1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần cao su Đà Nẵng

91 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 417,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Một trong những yếu tố quan trọng quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp là sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất, huy động nguồn vốn với chi phí thấp, tính thanh khoản

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nghiêm Hồng Sơn

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG 4

TRONG DOANH NGHIỆP 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 4

CHƯƠNG II 32

THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU ĐÀ NẴNG (DRC) 32

2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU ĐÀ NẴNG 32

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU ĐÀ NẴNG (DRC) 41

Công tác quản lý, sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt 47

TÓM TẮT CHƯƠNG II 63

CHƯƠNG III 64

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU ĐÀ NẴNG 64

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI 64

TÓM TẮT CHƯƠNG III 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tài chính từ năm 2008 đến năm

2011 của Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng 38Bảng 2.2 Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty qua các năm 39Bảng 2.3 Chính sách đầu tư tài sản lưu động 42Bảng 2.4 Cơ cấu đầu tư và tài trợ qua các quý năm 2011 43Bảng 2.5 Cơ cấu đầu tư và tài trợ bình quân năm 2011 44

Bảng 2.7 Tình hình số dư vốn bằng tiền năm 2011 49Bảng 2.8 Kết cấu khoản mục các khoản phải thu 51Bảng 2.9 Chiết khấu thanh toán khách hàng được hưởng 52

Bảng 2.11 Phân tích hiệu suất sử dụng vốn lưu động 56Bảng 2.12 Phân tích tốc độ chu chuyển hàng tồn kho 57Bảng 2.13 Phân tích khoản phải thu khách hàng 58Bảng 2.14 Bảng phân tích khả năng thanh toán của công ty 59Bảng 3.1 Chỉ tiêu sản xuất kinh doanh năm 2012 65Bảng 3.2 Các chỉ tiêu biến động tỷ lệ với doanh thu tại thời

Bảng 3.3 Xác định tỷ lệ % so với doanh thu của các chỉ tiêu 70

Trang 5

Hình 1.6 Mô hình tổng quát để ra quyết định quản trị

Hình 3.1 Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu nhờ trả sớm 73

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp là sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất, huy động nguồn vốn với chi phí thấp, tính thanh khoản cao Vốn không chỉ là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại, dành thắng lợi trong cạnh tranh, mà còn là phương tiện giúp chủ sở hữu tăng trưởng về giá trị, là điều kiện tiên quyết cho các doanh nghiệp khẳng định được mình trong cơ chế mới Đối với hầu hết các doanh nghiệp hiện nay,

sử dụng vốn có hiệu quả là một trong những bài toán khó đang cần tìm lời giải Việc quản trị vốn có hiệu quả hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh đó là vốn lưu động, đó là thước đo cho hiệu suất và sức khỏe tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp Đồng thời nó là yếu tố bắt đầu và kết thúc một chu trình hoạt động của doanh nghiệp Mới đây, một nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế Mỹ cho thấy đến 79% các công ty nhỏ bị thất bại do khi khởi sự kinh doanh có quá ít tiền mặt,

do chủ doanh nghiệp chưa biết tính toán đủ lượng vốn lưu động cần có và sử dụng nó hiệu quả Bởi vậy, quản trị và sử dụng vốn lưu động là vấn đề tài chính luôn xuyên suốt trong quá trình hình thành và tồn tại của doanh nghiệp Công ty Cổ phần cao su Đà Nẵng là một doanh nghiệp Nhà nước được chuyển đổi thành công ty cổ phần, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty là sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại sản phẩm và vật tư thiết bị cho ngành công nghiệp cao su; chế tạo, lắp đặt thiết bị cho ngành công nghiệp cao su; kinh doanh thương mại, dịch vụ tổng hợp Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty không ngừng hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn tồn tại những điểm bất cập, cần tiếp

Trang 7

tục nghiên cứu để có những giải pháp khả thi, hợp lý Xuất phát từ hình hình thực tế đó tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng” với mong muốn đóng góp cho công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty ngày càng hoàn thiện hơn.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp các vấn đề lý luận về quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp;

- Đánh giá thực trạng công tác quản trị vốn lưu động tại công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng;

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động tại công ty

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản trị

vốn lưu động tại Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng.

Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu về quản trị vốn lưu

động trong doanh nghiệp.

- Về đánh giá, phân tích thực trạng: Luận văn tập trung nghiên cứu các

dữ liệu tại Công ty Cổ phần cao su Đà Nẵng với số liệu quá khứ các năm

2009, 2010 và 2011

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn dựa trên cơ sở tư duy phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin Các phương pháp cụ thể được

sử dụng là phương pháp tiếp cận hệ thống, Logic và lịch sử; diễn giải, quy nạp, các phương pháp thống kê…

Trang 8

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Hệ thống hóa, phân tích những lý luận cơ bản về quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp;

- Đánh giá, phân tích thực trạng của công tác quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần cao su Đà Nẵng;

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần cao su Đà Nẵng Các giải pháp này cũng có thể

áp dụng cho các doanh nghiệp cùng ngành có điều kiện và bối cảnh tương tự

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận văn gồm ba chương:Chương I: Cơ sở lý luận về Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệpChương II: Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần cao

su Đà Nẵng

Chương III: Giải pháp hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng

Trang 9

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm vốn lưu động của doanh nghiệp

Chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường là: Cung cấp – Dự trữ - Sản xuất – Dự trữ - Tiêu thụ Quá trình này diễn ra thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp cần có một lượng vốn đầu tư vào các loại tài sản sử dụng như: hàng tồn kho, phải thu khách hàng…số vốn đó gọi là vốn lưu động

Vậy, vốn lưu động là số vốn dùng để hình thành nên tài sản ngắn hạn nhằm duy trì quá trình kinh doanh của doanh nghiệp một cách thường xuyên, liên tục và biểu hiện về hình thái vật chất của vốn lưu động là tài sản lưu động

Vốn lưu động ròng: không phải tất cả các tài sản ngắn hạn đều phục vụ trực tiếp cho việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, một phần của chúng được sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Vốn lưu động ròng biểu thị hiệu số giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn

Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Trong đó, nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp sẽ phải thanh toán ngay trong năm, thường bao gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng; các khoản phải trả cho nhà cung cấp; các khoản nợ định kỳ như trả lương cho người lao động, các khoản thuế,…

Ý nghĩa của vốn lưu động ròng: nhằm tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên Tài sản lưu động thường xuyên là tài sản lưu động tối thiểu mà doanh nghiệp duy trì ngay cả tại thời kỳ thấp điểm trong quá trình kinh doanh phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu thường xuyên của thị trường

Trang 10

1.1.2 Đặc điểm của vốn lưu động

Trong chu kì sản xuất kinh doanh thì vốn lưu động chuyển qua nhiều hình thái khác nhau: bắt đầu từ tiền mặt chuyển sang hình thái vật tư, hàng hóa và khi hàng hóa được tiêu thụ thì vốn lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu

kỳ kinh doanh Cũng chính vì vậy mà vốn lưu động cũng luân chuyển không ngừng theo chu kì giống như chu kì kinh doanh

Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm thu được tiền

Như vậy độ dài một vòng quay của vốn lưu động bình quân càng ngắn thì doanh thu càng cao, chi phí sử dụng vốn càng thấp, doanh nghiệp càng tối

đa hóa lợi nhuận và có điều kiện tích lũy để tái đầu tư, sản xuất

1.1.3 Kết cấu vốn lưu động

Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng từng khoản vốn trong tổng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp trong một thời kỳ hoặc một thời điểm nhất định Ở mỗi doanh nghiệp thì có sự phân bố cơ cấu vốn lưu động khác nhau tùy theo đặc điểm doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động là một điều cần thiết trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp Việc phân bổ vốn như thế nào cho hợp lý có tính chất quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn nói chung, vốn lưu động nói riêng

Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn lưu động có thể chia thành ba nhóm chính:

- Các nhân tố về mặt dự trữ vật tư như tính thời vụ của vật tư, khoảng cách giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp

- Các nhân tố về sản xuất như đặc điểm kỹ thuật, chu kì kinh doanh, trình độ quản lý

- Các nhân tố về quá trình tiêu thụ và thanh toán như phương thức thanh toán, thủ tục thanh toán

Trang 11

1.1.4 Vai trò của vốn lưu động

Vốn lưu động là yếu tố đầu tiên để có thể tiến hành sản xuất, đồng thời đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra liên tục

Vốn lưu động còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

Bên cạnh đó, do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm nên vốn lưu động là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm, quyết định trong việc định giá thành sản phẩm

1.2 QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.2.1 Nội dung của quản trị vốn lưu động

1.2.1.1 Dự toán nhu cầu vốn lưu động

Nhu cầu vốn lưu động là nhu cầu thường xuyên ở mức cần thiết, tối thiểu nhất đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cần xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết từ đó có kế hoạch sử dụng vốn lưu động và tìm nguồn tài trợ cho vốn lưu động tối ưu nhất

Xác định nhu cầu vốn lưu động là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp tổ chức tốt nguồn vốn, đảm bảo nhu cầu vốn một cách kịp thời, đầy đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu xác định nhu cầu vốn quá cao, doanh nghiệp không khai thác hết được khả năng tiềm tàng của mình về vốn, không khuyến khích doanh nghiệp tìm kiếm những biện pháp để cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh gây nên tình trạng dư thừa ứ đọng về vốn, sử dụng lãng phí vật tư

dự trữ thành phẩm tồn đọng trong kho phát sinh những chi phí không cần thiết, làm tăng giá thành sản phẩm, giảm hiệu quả sử dụng vốn

Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp

sẽ gây nên tình trạng thiếu vốn, gây căng thẳng về vốn, tốc độ sản xuất ngưng trệ do thiếu vật tư, doanh nghiệp do thiếu vốn sẽ phải đi vay đột xuất với

Trang 12

những điều kiện về lãi suất, do đó lợi nhuận của doanh nghiệp giảm Và quan trọng hơn, thiếu vốn doanh nghiệp sẽ không thực hiện được những hợp đồng

đã kí kết, không có khả năng thanh toán, từ đó mất tín nhiệm trong quan hệ mua bán, không giữ được khách hàng Vì vậy, dự toán nhu cầu vốn lưu động phải đảm bảo cho quá trình tái sản xuất, kinh doanh hoạt động liên tục, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn Từ đó giúp cho doanh nghiệp bảo toàn được vốn và

sử dụng vốn ngày càng hiệu quả

Dự toán nhu cầu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp xác định được quy mô tài sản lưu động cần đầu tư Từ đó có những giải pháp, chính sách để đầu tư, quản lý cân đối giữa các loại tài sản sao cho hiệu quả

Trên cơ sở dự toán nhu cầu vốn lưu động và nguồn lực nội tại, doanh nghiệp sẽ đưa ra kế hoạch huy động vốn, lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả cũng như sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đầu tư vào các hoạt động sinh lời khác

Để xác định được lượng vốn lưu động cần đầu tư, doanh nghiệp căn cứ vào tổng mức tài sản lưu động cần đầu tư nói chung và nhu cầu từng loại tài sản nói riêng Khi xác định nhu cầu vốn lưu động cần quán triệt các nguyên tắc đó là phải xuất phát từ yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảo nhu cầu vốn một cách hợp lý Thực hành tiết kiệm, đảm bảo nhu cầu kinh doanh với số vốn thấp nhất và đảm bảo cân đối với các bộ phận kế hoạch trong doanh nghiệp như kế hoạch lưu chuyển hàng hóa, kế hoạch chi phí,…

Xác định nhu cầu vốn lưu động phải có sự tham gia của các đơn vị trực thuộc đảm bảo tính chính xác, có cơ sở thực tế Doanh nghiệp căn cứ vào công tác dự toán nhu cầu vốn lưu động đầu tư cho các loại tài sản chủ yếu là: Tiền mặt, khoản phải thu và tồn kho

Dự toán tiền mặt: Công tác quản trị tiền mặt cần chú ý đến ba hoạt động giao dịch, dự trữ và đầu cơ Do đó, dự toán nhu cầu tiền mặt phải căn cứ

Trang 13

vào lượng tiền mặt cần thiết cho từng hoạt động nhưng quan trọng nhất là nhu cầu tiền mặt cho hoạt động giao dịch vì đây là hoạt động làm cho lượng tiền mặt đối diện với hầu hết những khoản thu chi lớn của doanh nghiệp Để lập

dự toán nhu cầu tiền mặt, doanh nghiệp phải dự toán được nguồn thu, lịch trình chi trả tiền mặt và mức dự trữ tiền mặt mong muốn Dự toán nhu cầu tiền mặt trong một năm được lập dựa trên cơ sở hoạch định thu, chi tiền mặt trong từng tháng

Dự toán khoản phải thu khách hàng: Dựa vào chính sách tín dụng và kế hoạch tiêu thụ của doanh nghiệp, tính toán mức vốn lưu động bình quân cho khách hàng chiếm dụng Vốn đầu tư cho khoản này thường được xác định theo một tỷ lệ phần trăm trên doanh thu

Dự toán vốn lưu động đầu tư cho hàng tồn kho: Trong doanh nghiệp, vốn đầu tư cho dự trữ hàng hóa tồn kho chiếm tỷ trọng lớn Dự toán nhu cầu vốn đầu tư cho hàng hóa tồn kho có thể dựa trên số liệu phân tích tình hình dự trữ năm báo cáo và tình hình biến động của năm kế hoạch để xác định mức vốn dự trữ hàng hóa cho năm kế hoạch

Các phương pháp dự toán nhu cầu vốn lưu động:

* Phương pháp trực tiếp qua chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tiền

- Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp mua sắm, tiếp nhận nguyên vật liệu và lao động, sản xuất ra sản phẩm, bán các sản phẩm đó cho tới khi hoàn thành việc thu hồi các khoản tiền do việc bán sản phẩm sản xuất ra

- Chu kỳ tiền mặt là khoảng thời gian kể từ khi thanh toán hết tiền mua chịu nguyên vật liệu cho đến khi nhận hết tiền bán chịu sản phẩm từ các khách hàng

Chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tiền là một công cụ quan trọng để dự toán

và xác định nhu cầu vốn lưu động cũng như đề xuất các giải pháp tiết kiệm

Trang 14

vốn lưu động Tuy nhiên, trong thực tiễn chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp không rõ rệt và ổn định như vậy Ngoài ra, các doanh nghiệp không chỉ sản xuất một sản phẩm duy nhất hoặc kinh doanh trong một lĩnh vực Vì vậy việc

dự toán nhu cầu vốn lưu động qua chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tiền là không đơn giản [2, tr 228-231]

* Phương pháp gián tiếp theo tỷ lệ phần trăm doanh thu

Doanh nghiệp có thể dự toán tổng nhu cầu vốn lưu động theo phương pháp ước tính bằng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu dựa vào các số liệu năm trước và dự kiến doanh thu, lợi nhuận năm kế hoạch

1.2.1.2 Lựa chọn chính sách đầu tư và chính sách tài trợ cho vốn lưu động

a Chính sách đầu tư tài sản lưu động

Dựa vào cơ cấu đầu tư cho từng loại tài sản, có thể chia ra thành ba chính sách đầu tư tài sản lưu động, đó là chính sách chặt chẽ, chính sách nới lỏng và chính sách trung dung (xem hình 1.1)

Trung dung

Chặt chẽ

Doanh thu

Hình 1.1: Các chính sách đầu tư tài sản lưu động

Với chính sách chặt chẽ, người ta cố gắng duy trì một khối lượng hạn chế về tiền mặt, hàng tồn kho và khoản phải thu Đây là một chính sách có thể

Trang 15

mang lại lợi nhuận cao cho công ty, nhưng đồng thời cũng là một chính sách rủi ro nếu có những biến động bất thường Đối với chính sách này, tài sản lưu động chuyển hoá thành doanh thu với tốc độ nhanh hơn, nên mỗi đồng tài sản lưu động sẽ vận động nhanh hơn và hiệu quả hơn Các chính sách Trung dung

và nới lỏng sử dụng nhiều vốn lưu động hơn để tạo ra một đồng doanh thu, do vậy hiệu quả và tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động sẽ chậm hơn

Trong điều kiện nền kinh tế ít rủi ro, việc dự đoán doanh thu, chi phí, thời gian đặt hàng và kỳ thanh toán là khá chính xác, các doanh nghiệp đều muốn duy trì tài sản lưu động ở mức tối thiểu Việc tăng tài sản lưu động có thể dẫn đến khả năng tăng nhu cầu tài trợ từ bên ngoài mà không đem lại một mức tăng tương ứng của lợi nhuận Tuy nhiên, tài sản lưu động được duy trì ở mức thấp có thể dẫn đến tình huống thanh toán chậm cho các nhà cung cấp và còn có khả năng làm giảm doanh thu do tồn kho thấp và chính sách tín dụng

bị hạn chế Trong điều kiện rủi ro, tình hình lại khác Doanh nghiệp phải duy trì một khoản tiền mặt và tồn kho tối thiểu dựa trên những dự đoán về chi phí, doanh thu và thời gian đặt hàng cộng với một khoản dự phòng, giúp công ty

xử lý những tình huống khi dòng ngân quỹ lệch khỏi giá trị kỳ vọng Tương

tự, khoản phải thu phụ thuộc vào kỳ hạn tín dụng, với một mức doanh thu nhất định, kỳ hạn tín dụng càng chặt chẽ, khoản phải thu càng thấp Với chính sách đầu tư tài sản lưu động chặt chẽ, công ty chỉ duy trì tiền mặt và tồn kho ở mức an toàn tối thiểu mặc dù điều này có thể dẫn đến nguy cơ mất doanh thu Chính sách đầu tư tài sản lưu động chặt chẽ thường đem lại cho công ty mức thu nhập kỳ vọng trên vốn đầu tư cao nhất, nhưng nó lại chứa đựng nhiều rủi

ro nhất, trong khi đó, chính sách nới lỏng cho kết quả ngược lại Chính sách trung dung là chính sách ở giữa hai chính sách trên về mặt thu nhập kỳ vọng

và rủi ro [6, tr.310-313]

b Chính sách tài trợ vốn lưu động

Trang 16

Việc đầu tư vào vốn lưu động đã tạo ra nhu cầu tài trợ, trước hết từ nợ ngắn hạn và sau đó từ các nguồn vốn dài hạn Chính sách tài trợ vốn lưu động

là chính sách huy động vốn để cung cấp tài chính cho vốn lưu động

Tổng tài sản của một công ty vào một thời điểm nào đó Trước hết, tài sản cố định là phần không thay đổi trong thời gian ngắn Và trên thực tế, nó chỉ biến đổi trong dài hạn mà thôi Đó chính là phần nhu cầu vốn ổn định nằm bên dưới Các tài sản lưu động sẽ thay đổi theo thời gian trong chu kỳ kinh doanh, nó tăng giảm bởi các chu kỳ tích lũy khoản phải trả, tồn kho, bán hàng tín dụng và thu tiền Phần nằm phía trên tài sản cố định với những biến động lên xuống theo thời gian biểu diễn giá trị của các tài sản này Có thể thấy rằng nếu dùng một đường gạch đứt đi qua các điểm cận dưới của đường biên để biểu diễn giá trị của tài sản lưu động Phần tài sản phía trên cũng ổn định không kém tài sản cố định Có thể coi đây là phần nhu cầu thường xuyên về tài sản lưu động, phần còn lại của tài sản lưu động sẽ thay đổi theo thời gian hay còn gọi là nhu cầu có tính mùa vụ, ở đây, chúng ta còn gọi là phần tài sản lưu động tạm thời (xem hình 1.2)

Tài sản lưu động tạm thời

Tài sản lưu động thường xuyên

Tài sản cố định

Thời gian

Hình 1.2: Sơ đồ biểu diễn cơ cấu tài sản của công ty

Trang 17

Tóm lại, nhu cầu vốn lưu động bao gồm hai thành phần, nhu cầu thường xuyên và nhu cầu tạm thời Qua đó, doanh nghiệp có thể tài trợ cho tài sản lưu động theo cách tiếp cận sau:

* Tiếp cận tự bảo đảm (tự thanh toán)

Cách tiếp cận tự bảo đảm là cách công ty gắn thời hạn của nợ ngắn hạn tương ứng với chu kỳ sống của tài sản lưu động Nghĩa là, những nhu cầu thường xuyên cần được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn còn các nhu cầu tạm thời thì được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn, hình 1.3 minh họa cách tiếp cận này Chiến lược này cho cảm giác giảm thiểu rủi ro không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn Trên thực tế, không có công ty nào tài trợ mỗi loại tài sản bằng một nguồn vốn có thời hạn trùng với chu kỳ sống của tài sản đó Nhưng kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy hầu hết các công

ty có xu hướng tài trợ tài sản ngắn hạn bằng các nguồn ngắn hạn và tài sản dài hạn bằng các nguồn dài hạn

Tài sản lưu động tạm thời

Tài trợ ngắn hạn

Tài trợ Tài sản lưu động thường xuyên dài hạn

Tài sản cố định

Thời gian

Hình 1.3: Cách tiếp cận tự bảo đảm

Trang 18

* Tiếp cận tấn công

Những công ty có khuynh hướng tiếp cận tấn công chấp nhận rủi ro nhiều hơn để ưu tiên sử dụng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản lưu động Điều này có thể lý giải bởi khả năng kết nối liên tục các nguồn tài trợ có thời hạn ngắn bảo đảm cho các nhu cầu thường xuyên trong thời gian dài hơn Với cách tiếp cận này, đường ranh giới giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn trong hình 1.4 sẽ dịch chuyển xuống phía dưới Tuỳ theo mức độ chấp nhận rủi ro mà đường này dịch chuyển xuống dưới nhiều hay ít

Thời gian

Hình 1.4: Cách tiếp cận tấn công

Với cách tiếp cận này, tùy vào mức độ chấp nhận rủi ro và mức sinh lợi

kỳ vọng mà đường gạch đứt có thể dịch lên hay xuống, thậm chí còn dịch xuống bên dưới của đường phân ranh giữa tài sản lưu động và tài sản cố định

Cách bằng nguồn vốn ngắn hạn, tình huống này là hình thức đặc biệt tấn công Công ty dễ bị đưa đến tình thế nguy hiểm khi lãi suất tăng và có thể gặp rủi ro trong từ dòng ngân quỹ Tuy nhiên, nợ ngắn hạn thường có chi phí

rẻ hơn so với nợ dài hạn, và do đó, một số công ty sẵn sàng hy sinh sự an toàn

để có cơ hội thu lợi nhuận cao Những công ty theo khuynh hướng này cần có

Trang 19

những nỗ lực đáng kể để hoạch định tiếp cận này tài trợ một phần tài sản lưu động thường xuyên bằng nguồn ngắn hạn, thậm chí, có công ty còn tài trợ cả một phần tài sản cố định chính xác các dòng ngân quỹ.

* Tiếp cận bảo thủ

Ngược lại với cách tiếp cận tấn công, tiếp cận bảo thủ ưu tiên hơn cho

sự an toàn Cụ thể là các biện pháp tài trợ bằng nguồn dài hạn sẽ được ưu tiên hơn Lúc đó, đường ranh giới giữa nợ ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn dịch chuyển lên phía trên Sự dịch chuyển này giúp công ty tránh được rủi ro không trả kịp nợ, nhưng bù lại họ phải chấp nhận phí tổn cao hơn và đặc biệt

là chi phí xuất hiện do khoản thời gian mà vốn vay sử dụng không hiệu quả

Cách tiếp cận này được biểu diễn trong hình 1.5 Ta có thể thấy một đường gạch đứt nằm phía trên đường ranh giới giữa tài sản lưu động thường xuyên và tài sản lưu động tạm thời Điều này cho thấy khuynh hướng bảo thủ

sử dụng nhiều nguồn vốn dài hạn hơn để tài trợ cho toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên và cũng để đáp ứng một phần nhu cầu vốn theo mùa vụ Tương

tự như với khuynh hướng tấn công, mức độ “bảo thủ” của người chủ sẽ xác định vị trí của đường gạch đứt phía trên

Tóm lại, khả năng sinh lợi kỳ vọng và rủi ro tăng lên khi tỷ lệ nợ ngắn hạn tăng lên

Tài sản lưu động tạm thời

Tài trợ ngắn hạn(Nợ ngắn hạn)

Tài sản lưu động thường xuyên Tài trợ dài hạn

Trang 20

(Nợ dài hạn Tài sản cố định và vốn chủ)

Thời gian

Lề an toàn

Một cách khái quát, khi nghiên cứu các cách tiếp cận cân nhắc giữa rủi

ro và khả năng sinh lợi, ta thấy rằng đằng sau các quyết định này, dường như mỗi nhà quản trị muốn tìm cho mình một mức độ an toàn nhất định Mức độ

an toàn này thể hiện bằng mức độ ưu tiên sử dụng nguồn vốn có thời hạn dài hơn so với thời hạn phát sinh ngân quỹ của tài trợ mà nó tài trợ Nói một cách khác, các nhà quản trị sẽ ấn định trong tiềm thức của họ một lề an toàn Lề an toàn biểu hiện là một sự chậm pha có thể có giữa ngân quỹ ròng kỳ vọng và các khoản trả bằng khế ước, các khoản nợ kỳ hạn Giới hạn an toàn phụ thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro của các nhà quản trị [6, tr.313-321]

Tìm nguồn tài trợ vốn lưu động còn thiếu

Để sản xuất kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm cho mình nguồn tài trợ vốn lưu động hợp lý với chi phí sử dụng vốn tối ưu nhất Có nhiều nguồn tài trợ cho vốn lưu động, doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn tài trợ sau:

1 Nguồn tự phát sinh

- Nợ tích lũy: Phổ biến là khoản nợ lương, thuế và các khoản tiền ký cược của khách hàng trong giao dịch kinh doanh Chi phí tích lũy có xu hướng tăng lên hoặc giảm xuống theo quy mô hoạt động của công ty Chẳng hạn, khi doanh số tăng lên, chi phí lao động thường tăng và do đó, lương tích lũy cũng tăng Và khi lợi nhuận tăng, thuế tích lũy cũng tăng Về bản chất, nợ tích lũy là nguồn tài trợ không phải trả chi phí, tuy nhiên mức chiếm dụng có giới hạn

- Tín dụng thương mại: Đây là nguồn tài trợ thông qua hình thức bán hàng hóa trả chậm của nhà cung cấp Bất cứ khi nào một công ty mua hàng từ

Hình 1.5: Cách tiếp cận bảo thủ

Trang 21

nhà cung cấp và được quyền trả chậm hơn thời điểm mua thì khi đó, họ được cấp tín dụng thương mại Tín dụng thương mại là nguồn tài trợ ngắn hạn phổ biến và quan trọng nhất đối với các công ty.

2 Nguồn vốn vay

Nguồn vốn vay để tài trợ cho vốn lưu động chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng hay từ các tổ chức trên thị trường tài chính Sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp phải chịu chi phí lãi vay và áp lực thanh toán

Ngoài ra doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn ngắn hạn từ nguồn vay dài hạn như phát hành trái phiếu để tài trợ cho vốn lưu động thiếu

3 Nguồn vốn chủ sở hữu

Đây là nguồn vốn do cổ đông đóng góp; vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh; Vốn do Nhà nước cấp (đối với DNNN) Sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán nhưng chi phí cơ hội cho việc sử dụng vốn cao

Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các nguồn tài trợ nêu trên hoặc kết hợp các nguồn tài trợ để có được kết quả tối ưu nhất trên cơ sở xác lập một cơ cấu vốn hợp lý

1.2.1.3 Quản trị các yếu tố của vốn lưu động

Vốn lưu động bao gồm ba thành phần chính là tiền mặt, tồn kho và khoản phải thu Đối với mỗi loại tài sản, công ty đều phải nhận thức rằng, tài sản lưu động rất cần thiết đối với hoạt động kinh doanh và tài sản lưu động càng lớn thì rủi ro hoạt động càng thấp, tuy nhiên, công ty phải chịu phí tổn cho việc duy trì vốn lưu động

a Quản trị tiền mặt

Tiền mặt được đề cập với hai dạng là tiền giấy tại quỹ và tiền gửi ngân hàng Tiền mặt ở đây cũng có thể gọi là vốn bằng tiền

Trang 22

Tiền mặt được nắm giữ cho các lý do sau: Thực hiện các giao dịch; Dự phòng; Đầu cơ; Ký quỹ

Như vậy, tài khoản tiền mặt của các công ty thường bao gồm các tài khoản giao dịch, dự phòng, đầu cơ và ký quỹ Tuy nhiên, không thể xác định chi tiết cho từng mục tiêu mà chỉ tổng hợp lại và xây dựng một tài khoản tiền mặt hợp lí, vì cùng một khoản tiền, công ty có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau [6, tr.322]

* Các kỹ thuật quản trị tiền mặt

Phạm vi của quản trị tiền mặt là bắt đầu từ lúc khách hàng thanh toán cho công ty đến khi tiền mặt được ghi giảm số dư trong tài khoản Mục tiêu của quản trị tiền mặt là tối đa hoá thời gian khả dụng của tiền mặt Quản trị tiền mặt hiệu quả bao gồm quản trị riêng rẽ dòng nhập quỹ và dòng xuất quỹ, bao gồm các nội dung sau:

- Đồng bộ hóa dòng tiền mặt: Thông qua việc nâng cao chất lượng dự đoán và sắp xếp các hoạt động để các hoá đơn gắn đúng với nhu cầu tiền mặt, các công ty có thể duy trì các tài khoản giao dịch ở mức thấp nhất Việc đồng

bộ hoá dòng ngân quỹ đảm bảo tiền mặt khi cần thiết và vì thế giúp công ty giảm tối thiểu tài khoản tiền mặt, giảm nợ ngân hàng, giảm chi phí vay và do

đó tăng lợi nhuận

- Kỹ thuật vốn trôi nổi: Chênh lệch giữa tồn quỹ trên tài khoản ngân hàng với tồn quỹ trên sổ sách kế toán gọi là vốn trôi nổi Vốn trôi nổi phát sinh do thời gian chờ đợi thanh toán khi chứng từ đang trên đường đi hay đang chờ xử lý ở ngân hàng Chênh lệch giữa vốn trôi nổi do thu và do chi gọi

là vốn trôi nổi ròng Quản trị vốn trôi nổi liên quan đến việc kiểm soát thu và chi tiền Mục tiêu của quản trị thu tiền là cắt giảm khoảng thời gian giữa thời điểm khách hàng chi trả hóa đơn và thời điểm tờ sec được chi trả Mục tiêu

Trang 23

của quản trị chi tiền là giảm tốc độ thanh toán, tức là gia tăng khoảng thời gian giữa thời điểm phát hành sec và thời điểm tờ sec được xuất trình

- Đẩy nhanh tốc độ thu tiền thông qua các biện pháp khả thi

- Giảm tốc độ chi tiêu

[6, tr.323-326]

* Hoạch định ngân sách tiền mặt (kế hoạch ngân quỹ)

Ngân sách tiền mặt là một kế hoạch dùng để xác định nhu cầu chi tiêu

và nguồn thu tiền mặt Kế hoạch này thường được xây dựng dựa trên cơ sở thời gian (từng năm, từng tháng, từng tuần,…) Yếu tố quan trọng nhất để thiết lập được một ngân quỹ tiền mặt có ý nghĩa dựa trên tính xác thực của những dự báo về doanh số tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm của doanh nghiệp

Nội dung chủ yếu của bảng ngân sách tiền mặt là lập bảng dự toán thu chi ngắn hạn Bảng này bao gồm 2 phần chính:

- Phần thu: bao gồm các khoản tiền thu do bán hàng, tiền thu hồi nợ, tiền nhượng bán tài sản,…

- Phần chi: bao gồm các khoản chi cho kinh doanh như mua nguyên vật liệu, chi trả lương, tiền thưởng, bảo hiểm, nộp thuế; chi cho đầu tư dài hạn như thanh toán tiền mua sắm tài sản cố định, hoàn trả nợ vay,…

Trong mỗi kỳ kế hoạch, sau khi liệt kê các khoản thu chi, cần tiến hành

so sánh xác định mức bội thu hoặc bội chi để tìm ra biện pháp để bảng ngân sách được cân bằng theo hướng tích cực

b Quản trị khoản phải thu

Nội dung chủ yếu của quản trị khoản phải thu bao gồm:

Trang 24

hàng hóa và dịch vụ Việc xây dựng các tiêu chuẩn tín dụng nhằm để xây dựng các khách hàng bình thường và mức độ tín dụng mà họ có thể được hưởng Tiêu chuẩn tín dụng là những yếu tố liên quan đến sức mạnh tài chính

và mức độ tín nhiệm tín dụng mà mỗi khách hàng phải đảm bảo để có quyền hưởng mức tín dụng mà công ty cấp cho những khách hàng như họ

- Thời hạn tín dụng (kỳ hạn tín dụng): là thời gian người mua được trì hoãn thanh toán

- Chiết khấu nhờ trả sớm: là tỷ lệ giảm giá k% nếu khách hàng chấp nhận thanh toán trong d ngày đầu tiên (viết tắt là k/d) Việc đưa ra mức chiết khấu giảm giá đã mang lại cho khách hàng hai cơ hội lựa chọn Thứ nhất là thanh toán sớm trong vòng d ngày đầu tiên để được hưởng chiết khấu Thứ hai là trả chậm hơn, tức là thời hạn khách hàng có thể kéo dài hơn và mất đi

cơ hội hưởng chiết khấu

- Chính sách thu hồi công nợ: bao gồm thủ tục quản lý và đòi nợ, chi phí liên quan đến bộ phận quản lý nợ khách hàng

Thủ tục thu nợ bao gồm một quá trình hợp lý gồm các giải pháp vừa mềm dẻo vừa cương quyết, có thể bắt đầu từ cuội gọi điện thoại, thư tín, các viếng thăm cá nhân, hoạt động luật pháp,…

Tóm lại quản trị khoản phải thu phải đối mặt với nhiều tình huống phức tạp, ta có thể mô hình hóa quyết định trong quản trị khoản phải thu như sau: (xem hình 1.6)

Trang 25

Bán chịu hàng hóa

So sánh

Cơ hội

Quyết định chính sách bán chịu

Rủi ro

Hình 1.6: Mô hình tổng quát để ra quyết định quản trị khoản phải thu

* Đánh giá khách hàng tín dụng

Quy trình đánh giá khách hàng tín dụng bao gồm ba bước cơ bản sau:

- Thu thập thông tin liên quan đến khách hàng tín dụng

- Phân tích thông tin để xác định mức độ tín nhiệm của khách hàng

- Quyết định có nên mở tín dụng cho khách hàng đó không và nếu có thì xác định hạn mức tín dụng cấp cho khách hàng đó:

* Ảnh hưởng của rủi ro bán chịu: Chính sách tín dụng sẽ quyết định mức độ đầu tư vào các khoản phải thu, và các khoản phải thu phải được xem

là một tài sản đầu tư và nó cũng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Tuy nhiên, khi các khoản phải thu gia tăng thì mức độ rủi ro cũng tăng

Vì vậy, khi một doanh nghiệp thay đổi chính sách tín dụng với mục đích gia tăng doanh thu, thì khi đó hàng loạt chi phí khác cũng sẽ gia tăng trên

cơ sở mức độ tăng của các khoản phải thu

Trang 26

Các chi phí phát sinh và gia tăng do sự gia tăng của các khoản phải thu bao gồm: Chi phí quản lý và thu hồi công nợ; Nợ khó đòi; Chi phí chiết khấu; Chi phí tài trợ.

Như vậy để đánh giá chính sách tín dụng khác nhau trong một doanh nghiệp, cần phải đánh giá tác động của các chính sách đó đối với doanh thu

và lợi nhuận của doanh nghiệp [8, tr.17]

c Quản trị hàng tồn kho

Quản trị hàng tồn kho chính là việc tính toán, theo dõi, xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì tồn kho, đồng thời đảm bảo dự trữ hợp lý nhất Nói cách khác, quản trị tồn kho là tính lượng tồn kho tối ưu sao cho phí tổn tồn kho là nhỏ nhất

* Chi phí quản trị hàng tồn kho: Chi phí liên quan trực tiếp đến quản trị tồn kho là chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng

- Chi phí lưu kho (chi phí tồn trữ): là chi phí liên quan đến việc lưu giữ hàng hóa và có thể được chia thành: chi phí hoạt động và chi phí tài chính

Chi phí hoạt động gồm: chi phí bốc dỡ hàng hóa, chi phí về kho bãi và quản lý, bảo quản và chi phí hao hụt,…

Chi phí tài chính gồm: chi phí sử dụng vốn, trả lãi vay cho nguồn vay mượn để mua hàng dự trữ, chi phí về thuế, khấu hao,…

Khi tính toán được mức tồn trữ hợp lý thì chi phí tồn trữ sẽ giảm tối ưu

- Chi phí đặt hàng (chi phí hợp đồng): Bao gồm chi phí quản lý, giao dịch và vận chuyển hàng hóa Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường

cố định, không phụ thuộc vào số lượng hàng mua

Trong thực tế, chi phí cho mỗi đơn vị đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và các chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng, như chi phí giao nhận và chi phí kiểm tra hàng thường biến động theo số lượng hàng được đặt mua

Trang 27

Có nhiều mô hình quản lý hàng tồn kho, chẳng hạn:

* Mô hình quản lý hàng tồn kho EOQ (Economic Order Quantity), với giả định chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và độc lập với số đơn vị hàng được mua Mô hình EOQ là một mô hình quản trị hàng tồn kho mang tính định lượng, được sử dụng để tìm mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, dựa trên cơ sở chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối liên quan tỷ

lệ nghịch

Cụ thể, khi số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên, số lần đặt hàng trong kỳ giảm và dẫn đến chi phí đặt hàng giảm trong khi chi phí tồn trữ tăng lên Mô hình EOQ nhằm mục đích đạt được tổng chi phí tồn kho là nhỏ nhất trong điều kiện giá mua hàng là ổn định, tổng chi phí tồn kho chỉ xét đến hai loại là chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho

* Mô hình tồn kho đúng lúc (JIT-Just In Time)

Mặc dù chưa có phương pháp hoàn hảo nào cho việc tính toán chính xác lượng hàng tồn kho nhưng trên thực tế, một số công thức đơn giản dựa trên các giả thuyết vẫn được áp dụng để dự đoán và xây dựng các kế hoạch tài chính liên quan đến lượng hàng dự trữ hàng tồn kho

Phương pháp “JIT” còn được gọi là phương pháp Kaban, hãng Ford đã

áp dụng các dây chuyền lắp ráp theo phương châm JIT từ những năm 1930 của thế kỷ 20 Đến những năm 1970, quy trình sản xuất theo mô hình JIT này mới được hoàn thiện và tổng kết thành lý thuyết và được hãng Toyota (Nhật Bản) phát triển

Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc là một phần của quá trình quản

lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại bỏ các công đoạn kém hiệu quả

Về lý thuyết, phương pháp này có số tồn kho bằng 0 vì nguyên vật liệu

và các chi tiết sản phẩm được đặt hàng trước, đúng lúc cần thiết đơn vị cung cấp mới đưa hàng đến và sau khi sản xuất xong, hàng hóa được chở đi ngay

Trang 28

Ứng dụng phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức và kế hoạch sản xuất phải hết sức chính xác và chặt chẽ Phương pháp này chỉ có thể áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp chặt chẽ với các phương pháp quản lý khác, đồng thời các yếu tố môi trường kinh doanh phải ổn định, dự báo trước.

Tóm lại, áp dụng “JIT” doanh nghiệp sẽ tạo ra các ưu điểm sau:

+ Giảm các cấp độ tồn kho bán thành phẩm, thành phẩm và hàng hoá.+ Giảm không gian sử dụng

+ Tăng chất lượng sản phẩm, giảm phế liệu và sản phẩm lỗi

+ Giảm tổng thời gian sản xuất

+ Linh hoạt hơn trong việc thay đổi phức hệ sản xuất

+ Tận dụng sự tham gia của nhân công trong giải quyết vấn đề

+ Áp lực về quan hệ với khách hàng

+ Tăng năng suất và sử dụng thiết bị

+ Giảm nhu cầu về lao động gián tiếp

[9, tr.12-21]

1.2.1.4 Kiểm tra, đánh giá tình hình quản trị vốn lưu động

Hoạch định tài chính là một tiến trình chính thống của việc xây dựng mục tiêu, phát triển các chiến lược, chiến thuật, các tiêu chuẩn và phân bổ các nguồn lực Kiểm tra có thể đảm bảo rằng các quyết định, hành động và kết quả nhất quán với kế hoạch này Kiểm tra, đánh giá tình hình quản trị vốn lưu động là phương pháp kiểm tra nhằm ngăn chặn hoặc hiệu chỉnh sự phân bổ nguồn lực sai

Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá tình hình quản trị vốn lưu động là trên cơ sở phân tích các số liệu quá khứ để thấy được xu hướng và dự đoán được tình hình quản trị vốn lưu động trong tương lai, từ đó giúp nhà quản trị doanh nghiệp có được thông tin quan trọng để ra quyết định đúng đắn, những

Trang 29

giải pháp phục vụ cho việc đầu tư Thực hiện kiểm tra, đánh giá thông qua phân tích tình hình quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp trả lời những câu hỏi như: Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào, hàng tồn kho được quản lý ra sao, từ đó các nhà quản trị dựa vào đó để đưa ra các giải pháp kịp thời để khắc phục những thiếu sót, những yếu điểm trong quá trình quản trị vốn lưu động Kết quả phân tích còn làm cơ sở cho các dự báo tài chính, các quyết định đầu tư, tài trợ, …

Phương pháp chủ yếu được dùng trong phân tích tình hình quản trị vốn lưu động là phương pháp so sánh để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp

Để đánh giá kết quả hoạt động quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp nhà quản trị dựa vào các chỉ tiêu sau:

1.2.2.1 Các chỉ số hoạt động

a Vòng quay vốn lưu động

Đây là chỉ số được tính bằng tỷ lệ giữa tổng doanh thu thuần trong một

kỳ chia cho vốn lưu động bình quân trong kỳ của doanh nghiệp Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm, quay được bao nhiêu vòng trong một chu kì kinh doanh

Doanh thu thuầnVốn lưu động bình quân trong kỳChỉ số này đánh giá doanh thu thuần chịu ảnh hưởng của số vốn lưu động bình quân trong kỳ ở mức độ nào Với mức doanh thu như vậy, trong kỳ vốn lưu động bình quân phải luân chuyển bao nhiêu vòng để đạt được doanh thu đó Vòng quay vốn lưu động chịu tác động tỷ lệ thuận với vòng quay hàng tồn kho và vòng quay khoản phải thu

Vòng quay vốn lưu động =

Trang 30

Nhìn chung, vòng quay vốn lưu động càng lớn thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá có hiệu quả Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp, đó là giảm bớt số vốn lưu động chiếm dụng, tiết kiệm vốn lưu động trong luân chuyển Do tiết kiệm được vốn, doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh mà không cần tăng thêm vốn Tăng tốc độ luân chuyển vốn còn có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm và chi phí lưu thông.

Chỉ tiêu số ngày của một vòng quay vốn lưu động phản ánh độ dài thời gian vốn lưu động luân chuyển một lần Dùng chỉ tiêu này có thể xác định được tổng số vốn tiết kiệm do tăng tốc độ luân chuyển vốn và có thể so sánh chỉ tiêu luân chuyển vốn qua các thời kỳ khác nhau

b Vòng quay hàng tồn kho

Đối với doanh nghiệp, hàng hóa tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động Vì vậy, một mặt cần giới hạn mức dự trữ tối ưu, mặt khác tăng vòng quay của chúng góp phần tăng vòng quay vốn lưu động và tăng hiệu quả sử dụng hàng tồn kho

Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho được thể hiện qua các chỉ số sau:

Giá vốn hàng bánTồn kho bình quânChỉ số vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng hóa tồn kho bình quân được bán ra trong kỳ Khi số vòng quay của hàng tồn kho càng cao có thể đánh giá hoạt động kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp đã giảm bớt đầu

tư vào hàng tồn kho, rút ngắn kỳ chuyển đổi hàng hóa thành tiền mặt hoặc khoản phải thu khách hàng, giảm bớt nguy cơ hàng ứ đọng Tuy nhiên hệ số này quá cao có thể dẫn đến tình trạng thiếu hàng để bán, dễ mất khách hàng, doanh thu giảm Nếu hệ số này thấp cho thấy tồn kho quá lớn, làm cho vốn bị

ứ đọng và giảm hiệu quả sử dụng vốn

Vòng quay hàng tồn kho =

Trang 31

Để đánh giá chỉ tiêu này cần so sánh với vòng quay hàng tồn kho trung bình của ngành hàng kinh doanh.

c Kỳ thu tiền bình quân

Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp, đồng thời cũng phản ánh hiệu quả của việc quản trị khoản phải thu và chính sách tín dụng của doanh nghiệp thực hiện với khách hàng

Số dư bình quân các khoản phải thu Doanh thu bán chịu bình quân một ngày

Kỳ thu tiền ngắn thể hiện tốc độ thu hồi nhanh các khoản phải thu, doanh nghiệp có thể giảm được một lượng vốn đầu tư vào tài sản lưu động Nếu doanh nghiệp có khoản phải thu lớn và kỳ thu tiền dài thì vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều, công tác quản trị khoản phải thu có nhiều bất ổn

1.2.2.2 Chỉ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Một trong những chức năng trọng yếu của tài sản lưu động là khả năng thanh toán cho doanh nghiệp Trên sổ sách của doanh nghiệp thể hiện lợi nhuận cao nhưng thực tế tại không đủ tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn do bán chịu nhiều Vì vậy để đánh giá hoạt động quản trị vốn lưu động cần phải xem xét các chỉ số về khả năng thanh toán của doanh nghiệp Các chỉ

số dùng để đánh giá như sau:

a Chỉ số thanh toán hiện hành

Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạnĐây là chỉ số phản ánh mức độ đảm bảo của tài sản lưu động đối với nợ ngắn hạn (dưới 12 tháng) Chỉ số này càng cao thể hiện khả năng thanh toán

nợ trong kỳ của doanh nghiệp càng tốt Tuy nhiên, nếu khả năng thanh toán

Kỳ thu tiền bình quân =

Khả năng thanh toán hiện hành =

Trang 32

hiện hành quá lớn sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn vì doanh nghiệp đã đầu

tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói cách khác việc quản trị vốn lưu động không hiệu quả Nguyên nhân có thể do hàng tồn kho ứ đọng cao, các khoản nợ khó đòi hay có nhiều khoản tiền mặt nhàn rỗi

Cũng cần so sánh chỉ số này với chỉ số trung bình ngành Khi chỉ số này thấp so với chỉ số trung bình ngành thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp thấp và ngược lại

b Chỉ số thanh toán nhanh

Chỉ số thanh toán nhanh được tính dựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, nó được tính bằng cách loại bỏ hàng tồn kho trong tổng tài sản lưu động và đem phần chênh lệch còn lại chia cho tổng nợ ngắn hạn

Tài sản lưu động – Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạnNếu chỉ số khả năng thanh toán nhỏ hơn 1, chứng tỏ nếu hàng tồn kho

bị ứ đọng thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng không có khả năng chi trả các khoản nợ khi chúng đến hạn

Các chỉ tiêu này mới chỉ là các chỉ tiêu thời điểm Do đó cần phải xem xét đến các chỉ tiêu thời kỳ (các chỉ số hoạt động), cụ thể nếu tốc độ luân chuyển các khoản phải thu, hàng tồn kho lớn, tốc độ luân chuyển vốn lưu động cao thì khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh giúp cho tình hình thanh toán khả quan hơn

Khi đánh giá về khả năng thanh toán của doanh nghiệp cần so sánh với các chỉ số trung bình ngành, so sánh với các năm trước để đánh giá

1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.2.3.1 Nhân tố bên ngoài

- Cơ chế và các chính sách của Nhà nước

Khả năng thanh toán nhanh =

Trang 33

Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, các doanh nghiệp được

tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn phải chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, thông qua hàng loạt các chính sách, bộ luật được ban hành Nhà nước tạo môi trường hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động Chính vì thế, một

sự thay đổi trong cơ chế quản lý và chính sách của Nhà nước đều có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh, một hệ thống chính sách hợp lý, các văn bản pháp luật đồng bộ và ổn định sẽ có tác dụng làm đòn bẩy kinh tế đối với các doanh nghiệp, giúp cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị trường, phát huy hiệu quả vốn đầu tư của doanh nghiệp nói chung và vốn lưu động nói riêng

- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp và xu hướng phát triển của ngànhTrong nền kinh tế thị trường, luôn tồn tại nhiều thành phần kinh tế tham gia, các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh quyết liệt để tồn tại, thị trường tiêu thụ không ổn định, sức mua của đồng tiền giảm, rủi ro ngày càng tăng Điều này cũng ảnh hưởng tới hiệu quả quản trị vốn lưu động của doanh nghịêp

- Các rủi ro bất khả kháng

Doanh nghiệp cũng gặp những rủi ro do thiên tai gây ra như hỏa hoạn,

lũ lụt,… mà doanh nghiệp không lường trước được gây ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn

Trang 34

1.2.3.2 Nhân tố bên trong

Ngoài những nhân tố khách quan trên, việc quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp cũng chịu nhiều ảnh hưởng của một số nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là những nhân tố chủ yếu quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp gồm có:

- Cơ cấu vốn của doanh nghiệp

Việc xác định cơ cấu vốn càng hợp lý bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng được tối ưu hóa bấy nhiêu Nếu bố trí cơ cấu vốn không hợp lý, làm mất cân đối giữa vốn lưu động và vốn cố định dẫn đến làm thiếu hoặc thừa một loại vốn nào đó sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn

- Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Việc xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thiếu chính xác dẫn đến thừa hoặc thiếu vốn đều ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu thiếu vốn sẽ gây gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh, làm xuất hiện tình trạng công nhân viên không phải làm việc mà vẫn được hưởng lương theo quy định, cũng nếu thừa vốn sẽ gây lãng phí, làm tăng chi phí kinh doanh

Vậy thừa hoặc thiếu vốn đều làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Việc sử dụng vốn

Do việc sử dụng lãng phí, nhất là vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh như: mua sắm vật tư không đúng chất lượng kỹ thuật, bị hao hụt nhiều trong quá trình mua sắm cũng như trong quá trình sản xuất, không tận dụng được phế phẩm, phế liệu loại ra Điều này gây ảnh hưởng tới hiệu quả

sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

- Trình độ các nhà quản lý của doanh nghiệp

Cán bộ quản lý luôn phải được nâng cao trình độ chuyên môn, tư cách đạo đức nghề nghiệp Phải kiểm tra các số liệu kế toán một cách thận trọng trước khi ra quyết định cho các hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 35

- Mối quan hệ của doanh nghiệp.

Mối quan hệ của doanh nghiệp được thể hiện ở hai phương diện, đó là mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp Mối quan hệ của doanh nghiệp là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến nhịp độ sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm… qua đó ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với khách hàng thì sản phẩm tiêu thụ nhanh và dễ dàng hơn Mặt khác, quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp tốt thì nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất sẽ được cung ứng kịp thời, đẩy nhanh tiến độ sản xuất của doanh nghiệp, tránh được tình trạng ngừng hoạt động do thiếu nguyên nhiên vật liệu, làm giảm những chi phí không cần thiết

Trang 36

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Vốn lưu động là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt Nhiệm vụ đáp ứng đầy

đủ nhu cầu vốn cho vốn lưu động là yếu tố thúc đẩy sự chuyển hoá nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài sản lưu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ

Vì vậy, quản trị vốn lưu động có vai trò rất quan trọng trong quản trị tài chính, nó tác động trực tiếp đến khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp Điều này phụ thuộc vào việc giải quyết hai vấn đề cơ bản đó là cơ cấu từng tài sản lưu động hợp lý mà công ty nên duy trì cũng như toàn bộ tài sản lưu động

và công ty nên sử dụng nguồn nào để tài trợ cho tài sản lưu động Qua đó, chương này tập trung vào việc hoạch định nhu cầu vốn lưu động, các chính sách về đầu tư và tài trợ của vốn lưu động dựa trên đặc điểm hoạt động kinh doanh để có quyết định đầu tư và tài trợ hợp lý

Bên cạnh đó, chương này cũng đi sâu vào việc tiếp cận quản trị các yếu

tố của vốn lưu động bao gồm tiền mặt, khoản phải thu và hàng tồn kho cho phép nhà quản trị có sự điều chỉnh, quyết định đầu tư cho tài sản lưu động cũng như tài trợ nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả vốn lưu động của doanh nghiệp

Trang 37

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY

Ngày 10/10/2005 theo Quyết định số 3241/QĐ-TBCN của Bộ trưởng

Bộ Công nghiệp, Công ty Cao su Đà Nẵng được chuyển thành Công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng

Ngày 01/01/2006 Công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng chính thức đi vào hoạt động với vốn điều lệ là: 92.475.000.000 đồng

Ngày 28/11/2006 Ủy ban chứng khoán Nhà Nước có Quyết định số 86/UBCK/GPNY về việc cấp giấy phép niêm yết cổ phiếu Công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Số lượng cổ phiếu niêm yết là: 9.247.500 cổ phiếu với tổng giá trị là 92.475.000.000 đồng (Mệnh giá: 10.000.đồng/ 1 cổ phiếu)

Hiện tại, tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành của Công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng: 46.153.865 cổ phiếu với tổng giá trị chứng khoán: 461.538.650.000 đồng Trong đó, phần vốn góp của Tập đoàn Hóa chất Việt

Trang 38

Nam chiếm tỷ lệ 50,50 %, tổ chức nước ngoài sở hữu 13,27 %, các thành phần khác sở hữu 36,23 % (số liệu tính đến ngày 30/06/2011)

Công ty có 4 chi nhánh hạch toán báo sổ:

- Trung tâm kinh doanh tổng hợp

- Chi nhánh Miền Bắc

- Chi nhánh Miền Nam

- Chi nhánh Miền Trung

Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng một trong những doanh nghiệp có bề dày kinh nghiệm với 36 năm trưởng thành và phát triển về lĩnh vực sản xuất các sản phẩm công nghiệp cao su, và các quy cách lốp siêu trường siêu trọng phục vụ công trình và mỏ

Quá trình phát triển của công ty có thể được chia làm hai giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Trước khi cổ phần hóa (năm 2005)

Công ty là một doanh nghiệp nhà nước thuần túy, còn mang nặng phong cách kế hoạch của Nhà nước Nhất là thời gian đầu khi mới thành lập, với công nghệ sản xuất lạc hậu chủ yếu công ty chỉ đắp và hấp vỏ ô tô, sản phẩm làm ra được Nhà nước mua Càng về sau, chuyển mình theo cơ chế thị trường, công ty cũng đã không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mở rộng quy mô nhà máy

*Giai đoạn 2: Từ sau khi cổ phần hóa đến nay

Công ty đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ khi chính thức được niêm yết trên sàn chứng khoán, thể hiện qua những con số tăng trưởng ấn tượng Kết hợp với việc Việt Nam chính thức gia nhập vào WTO, mở cửa thị trường đã tạo điều kiện phát triển hết sức thuận lợi cho công ty

Hiện nay, công ty đang trong giai đoạn mở rộng quy mô sản xuất Bằng

kế hoạch di chuyển, xây dựng, mở rộng quy mô các nhà máy sản xuất cũ vào Khu công nghiệp Liên Chiểu đồng thời xây dựng thêm nhà máy sản xuất lốp

Trang 39

radial với công xuất 600.000 lốp mỗi năm dự báo sẽ đem lại bước nhảy vọt cho công ty so với các đối thủ.

Với 1499 lao động, gồm có 1228 công nhân, 57 nhân viên nghiệp vụ,

và 214 cán bộ quản lý Trong đó, trình độ cấp 2,3 là 1228 người; trình độ trung cấp, cao đẳng 57 người; đại học và trên đại học là 214 người (số liệu tại thời điểm 30/06/2011) Đây là một cơ cấu hợp lý với quy mô của công ty và của ngành đã tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ cho công ty

Với sự thay đổi đó, hiện công ty đang đứng thứ năm toàn ngành hóa chất, đứng thứ hai tính chung cho thị phần sản xuất săm lốp ôtô, xe đạp, xe máy và đứng thứ nhất tính riêng cho thị phần sản xuất săm lốp ôtô, máy kéo (thị phần của công ty đạt khoảng 35%, trong khi đó hãng thứ hai chỉ chiếm 15%)

Về mặt chất lượng sản phẩm thì trong những năm qua công ty đã nỗ lực

để đạt được hai chỉ chứng chỉ chất lượng uy tín là chứng chỉ đạt tiêu chuẩn công nghiệp Nhật bản (JIS) và FMVSS 119 của Mỹ và công ty đang áp dụng

hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000

Công ty hiện đang cung cấp sản phẩm cho các doanh nghiệp lắp ráp ôtô lớn như TMT, Trường Hải (KIA), Huyndai – Vinamotor

Sản phẩm của Công ty được tiêu thụ trên toàn quốc và được xuất khẩu sang

27 nước như: Ấn Độ, Argentina, Hồng kông, Indonesia, Singapore, Brazil, Chile…

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty

Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng cơ cấu tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng Đứng đầu là Hội đồng quản trị (HĐQT) gồm 07 thành viên Ban giám đốc bao gồm 06 thành viên: 01 Tổng giám đốc, 05 phó tổng giám đốc (kỹ thuật, đầu tư, sản xuất, bán hàng và 1 phó tổng giám đốc kiêm kế toán trưởng) do HĐQT bổ nhiệm là cơ quan tổ chức điều hành, quản lý mọi hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty theo mục tiêu định hướng, kế hoạch

Trang 40

mà HĐQT, Đại Hội đồng cổ đông đã thông qua Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm hoàn toàn các hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh hàng ngày của Công ty, giúp việc cho tổng giám đốc là các phó tổng giám đốc Tổng giám đốc công ty sẽ căn cứ vào khả năng và nhu cầu quản lý để thực hiện việc ủy quyền một số quyền hạn nhất định cho các thành viên trong Ban giám đốc về những công việc điều hành chuyên môn.

Ngày đăng: 23/11/2017, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Tấn Bình (2010), Quản trị tài chính ngắn hạn, NXB Thống kê [2] TS. Nghiêm Sỹ Thương (2010), Giáo trình Cơ sở quản lý tài chính, NXBGiáo dục VN Khác
[4] Dương Hữu Hạnh, (2011), Tài Chánh công ty, NXB Phương Đông Khác
[5] TS. Nguyễn Minh Kiều (2008), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống Kê Khác
[6] TS. Nguyễn Thanh Liêm (2009), Quản trị tài chính, NXB Thông tin truyền thông Khác
[7] PGS. TS. Trần Ngọc Thơ (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại (tái bản lần thứ 2), NXB Thống kê Khác
[8] Đặng Quang Thịnh (2008), Hoàn thiện Quản trị vốn lưu động tại Công ty Xăng dầu Nam Tây Nguyên, Luận văn Thạc sỹ - ĐHĐN Khác
[9] PGS.TS. Phan Thị Cúc, TS. Nguyễn Trung Trực, ThS. Đặng Thị Trường Giang (2010), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính Khác
[10] Điều lệ, Quy chế tài chính công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng hiện hành [11] Báo cáo tài chính Công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng (Năm 2008, 2009 và2010 đã được kiểm toán) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w