1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thủy Sản Miền Trung.

132 172 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế biến thủy sản là một trong những ngành đang được Nhà nước quan tâm hỗ trợ nhằm phát triển chương trình kinh tế biển, khai thác lợi thế về biển của Việt Nam, nhưng những năm gần đây c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN THỊ THU HÀ

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU

THỦY SẢN MIỀN TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Mạnh Toàn

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

TRẦN THỊ THU HÀ

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 9

1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 9

1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị chi phí 9

1.1.2 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí 10

1.1.3 Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý 11

1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 13

1.2.1 Nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất 13 1.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất 17

1.2.3 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành 20

1.2.4 Phân tích chi phí sản xuất phục vụ cho kiểm soát chi phí 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG 28

Trang 5

NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG 28

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty 28

2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất của Công ty và quy trình công nghệ 29

2.1.3 Tổ chức quản lý của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung 29

2.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty 34

2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG 36

2.2.1 Đặc điểm sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung 36

2.2.2 Phân loại chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung 37

2.2.3 Công tác lập dự toán chi phí sản xuất 40

2.2.4 Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty 52

2.2.5 Phân tích chi phí phục vụ cho kiểm soát chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung 65

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG 68

2.3.1 Ưu điểm 69

2.3.2 Tồn tại 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

Trang 6

XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY

SẢN MIỀN TRUNG 72

3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG 72

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG 73

3.2.1 Phân loại chi phí sản xuất phục vụ cho kế toán quản trị 73

3.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 81

3.2.3 Phương pháp tính giá thành 92

3.2.4 Phân tích chi phí phục vụ cho việc kiểm soát chi phí sản xuất 95

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105

KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

CB Chế biến

CCDC Công cụ dụng cụ

CP NCTT Chi phí nhân công trực tiếp

CP NVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

CP SXC Chi phí sản xuất chung

Trang 8

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

2.2 Dự toán chi phí nguyên vật liệu chính 42 2.3 Dự toán chi phí nguyên vật liệu phụ 43 2.4 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 44 2.5 Tổng dự toán chi phí nhân công trực tiếp sản xuất 45 2.6 Dự toán tiền lương sản phẩm nhân công trực tiếp

sản xuất

46

2.7 Dự toán tiền ăn giữa ca và các khoản trích theo

lương nhân công trực tiếp sản xuất

49

2.8 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp sản xuất (chi

tiết)

50

2.11 Bảng tổng hợp chi phí nguyên vật liệu chính 55

2.13 Tập hợp chi phí nguyên vật liệu phụ 57 2.14 Tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 58 2.15 Tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất 60 2.16 Tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp (chi tiết) 61

Trang 9

xuất chung 2.22 Báo cáo phân tích biến động chi phí sản xuất so với

3.2 Thống kê sản lượng sản xuất và chi phí NVL dùng

cho phân xưởng, chi phí điện, chi phí nước, chi phí sửa chữa phát sinh

78

3.4 Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí

toàn công ty

80

3.7 Phân bổ biến phí sản xuất chung dự toán 85 3.8 Xây dựng dự toán biến phí sản xuất đơn vị các mặt

Trang 10

Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang

1.1 Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp 12

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO, cạnh tranh trên thị trường sẽ trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết Để cạnh tranh có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa các mặt hàng, hạ giá bán, mà còn phải đưa ra quyết định kinh doanh chính xác, kịp thời, nắm bắt được cơ hội kinh doanh Chính những yêu cầu về tính tốc độ, linh hoạt và hữu ích của thông tin mà kế toán tài chính không thể đảm trách được, kế toán quản trị (KTQT) ra đời như một tất yếu khách quan của cơ chế thị trường

Tại các doanh nghiệp sản xuất, KTQT chi phí là nội dung có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Tiết kiệm chi phí, hạ được giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế hội nhập và có tính toàn cầu là một yêu cầu bức thiết đặt ra đối với doanh nghiệp hiện nay

Chế biến thủy sản là một trong những ngành đang được Nhà nước quan tâm hỗ trợ nhằm phát triển chương trình kinh tế biển, khai thác lợi thế về biển của Việt Nam, nhưng những năm gần đây các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu, công nghệ sản xuất, trình độ quản lý…Ngành chế biến thủy sản khu vực miền Trung dù có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên nhưng vẫn không thể tránh khỏi tình hình khó khăn chung

Do đó để tồn tại và phát triển thì vấn đề đặt ra trước mắt cho Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung là phải tiết kiệm chi phí nhằm hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên qua tìm hiểu thực tế cho thấy việc ứng dụng KTQT chi phí sản xuất vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm một cách đúng mức Mặc dù Công ty đã thực hiện việc xây dựng định mức,

dự toán sản xuất nhưng việc lập dự toán cũng chỉ dừng lại ở dự toán tĩnh chưa

Trang 12

thể hiện được sự vận động của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi Điều này chưa đáp ứng thông tin cho nhà quản trị trong việc đưa ra quyết định phù hợp với những diễn biến phức tạp của thị trường khi có sự thay đổi về quy mô sản xuất, khả năng gia tăng khi có sự thay đổi về giá sản phẩm Giá thành sản phẩm ở Công ty vẫn tính theo phương pháp truyền thống Phương pháp này

dễ thực hiện nhưng lại không đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch linh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản xuất khác nhau Bên cạnh đó công tác kiểm soát chi phí chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức, Công ty chưa có báo cáo nào phân tích một cách cụ thể sự biến động của chi phí do những nhân tố nào ảnh hưởng và mỗi nhân tố ảnh hưởng là bao nhiêu, báo cáo chỉ dừng lại ở việc so sánh

Do vậy nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin có chất lượng cao, chính xác,

kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định thì “Kế toán quản trị chi phí sản xuất

tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung” là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và tìm ra những mặt tồn tại trong công tác KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung Qua đó đề xuất hoàn thiện việc vận dụng KTQT chi phí sản xuất phù hợp với đặc thù của Công ty

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung đặt ra những vấn đề gì cần phải hoàn thiện?

- Phải thực hiện những giải pháp gì để hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung?

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: công tác KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ

phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung như lập dự toán chi phí sản xuất, tập hợp chi phí sản xuất thực tế phát sinh và tính giá thành sản phẩm hoàn thành, phân tích chi phí để phục vụ việc kiểm soát chi phí và ra các quyết định kinh doanh

- Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền

Trung là đơn vị có nhiều ngành sản xuất, kinh doanh nhiều loại sản phẩm khác nhau như: sản xuất-chế biến-xuất khẩu thuỷ sản, sản xuất-kinh doanh thức ăn nuôi thuỷ sản, kinh doanh dịch vụ kho vận, kinh doanh vật tư nhập khẩu Tuy nhiên hiện nay việc sản xuất-chế biến-xuất khẩu thủy sản vẫn là hoạt động chính của Công ty Do vậy luận văn đi sâu nghiên cứu hoạt động sản xuất các mặt hàng thủy sản tại nhà máy CB Thủy đặc sản-DL10 thuộc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp mô tả được vận dụng nhằm mô tả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung

Phương pháp quan sát được vận dụng nhằm tìm hiểu thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty Qua đó đánh giá những ưu điểm, nhược điểm về KTQT chi phí sản xuất ở Công ty

Thông tin, số liệu thu thập là nguồn thông tin có liên quan đến KTQT chi phí sản xuất, từ quy trình sản xuất, quá trình lập dự toán, xây dựng định mức chi phí sản xuất và việc kiểm soát chi phí sản xuất đến KTQT chi phí sản xuất Các số liệu về chi phí dự toán được thu thập từ kế hoạch kinh doanh do Ban Kế hoạch-Đầu tư lập, chi phí thực tế như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, và chi phí sản xuất chung như sổ chi tiết và

Trang 14

sổ tổng hợp nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được thu thập từ Ban Tài chính-Kế toán của Công ty

Dựa vào cơ sở lý thuyết về KTQT chi phí sản xuất, đối chiếu với thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại Công ty phương pháp suy diễn được vận

dụng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất ở Công ty

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hình thành rõ nét kế toán quản trị chi phí sản xuất có thể áp dụng tại Công ty Qua đó cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho

quản trị chi phí sản xuất ở Công ty

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nhằm giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tổ chức tốt công tác KTQT, ngày 12/06/2006, Bộ tài chính ban hành thông tư số 53/2006/TT-BTC Thông tư nêu rõ nguyên tắc tổ chức thông tin KTQT không bắt buộc phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán và có thể thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm xây dựng hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hóa các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo KTQT cần thiết để phục vụ cho KTQT; được sử dụng mọi thông tin, số liệu của kế toán tài chính

để phối hợp và phục vụ KTQT

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các các nhà khoa học đến vấn đề

này như: Giáo trình “Kế toán quản trị” của GS.TS Trương Bá Thanh, Phạm

Văn Dược, Bùi Xuân Trường, Đoàn Xuân Tiên đã nghiên cứu bản chất, nội dung và vận dụng KTQT trong điều kiện ở Việt Nam Các vấn đề KTQT được đề cập là: công tác xây dựng dự toán bộ phận và dự toán tổng thể trong doanh nghiệp; tập hợp, hạch toán chi phí, tính giá thành theo nhiều phương pháp; phân tích biến động chi phí để tìm ra các nguyên nhân chênh lệch nhằm

Trang 15

cung cấp thông tin cho việc điều hành, quản trị doanh nghiệp; cung cấp các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định; tổ chức bộ máy KTQT

Ngay từ những năm 1990 đến nay, một số doanh nghiệp đã và đang vận dụng KTQT chi phí vào đơn vị mình Tuy nhiên, vẫn còn một số doanh nghiệp chưa thấy được tầm quan trọng của KTQT chi phí đặc biệt là KTQT chi phí sản xuất đối với công tác quản lý doanh nghiệp Do đó, KTQT chi phí luôn là vấn đề mới mẻ đối với Việt Nam Đó cũng là lý do mà nhiều tác giả đã

đi sâu nghiên cứu về lý luận cũng như vận dụng vào thực tế công tác KTQT chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở Việt Nam với nhiều góc

độ khác nhau như:

Tác giả TS Trần Hải Long (2012) có bài viết đăng trên tạp chí Kế toán

và Kiểm toán số 12/2012 (111) về “Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất

trong doanh nghi ệp” Nội dung của bài viết tập trung đề cập đến các bước tổ chức KTQT chi phí sản xuất trong doanh nghiệp như: Lập dự toán chi phí sản

xuất, tổ chức KTQT chi phí trong doanh nghiệp cũng như quy trình chi tiết các bước lập dự toán chi phí sản xuất như thế nào hay các thông tin cần thu thập phục vụ cho công tác tổ chức KTQT chi phí là những thông tin gì Mục đích là cung cấp kiến thức hữu ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp để có những bước tổ chức KTQT chi phí sản xuất trong doanh nghiệp một cách hoàn thiện hơn

Bài viết của Th.S Nguyễn Thị Minh Phương (2009) đăng trên tạp chí Kế

toán số 10/2009 (80) về “Phương pháp xác định chi phí sản xuất để tính giá

thành s ản phẩm trong kế toán quản trị” Trong bài viết này tác giả đã trình

bày lý thuyết về các phương pháp xác định chi phí sản xuất đó là phương pháp toàn bộ và phương pháp trực tiếp đồng thời tác giả đã có sự so sánh giữa hai phương pháp này có sự khác nhau ở phần định phí sản xuất chung trong hàng tồn kho, hay chính là thời gian được chọn để tính định phí sản xuất

Trang 16

chung Ngoài ra tác giả cũng đã khẳng định hai phương pháp này là giống nhau nhưng trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ hết và không

có hàng tồn kho, lợi nhuận của hai báo cáo kết quả kinh doanh được lập theo hai phương pháp trên là giống nhau Ưu diểm của bài báo này khi tác giả đã

có ý kiến cho rằng đối với nền kinh tế thị trường nhiều biến động như hiện nay, tình hình tiêu thụ hàng hóa thường không thuận lợi, tiềm ẩn nhiều rủi ro thì doanh nghiệp nên lựa chọn phương pháp xác định chi phí trực tiếp Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc phân tích điểm hòa vốn, phân tích mối quan hệ chi phí-khối lượng-lợi nhuận qua đó giúp các nhà quản trị tính được các chỉ tiêu kinh tế, phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh: Liệu có nên sản xuất tiếp hay mua ngoài? Sản xuất ở mức nào là hợp

lý, để đạt được lợi nhuận mong muốn, cần phải sản xuất và tiêu thụ ở mức nào? Tuy nhiên đối với bài báo này tác giả khẳng định hiện nay các doanh nghiệp ở Việt Nam hầu hết mới chỉ áp dụng phương pháp xác định chi phí toàn bộ mà chưa có minh chứng nào cụ thể để khẳng định cho vấn đề này Bài viết của tác giả PGS.TS Phạm Văn Dược (2009) được đăng trên tạp

chí kế toán số 77/2009 về “Giải pháp kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu

qu ả hoạt động trong doanh nghiệp” Tác giả đã đề cập đến các giải pháp để

kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm soát chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Từ đó

có thể cung cấp kiến thức hữu ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp có định hướng vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý

Ngoài ra còn nhiều đề tài mang tính ứng dụng trong từng đơn vị, cụ thể: Đầu tiên có thể kể đến đó là nghiên cứu trong lĩnh vực thủy sản của tác

giả Nguyễn Thị Lệ Chi (2012) với đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần thủy sản Bình Định” Trong nghiên cứu này tác giả đã

khái quát được tình hình tổ chức, đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như

Trang 17

thực tế việc áp dụng KTQT chi phí tại đơn vị và đã chỉ ra được các nhược điểm hiện tại đối với việc vận dụng KTQT chi phí tại Công ty Từ đó, tác giả

đề xuất các giải pháp có khả năng khắc phục được các nhược điểm và có thể vận dụng tại Công ty

Không chỉ trong lĩnh vực thủy sản mà trong lĩnh vực in, nghiên cứu của

tác giả Trần Thị Kim Loan (2010) với đề tài “Kế toán quản trị chi phí tại

Công ty Trách nhi ệm hữu hạn một thành viên Xổ số kiến thiết và dịch vụ in

Đà Nẵng” đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về KTQT chi phí, nghiên

cứu thực tiễn về đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý, cơ cấu bộ máy kế toán, đi sâu tìm hiểu thực trạng KTQT chi phí tại Công ty Đồng thời tác giả đã đưa ra nhận xét và đánh giá khách quan về thực trạng công tác KTQT chi phí tại Công ty từ đó đã có hướng hoàn thiện KTQT chi phí tại Công ty

Qua các nghiên cứu cho thấy vấn đề KTQT, KTQT chi phí đã được các tác giả nghiên cứu cụ thể về việc ứng dụng KTQT, KTQT chi phí vào nhiều loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa chú trọng nghiên cứu sâu về KTQT chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất

Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì chi phí sản xuất chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng chi phí phát sinh tại doanh nghiệp Việc ứng dụng KTQT chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất là việc không thể thiếu, nó giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp

Vì vậy đã có một số tác giả nghiên cứu về KTQT chi phí sản xuất trong doanh nghiệp như:

Trong lĩnh vực may mặc, tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh (2010) đã

nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Tổng Công ty Cổ phần dệt

may Hòa Thọ” Trong nghiên cứu này qua việc phân tích thực trạng tác giả đã

Trang 18

đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác KTQT chi phí sản xuất tại Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hòa Thọ, các giải pháp chủ yếu tập trung vào vấn đề phân loại chi phí, lập báo cáo phân tích chi phí sản xuất, lập dự toán linh hoạt nhằm tăng cường kiểm soát chi phí nội bộ, tổ chức hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán, tổ chức hệ thống báo cáo KTQT chi phí sản xuất, phân tích biến động chi phí để chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng, nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán phục vụ cho hoạt động quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên nghiên cứu chủ yếu đi vào đặc trưng của doanh nghiệp sản xuất may mặc nên đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác KTQT chi phí sản xuất xuất phát từ đặc thù kinh doanh của đơn vị

Ngoài ra trong lĩnh vực thủy sản còn có đề tài nghiên cứu của tác giả Đinh Tuyết Diệu (2011) nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại

Công ty C ổ phần Thực phẩm Xuất nhập khẩu Lam Sơn” Nghiên cứu này đã

đánh giá được thực trạng chi phí sản xuất tại doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện KTQT chi phí sản xuất tại doanh nghiệp hoàn thiện phân loại chi phí sản xuất phục vụ cho KTQT, hoàn thiện công tác lập dự toán, hoàn thiện phương pháp phân bổ chi phí

Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa những lý luận về KTQT nói chung và KTQT chi phí sản xuất nói riêng, cũng như nghiên cứu thực trạng KTQT chi phí sản xuất tại Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung các vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu là KTQT chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị chi phí

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, trước yêu cầu thông tin nhiều hơn, phong phú hơn của nhà quản trị, ngoài những thông tin về chi phí

để có thể phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp được tốt hơn, kế toán chi phí được bổ sung và phát triển thành kế toán quản trị KTQT được phát triển mạnh tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20, và hiện nay được vận dụng ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường với tên gọi là KTQT

Trong nền kinh tế thị trường, kế toán được phân thành 2 bộ phận đó là kế toán tài chính và kế toán quản trị, thông tin kế toán cũng được phân thành hai loại, đó là:

- Thông tin phục vụ chủ yếu cho nội bộ, cho các nhà quản lý của doanh nghiệp được cung cấp bởi KTQT

- Thông tin phục vụ cho cả nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp được cung cấp bởi kế toán tài chính

Khái niệm về kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa:

“KTQT là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải thích và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị

để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”

Theo Điều 4, Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”

Trang 20

Như vậy, KTQT là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quản

lý doanh nghiệp và có quan hệ chặt chẽ với KTTC, KTQT được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, có nhiệm vụ cung cấp thông tin kế toán cho các nhà quản trị doanh nghiệp KTQT về cơ bản dựa trên những nội dung cơ bản của kế toán, ngoài ra còn đi sâu, nghiên cứu mối quan

hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận để phục vụ tốt cho hoạt động điều hành SXKD của nhà quản trị Vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định

và nó được xem như là một trong những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp [10, tr 7-9]

1.1.2 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí

a Bản chất của kế toán quản trị chi phí

Kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên và liên tục Đối với nhà quản trị thông tin cần thiết về quá khứ và hiện tại là dự toán cho tương lai Do đó, yêu cầu KTQT là phải xây dựng dự toán, thu nhận và xử lý các thông tin về chi phí, giá thành của từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất Tiến hành phân tích kịp thời các thông tin làm căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp, quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với những diễn biến của thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp

Như vậy, KTQT chi phí không nhận thức theo quan điểm của KTTC mà theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định Từ đó có thể rút ra bản chất của KTQT chi phí như sau:

- KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép, hệ thống hóa trong sổ kế toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập các dự toán, quyết định các phương án kinh doanh

Trang 21

- KTQT chi phí cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế, tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của DN Những thông tin đó có ý nghĩa với những bộ phận, những người điều hành, nhà quản lý DN

- KTQT chi phí là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một

bộ phận không thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý [10, tr 9-11]

b Vai trò của kế toán quản trị chi phí

- KTQT chi phí cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện chức năng quản lý

- KTQT chi phí cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt là giúp cho nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD

- KTQT chi phí cung cấp các thông tin thích hợp cho nhà quản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập báo cáo định kỳ và báo cáo đặc biệt

- KTQT chi phí cung cấp các thông tin để phân bổ các nguồn lực doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, hay quyết định ngừng sản xuất hợp lý [10, tr.12]

1.1.3 Kế toán quản trị chi phí với chức năng quản lý

Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định Hoạt động quản lý là một quá trình khép kín từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch

Trang 22

Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp

+ Chức năng lập kế hoạch: Trong việc lập kế hoạch nhà quản trị vạch

ra những việc phải làm để đưa hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định như: mục tiêu về lợi nhuận, về sự tăng trưởng, nâng cao uy tín của doanh nghiệp… Để hoạch định và xây dựng các kế hoạch, nhà quản trị phải dự đoán nhằm tiên liệu trước mục tiêu, phương pháp, thủ tục trên cơ sở khoa học Trong công việc này nhà quản trị phải liên kết các mục tiêu cụ thể lại với nhau và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực sẵn

có Chức năng này chỉ có thể được thực hiện tốt có hiệu quả, và có tính khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở các thông tin phù hợp, hợp lý do bộ phận kế toán quản trị cung cấp Như vậy kế toán quản trị phải cung cấp thông tin cần thiết để các nhà quản lý ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn, đáp ứng mục tiêu của tổ chức Một kế hoạch phản ánh một quyết định: làm thế nào để đạt một mục tiêu cụ thể nào đó

+ Chức năng tổ chức thực hiện: Để việc thực hiện kế hoạch đạt được

hiệu quả cao nhất, nhà quản trị sẽ quyết định các phương pháp tốt nhất để tổ

RA QUYẾT ĐỊNH LẬP KẾ HOẠCH

TỔ CHỨC THỰC HIỆN KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

Trang 23

chức con người với các nguồn tài - vật lực KTQT phải cung cấp thông tin hàng ngày về tình hình hoạt động của tổ chức, về tài sản, chi phí, thu nhập…cả về mặt hiện vật và giá trị để phục vụ đắc lực cho nhà quản trị điều hành tốt quá trình hoạt động của tổ chức

+ Chức năng kiểm tra đánh giá: Trong quản lý, việc lập ra kế hoạch

chưa đủ mà quan trọng hơn là cần những thông tin có liên quan đến việc thực hiện kế hoạch Kế toán quản trị giúp cho chức năng kiểm tra đánh giá bằng cách thiết kế nên các báo cáo có dạng so sánh Các nhà quản trị sử dụng báo cáo đó để kiểm tra, đánh giá trong các lĩnh vực trách nhiệm mà họ cần quan tâm, để xem xét và điều chỉnh, tổ chức thực hiện các mục tiêu đặt ra Do đó,

kế toán quản trị phải làm sao cho các nhà quản lý nhận được những thông tin

mà họ cần hoặc muốn nhận

+ Chức năng ra quyết định: Để ra được một quyết định thì cần phải có

thông tin, những thông tin thật cụ thể, thật chi tiết, thật đầy đủ, thật kịp thời, không chỉ trong quá khứ mà còn cả ở hiện tại và trong tương lai Những thông tin này phần lớn được cung cấp từ KTQT

1.2 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP

1.2.1 Nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất

a Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động

 Chi phí sản xuất

Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên liệu thành thành phẩm bằng sức lao động của công nhân kết hợp việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung:

Trang 24

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các loại nguyên liệu và vật

liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong đó nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể xác định cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm

- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí tiền lương và các khoản

trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm Chi phí nhân công trực tiếp cũng giống như chi phí NVL trực tiếp, có thể xác định rõ ràng, cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm

- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí phát sinh trong phạm vi

các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm Trong thực tế quá trình sản xuất, chi phí sản xuất chung thường bao gồm: tiền lương

và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng và đội sản xuất, chi phí công cụ, dụng cụ cho phân xưởng và đội sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác gồm các khoản như tiếp khách phân xưởng, thiệt hại trong quá trình sản xuất… [9, tr 20-21] Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính giá thành sản phẩm, từ đó xác định đúng giá bán, làm cơ sở cho việc ra quyết định về cơ cấu sản phẩm trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

 Chi phí ngoài sản xuất

- Chi phí bán hàng: là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ

sản phẩm, bao gồm các khoản chi phí như chi phí vận chuyển, bốc vác, bao

bì, quảng cáo, khuyến mãi, chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng, chi phí

Trang 25

khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, bao bì dùng cho việc bán hàng

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí QLDN là những chi phí phát

sinh liên quan đến việc tổ chức, quản lý hành chính và các chi phí liên quan đến các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp bao gồm: chi phí tiền lương cho cán bộ QLDN, chi phí văn phòng phẩm,các chi phí dịch vụ mua ngoài như điện nước, điện thoại, tiếp tân, hội nghị, đào tạo cán bộ

b Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử chi phí

Theo cách phân loại này, chi phí của DN bao gồm: Biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp

- Biến phí: là chi phí xét về lý thuyết, tổng số có sự thay đổi tỷ lệ thuận

với mức độ hoạt động Trong phạm vi phù hợp, tổng biến phí tăng (giảm) theo sự tăng (giảm) của mức độ hoạt động nhưng biến phí tính cho một đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi Như vậy, biến phí chỉ phát sinh khi

có hoạt động Ví dụ: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, giá vốn hàng bán…

- Định phí: là chi phí xét về lý thuyết, tổng số không có sự thay đổi với

mức độ hoạt động Trong phạm vi phù hợp, tổng định phí không tăng (giảm) theo sự tăng (giảm) của mức độ hoạt động nhưng định phí tính cho một đơn vị của mức độ hoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Ví dụ: chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản trị, chi phí quảng cáo…

- Chi phí hỗn hợp: là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm định

phí và biến phí Phần định phí trong chi phí hỗn hợp để duy trì mức độ hoạt động ở mức tối thiểu, phần biến phí thay đổi theo sự thay đổi của mức độ hoạt động Ví dụ chi phí hỗn hợp là chi phí điện thoại thì tiền thuê bao hàng thàng chính là định phí, tiền cước là biến phí…

Trang 26

Phương trình biểu diễn chi phí hỗn hợp : y = ax + b

Để lập kế hoạch kiểm soát hoạt động kinh doanh và chủ động trong quản

lý chi phí vấn đề đặt ra với các nhà quản trị là xác định được thành phần của chi phí hỗn hợp, đồng thời phân tích chúng nhằm lượng hóa, tách riêng yếu tố định phí, biến phí Việc phân tích chi phí này được thực hiện bằng một trong các phương pháp sau: phương pháp cực đại - cực tiểu; phương pháp bình phương bé nhất; phương pháp đồ thị phân tán; ngoài ra với các phần mềm phân tích thống kê như SPSS, STATA hoặc phần mềm xử lý bảng tính Excel, nhà quản trị có thể phân tích hồi quy rất thuận lợi để xác định phí, biến phí trong chi phí hỗn hợp [10, tr 23-34]

Cách phân loại này giúp nhà quản trị thấy được cách thức ứng xử từng loại chi phí, giúp nhà quản trị có được cách nhìn và quyết định tốt hơn về mức

độ hoạt động Ngoài ra, cách phân loại này giúp nhà quản trị nhận biết thông tin về chi phí và tính toán kết quả nhanh chóng để lập dự toán chi phí tốt hơn,

phù hợp với thực tế và có tính khả thi hơn

c Phân loại chi phí sản xuất nhằm mục đích ra quyết định

Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

- Chi phí kiểm soát được: Là những chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó

nhà quản trị xác định được một cách chính xác sự phát sinh của nó, đồng thời nhà quản trị cũng có thẩm quyền quyết định về loại chi phí đó

- Chi phí không kiểm soát được: Là những chi phí mà nhà quản trị không

thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó, hoặc không có thẩm quyền quyết

Trang 27

định về loại chi phí đó [8, tr 37]

Một chi phí được xem là kiểm soát được hoặc là chi phí không kiểm soát

được ở một cấp quản lý nào đó tùy thuộc vào cấp quản lý này có thẩm quyền quyết định, xác định chính xác sự phát sinh của chi phí đó hay là không

Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

- Chi phí trực tiếp: Chi phí trực tiếp của một đối tượng tập hợp chi phí là

những khoản chi phí mà có thể tính thẳng và tính toàn bộ cho đối tượng chịu chi phí Chi phí trực tiếp gắn liền với đối tượng tập hợp chi phí, phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đi cùng với sự phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đi của đối tượng tập hợp chi phí (CP NVLTT, CP NCTT)

- Chi phí gián tiếp: Chi phí gián tiếp của một đối tượng tập hợp chi phí là

những khoản chi phí mà không thể tính thẳng toàn bộ cho đối tượng đó mà phải thực hiện phân bổ Chi phí gián tiếp là những khoản chi phí gắn liền với các hoạt động phục vụ, hỗ trợ cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của nhiều đối tượng tập hợp chi phí, do đó không thể tính toàn bộ cho bất kỳ đối tượng

tập hợp chi phí cá biệt nào (CP SXC)

Cách phân loại này giúp cho nhà quản trị nhận thức, lựa chọn phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí thích hợp và giúp nhà quản trị đưa ra quyết định chính xác hơn

1.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất

a Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên

dự toán khối lượng sản phẩm sản xuất Để lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định:

- Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm

- Đơn giá xuất nguyên vật liệu

Trang 28

- Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho [9, tr.106-108]

Như vậy:

Và dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽ là:

b Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượng sản xuất Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất

Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải tính toán dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương của doanh nghiệp Để lập

dự toán chi phí này cần xây dựng:

Số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán

Dự toán chi phí

nhân công trực tiếp

Dự toán thời gian lao động

Định mức giá của mỗi đơn

vị thời gian lao động

Trang 29

c Dự toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí, nên dự toán chi phí sản xuất chung phải tính đến cách ứng xử của chi phí để xây dựng định mức phí dự toán hợp lý trong kỳ [7, tr.110-111]

- Dự toán biến phí sản xuất chung:

Biến phí sản xuất chung có thể được lập theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp ) Tuy nhiên thường làm cách này khá phức tạp, tốn nhiều thời gian Do vậy khi

dự toán chi phí này, người ta thường xác định biến phí sản xuất chung cho từng đơn vị hoạt động Biến phí sản xuất chung được thực hiện theo công thức:

Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khi đó biến phí sản xuất được xác định như sau:

- Dự toán định phí sản xuất chung:

Dự toán định phí sản xuất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc và định phí tùy ý

+ Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung bắt buộc: căn cứ vào định phí sản xuất chung hàng năm chia đều cho 4 quý để xác định định phí SXC hàng quý

+ Đối với các yếu tố định phí sản xuất chung tùy ý: căn cứ vào kế hoạch nhà của nhà quản trị trong kỳ dự toán Dự toán định phí hằng năm có thể được lập dựa vào mức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh

Dự toán biến phí sản

xuất chung

Dự toán biến phí trực tiếp

Tỷ lệ biến phí sản xuất chung

Trang 30

nghiệp Lập dự toán định phí sản xuất chung tùy ý được xác định như sau:

Căn cứ vào dự toán biến phí và dự toán định phí sản xuất chung tổng hợp thành dự toán chi phí sản xuất chung:

1.2.3 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành

a Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành

- Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp

chi phí Xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các

bộ phận chịu chi phí hoặc các đối tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí phục vụ cho tính giá thành [2, tr.43]

Việc xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí SXKD là công việc hàng đầu rất quan trọng trong toàn bộ công tác tổ chức KTQT chi phí

Để xác định được đối tượng tập hợp chi phí SXKD ở từng doanh nghiệp

có thể căn cứ vào các yếu tố sau:

+ Căn cứ vào địa điểm phát sinh chi phí: Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo phân xưởng (hoặc tổ sản xuất) thì chi phí sản xuất được tập hợp theo phân xưởng (hoặc tổ sản xuất)

+ Căn cứ vào tính chất sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm: Nếu doanh nghiệp có quy trình sản xuất đơn giản thì đối tượng hay giới hạn tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình sản xuất Ngược lại, doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp kiểu chế biến liên tục thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng giai đoạn công nghệ hoặc sản phẩm cuối cùng Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ kiểu chế biến

Dự toán chi phí

SXC

Dự toán biến phí SXC

Dự toán định phí SXC

Dự toán định phí

sản xuất chung

Định phí SXC thực tế kỳ trước

Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí SXC theo dự kiến

Trang 31

song song sẽ chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là thành phẩm hoặc từng

bộ phận, chi tiết sản phẩm Nếu chi tiết cấu thành sản phẩm nhiều thì có thể hạch toán chi phí theo từng nhóm chi tiết cùng loại

+ Căn cứ vào loại hình sản xuất: Các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng sản phẩm Các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đơn đặt hàng hoặc từng loại sản phẩm

+ Căn cứ vào yêu cầu quản lý, khả năng quản lý và trình độ của nhân viên kế toán: Nếu khả năng quản lý và trình độ nhân viên càng cao thì đối tượng tập hợp chi phí càng cụ thể và ngược lại [10, tr.45-47]

- Đối tượng tính giá thành là kết quả của quá trình sản xuất hoặc quá

trình cung cấp dịch vụ cần được tính giá thành để phục vụ các yêu cầu của quản lý Xác định đối tượng tính giá thành thường gắn với yêu cầu của nhà quản trị về kiểm soát chi phí, định giá bán và xác định kết quả kinh doanh về một đối tượng, một hoạt động nào đó Trong doanh nghiệp sản xuất, đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoàn thành qua quá trình sản xuất [2, tr.48]

b Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành

Tùy thuộc vào yêu cầu thông tin để lập báo cáo phục vụ quản lý mà kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành có thể được thực hiện theo 2 phương pháp:

- Phương pháp toàn bộ:

Là phương pháp mà tất cả các chi phí tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung) đều được tính vào giá thành sản phẩm sản xuất hoàn thành Cơ sở tính các chi phí này vào giá thành được chuẩn mực kế toán chấp

Trang 32

nhận như là một nguyên tắc khi xác định giá gốc của thành phẩm ở doanh

nghiệp sản xuất

Phương pháp tính giá thành toàn bộ gồm hai hệ thống tính giá thành sản phẩm: hệ thống tính giá thành theo công việc và hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất

Kế toán tài chính sử dụng phương pháp này nhằm mục đích lập báo cáo tài chính theo quy định Trên phương diện kế toán quản trị, phương pháp này

có thể coi là một cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất để làm cơ sở định giá bán sản phẩm, đánh giá hiệu quả nội bộ, kiểm soát chi phí theo từng trung tâm chi phí Nếu như kế toán tài chính chỉ quan tâm đến chi phí thực tế phát sinh

để tính giá thành thì vận dụng phương pháp này trong kế toán quản trị có thể tính theo chi phí tạm tính như trường hợp tính giá thông dụng trong hệ thống tính giá theo đơn đặt hàng, hoặc giá định mức, giá tiêu chuẩn trong quá trình xây dựng kế hoạch Chính sự khác biệt này đã nâng tầm kế toán chi phí trong

hệ thống kế toán quản trị ở các tổ chức Tuy nhiên phương pháp này không đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập các kế hoạch linh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản xuất khác nhau và các quyết định về giá bán sản phẩm với mức sản lượng khác nhau

Trang 33

chung khả biến Chi phí sản xuất chung bất biến được coi là chi phí thời kỳ và được tính vào chi phí kinh doanh ngay trong kỳ kế toán

Phương pháp này được sử dụng nhiều trong KTQT như: Định giá sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng và lợi nhuận, xác định sản lượng hòa vốn,

1.2.4 Phân tích chi phí sản xuất phục vụ cho kiểm soát chi phí

a Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí NVLTT bao gồm các chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ hao phí cho từng quá trình sản xuất Biến động chi phí NVLTT có thể được kiểm soát gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan

- Phân tích biến động

+ Biến động giá: là chênh lệch giữa giá NVLTT thực tế với giá

NVLTT theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì nó phản ánh giá cả của một đơn vị NVL để sản xuất

ra một đơn vị sản phẩm đã thay đổi như thế nào so với dự toán

+ Biến động về lượng: Là chênh lệch giữa lượng NVLTT thực tế với

lượng NVLTT dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động

về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí NVLTT ra sao Biến động về lượng được xác định:

Đơn giá nguyên vật liệu trực tiếp

dự toán

Lượng NVLTT thực

sử dụng

Nguyên vật liệu trực tiếp dự toán

sử dụng

Đơn giá NVLTT dự toán

(1.9)

Trang 34

b Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí, như KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN của công nhân trực tiếp vận hành từng quá trình sản xuất Biến động của chi phí nhân công trực tiếp gắn liền với các nhân tố giá và lượng liên quan

- Phân tích nhân tố ảnh hưởng

+ Nhân tố giá: là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp với

dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp

+ Nhân tố lượng: là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế

với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tố này ảnh hưởng

sự thay đổi về số giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp hay gọi nhân tố năng suất Ảnh hưởng của nhân tố lượng thể hiện như sau:

c Kiểm soát chi phí sản xuất chung

Chi phí SXC biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung và biến động của định phí SXC

Biến động chi phí

sản xuất chung =

Biến động định phí sản xuất chung +

Biến động biến phí sản xuất chung

Đơn giá nhân công trực tiếp

dự toán

Thời gian lao động thực tế

(1.10)

Ảnh hưởng của thời

gian lao động đến biến

động chi phí NCTT

Thời gian lao động theo thực tế

Thời gian lao động theo dự toán

Đơn giá nhân công trực tiếp dự toán

(1.11)

Trang 35

- Kiểm soát biến động biến phí sản xuất chung:

Biến phí SXC gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất Chi phí nay thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động sản xuất của DN như: chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương bộ phận quản lý trả theo sản phẩm gián tiếp…

Biến động của biến phí SXC do nhiều nguyên nhân, nhưng về phương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnh hưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí NVLTT và chi phí NCTT Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí SXC thường do sự thay đổi của các mức chi phí được xem là biến phí SXC Các mức này thay đổi thường do nhiều nguyên nhân như: đơn giá mua vật liệu gián tiếp cũng như chi phí thu mua thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường,… Nếu biến phí SXC được xây dựng chung cho nhiều yếu tố chi phí theo mức hoạt động thì ảnh hưởng của nhân tố giá được xác định:

Ảnh hưởng của lượng (mức độ hoạt động) đến biến động của biến phí SXC được xác định:

Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do nhiều nguyên nhân, như tình hình thay đổi sản xuất theo nhu cầu kinh doanh của DN, điều kiện trang thiết

bị không phù hợp phải giảm sản lượng sản xuất hoặc dẫn đến năng suất máy móc thiết bị giảm…

Đơn giá biến phí SXC thực tế

Đơn giá biến phí SXC

dự toán

Mức độ hoạt động thực tế

Mức độ hoạt động

dự toán

Đơn giá biến phí SXC dự toán

Ảnh hưởng của

lượng đến biến

phí SXC

Trang 36

- Kiểm soát định phí SXC:

Định phí SXC là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất, thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Chẳng hạn: tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm, tiền thuê mặt bằng… là những chi phí không thay đổi theo quy mô sản xuất trong phạm vi hoạt động Biến động định phí SXC thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của DN hoặc do hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của DN…

Kiểm soát định phí SXC nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực TSCĐ Biến động định phí

sản xuất chung =

Định phí sản xuất chung thực tế -

Định phí sản xuất chung theo dự toán Khi phân tích định phí SXC, người ta cần xem xét định phí tùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được với định phí không kiểm soát được để xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của các bộ phận [2, tr 145-150]

(1.15)

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kế toán quản trị là công cụ không thể thiếu để thực hiện quản trị doanh nghiệp một cách khoa học và hiệu quả, trong đó KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT, thực hiện chức năng xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm thực hiện tốt chức năng quản trị Trong chương này tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về KTQT chi phí sản xuất Trước hết trình bày khái niệm KTQT chi phí, bản chất và vai trò của KTQT chi phí, phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Sau đó, xác định nội dung của KTQT chi phí bao gồm lập dự toán chi phí sản xuất, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Đây là những tiền đề làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng công tác

kế toán quản trị chi phí sản xuất cũng như định hướng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN

MIỀN TRUNG 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty

Vào đầu những năm 1980, trong bối cảnh nhà nước thử nghiệm cơ chế mới “tự cân đối - tự trang trải”, cùng với nhu cầu khách quan về phát triển kinh tế thuỷ sản khu vực Miền Trung, ngày 26 tháng 2 năm 1983, Chi nhánh Xuất Khẩu Thuỷ Sản Đà nẵng, tiền thân của Công ty XNK thuỷ sản miền Trung được thành lập, thay thế cho Trạm tiếp nhận thuỷ sản Đà Nẵng, xây dựng một mô hình làm ăn mới

Công ty XNK thuỷ sản miền Trung được thành lập theo quyết định số 242/TS-QĐ ngày 31/3/1993 của Bộ Thủy Sản, là doanh nghiệp nhà nước, hạch toán độc lập, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh về thuỷ sản, phục vụ sản xuất kinh doanh thuỷ sản và các ngành nghề khác theo qui dịnh của pháp luật Công ty có quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính

Nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty là gắn thương mại với sản xuất, gắn kinh tế với chính trị xã hội, không ngừng tạo thế và lực cho mình

mà nội dung cơ bản là tạo vốn, tạo cơ sở vật chất, tạo uy tín; phải xây dựng một đội ngũ quản lý, cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật và công nhân lành nghề tận tâm, tận lực vì sự phát triển của công ty; linh hoạt thích nghi để hội tụ bạn hàng, đảm bảo hài hòa lợi ích

Thực hiện chủ trương của nhà nước về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, Công ty XNK thuỷ sản miền Trung không thuộc diện giữ lại là doanh nghịêp nhà nước nên Bộ Thủy Sản đã có quyết định số 1226/QĐ-BTS ngày

Trang 39

21/10/2005 về việc cổ phần hoá và thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hoá Công

ty cổ phần XNK thuỷ sản miền Trung

Ngày 09 tháng 12 năm 2006, Công ty đã tổ chức thành công Đại hội cổ đông thành lập Công ty cổ phần XNK thuỷ sản miền Trung, và ngày 01/01/2007, Công ty cổ phần XNK thuỷ sản miền Trung chính thức đi vào hoạt động

2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất của Công ty và quy trình công nghệ

Tương ứng với nhịp độ phát triển của xã hội để sản phẩm của Công ty có sức cạnh tranh và đứng vững trên thương trường thì Công ty không ngừng mở rộng quy mô sản xuất cải tiến quy trình công nghệ trong những năm đầu, máy móc thiết bị còn thiếu đồng bộ, các máy làm lạnh công suất nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu nhưng đến nay nhà máy đã đầu tư cải thiện các loại máy có công suất lớn và dây chuyền tự động nên sản phẩm của Công ty được nâng cao cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Do đặc điểm của ngành thủy sản nói chung và Công ty nói riêng, sản phẩm sản xuất ra gồm nhiều loại Chúng phải trải qua một số công đoạn liên tiếp mới trở thành sản phẩm hoàn thành

Có thể mô tả quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty (Sơ đồ quy trình công nghệ chế biến: xem phụ lục 1)

2.1.3 Tổ chức quản lý của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung

Với thời gian ra đời và phát triển tương đối dài, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung luôn cải thiện công tác tổ chức sao cho phù

hợp với tình hình đổi mới chung và tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị mình Cụ thể, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty thể hiện qua sơ đồ sau

Trang 40

KH-Ban HC-PC

NS-Ban

SX-XK

Ban Q.lý-C.Lượng

Ban DV

KV

Nhà máy

CB Thủy đặc sản-DL10

Nhà máy

CB Thực phẩm Sơn Trà-DL10

HT kho lạnh 800 tấn, 1.500 tấn Chi nhánh-Công ty

CB&XK Thủy sản Thọ Quang (DL 190)

Chi nhánh-Công

ty phát triển NL Thủy sản

Chi nhánh Công

ty tại Hà Nội

Chi nhánh Công

ty tại TP HCM

Tổ tiếp nhận Tổ phục vụ Tổ chế biến 1 Tổ chế biến 2 Tổ chế biến 3 Tổ cấp đông Tổ giao nhận

Ghi chú: Quan hệ trực tuyến

Quan hệ chức năng

Ngày đăng: 23/11/2017, 21:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w