đưa ra một nghiên cứu tiếp theo, nghiên cứu mối liên hệ giữa cấu trúc tài chính và giá trị của doanh nghiệp trong sự ảnh hưởng của thuế Lý thuyết M&M cho rằng, trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp,
cơ cấu tài chính liên quan đến giá trị của doanh nghiệp (Modigliani and Miller, 1963)
Trang 24Vì lãi vay là một khoản chi phí được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế, việc sử dụng nợ tạo nên một khoản lợi ích, hay nói khác hơn là tạo nên một tấm chắn thuế Tấm chắn thuế này thường được tính bằng một phép nhân giữa thuế suất biên tế và lãi vay Ưu điểm của việc sử dụng nợ là có thể tiết kiệm được thuế bởi vì chi phí nợ là chi phí được khấu trừ khỏi phần lợi nhuận trước thuế Trong khi đó, chi phí vốn chủ sở hữu không có được ưu điểm này vì cổ tức là yếu tố chi phí sau thuế Chính vì vậy, giá trị doanh nghiệp được tăng lên khi sử dụng nợ vay nhờ lợi ích của tấm chắn thuế
Với lợi thế tương đối của nợ, việc vay nợ sẽ là một hành vi khôn ngoan nếu như doanh nghiệp có đủ khả năng để trả nợ Tuy nhiên, không phải vì lợi ích này mà gia tăng tỉ lệ nợ trong cơ cấu tài chính Khi một doanh nghiệp bắt đầu vay nợ, doanh nghiệp có lợi thế về thuế Chi phí nợ thấp kết hợp với lợi thế về thuế sẽ làm cho chi phí vốn bình quân giảm khi nợ tăng Hơn nữa, khi tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu tăng, chi phí nợ cũng tăng bởi khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao hơn Công ty có
tỷ lệ nợ cao có nguy cơ phá sản nếu không thể trả nợ, công ty cũng không thể tìm được nguồn vốn mới trong tương lai Đó là nhược điểm của việc sử dụng nợ vay Đặc biệt, trong thời kỳ suy thoái, khi mà lãi suất tăng cao còn việc kinh doanh khó khăn, việc vay nợ là vô cùng nguy hiểm Các công ty có tỷ lệ nợ cao dễ bị tổn thương và gặp nguy hiểm (Safarova, 2008) Chi phí gia tăng trong khi việc kinh doanh không tăng vọt, gánh nặng lãi vay sẽ làm lợi nhuận của doanh nghiệp giảm Các nhà đầu tư sẽ ít mặn mà với các doanh nghiệp đang gặp khủng hoảng Giá cổ phiếu giảm, khó tìm nguồn tài trợ mới, không thể duy trì và mở rộng sản xuất, làm cho lợi nhuận giảm thêm, dẫn đến giá cổ phiếu càng giảm Đây là vòng tuần hoàn ác tính mà các doanh nghiệp có tỉ lệ nợ trên trung bình phải đối mặt khi nền kinh tế gặp khó khăn
Như vậy, nên vay nợ như thế nào cho hợp lý, để tận dụng được ưu điểm của nợ
mà vẫn tránh được khủng hoảng nếu nền kinh tế thay đổi Lý thuyết đánh đổi cho rằng mỗi một công ty có một tỷ lệ nợ tối ưu cụ thể, xác định bởi sự cân bằng giá trị lợi nhuận biên của nợ Theo lý thuyết này, mỗi công ty nên vay ở mức tiến dần đến cơ cấu tài chính tối ưu (tối đa hóa lợi nhuận nhờ nợ vay và tấm chắn thuế)
Chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là tỷ suất nợ, chỉ tiêu này được tính toán qua công thức như sau:
Nợ phải trả
Trang 25Đi vào chi tiết thì tỷ suất nợ được phân chia thành: Tỷ suất nợ ngắn hạn và Tỷ suất nợ dài hạn:
2.2.1.2 Cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp
Cơ hội tăng trưởng của nền kinh tế hay của ngành, lĩnh vực mà DN hoạt động có tác động rất lớn đến định hướng phát triển và chiến lược kinh doanh của
DN Một nền kinh tế ổn định với cơ hội tăng trưởng cao sẽ thúc đẩy các DN thực hiện chiến lược đầu tư mở rộng hoặc cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh, tăng cường năng lực hoạt động, mở rộng thị trường và tìm kiếm sự tăng trưởng của thị phần hoạt động đảm bảo cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp Trong trường hợp ngược lại, nền kinh
tế tăng trưởng thấp, đang rơi vào xu hướng tiêu cực, sẽ tác động đến DN hoặc là giữ nguyên mức độ hoạt động, hoặc là thu hẹp hay chuyển hướng hoạt động
Tăng trưởng là một trong những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu của mình trong suốt cuộc đời hoạt động sản xuất kinh doanh Tăng trưởng giúp cho doanh nghiệp tích lũy về nguồn vốn và cơ sở vật chất để đầu tư mở rộng sản xuất đồng thời tạo dựng được uy tín đối với khách hàng cũng như với các nhà cung cấp và các nhà đầu tư Tăng trưởng còn giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
Về mặt lý thuyết, tăng trưởng có thể mang lại những lợi ích quan trọng cho doanh nghiệp Tuy nhiên tăng trưởng nhanh không phải không mang lại rủi ro cho
Trang 26doanh nghiệp, khi năng suất và năng lực quản lý không phù hợp, trường hợp này phát triển nhanh không đưa lại lợi ích gì, thậm chí còn gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chính vì vậy, doanh nghiệp cần duy trì một tốc độ tăng trưởng phù hợp dựa trên một kế hoạch kinh doanh chi tiết và tập hợp các nguồn lực hợp lý từ đó làm cho hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngày càng được nâng cao
Chỉ tiêu phản ánh cơ hội tăng trưởng là tốc độ tăng trưởng, có thể là giá trị tổng sản phẩm, tổng sản lượng, tổng doanh thu, … Việc lựa chọn chỉ tiêu thích hợp trong việc xem xét tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính chất, quy mô của những yếu tố có tác động mạnh đến chiến lược phát triển của doanh nghiệp Trong luận văn này sử dụng tốc độ tăng trưởng doanh thu để đo lường cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp và được tính toán như sau:
Doanh thu năm (t) – Doanh thu năm (t-1)
Tốc độ tăng trưởng doanh thu = x 100% Doanh thu năm (t-1)
Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng tăng dần đều ngày càng tăng được lợi nhuận trong khi các công ty có tốc độ tăng trưởng giảm dần dễ làm thiệt hại hợp đồng và cuối cùng thoát khỏi thị trường (Safarova, 2008) Như vậy, tốc độ tăng trưởng của công ty tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động
2.2.1.3 Quy mô công ty
Quy mô của doanh nghiệp được đo lường bằng quy mô của tổng tài sản, quy mô của doanh thu, quy mô nguồn vốn… Mô hình lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô (hay còn gọi là lợi nhuận tăng dần theo quy mô) cho thấy chi phí bình quân trên một sản phẩm sản xuất ra sẽ giảm dần theo mức tăng của sản lượng sản phẩm Lợi thế kinh
tế theo quy mô có được bởi các lý do sau:
- Giảm thiểu chi phí cố định: chi phí cố định là các chi phí máy móc thiết bị và một số yếu tố đầu vào để duy trì hoạt động của doanh nghiệp Chi phí cố định phụ thuộc vào doanh nghiệp có sản xuất hay không Chi phí cố định không thay đổi theo mức sản lượng, nó bắt đầu từ những sản lượng thấp và không tăng cùng với mức tăng của sản lượng Vì vậy, khi sản lượng tăng, doanh nghiệp sẽ đạt được tính kinh tế theo
Trang 27quy mô Vì chi phí cố định này có thể chia cho một số lượng nhiều hơn các đơn vị sản phẩm và như vậy nó làm giảm chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm
- Hiệu quả của tính chuyên môn hóa: khi quy mô sản xuất của doanh nghiệp tăng thì doanh nghiệp sẽ tăng thêm lao động và máy móc chuyên dụng Mỗi công nhân có thể tập trung vào một công việc cụ thể và giải quyết công việc đó hiệu quả hơn Đồng thời, do chuyên môn hóa nên việc đào tạo người lao động cũng tiết kiệm thời gian và chi phí đào tạo hơn Tất cả những điều này góp phần làm giảm chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm
- Hiệu quả của việc mua nguyên vật liệu và phụ tùng với số lượng lớn: Khi quy
mô doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn nên sẽ mua nguyên vật liệu với số lượng lớn nên được chiết khấu, nhờ đó giảm chi phí
Ngoài ra, quy mô công ty còn có thể tác động đến hiệu quả hoạt động theo nhiều cách Các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín, thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính Họ có thể tiếp cận với nguồn vốn tốt hơn (dễ dàng huy động vốn hơn, mức vay cao hơn, lãi suất thấp hơn) Nhờ sức mạnh thương hiệu, uy tín, doanh nghiệp có thể định giá sản phẩm cao hơn, có nhiều phân khúc thị trường hơn, …
Tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn cũng có nhược điểm, đó là với quy mô lớn, cơ cấu doanh nghiệp sẽ cồng kềnh hơn, quan liêu hơn, ít linh hoạt hơn Điều này gây bất lợi cho doanh nghiệp khi môi trường kinh tế thay đổi, nó ngăn cản doanh nghiệp thích ứng nhanh với thị trường mới, từ đó giảm hiệu quả doanh nghiệp
Vì vậy, quy mô của doanh nghiệp tác động dương hay âm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là còn tùy thuộc vào ngành kinh doanh, môi trường kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động
Trong luận văn này sử dụng quy mô của doanh nghiệp được đo bằng Logarith tự nhiên của tổng tài sản (Onaolapo and Kajola, 2010)
Trang 28Một doanh nghiệp có nhiều tài sản cố định hữu hình thì có khả năng vay nợ nhiều hơn do các ngân hàng thường đòi hỏi tài sản thế chấp Tỷ lệ tài sản cố định cao có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng sử dụng đòn bẩy nợ cao, điều này có thể giúp doanh nghiệp có nhiều lợi nhuận khi nền kinh tế trong đà phát triển Hơn nữa, tài sản
cố định cũng bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông và chủ nợ tránh khỏi rủi ro khi công ty gặp nguy cơ phá sản (Onaolapo and Kajola, 2010)
Tuy nhiên, một tỷ lệ tài sản cố định cao cho thấy vốn lưu động thấp, các khoản phải thu thấp, tồn kho thấp và tiền mặt duy trì cũng thấp Điều này làm hạn chế khả năng của công ty trong việc đáp ứng nhu cầu tăng về sản phẩm và dịch vụ Việc giảm tài sản hiện tại (tài sản cố định cao) sẽ làm giảm doanh số bán hàng, do giảm các nguyên vật liệu, chi phí bán hàng …dẫn đến làm giảm hiệu quả tổng thể (Skandalis and Liargovas, 2005) Hơn nữa, trong thời kỳ khủng hoảng, việc giữ nhiều tài sản cố định khiến doanh nghiệp bị thiếu vốn, khó linh hoạt thay đổi quy mô và cơ cấu để cải thiện hiệu quả hoạt động Vì vậy, tỷ lệ tài sản cố định có mối quan hệ âm với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trong luận văn này sử dụng tỷ lệ tài sản cố định để thể hiện cấu trúc tài sản của doanh nghiệp và được tính toán như sau:
có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra
Dựa theo nghiên cứu của Onaolapo & Kajola (2010), hệ số vòng quay tổng tài sản được tính như sau:
Doanh thu thuần
Vòng quay tổng tài sản =
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu phản ánh vòng quay tổng tài sản chịu ảnh hưởng rất lớn bởi đặc điểm ngành kinh doanh, chiến lược kinh doanh và trình độ quản lý cũng như sử dụng tài sản của DN Hệ số này càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào
Trang 29các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả, dẫn tới tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu vòng quay tổng tài sản thấp, tức là vốn của DN sử dụng chưa hiệu quả, DN có những tài sản đang ứ đọng hoặc công suất hoạt động thấp
2.2.1.6 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà DN có được
để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho DN vay hoặc nợ
Khả năng thanh toán của DN phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm nào trong chu
kỳ kinh doanh của DN Khả năng thanh toán của DN đề cập đến khả năng thanh khoản của những tài sản của DN Tính thanh khoản phản ánh khả năng chuyển đổi một loại tài sản thành tiền mặt cần mất bao nhiêu thời gian và tốn bao nhiêu chi phí Tài sản nào càng tốn ít thời gian và chi phí để chuyển đổi thành tiền mặt thì tính thành khoản của tài sản đó càng cao và ngược lại
Khả năng thanh toán của DN cần phải xem xét khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năng thanh toán nợ dài hạn Xem xét khả năng thanh toán của DN để có thể biết được các khoản nợ đang ở mức báo động hay ở tình trạng kiểm soát được Khi
DN đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và nợ dài hạn thì tình hình tài chính của
DN lành mạnh, góp phần ổn định và khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh tăng hiệu quả hoạt động của DN
Dựa theo nghiên cứu của Skandalis & Liargovas (2005), trong luận văn này sử dụng khả năng thanh toán nợ ngắn hạn để đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp và được tính toán như sau:
Tài sản ngắn hạn
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn
2.2.2 Các nhân tố phi tài chính
2.2.2.1 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp
Thời gian hoạt động cũng có thể coi là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Theo Onaolapo and Kajola (2010), thời gian hoạt động thực sự có thể giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn Các doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm có thể tích tụ được nhiều vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh cũng như các dự án đầu tư mới của mình Đồng thời, do đã hoạt động được
Trang 30trong một thời gian dài nên những doanh nghiệp này thường có nhiều kinh nghiệm, đã tạo được uy tín và mối quan hệ sâu rộng ngoài xã hội với các doanh nghiệp khác hoặc với các ngân hàng thương mại, do đó dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn cũng như thông tin có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp mình, vì vậy hiệu quả hoạt động cũng cao
2.2.2.2 Trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp
Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011), khi trình độ học vấn càng cao, các chủ doanh nghiệp càng có khả năng tiếp cận các phương thức khoa học quản lý hiện đại giúp công ty phát triển hơn và có nhiều cơ hội hơn, đồng thời có mối quan hệ rộng hơn, thông hiểu về các thể chế, quy định chính sách nhiều hơn Vì vậy, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp cũng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
2.2.2.3 Năng lực quản trị tài chính
Năng lực quản trị tài chính có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn
và dài hạn cho HĐKD thường xuyên của DN cũng nhu đầu tư phát triển Vai trò của nhà quản trị tài chính là phải xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của DN trong từng thời kỳ, chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo DN hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp nhất Hiệu quả hoạt động kinh doanh phụ thuộc lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Người quản lý phải biết đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cở
sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của các dự án từ đó chọn ra dự án đầu
tư tối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để DN có thể chớp lấy các cơ hội kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động
2.2.2.4 Môi trường cạnh tranh
Nghiên cứu yếu tố môi trường cạnh tranh là nội dung quan trọng nhất trong quá trình kiểm soát môi trường bên ngoài Đây là yếu tố gắn trực tiếp với mỗi doanh nghiệp và phần lớn các hoạt động của doanh nghiệp cũng như sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xảy ra trực tiếp tại đây
Michael Porter trong tác phẩm “Cometitive Strategy” đã đề xuất mô hình 5 yếu tố cạnh tranh tạo thành bối cảnh cạnh tranh trong bất cứ ngành nào Mô hình này bao gồm:
Trang 31 Khách hàng
Doanh nghiệp sản xuất và cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng là mối quan hệ trên thị trường Trong mối quan hệ đó khách hàng có thể tạo ra áp lực đối với doanh nghiệp như đòi hỏi về giá và chất lượng, mẫu mã sản phẩm, điều kiện giao hàng, chiết khấu…Từ đó tác động không nhỏ đến lợi ích của nhà sản xuất Khi người tiêu dùng yếu thế thì doanh nghiệp
có cơ hội tăng giá và đạt lợi nhuận nhiều hơn
Người cung ứng
Người cung ứng được xem là sự đe dọa đối với doanh nghiệp khi họ có thể đẩy mức giá hàng cung cấp cho công ty lên, ảnh hưởng đến mức lợi nhuận của doanh nghiệp Các công ty thường xuyên liên hệ với các tổ chức cung ứng những nguồn hàng khác nhau như: vật tư thiết bị, nguồn lao động, vốn…Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng hàng hóa cũng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người tiêu dùng
Đối thủ cạnh tranh
Sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành là yếu tố quyết định tạo ra cơ hội hoặc mối đe dọa cho các doanh nghiệp Nếu sự cạnh tranh trên là yếu thì các doanh nghiệp sẽ nâng giá nhằm thu lợi nhuận cao hơn và ngược lại nếu sự cạnh tranh là gay gắt thì sẽ dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt về giá và chất lượng, có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp Sự cạnh tranh của các công ty trong ngành thường chịu sự tác động tổng hợp của 3 yếu tố: cơ cấu ngành, mức độ cầu và những cản trở ra khỏi ngành
Sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các doanh nghiệp trong những ngành khác nhau nhưng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng giống như những doanh nghiệp trong ngành Những công ty này thường cạnh tranh gián tiếp với nhau Trong những thời điểm nhất định các sản phẩm thay thế hình thành sức ép cạnh tranh rất lớn, giới hạn mức giá một công ty có thể định ra và do đó giới hạn mức lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại, nếu sản phẩm của một doanh nghiệp có rất ít các sản phẩm thay thế thì công ty có cơ hội tăng giá và kiếm được lợi nhuận tăng thêm
Trang 32 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các doanh nghiệp hiện không ở trong ngành nhưng có khả năng nhảy vào hoạt động kinh doanh trong ngành đó bất cứ lúc nào Đối thủ tiềm ẩn luôn là mối đe dọa, mối đe dọa ngày sẽ mãi luôn tiền ẩn hay trở thành hiện thực trong thời gian ngắn hay dài là tùy thuộc vào rào cản gia nhập ngành
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2014) nghiên cứu “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bất động sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Đề tài sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến dựa vào phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 58 doanh nghiệp bất động sản đang giao dịch trên hai Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2010- 2012 thông qua hai chỉ tiêu là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Kết quả từ mô hình cho thấy bốn biến tổng vốn vay/tổng nợ, tài sản cố định/tổng tài sản, tỷ lệ cổ phiếu quỹ/tổng vốn cổ phần, và thời gian hoạt động của doanh nghiệp đều có tác động đến hiệu quả doanh nghiệp ở cả hai chỉ tiêu là ROE và ROA Kết quả chỉ ra rằng, nếu doanh nghiệp bất động sản có tỷ lệ nợ vay và tài sản cố định càng cao thì hoạt động càng kém hiệu quả Ngược lại, tỷ lệ cổ phiếu quỹ và việc chi cho công tác bán hàng cũng như quản lý doanh nghiệp hầu như có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nghiên cứu còn chỉ ra rằng một doanh nghiệp bất động sản sẽ có hiệu quả cao nếu thời gian hoạt động của nó càng lớn
- Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011) nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố
Cần Thơ” Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Cần Thơ Cỡ mẫu được chọn là 389 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2008 -
2010 Phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi qui tuyến tính đa biến được sử
dụng trong nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố mức độ tiếp cận
chính sách hỗ trợ của Chính phủ, tuổi doanh nghiệp, trình độ học vấn của chủ
Trang 33doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, các mối quan hệ xã hội của doanh nghiệp và tốc
độ tăng doanh thu đều có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Cần Thơ
- Võ Hồng Đức và Võ Tường Luân (2014) nghiên cứu “Bằng chứng thực nghiệm
về hạn mức sử dụng nợ tối ưu trong các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam” Nghiên cứu được thực hiện để đo lường tác động theo ngưỡng của mức sử dụng nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp và đề xuất ứng dụng xác định hạn mức sử dụng nợ hợp lý nhằm đảm bảo khả năng sinh lời Đề tài này nghiên cứu hạn mức sử dụng nợ tối ưu của 191 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) giai đoạn 2005-2012 Bằng phương pháp hồi quy ngưỡng, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn tại hiệu ứng tác động theo 2 ngưỡng của mức sử dụng nợ đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Theo đó, hệ số là tích cực khi tỷ số nợ thấp hơn 56,67% Hệ số là tiêu cực khi tỷ số nợ lớn hơn 56,67%, trong phạm vi này, một sự gia tăng hơn nữa trong vay nợ sẽ làm suy giảm khả năng sinh lời công ty Bên cạnh đó, cơ hội tăng trưởng được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu (SG) có quan hệ thuận (+) với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROE); quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng Log(Tổng tài sản) không ảnh hưởng đến ROE
- Chu Thị Thu Thủy và cộng sự (2015) nghiên cứu “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính: nghiên cứu điển hình tại các công ty cổ phần phi tài
chính niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chính Minh” Đề tài
này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty từ đó đưa ra một số gợi ý đối với các nhà quản trị để nâng cao hiệu quả tài chính Nghiên cứu sử dụng số liệu của 230 công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn năm 2011-2013 trong 14 ngành Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu quả tài chính (ROA) của các công ty bị ảnh hưởng đáng kể bởi tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, năng lực quản lý, quy mô công ty, khả năng thanh toán nhanh và chu kỳ sản xuất kinh doanh của công ty Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động dương (+) của ROA lên tỷ suất sinh lời trên vốn chủ
sở hữu (ROE)
- Đỗ Dương Thanh Ngọc (2011) nghiên cứu “Các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên
Trang 34thị trường chứng khoán Việt Nam” Tác giả thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hịệu quả hoạt động kinh doanh dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE Đề tài sử dụng công cụ kinh tế lượng hồi quy để thực hiện ước lượng, kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 40 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các biến xem xét (tỷ lệ nợ, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, tỷ trọng tài sản cố định) thì có 1 biến tác động đến hiệu quả kinh doanh Trong đó biến tỷ lệ nợ có tác động rất mạnh theo chiều âm đến hiệu quả kinh doanh Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng phù hợp với một số kết quả nghiên cứu có liên quan trên thế giới và phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Việt Nam trong giai đoạn
2006 – 2010 Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các kiến nghị phù hợp đối với doanh nghiệp xây dựng và đối với Nhà nước nhằm cải thiện cơ cấu vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
2.3.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
- Onaolapo and Kajola (2010) thực hiện nghiên cứu “Cơ cấu vốn và hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp: bằng chứng từ Nigeria” Tác giả thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hịệu quả hoạt động kinh doanh dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE Yếu tố tác động gồm: tỷ lệ nợ, quy mô, tỷ trọng tài sản cố định, tốc độ tăng trưởng, vòng quay tài sản, số năm thành lập của công ty, ngành nghề kinh doanh Dữ liệu nghiên cứu gồm 30 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 2001 – 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ nợ tác động âm (-) với HQKD; vòng quay tài sản tác động dương (+) tới ROA, ROE; quy
mô và số năm thành lập của công ty tác động dương (+) đến ROE; tỷ trọng tài sản cố định tác động âm (-) tới ROA, tức là công ty có tỷ lệ tài sản cố định càng cao thì hiệu HQKD càng thấp; yếu tố ngành nghề kinh doanh có tác động đến HQKD
- Weixu (2005) thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh” Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 1.130 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải, ngoại trừ các công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, công ty tài chính
Trang 35Các biến được đưa vào mô hình nghiên cứu như sau: Biến phụ thuộc (Biến
HQKD): tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Biến độc lập (Yếu tố tác động):
tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu (D), tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản (GROWTH), quy mô công ty (SIZE) Weixu nghiên cứu tác động của biến tỷ lệ nợ và một số biến khác đến biến HQKD, trong đó ông xây dựng 3 mô hình: quan hệ tuyến tính, quan hệ phi tuyến bậc 2 và quan hệ phi tuyến bậc 3 Kết quả nghiên cứu cho thấy: HQKD bị tác động rất lớn bởi biến tỷ lệ nợ HQKD có mối tương quan mạnh phi tuyến bậc 2, bậc 3 khi tỷ lệ nợ < 100% Tỷ lệ nợ có tác động dương (+) đến HQKD khi ở mức tỷ lệ nợ thấp và tác động âm (-) khi ở mức tỷ lệ nợ cao, HQKD không có tương quan mạnh với tỷ lệ nợ dài hạn, lý do là các công ty ở Trung Quốc thích sử dụng nợ ngắn hạn hơn là sử dụng nợ dài hạn Biến SIZE có tác động dương (+) đến HQKD khá mạnh ở mô hình tuyến tính, còn mô hình phi tuyến thì SIZE không có tác động Biến GROWTH không có tác động đến HQKD ở cả 3 mô hình
- Zeitun and Titan vào năm 2007 đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến HQKD trên cả 2 phương diện là tài chính và thị trường Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện từ năm 1989 – 2003 của 167 công ty niêm yết trên giao dịch chứng khoán Amman – Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính Về tài chính – biến HQKD được đại diện bởi: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Trên phương diện thị trường – biến HQKD được đại diện bởi: tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần và giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản (Tobin’s Q): tỷ số giữa giá trị thị trường của vốn cổ phần trên giá trị sổ sách của vốn
cổ phần (MBVR) Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng cấu trúc vốn được đo lường bằng tỷ số nợ (TDTA), tỷ số nợ dài hạn (LDTA) và tỷ số nợ ngắn hạn (SDTA) của các công ty có quan hệ nghịch (–) đáng kể đến hiệu quả hoạt động của công ty (ROA) Kết quả nghiên cứu còn phát hiện cơ hội tăng trưởng được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu (SG), quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng Log(Tổng tài sản) đều có quan hệ thuận chiều với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROA) Bên cạnh đó, cấu trúc tài sản được đo bằng tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản (TANG) có quan hệ nghịch (–) đáng kể đến hiệu quả hoạt động của công ty (ROA)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố có tác động đến HQKD bao gồm: tỷ lệ
nợ (D), tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản (Growth), quy mô công ty (Size), thuế (Tax), ngành nghề kinh doanh (Indust), tỷ trọng tài sản cố định (Tangibility) Trong
Trang 36đó, biến tỷ lệ nợ có tác động mạnh nhất, kết quả lần này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó; các yếu tố có tác động dương (+) đến HQKD gồm: Growth, Size, Tax; tỷ trọng tài sản cố định có tác động (-) đến HQKD Công ty có tỷ trọng tài sản cố định cao thì HQKD thấp do các công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà không cải tiến được HQKD; yếu tố ngành nghề kinh doanh có tác động mạnh đến yếu tố HQKD
ở một số lĩnh vực sau: bất động sản, dịch vụ giáo dục, hóa học và dầu mỏ, thuốc lá
- Abor (2005) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của
22 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Ghana giai đoạn 1998-2002 Bằng phương pháp hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, có mối quan hệ thuận (+) giữa tỷ số nợ (DA), tỷ số nợ ngắn hạn (SDA) với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROE) Tuy nhiên, giữa tỷ số nợ dài hạn (LDA) và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROE) lại có mối quan hệ nghịch (–) Bên cạnh đó, cơ hội tăng trưởng được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu (SG), quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng Log(Tổng doanh thu) đều có quan hệ thuận chiều với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROE) Kết quả nghiên cứu còn phát hiện các doanh nghiệp tại Ghana sử dụng
nợ ngắn hạn trên 85% trong cơ cấu nợ
- Almajali et al (2012) thực hiện nghiên cứu "Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty bảo hiểm Jordan niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Amman” Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của công ty bảo hiểm Jordan Nghiên cứu bao gồm tất cả các công
ty bảo hiểm tham gia ở Chứng khoán Amman trong giai đoạn (2002-2007) tổng cộng
25 Công ty bảo hiểm Các dữ liệu thu thập được phân tích bằng cách sử dụng một số
kỹ thuật thống kê cơ bản như T-test và hồi quy Multiple Kết quả cho thấy các biến số sau (đòn bẩy, tính thanh khoản, kích cỡ, chỉ số năng lực quản lý) có hiệu quả thống kê tích cực về hiệu quả hoạt động tài chính của các công ty bảo hiểm Jordan Các nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng sự xem xét về độ tăng tài sản của công ty sẽ dẫn đến một hiệu quả hoạt động tài chính tốt và có một nhu cầu lớn để có các nhân viên có trình độ cao trong cấp quản lý cao
- Ahmad et al (2012) sử dụng một mẫu gồm 58 doanh nghiệp ngành xây dựng tại Malaysia giai đoạn 2005-2010 Bằng phương pháp hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, có mối quan hệ nghịch (–) giữa tỷ số nợ (TD), tỷ số nợ ngắn hạn (STD) với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROA, ROE) Tuy nhiên, tỷ số nợ dài
Trang 37hạn (LTD) có mối quan hệ thuận (+) chỉ với ROE Bên cạnh đó, cơ hội tăng trưởng được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng tài sản (AGROW) có quan hệ thuận (+) với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROA, ROE); quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng Log(Tổng tài sản) không ảnh hưởng đến ROE, nhưng lại có ảnh hưởng thuận (+) với ROA
- Hasan et al (2014) nghiên cứu sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động công ty Nghiên cứu này đã thực hiện trên một mẫu gồm 36 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Bangladesh giai đoạn 2007-2012 Kết quả cho thấy rằng,
có mối quan hệ nghịch (–) giữa tỷ số nợ (TDTA), tỷ số nợ ngắn hạn (STDTA), tỷ số nợ dài hạn (LTDTA) với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (ROA), nhưng lại không ảnh hưởng đến ROE Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng Log(Tổng tài sản) có quan hệ thuận (+) với ROA, nhưng lại không ảnh hưởng đến ROE
Tóm tắt chương 2
Chương 2 của luận văn đã trình bày một số lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra tác giả còn đề cập đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó làm cơ sở để đi vào phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp cũng như các vấn đề cần giải quyết để nâng cao hoạt động của doanh nghiệp ở chương 4
Trang 38CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của đề tài được trình bày ở sơ đồ sau đây:
Nguồn: đề xuất của tác giả
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản trên Sàn
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty Bất Động Sản
trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các công ty
Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Lý luận về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Lý thuyết về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Xác định mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của
các công ty BĐS trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
NGUỒN SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
Nguồn số liệu thu thập: thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu: thu thập từ trang web Sàn giao dịch Chứng Khoán
thành phố Hồ Chí Minh; các báo cáo, sách báo, tạp chí, tư liệu liên quan đến vấn đề hiệu
quả kinh doanh bất động sản; Các trang Web của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Thống kê mô tả, so sánh đối chiếu
Nghiên cứu định lượng: phân tích hồi quy đa biến (OLS)
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ MÔ HÌNH VÀ CÁC ĐỀ XUẤT
Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản
trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
Kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
các công ty bất động sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các
công ty Bất Động Sản trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
BÁO CÁO KẾT QUẢ VÀ
KẾT LUẬN
Trang 393.2 Mô tả dữ liệu
Số liệu sử dụng cho mô hình là số liệu từ 2010-2015 lấy từ báo cáo tài chính của
35 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM, các số liệu này đều được cung cấp bởi website www.hsx.vn (trang web Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM)
Thời gian đánh giá bắt đầu tính từ năm 2010 đến năm 2015 nên số quan sát theo năm là 6 (đã trừ 01 năm gốc khi tính tốc độ tăng trưởng doanh thu, ROA, ROE) và đến cuối năm 2015 số lượng doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM là 35 doanh nghiệp, do đó tổng số mẫu là 210 mẫu Danh sách
35 doanh nghiệp được trình bày ở phục lục 1
3.3 Các biến nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
3.3.1 Các biến nghiên cứu
3.3.1.1 Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu là hiệu quả hoạt động của các công ty BĐS trên HOSE Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp được thể hiện qua 3 chỉ tiêu là ROA, ROE và ROS
Skandalis and Liargovas (2005),
Lê Thị Thùy Linh (2012)
Trang 403.3.1.2 Biến độc lập
Biến biến độc lập: trên cơ sở lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các công ty BĐS trên HOSE, tác giả lựa chọn các biến biến độc lập để đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: tỷ lệ nợ; tốc
độ tăng trưởng của doanh nghiệp; quy mô doanh nghiệp; tỷ lệ tài sản cố định; vòng quay tổng tài sản và khả năng thanh toán
Các biến nghiên cứu được mô tả chi tiết thông qua bảng sau:
Bảng 3.2 Biến độc lập
Nợ phải trả Tổng tài sản
Weixu (2005), Onaolapo and Kajola (2010), Zeitun and Titan (2007), Đỗ Dương Thanh Ngọc (2011), Võ Hồng Đức và Võ Tường Luân (2014)
Onaolapo and Kajola (2010), Zeitun and Titan (2007), Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2014)