DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BPB : Bảng phân bổ BTL : Bảng tiền lương CT : Chứng từ GTGT : Giá trị gia tăng KTQT : Kế toán quản trị KTTC : Kế toán tài chính NCTT : Nhân công trực tiếp NVLTT
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
ch ưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Chi
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của luận văn 2
6 Tổng quan tài liệu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 6
1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí 6
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí 7
1.2 KHÁI NIỆM CHI PHÍ VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ 8
1.2.1 Khái niệm chi phí 8
1.2.2 Phân loại chi phí 9
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 15
1.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh 15
1.3.2 Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm 22
1.3.3 Kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỰC PHẨM FOODINCO 33
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH MTV THỰC PHẨM FOODINCO 33
Trang 52.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty 34
2.1.3 Quy trình công nghệ sản xuất bột mỳ 35
2.1.4 Cơ cấu tổ chức quản lý 37
2.1.5 Tổ chức bộ máy kế toán 39
2.1.6 Tổ chức vận dụng hình thức kế toán 40
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỰC PHẨM FOODINCO 41
2.2.1 Phân loại chi phí 41
2.2.2 Công tác lập dự toán chi phí tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco 43
2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 46
2.2.4 Kế toán giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp 56
2.2.5 Kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh tại Công ty 59
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỰC PHẨM FOODINCO 68
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỰC PHẨM FOODINCO 70
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỰC PHẨM FOODINCO 70
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỰC PHẨM FOODINCO 71
3.2.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí của Công ty 71
3.2.2 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí 74
Trang 6ty 82 3.2.4 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán đảm bảo thực hiện kế toán quản trị chi phí 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPB : Bảng phân bổ BTL : Bảng tiền lương
CT : Chứng từ GTGT : Giá trị gia tăng KTQT : Kế toán quản trị KTTC : Kế toán tài chính NCTT : Nhân công trực tiếp NVLTT : Nguyên vật liệu trực tiếp
PC : Phiếu chi QLDN : Quản lý doanh nghiệp SXC : Sản xuất chung
Trang 8Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Kế hoạch tiêu thụ năm 2012 442.2 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 452.3 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp 46
2.4 Bảng kê chi tiết nguyên vật liệu xuất dùng cho sản
2.5 Bảng tính tỷ lệ thu hồi các loại lúa tháng 01/2012 52
2.6 Bảng phân bổ nguyên vật liệu trực tiếp tháng
2.7 Bảng tính giá thành sản phẩm tháng 01/2012 552.8 Sổ chi tiết giá vốn hàng bán tháng 01/2012 572.9 Sổ chi tiết chi phí bán hàng tháng 01/2012 58
2.10 Sổ chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp tháng
Trang 93.3 Bảng tính giá thành dự toán quí I/2012 783.4 Dự toán giá vốn hàng bán quí I/2012 793.5 Dự toán chi phí bán hàng quí I/2012 813.6 Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp quí I/2012 82
3.7 Báo cáo tình hình chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang 2.1 Quy trình công nghệ sản xuất bột mỳ 35 2.2 Tổ chức bộ máy quản lý 37 2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 39 2.4 Hình thức kế toán 41 3.1 Mô hình kết hợp công việc giữa KTTC và KTQT 88
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp cần phải tận dụng mọi cơ hội, sử dụng tối ưu các nguồn lực bên trong và bên ngoài để có thể cạnh tranh
và phát triển không ngừng nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận Trong đó, thông tin đóng vai trò là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng, là cơ sở cho quá trình phân phối, điều hòa các nguồn lực, trợ giúp cho doanh nghiệp trong việc thực hiện mục đích kinh doanh của mình Thông tin được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó thông tin do hệ thống thông tin kế toán cung cấp có vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu được
Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin kế toán, thông qua các báo cáo nội bộ, cung cấp thông tin cho nhà quản lý, giúp họ đưa ra được những quyết định chính xác, kịp thời mang tính chiến lược để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nhìn chung ở Việt Nam hiện nay kế toán quản trị còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự là công cụ cung cấp thông tin giúp cho nhà quản
lý xem xét, phân tích, làm cơ sở ra các quyết định Điều này có ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng và hiệu quả của các quyết định quản trị và là một trong các nguyên nhân làm cho sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế khi tham gia thị trường thế giới
Trong bối cảnh giá cả nguyên vật liệu đầu vào, lãi suất ngân hàng… ngày càng tăng thì bài toán tối đa hóa lợi nhuận trở thành một thách thức vô cùng to lớn đối với các doanh nghiệp hiện nay Để giải đáp được bài toán này thì yếu tố chi phí cần phải được quan tâm thích đáng Do đó, vấn đề đặt ra là các nhà quản lý phải sử dụng hiệu quả hệ thống kế toán quản trị chi phí để nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình Vì vậy, luận văn chọn nghiên cứu đề tài: “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco”
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco Ở luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu và lấy số liệu về việc tính giá thành sản phẩm ở mảng sản xuất và kinh doanh bột mỳ, còn các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tập trung vào tất cả hàng hóa và sản phẩm của Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, thu thập, tính toán, hệ thống hóa để khái quát những vấn đề lý luận về vấn
đề kế toán quản trị chi phí
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco
Trang 13Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco
6 Tổng quan tài liệu
Kế toán quản trị chi phí là một công cụ quản lý không thể thiếu, hỗ trợ cho hệ thống quản trị, cho phép xem xét toàn diện các vấn đề về hoạch định, kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí là nội dung có ý nghĩa quan trọng Tiết kiệm chi phí, hạ giá bán, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế hội nhập và có tính toàn cầu là một yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp Do đó, một số doanh nghiệp đã và đang vận dụng kế toán quản trị chi phí vào doanh nghiệp của mình Tuy nhiên một số doanh nghiệp chưa thấy được tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí đối với công tác quản lý doanh nghiệp Vì vậy các nghiên cứu gần đây đã tiến hành tìm hiểu về công tác kế toán quản trị phí trong các doanh nghiệp để đánh giá việc vận dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp, trên
cơ sở lý thuyết góp phần hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho từng doanh nghiệp cụ thể
GS.TS Trương Bá Thanh, TS Trần Đình Khôi Nguyên, Th.S Lê Văn Nam (2008), “Giáo trình kế toán quản trị” Giáo trình đã cung cấp đầy đủ hệ thống lý thuyết về kế toán quản trị từ công tác hoạch định đến tổ chức kiểm soát, đánh giá và ra quyết định, là cơ sở lý thuyết giúp đánh giá thực trạng và
là căn cứ đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị nói chung
và kế toán quản trị chi phí nói riêng ở các doanh nghiệp
GS.TS Trương Bá Thanh, Nguyễn Thanh Trúc (2008), “Kế toán quản trị chi phí ở các Công ty cà phê nhà nước trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” Nội dung nghiên cứu đặc điểm quản trị chi phí tại các doanh nghiệp kinh doanh cà phê nhà nước ở Đắk Lắk, nhóm tác giả đã đánh giá chỉ ra những hạn chế, những
Trang 14nguyên nhân trong công tác kế toán quản trị chi phí theo đặc thù ngành cà phê Từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại các Công ty cà phê nhà nước trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, cụ thể về cách phân loại chi phí, tính giá thành, hoàn thiện công tác kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm
Một số đề tài luận văn nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí của các tác giả: Th.S Phạm Xuân Thư (2010), “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty dược
TW III”, Th.S Ngô Thị Hường (2010), “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí ở Công ty Cổ phần bia Phú Minh”, “Th.S Lê Thị Ngọc Dung (2012),
“Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần đầu tư và sản xuất Việt Hàn (VHG)” Các luận văn này tập trung nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất hiện nay Các luận văn đã nghiên cứu công tác kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp, trên cơ sở lý thuyết đánh giá trực trạng và đề xuất một số biện pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí phù hợp với đặc thù của từng doanh nghiệp Về phương pháp nghiên cứu, các luận văn đều sử dụng các phương pháp thu thập tài liệu liên quan đến việc so sánh đối chiếu để tiến hành nghiên cứu Về nội dung, các luận văn phản ánh thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp chưa thực sự được chú trọng, các thông tin kế toán quản trị chi phí chưa được sử dụng hiệu quả Trên
cơ sở lý luận, các tác giả đã đưa ra các đánh giá, các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất
Qua các đề tài nghiên cứu này, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về công tác
kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bột mỳ Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco là doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất và kinh doanh bột mỳ, Công ty đã từng bước áp dụng kế toán quản trị chi phí vào công tác kế toán, nhưng việc vận dụng kế toán quản trị
Trang 15chi phí tại Công ty chưa khoa học, chưa phân loại chi phí phục vụ cho kế toán quản trị, công tác lập dự toán chi phí và tính giá thành chưa thực sự là công cụ cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản trị Vì vậy, trên cơ
sở kế thừa những lý luận về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng, tác giả đã thực hiện đề tài: “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco” Trong đề tài này, tác giả đã thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu nội dung kế toán quản trị chi phí ở Công ty như: phân loại chi phí theo yêu cầu của kế toán quản trị, công tác lập dự toán chi phí, các báo cáo chi phí phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát và phân tích chi phí phục vụ cho quá trình ra quyết định của các nhà quản trị, giúp cho công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thực phẩm Foodinco
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, vì vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về
kế toán dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý (quá trình sản xuất) cho chủ thể quản lý (cơ quan quản lý) Đây là định nghĩa hướng về bản chất của kế toán Theo định nghĩa này, sản xuất ra của cải vật chất là một tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Để sản xuất có hiệu quả cần phải có hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chức thực hiện theo định hướng đã đề ra Trong hoạt động quản lý đó, kế toán chính là cầu nối thông tin giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý
Thứ hai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế của một tổ chức Định nghĩa này hướng về nội dung của kế toán Theo định nghĩa này thì kế toán cần áp dụng các phương pháp kế toán như phương pháp chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp – cân đối để cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, xét một cách tổng quát thì kế toán quản trị chi phí có bản chất
Trang 17là một bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí
là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí về hoạt động kinh tế của một tổ chức Từ đó có thể rút ra bản chất của kế toán quản trị chi phí cụ thể như sau:
- Kế toán quản trị chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành,
đã ghi chép, hệ thống hóa trong sổ kế toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết định các phương án kinh doanh
- Kế toán quản trị chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp Những thông tin đó có ý nghĩa với những bộ phận, những người điều hành, quản lý doanh nghiệp
- Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của công tác kế toán nói chung
và là một bộ phận không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán nhằm cung cấp thông tin về chi phí để giúp nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch kinh doanh cụ thể trong từng khoảng thời gian nhất định Từ kế hoạch chung của toàn doanh nghiệp các bộ phận triển khai thành kế hoạch riêng của bộ phận
Để thực hiện vai trò của mình, kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch, phản ánh thông tin thực hiện để trợ giúp các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch, xử lý thông tin để các nhà quản lý thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Kế
Trang 18toán quản trị chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản lý trước và sau quá trình kinh doanh
Kế toán quản trị chi phí tiến hành cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh, cung cấp những thông tin cụ thể về chi phí theo yêu cầu quản lý để giúp họ đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn
Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt là giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động
Kế toán quản trị chi phí còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo định kỳ và báo cáo đặc biệt
1.2 KHÁI NIỆM CHI PHÍ VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ
1.2.1 Khái niệm chi phí
Chi phí được định nghĩa là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo ra các loại tài sản, hàng hóa hoặc dịch vụ [8, tr39] Qua định nghĩa này, có thể thấy nội dung của chi phí rất đa đạng, trong kế toán quản trị thì chi phí được phân loại và sử dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu đa dạng tại các thời điểm khác nhau của các nhà quản lý trong doanh nghiệp Thêm vào đó, chi phí phát sinh trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau như: sản xuất, thương mại, dịch vụ sẽ có đặc điểm khác nhau, trong đó nội dung chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thể hiện tính đa dạng và bao quát nhất
Trong phần này, luận văn sẽ khái quát chi phí theo các tiêu thức phân loại sau:
- Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Trang 19- Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác định trong kỳ
- Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí
- Các cách phân loại chi phí khác phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định
1.2.2 Phân loại chi phí
a Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất: là quá trình kết hợp giữa sức lao động với tư liệu lao động và đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm trong một kỳ kinh doanh nhất định, bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm các loại nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo ra sản phẩm, trong đó chi phí nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể sản phẩm, chi phí này có thể tính cho từng loại sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, phụ cấp lương, và các khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm Chi phí này được tính trực tiếp vào từng loại sản phẩm được sản xuất
ra, nó có thể được xác định rõ ràng và cụ thể cho từng loại sản phẩm
- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi phân xưởng [8, tr41] Chi phí sản xuất chung chủ yếu bao gồm 3 loại chi phí là chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp và các khoản chi phí khác Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp gồm chi phí các loại vật liệu, nhiên liệu cần thiết để hoạt động sản
Trang 20xuất được trôi chảy, chi phí nhân công gián tiếp là tiền lương, phụ cấp lương
và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khác như chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí điện, nước,…Đặc điểm của chi phí sản xuất chung là không thể tính trực tiếp vào sản phẩm, chúng sẽ được tính vào chi phí sản phẩm thông qua việc phân bổ chi phí
Ngoài việc chia chi phí sản xuất thành 3 yếu tố chi phí cơ bản như trên,
kế toán quản trị còn chia chi phí sản xuất thành hai loại là (1) Chi phí ban đầu
và (2) Chi phí chuyển đổi, trong đó:
- Chi phí ban đầu: bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Chi phí ban đầu cũng phản ánh mức chi phí riêng biệt, cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm
- Chi phí chuyển đổi: bao gồm chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Chi phí này phản ánh chi phí phát sinh trong quá trình chuyển đổi nguyên liệu thành thành phẩm
* Chi phí ngoài sản xuất: là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Chi phí này bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí bán hàng bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện và đẩy mạnh quá trình lưu thông, phân phối hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng Chi phí bán hàng bao gồm các khoản chi phí như chi phí quảng cáo, khuyến mãi, chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu, bao bì dùng cho việc bán hàng, hoa hồng bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên
Trang 21quan đến việc tổ chức, quản lý hành chính và các chi phí liên quan đến các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp mà không thể xếp vào loại chi phí sản xuất hay chi phí bán hàng Chi phí quản lý bao gồm chi phí tiền lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp và nhân viên văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định (văn phòng và thiết bị làm việc trong văn phòng), chi phí văn phòng phẩm, các chi phí dịch vụ mua ngoài,… Tất cả mọi tổ chức (tổ chức kinh doanh hay không kinh doanh) đều có chi phí quản lý
b Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác
định trong kỳ
Khi xem xét cách tính toán và kết chuyển các loại chi phí để xác định lợi nhuận trong kỳ kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất được chia làm hai loại là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
* Chi phí sản phẩm: bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm hoàn thành Xét theo mối quan hệ với việc xác định lợi nhuận trong từng kỳ kế toán, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển để xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng với khối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối kỳ sẽ được lưu giữ như là giá trị tồn kho và sẽ được kết chuyển để xác định lợi tức ở các kỳ sau khi mà chúng được tiêu thụ Vì vậy, chi phí sản phẩm còn được gọi là chi phí tồn kho
* Chi phí thời kỳ: bao gồm các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định các khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Nó thường bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào được xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của thời kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kết chuyển hết
để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ còn được gọi là chi phí không tồn kho
Trang 22c Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Trong các doanh nghiệp sản xuất có rất nhiều tiêu thức phân loại chi phí, tuy nhiên tiêu thức phân loại quan trọng nhất và có nhiều ứng dụng trong kế toán quản trị chi phí là phân loại chi phí theo cách ứng xử Theo cách phân loại này, chi phí bao gồm biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
* Biến phí: là những chi phí nếu xét về tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với số lượng sản phẩm tạo ra Tổng số của biến phí tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại Còn nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì biến phí lại không biến đổi trong phạm vi phù hợp Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động Biến phí bao gồm các khoản chi phí như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, ngoài ra còn bao gồm các khoản mục chi phí thuộc chi khoản mục chi phí sản xuất chung như chi phí vật liệu phụ, chi phí nhân công gián tiếp hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp như chi phí vật liệu, phí hoa hồng…
Trong thực tế, không phải tất cả biến phí đều có cách ứng xử giống nhau theo mức độ hoạt động Xét về mặt tác động thì biến phí chia làm 2 loại: biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
- Biến phí tỷ lệ là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức độ hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
- Biến phí cấp bậc là những khoản chi phí thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng Biến phí này không thay đổi khi mức độ hoạt động căn cứ thay đổi ít Nói cách khác biến phí cấp bậc cũng có quan hệ tỷ
lệ nhưng không tuyến tính với mức độ hoạt động thay đổi cho phép chi phí thay đổi để tương ứng với mức hoạt động mới Chi phí cấp bậc gồm những khoản chi phí như chi phí lao động gián tiếp, lao động bảo trì… Chiến lược của nhà quản trị trong việc ứng phó với biến phí cấp bậc là phải nắm được
Trang 23toàn bộ khả năng cung ứng của từng bậc để tránh khuynh hướng huy động quá nhiều so với nhu cầu, vì điều này sẽ gây khó khăn khi nhu cầu sau đó lại giảm đi
* Định phí: là những chi phí không thay đổi về tổng số trong một thời gian nhất định khi có sự thay đổi của số lượng sản phẩm tạo ra, nhưng nếu xét trên một đơn vị sản phẩm thì tỷ lệ nghịch với sản lượng, khi mức sản lượng tăng thì định phí tính cho một đơn vị sản lượng giảm và ngược lại Định phí trong các doanh nghiệp sản xuất gồm: chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng, chi phí công cụ dụng cụ,… Định phí bao gồm hai loại định phí: định phí bắt buộc và định phí có thể thay đổi
- Định phí bắt buộc: là loại chi phí có bản chất lâu dài dù mức độ hoạt động có bị giảm hay đình đốn ở một kỳ nào đó, định phí bắt buộc vẫn giữ nguyên không đổi, như: khấu hao tài sản cố định, tiền lương nhân viên quản
lý ở các phòng chức năng,…
- Định phí có thể thay đổi: là loại chi phí có bản chất ngắn hạn và trong những trường hợp cần thiết nhà quản lý có thể cắt giảm, như: chi phí quảng cáo, chi phí tiếp khách, chi phí đào tạo nghiệp vụ, chi phí điện thoại, văn phòng phẩm,
* Chi phí hỗn hợp: Chi phí hỗn hợp là chi phí bao gồm cả biến phí và định phí Ở mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của định phí, thường phản ánh chi phí căn bản tối thiểu để duy trì và luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của biến phí, phản ánh chi phí thực tế sử dụng hoặc sử dụng quá định mức Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm tỷ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,…
Trang 24d Các cách phân loại chi phí khác phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định
Đây là một phương pháp phân loại chi phí hữu ích trong việc kiểm soát chi phí Phương pháp phân loại này dựa trên khả năng kiểm soát chi phí đối với các nhà quản lý phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định
* Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được hoặc chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là tùy thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay không [8, tr61] Việc quản lý chi phí gắn liền một cấp quản lý nhất định, khoản chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì gọi là chi phí kiểm soát được ở cấp quản lý đó, còn ngược lại
là chi phí không kiểm soát được Chi phí không kiểm soát được ở bộ phận nào
đó thường thuộc hai dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản
lý của bộ phận hoặc các chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiểm soát từ cấp quản lý cao hơn
* Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng, do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng và được gọi là chi phí trực tiếp Ngược lại, các khoản chi phí phát sinh cho mục đích phục vụ và quản lý chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ phù hợp, ta gọi là chi phí gián tiếp Thông thường, khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp là các khoản mục chi phí trực tiếp, còn các khoản mục chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
là chi phí gián tiếp [8, tr63]
Trang 25* Chi phí lặn
Là khoản chi phí bỏ ra trong quá khứ và sẽ biểu hiện ở tất cả mọi phương
án với giá trị như nhau Khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào Chi phí này không thích hợp cho nhà quản lý khi ra quyết định
* Chi phí chênh lệch
Trong quá trình ra quyết định, nhà quản lý thường phải so sánh nhiều phương án khác nhau Tất nhiên, sẽ phát sinh các chi phí gắn liền với phương
án đó Các nhà quản lý thường so sánh các chi phí phát sinh trong các phương
án khác nhau để đi đến quyết định chọn một phương án
* Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất đi vì chọn phương án và hành động này thay vì phương án hành động khác Hành động khác ở đây là phương án tối
ưu có sẵn so với phương án được chọn Như vậy, ngoài những chi phí kinh doanh đã được tập hợp, phản ánh trên sổ sách kế toán, trước khi quyết định nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh đó có thể sử dụng theo cách khác, mà những cách này cũng mang lại lợi nhuận
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.3.1 Lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh
Dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ và toàn diện các nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc nhất định trong khoảng thời gian nhất định được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh là phương tiện cung cấp thông tin cho các chức năng hoạch định và kiểm soát chi phí Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh
Trang 26được lập chính xác và đầy đủ sẽ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
được hiệu quả Thông qua dự toán chi phí các nhà quản trị sẽ có kế hoạch về
nguồn lực để đảm bảo thực hiện các hoạt động, đồng thời lường trước những
khó khăn có thể xảy ra và có biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh koanh
nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp
Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm dự toán chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất
chung, dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp Các dự toán chi phí
này đều được lập trên cơ sở đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và sản xuất trong kỳ
a Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm:
- Dự toán lượng nguyên vật liệu trực tiếp cần cho sản xuất sản phẩm
- Dự toán lượng vật liệu cần mua vào
Việc lập dự toán lượng nguyên vật liệu trực tiếp cần cho sản xuất sản
phẩm dựa vào dự toán lượng nguyên liệu cần sử dụng và đơn giá xuất nguyên
vật liệu:
Trong đó:
Từ dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần cho sản xuất, nó sẽ chi phối tới
việc dự kiến lượng nguyên vật liệu cần mua vào trong kỳ để đáp ứng cho nhu cầu
sản xuất Dự toán nguyên vật liệu mua vào trong kỳ không chỉ để đáp ứng nhu cầu
sản xuất trong kỳ mà còn để dự trữ cho một phần nhu cầu sản xuất kỳ sau:
Dự toán chi phí Dự toán lượng Đơn giá xuất
nguyên vật liệu = nguyên vật liệu x nguyên vật liệu
trực tiếp cần sử dụng
Dự toán lượng Định mức Số lượng sản phẩm
nguyên vật liệu = tiêu hao x sản xuất dự toán
sử dụng nguyên vật liệu
(1.2) (1.1)
Trang 27Lượng nguyên vật liệu cần cho tồn kho cuối kỳ là lượng nguyên vật liệu
dự tính sẽ phải dự trữ để đáp ứng một phần nhu cầu về nguyên vật liệu của kỳ sau, có thể dự tính theo một tỷ lệ nhất định hợp lý trên cơ sở dựa vào thực tế qua các kỳ thực hiện Lượng nguyên vật liệu tồn đầu kỳ chính là lượng nguyên vật liệu tồn cuối kỳ trước chuyển sang
Dự toán nguyên vật liệu mua vào đúng đắn và hợp lý có tác dụng trong việc bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chất lượng, dự trữ hợp lý cho nhu cầu sản xuất, giúp cho quá trình sản xuất thực hiện đúng kế hoạch
b Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượng sản xuất Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy
mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất Trong một số ít các trường hợp chi phí nhân công trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động, đó là trường hợp ở các doanh nghiệp sử dụng công nhân có trình độ tay nghề cao không thể trả công theo sản phẩm Khi lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp thì dựa vào khối lượng sản phẩm cần sản xuất theo dự toán và định mức thời gian sản xuất của một đơn vị sản phẩm để tính tổng thời gian lao động trực tiếp cần thiết cho kỳ
Số lượng Số lượng Số lượng Số lượng
nguyên liệu = nguyên liệu + nguyên liệu - nguyên liệu
mua vào sử dụng theo tồn cuối kỳ tồn thực tế
dự toán theo dự toán đầu kỳ
(1.3)
Trang 28dự toán Sau đó dựa vào định mức đơn giá của một giờ công lao động trực tiếp để tính dự toán tổng chi phí nhân công trực tiếp
Tuy nhiên nếu doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm thì dự toán sẽ được xây dựng cho từng loại sản phẩm, sau đó tổng cộng thành dự toán tổng thể toàn doanh nghiệp
c Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung thông thường bao gồm nhiều khoản mục và nhiều yếu tố chi phí cấu thành Mặc dù vậy, khi lập dự toán chi phí sản xuất chung thường không lập dự toán chi tiết cho từng khoản mục chi phí cấu thành, mà lập dự toán theo định phí và biến phí chi phí sản xuất chung
Khi xây dựng dự toán chi phí sản xuất chung trước hết xây dựng tổng biến phí sản xuất chung Biến phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuất ở phạm vi phân xưởng sản xuất và thường biến động tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động như nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, nhiên liệu, năng lượng Khi dự toán chi phí này thường xác lập biến phí sản xuất chung cho từng đơn vị hoạt động
Dự toán Dự toán Định mức thời gian
tổng thời gian = khối lượng x sản xuất trực tiếp cho
lao động sản phẩm một đơn vị sản phẩm
trực tiếp cần sản xuất
(1.4)
Dự toán Dự toán Định mức đơn giá
tổng chi phí = tổng thời gian x của một giờ công
nhân công lao động lao động trực tiếp
Trang 29Định phí sản xuất chung thường bao gồm những chi phí liên quan đến phục vụ, tổ chức, quản lý ở các phân xưởng sản xuất, ít biến động hoặc không biến động khi mức độ hoạt động thay đổi như chi phí lương quản lý, chi phí khấu hao, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí bảo hiểm tài sản, chi phí hành chính… Việc dự toán định phí sản xuất chung hằng năm có thể được lập dựa vào mức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh nghiệp
d Dự toán giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ tính theo phương pháp giá toàn bộ Dự toán giá vốn hàng xuất bán được xây dựng dựa trên cơ sở số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán, giá thành dự toán để sản xuất sản phẩm, số lượng sản phẩm dự trữ vào cuối kỳ:
Nếu đơn vị không có tồn kho sản phẩm hoặc chi phí đơn vị tồn kho tương tự nhau thì giá vốn hàng bán có thể tính bằng tích của sản lượng tiêu thụ nhân với giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm Tương tự như dự toán chi phí nguyên vật liệu, khi lập dự toán giá vốn hàng bán phải chú ý các phương pháp đánh giá hàng tồn kho mà doanh nghiệp sử dụng để tính toán chính xác
Dự toán Định phí Tỷ lệ % tăng (giảm)
định phí = sản xuất chung x định phí sản xuất chung
sản xuất chung thực tế kỳ trước theo dự kiến
Dự toán Dự toán Sản lượng
biến phí = biến phí đơn vị x sản xuất
sản xuất chung sản xuất chung theo dự toán
Trang 30e Dự toán chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp và ngược lại nên khi lập dự toán chi phí bán hàng phải tính đến mối liên hệ với dự toán tiêu thụ của doanh nghiệp
Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm dự tính của kỳ sau Dự toán này nhằm mục đích tính trước và tập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng Khi xây dựng dự toán cho các chi phí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng như yếu tố biến đổi và yếu tố cố định trong thành phần chi phí
Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn với các quyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năng kinh doanh của doanh nghiệp Các chi phí cũng có thể thay đổi trong trường hợp phát triển thêm mạng phân phối mới, dịch vụ mới sau bán hàng, dịch vụ nghiên cứu phát triển thị trường,…
(1.11)
Biến phí bán hàng của doanh nghiệp có thể là biến phí trực tiếp như hoa hồng, lương nhân viên bán hàng… Biến phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến từng bộ phận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu, hỗ trợ bán hàng… và thường được dự toán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán hoặc xác định một tỷ lệ biến phí bán hàng theo thống kê kinh nghiệm nhiều
kỳ
Dự toán Dự toán Dự toán
chi phí = định phí + biến phí bán hàng bán hàng bán hàng
Dự toán Định phí Tỷ lệ % tăng
định phí = bán hàng x (giảm) theo
bán hàng thực tế kỳ trước dự kiến
(1.10)
Trang 31
f Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí phát sinh trong phạm vi toàn bộ doanh nghiệp, thường không liên quan trực tiếp đến bộ phận hoạt động nào
Do vậy việc lập dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp thường sử dụng số liệu của các năm trước để lập dự toán Còn dự toán định phí quản lý doanh nghiệp lập tương tự như định phí sản xuất chung
Trong đó dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến
(1.14)
Dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp cũng có thể sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí quản lý doanh nghiệp trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế toán trước để xác định
tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ
Dự toán Dự toán Sản lượng
biến phí = biến phí đơn vị x tiêu thụ
bán hàng bán hàng theo dự toán
Dự toán chi Dự toán biến Dự toán định
phí quản lý = phí quản lý + phí quản lý doanh nghiệp doanh nghiệp doanh nghiệp
Dự toán biến Dự toán biến Sản lượng
phí quản lý = phí đơn vị quản x tiêu thụ
doanh nghiệp lý doanh nghiệp theo dự toán
(1.12)
(1.13)
Dự toán biến Dự toán Tỷ lệ biến
phí quản lý = biến phí x phí quản lý
doanh nghiệp trực tiếp doanh nghiệp
(1.15)
Trang 32Định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độ hoạt động Các thay đổi của loại chi phí này chủ yếu do việc trang bị đầu tư thêm cho bộ phận quản lý của doanh nghiệp Lập dự toán bộ phận này cần căn cứ vào dự báo các nội dung cụ thể của từng yếu tố chi phí để xác định chính xác định phí theo dự toán
1.3.2 Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
a Đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành
Kế toán định nghĩa chi phí là một nguồn lực được hi sinh hay mất đi để đạt một mục tiêu nhất định nào đó Chi phí phát sinh luôn gắn liền với một khoảng không gian cụ thể ở tại một thời điểm cụ thể Vì vậy, xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là một đặc tính quan trọng trong kế toán quản trị, bởi nó không đơn thuần phục vụ cho công tác tính giá thành mà còn liên quan đến công tác tổ chức kiểm tra chi phí, và phục vụ các nhu cầu khác liên quan của nhà quản trị
Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các
bộ phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tính giá thành Tùy thuộc vào tình hình, đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, đối tượng tập hợp chi phí được biểu hiện cụ thể dưới hai dạng sau:
- Các trung tâm chi phí: Trung tâm chi phí là những bộ phận trong doanh nghiệp mà nhà quản trị ở bộ phận đó phải chịu trách nhiệm về những biến động chi phí phát sinh trong kỳ Trong doanh nghiệp sản xuất, trung tâm chi phí có thể là từng phân xưởng, từng đội sản xuất, một giai đoạn công nghệ trong quy trình sản xuất ở doanh nghiệp
- Sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cùng loại, một công việc hay đơn đặt hàng, một hoạt động, hoạt động nghiên cứu triển khai cho một sản phẩm mới, hoạt động sửa chữa tài sản cố định Đối tượng tập hợp chi phí trong trường
Trang 33hợp này thường không quan tâm đến các bộ phận phát sinh chi phí mà quan tâm chi phí phát sinh cho công việc gì, ở hoạt động nào
Đối tượng tính giá thành là kết quả của quá trình sản xuất hoặc quá trình cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành để phục vụ yêu cầu quản lý Xác định đối tượng tính giá thành thường gắn liền với yêu cầu của nhà quản trị về kiểm soát chi phí, định giá bán và xác định kết quả kinh doanh về một đối tượng, hoặc hoạt động nào đó Trong doanh nghiệp sản xuất, đối tượng tính giá thành có thể
là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoàn thành qua quá trình sản xuất
b Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là một hoặc hệ thống các phương pháp dùng để phân tích và ghi nhận chi phí theo từng đối tượng kế toán chi phí Việc tập hợp chi phí có thể tiến hành bằng phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp hay phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt Do đó có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng riêng biệt Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh trực tiếp cho từng đối tượng trực tiếp chịu chi phí nên đảm bảo tính chính xác cao trong công tác kế toán Vì vậy, cần sử dụng tối đa phương pháp này khi
có đủ điều kiện ghi trực tiếp
- Phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp sử dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh ban đầu liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất nhưng không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng lẻ cho từng đối tượng được nên phải tập hợp chung cho nhiều đối tượng Sau đó lựa chọn tiêu thức thích hợp
để phân bổ chi phí này cho các đối tượng chịu chi phí Việc phân bổ chi phí này được tiến hành dựa trên cơ sở xác định phạm vi chi phí chung, hệ số phân bổ và xác định mức chi phí phân bổ chi từng đối tượng liên quan
Trang 34c Tính giá thành theo phương pháp toàn bộ
Phương pháp tính giá toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất tại phân xưởng, tại nơi sản xuất, được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành Đây là phương pháp tính giá truyền thống dựa trên ý tưởng sản phẩm trong quá trình sản xuất là sự kết hợp lao động với các loại tư liệu sản xuất để biến nguyên vật liệu thành sản phẩm có thể bán được Vì vậy giá thành của sản phẩm được tạo ra từ quá trình sản xuất phải dựa trên toàn bộ các chi phí để sản xuất sản phẩm đó
Phương pháp tính giá toàn bộ được vận dụng trong trường hợp tính giá thành theo công việc và theo quá trình sản xuất
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính như sau:
Tính giá thành theo phương pháp toàn bộ cung cấp số liệu cho doanh nghiệp lập các báo cáo tài chính, xét trên phương diện kế toán quản trị thì phương pháp này có thể coi là một cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất để làm cơ sở định giá bán sản phẩm, đánh giá hiệu quả nội bộ, kiểm soát chi phí theo từng trung tâm chi phí và ra quyết định Tuy nhiên, phương pháp toàn bộ không đáp ứng được yêu cầu quản trị trong việc lập các kế hoạch linh hoạt và đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản xuất khác nhau, trong việc cạnh tranh và tìm kiếm thị trường của các doanh nghiệp Mặt khác do quy trình công nghệ sản xuất và chất lượng của mỗi loại
Tổng chi phí cần phân bổ
Hệ số phân bổ =
Tổng tiêu thức dùng để phân bổ
(1.16)
Giá thành Chi phí Chi phí Chi phí
sản phẩm = nguyên vật liệu + nhân công + sản xuất
hoàn thành trực tiếp trực tiếp chung
(1.17)
Trang 35sản phẩm khác nhau nên việc lựa chọn tiêu thức phân bổ các chi phí sản xuất chung rất khó đảm bảo tính chính xác, khiến chi phí đơn vị và kết quả từng sản phẩm không chính xác, dẫn đến sai sót trong các quyết định của các nhà quản trị
d Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp
Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là phương pháp mà theo đó, chỉ có các chi phí sản xuất biến đổi liên quan đến sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, nơi sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành Phần chi phí sản xuất chung cố định không được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành Theo quan niệm quản trị, định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ, nghĩa là doanh nghiệp luôn phát sinh chi phí này để duy trì và điều hành hoạt động nhà xưởng cho dù có tăng hay giảm sản lượng trong kỳ trong giới hạn quy mô nhà xưởng Định phí sản xuất chung gần như ít thay đổi qua các năm trước khi có sự thay đổi quy mô sản xuất Do vậy, sẽ không hợp lý khi tính chi phí sản xuất chung cố định cho sản phẩm hoàn thành Cách nhìn định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ cũng đồng nghĩa không xem chi phí này là chi phí sản phẩm và khi đó, định phí này là yếu tố cần giảm trừ để báo cáo sự thật về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính như sau:
Trình tự tập hợp chi phí và tính giá thành theo phương pháp trực tiếp như sau:
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
- Chi phí sản xuất khi phát sinh cần phân loại theo cách ứng xử chi phí
Giá thành Chi phí Chi phí Biến phí
sản phẩm = nguyên vật liệu + nhân công + sản xuất
hoàn thành trực tiếp trực tiếp chung
(1.18)
Trang 36Các chi phí sản xuất biến đổi sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí Phần định phí sản xuất chung sẽ tập hợp riêng để phục vụ cho các yêu cầu khác của kế toán quản trị Trường hợp không thể phân loại ngay chi phí sản xuất chung thành biến phí và định phí thì chi phí này sẽ được theo dõi riêng, đến cuối kỳ sẽ phân tích thành biến phí và định phí
- Cuối kỳ, kế toán tổng hợp toàn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm Giá thành đơn vị sản phẩm được xác định như sau:
Phương pháp trực tiếp đã khắc phục được hạn chế của phương pháp toàn
bộ trong việc phân bổ các chi phí chung cố định cho các đơn vị sản phẩm, phương pháp này được sử dụng nhiều trong kế toán quản trị như định giá sản phẩm, lập dự toán chi phí linh hoạt, lập báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận, xác định sản lượng hòa vốn
1.3.3 Kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh rất đa dạng, bao gồm nhiều loại, mỗi loại có đặc điểm vận động và yêu cầu quản lý khác nhau Vì vậy cần phải tiếp cận chi phí theo nhiều hướng để xây dựng các thủ tục kiểm soát phù hợp và hữu ích Việc kiểm soát phải đảm bảo cho các bộ phận và cá nhân dễ dàng xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, đồng thời phải tạo sự thuận lợi cho nhà quản trị giám sát việc tuân thủ các thủ tục và đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, cá nhân
a Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các chi phí nguyên liệu, vật
Tổng biến phí sản xuất
Giá thành đơn vị =
sản phẩm Sản lượng tương đương hoàn thành trong kỳ
(1.19)
Trang 37liệu chính, vật liệu phụ hao phí cho từng quá trình sản xuất Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan Để kiểm soát cần phải phân tích biến động (lượng, giá) từ đó tìm ra nguyên nhân và gắn trách nhiệm đó đối với từng bộ phận được giao
- Biến động về giá: là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệu trực tiếp thực
tế với giá nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định
Ảnh hưởng biến động về giá có thể âm hoặc dương Nếu ảnh hưởng là
âm chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá vật liệu dự toán đặt ra Tình hình này được đánh giá tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng dương thể hiện giá vật liệu tăng so với dự toán và sẽ làm tăng tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Biến động về giá gắn liền với trách nhiệm của bộ phận cung ứng vật liệu Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân do biến động của giá vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng nguyên vật liệu, thuế và cả các phương pháp tính giá nguyên vật liệu nếu có
- Biến động về lượng: là chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với lượng nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ra sao
Ảnh hưởng Đơn giá Đơn giá
về giá đến nguyên nguyên Lượng nguyên
biến động = vật liệu _ vật liệu x vật liệu trực tiếp
nguyên vật liệu trực tiếp trực tiếp thực tế sử dụng
trực tiếp thực tế dự toán
(1.20)
Trang 38Nếu biến động về lượng là kết quả dương thể hiện lượng vật liệu sử dụng thực tế nhiều hơn so với dự toán, còn nếu là âm thể hiện lượng nguyên vật liệu sử dụng tiết kiệm so với dự toán Nhân tố lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắn liền với trách nhiệm của bộ phận sử dụng vật liệu (phân xưởng, tổ, đội…) Đó có thể là do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản xuất… Ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt cũng dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu hao nhiều Khi tìm hiểu nguyên nhân của biến động về lượng cũng cần xem xét đến các nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, mất điện…
b Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí, như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của công nhân trực tiếp vận hành từng quá trình sản xuất Biến động của chi phí nhân công trực tiếp gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan Để kiểm soát cần phải phân tích biến động (lượng, giá) từ đó tìm ra nguyên nhân
và gắn trách nhiệm đó đối với từng bộ phận được giao
- Biến động về giá: là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ảnh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp
(1.21)
Ảnh hưởng Lượng nguyên Lượng nguyên Đơn giá
về lượng đến vật liệu vật liệu nguyên vật liệu
biến động = trực tiếp _ trực tiếp x trực tiếp
nguyên vật liệu thực tế dự toán dự toán
trực tiếp sử dụng sử dụng
Trang 39Biến động do giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công lao động như chế độ lương, tình hình thị trường cung cầu lao động, chính sách của nhà nước… Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hoặc tiếp kiệm chi phí nhân công trực tiếp, thì việc kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp còn cho phép làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí và giá thành Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng công nhân tức là trình độ
và năng lực làm việc của công nhân Nếu giá giảm so với dự toán nhưng chất lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động đó là tốt và ngược lại
- Biến động về lượng: là chênh lệch giữa số giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về số giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp hay là nhân tố năng suất
Ảnh hưởng của nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: có thể
là trình độ và năng lực của người lao động thay đổi, do điều kiện trang bị máy
(1.22)
Ảnh hưởng Đơn giá Đơn giá
của giá đến nhân công nhân công Thời gian
biến động chi = trực tiếp _ trực tiếp x lao động
phí nhân công thực tế dự toán thực tế
trực tiếp
(1.23)
Ảnh hưởng Thời Thời Đơn giá
của thời gian gian gian nhân công
lao động đến = lao động _ lao động x trực tiếp
biến động chi phí thực tế dự toán dự toán
nhân công trực tiếp
Trang 40móc thiết bị, chính sách lương của doanh nghiệp Việc phân tích biến động chi phí sản xuất theo các khoản mục và theo nhân tố giá, nhân tố lượng giúp người quản lý phát hiện, xem xét các yếu tố đã gây ra biến động nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp
c Kiểm soát chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung và biến động của định phí sản xuất chung Biến phí sản xuất chung gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất Để kiểm soát biến phí sản xuất chung thì cần phân tích ảnh hưởng của nhân tố giá và lượng như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp
- Kiểm soát biến động biến phí sản xuất chung: Biến phí sản xuất chung gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên mức độ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, như: chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương bộ phận quản
lý trả theo sản phẩm gián tiếp, chi phí năng lượng thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất… Để kiểm soát biến phí sản xuất chung thì cũng phân tích ảnh hưởng của nhân tố lượng và giá như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
và chi phí nhân công trực tiếp
Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí sản xuất chung thường do sự thay đổi của các mức chi phí được xem là biến phí sản xuất chung Các mức này thay đổi thường do nhiều nguyên nhân như đơn giá mua vật tư gián tiếp cũng như chi phí thu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổi mức lương,…