BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRẦN THỊ HOÀNG VY HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU - CHI NHÁ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ HOÀNG VY
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
- CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ HOÀNG VY
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
- CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HÒA NHÂN
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Hoàng Vy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng 7
1.1.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp 19
1.2 CÔNG TÁC XHTD NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 23
1.2.1 Bản chất và ý nghĩa của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 23
1.2.2 Nội dung công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 29
1.2.3 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại: 37
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 42 2.1.1 Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của ACB – Chi nhánh
Đà Nẵng 42 2.1.2 Các dịch vụ của ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 46 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB - Chi nhánh Đà Nẵng 47 2.1.4 Tình hình và đặc điểm khách hàng doanh nghiệp của ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 50 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI ACB - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 51 2.2.1 Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp của ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 51 2.2.2 Tình hình thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 65 2.2.3 Đánh giá kết quả công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 71 2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI ACB – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 74 2.3.1 Kết quả đạt được của công tác XHTD nội bộ tại ACB – Chi nhánh
Đà Nẵng 74 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong công tác xếp hạng tín dụng nội bộ của ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 76 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP
Trang 6HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 80
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI ACB – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 80
3.1.1 Định hướng phát triển tín dụng doanh nghiệp 80
3.1.2 Định hướng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 81
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI ACB – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 81
3.2.1 Hoàn thiện việc tổ chức thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 82
3.2.2 Cải thiện chất lượng của nguồn thông tin được sử dụng để xếp hạng tín dụng nội bộ tại ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 83
3.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 84
3.2.4 Nâng cao hiệu quả của việc kiểm soát công tác chấm điểm xếp hạng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ACB - Chi nhánh Đà Nẵng 85
3.2.5 Nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực tại ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 86
3.2.6 Giám sát việc ứng dụng XHTD trong hoạt động tín dụng tại ACB – Chi nhánh Đà Nẵng 87
3.3 CÁC KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 87
3.3.1 Những kiến nghị đối với ACB 87
3.3.2 Những kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 90
3.3.3 Những kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan 91
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACB Asia Commercial Bank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Việt Nam CBTD Cán bộ tín dụng
Trang 92.11 Bảng phân loại nợ cho các khoản vay 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
NHTM là một định chế tài chính trung gian có tầm quan trọng vào loại
bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Thông qua việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi phân phối lại cho các chủ thể trong nền kinh tế
để mở rộng sản xuất kinh doanh, các NHTM đã có vai trò rất lớn cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia Trong hoạt động kinh doanh của mình, NHTM luôn đối mặt với nhiều rủi ro mà nhất là rủi ro trong hoạt động tín dụng, bởi vì hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng và có khả năng gây tổn thất lớn cho NHTM Vì vậy, việc quản trị rủi ro tín dụng luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với NHTM
Để quản lý RRTD hiệu quả đòi hỏi các NHTM phải có những giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra và một giải pháp quan trọng, mang nhiều lợi ích cho hoạt động đánh giá khách hàng và quản trị rủi ro là công tác XHTD nội bộ Đây là một trong những công cụ quản lý RRTD khoa học và hiệu quả mà các NHTM hiện nay đang thực hiện Thông qua công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng vay, các NHTM có thể đánh giá mức độ rủi
ro của các khách hàng này, cho phép NHTM chủ động lựa chọn khách hàng
và xây dựng chính sách tín dụng hợp lý
Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của công tác XHTD nội
bộ trong việc quản lý rủi ro tín dụng mà em quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng” cho luận văn
Thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại
NHTM
Trang 11- Phân tích thực trạng công tác XHTD nội bộ đối với KHDN của ACB
– CN Đà Nẵng, những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó
- Trên cơ sở những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, kiến
nghị các giải pháp để hoàn thiện công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại
ACB – CN Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về lý thuyết và
thực tiễn của công tác XHTD nội bộ tại NHTM, cũng như thực trạng công tác
đó tại ACB – CN Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt nội dung: phạm vi nghiên cứu là công tác XHTD đối với KHDN, công tác XHTD nội bộ bao hàm việc xem xét hệ thống XHTD nội bộ lẫn việc thực hiện XHTD nội bộ trong thực tế
+ Về mặt không gian: xem xét công tác XHTD nội bộ được thực hiện ở ACB – CN Đà Nẵng
+ Về mặt thời gian: khảo sát thực trạng công tác XHTD nội bộ được
thực hiện trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, phương pháp tiếp cận được sử dụng trong
luận văn là phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, nghiên cứu tài liệu, trên cơ
sở đó phân tích, so sánh, hệ thống, đồng thời có những khảo sát thực tế để luận giải các vấn đề được đưa ra trong nghiên cứu, ngoài ra luận văn còn sử
dụng các tài liệu có liên quan
5 Bố cục đề tài
Đề tài được thiết lập dựa trên những lý luận nghiên cứu trước đó, cùng với cơ sở khái quát lý luận, nghiên cứu thực trạng công tác XHTD nội bộ đối
Trang 12với KHDN tại ACB – CN Đà Nẵng, luận văn đã kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện hơn công tác XHTD nội bộ KHDN Kết cấu đề tài gồm có ba chương với nội dung cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác XHTD nội bộ đối với KHDN tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác XHTD nội bộ đối với
KHDN tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
a Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng năm 2010
của Vietcombank” năm 2011 của tác giả Doãn Quốc Chinh
Trên cơ sở khái quát lý luận về XHTD, phân loại XHTD, đối tượng
XHTD, mục đích của XHTD, các phương pháp XHTD, đồng thời giới thiệu
sơ lược kinh nghiệm XHTD trong NHTM trên thế giới và hệ thống XHTD của một số ngân hàng tại Việt Nam
Từ đó, nghiên cứu thực trạng hệ thống xếp hạng tại Vietcombank năm
2010, so sánh hệ thống xếp hạng của Vietcombank với một số tổ chức khác từ
đó đưa ra những mặt còn hạn chế, nguyên nhân những hạn chế của hệ thống xếp hạng
Trên cơ sở những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, luận văn
đã kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện hệ thống XHTD của Vietcombank Tuy nhiên, luận văn chỉ đề cập đến các phương pháp chung cho việc hoàn thiện hệ thống xếp hạng, chưa đi sâu vào chi tiết và các phương pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống này của Vietcombank
b Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển
Trang 13Việt Nam” của tác giả Tô Tiến Dũng
Luận văn đã nêu lên và hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về công
tác XHTD tại NHTM Luận văn cũng đã phân tích và đánh giá được thực trạng công tác XHTD tại Sở giao dịch 1 – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, đồng thời chỉ ra các thành tựu đã đạt được, những tồn tại cần khắc
phục
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xếp hạng tín dụng tại Sở
giao dịch 1 – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, luận văn đã đưa ra các giải pháp chủ yếu trong ngân hàng và những kiến nghị với nhà nước và NHNN, các bộ ngành liên quan nhằm hoàn thiện công tác XHTD trong thời gian tới
Hạn chế của luận văn là chỉ mới trình bày hệ thống xếp hạng tín dụng của ngân hàng Đầu tư và phát triển, chưa đi sâu vào công tác XHTD, do đó chưa đưa ra được giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện công tác XHTD
c Luận văn Thạc sĩ “ Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2007
của tác giả Trần Đại Sinh
Luận văn nghiên cứu lý luận về tín dụng ngân hàng, rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng, các chỉ tiêu dùng để phân tích xếp hạng tín dụng
doanh nghiệp
Dựa vào lý thuyết chuyên ngành Kinh tế Tài chính – Ngân hàng cùng
với phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu giữa hệ thống XHTD doanh nghiệp của các NHTM Việt Nam với kinh nghiệm của các nước
và các tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp để làm rõ ưu điểm và hạn chế của hệ
thống XHTD doanh nghiệp tại các NHTM Bên cạnh đó, luận văn cũng đã
nghiên cứu môi trường hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại và phân tích thực trạng hệ thống XHTD của các NHTM tại thành phố Hồ Chí Minh, từ
Trang 14đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống xếp hạng tín dụng
của các NHTM Việt Nam
Luận văn nghiên cứu về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các
ngân hàng thương mại, chưa đi sâu vào các nội dung cụ thể của hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ một cách toàn diện
d Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện phương pháp xếp hạng tín nhiệm KHDN tại NH đầu tư và phát triển Việt Nam” năm 2007 của tác giả Thủy Ngọc Thu
Luận văn tập trung nghiên cứu về mặt kỹ thuật, phương pháp XHTD doanh
nghiệp Các vấn đề khác có liên quan chỉ đề cập làm cơ sở cho việc nghiên cứu như RRTD, nguyên tắc và các chỉ tiêu xếp hạng, XHTD trên thế giới
Trên cơ sở khái quát lý luận, nghiên cứu thực trạng hệ thống xếp hạng tại BIDV, kinh nghiệm xếp hạng của các tổ chức khác trong và ngoài nước, luận văn đã kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện hệ thống xếp hạng, trên cơ
sở đó đưa ra hệ thống xếp hạng doanh nghiệp mới
Luận văn chỉ mới trình bày được phần lý luận của hệ thống XHTD nội
bộ và các phương pháp xếp hạng tín dụng mang tính chung chung, chưa trình bày cụ thể vào từng bước của quá trình thực hiện có những ưu khuyết điểm
nào để đưa ra những giải pháp cụ thể hơn
e Khóa luận tốt nghiệp “XHTD nội bộ trong việc quản lý RRTD tại NH TMCP Nam Á“ năm 2010 của tác giả Nguyễn Đăng Nhật Phương.
Báo cáo này đã đưa ra một số ý kiến về việc XHTD nội bộ, đồng thời việc quản lý rủi ro tín dụng thông qua công tác này Báo cáo đã đi sâu tìm hiểu về NHTM, tín dụng, RRTD và quản trị RRTD thông qua hệ thống XHTD nội bộ Qua đó, nghiên cứu thực trạng của việc XHTD nội bộ trong việc quản
lý rủi ro tại Ngân hàng TMCP Nam Á Báo cáo đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của XHTD nội bộ trong việc quản lý RRTD tại
Trang 15NH TMCP Nam Á
Luận văn chỉ mới trình bày được một số kiến nghị, đề xuất cơ bản ,chưa trình bày được cụ thể các kiến nghị để nâng cao hiệu quả của công tác XHTD tại ngân hàng TMCP Nam Á
Ngoài ra, luận văn còn được tham khảo từ một số giáo trình về Quản trị
NH cũng như các báo cáo tài chính, báo cáo về tình hình hoạt động của ACB -
CN Đà Nẵng các năm 2009-2012
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng
a Tín dụng của ngân hàng thương mại
a1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
TDNH là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Hay có thể nói: TDNH là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn
từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định
Từ khái niệm trên ta có thể rút ra được đặc trưng của TDNH:
Thứ nhất, TDNH phải dựa trên cở sở sự tin tưởng giữa bên cho vay và
bên đi vay Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng và sự sẵn lòng cùng khả năng trả nợ của người đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng Mặt khác,
người vay cũng tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình
Thứ hai, TDNH có tính thời hạn Tín dụng là sự chuyển lượng tạm thời
một lượng tài sản của người sở hữu cho người đi vay nhưng phải trong một
thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi
Trang 17Thứ ba, sau một thời gian như đã thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả
cho người vay một lượng giá trị gồm cả gốc và lãi Phần chênh lệch này là giá của việc được quyền sử dụng vốn của người khác Do vậy, giá này phải đủ lớn
để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng và sử dụng vốn
Thứ tư, hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro Đó là do sự
mất cân xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng Rủi ro đó ngoài các nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng, còn có các nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi của chính sách, nguyên nhân bất khả
kháng như thiên tai, dịch họa
a2 Những hình thức tín dụng ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp
- Dựa vào mục đích vay:
+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp: là loại cho vay ngắn hạn hoặc trung dài hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
+ Cho vay tiêu dùng: chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm tiêu dùng của các hộ gia đình và cá nhân như mua nhà cửa, đất đai, phương tiện đi lại,
- Dựa vào thời hạn cho vay:
+ Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm, thường nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụ cho thanh toán tiền, hàng hóa, tài trợ vốn lưu động
+ Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm Các khoản vay thường với mục đích để đầu tư vào tài sản cố định hay đầu tư vào ngành kinh doanh mới,
+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, nhằm tài trợ cho mục đích xây dựng nhà xưởng, đầu tư dây chuyền sản xuất lớn, những dự
Trang 18án có thời hạn thu hồi vốn dài,
- Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
+ Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
- Dựa vào phương thức cho vay:
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo hình thức này ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ký kết một hợp đồng hạn mức tín dụng duy trì theo thời hạn nhất định hoặc theo chu kì sản xuất kinh doanh
+ Cho vay từng lần: đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ký kết hợp đồng riêng với mỗi khoản vay khi khách hàng
có nhu cầu Mỗi lần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng
sẽ thực hiện lại từ đầu
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn bản pháp luật chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
- Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp
+ Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy
khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào
a3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vay vốn
TDNH đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, TDNH là công cụ tài trợ cho các doanh nghiệp thoả mãn nhu
Trang 19cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh
Đối với doanh nghiệp, ngân hàng là kênh cung cấp nguồn vốn để phục
vụ quá trình sản xuất kinh doanh Đặc biệt là khi tích luỹ nội bộ của doanh nghiệp này còn hạn chế, lại rất khó thu hút nguồn vốn từ thị trường vốn vì quy mô nhỏ, không hấp dẫn thì vốn từ ngân hàng lại càng có vị trí quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp này Vì vậy, NHTM là một trong những kênh tài trợ vốn nhằm thoả mãn nhu cầu vốn của doanh nghiệp để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được thường xuyên, liên tục, hoặc đáp ứng yêu cầu đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất ngày càng tăng tại doanh nghiệp
Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Khi cấp tín dụng cho doanh nghiệp, ngân hàng đòi hỏi phải có được những phương án, dự án kinh doanh có tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao Bản thân doanh nghiệp cũng cần tính toán hiệu quả kinh tế sao cho họ vừa có lợi nhuận và hoàn trả được gốc và lãi vay cho ngân hàng Đồng thời, ngân hàng cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và tạo
ra được lợi nhuận Như vậy, TDNH có tác dụng tăng cường chế độ hạch toán kinh tế không chỉ đối với các NHTM, mà cả với doanh nghiệp đi vay
Thứ ba, tín dụng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh
nghiệp
Nguồn vốn của doanh nghiệp, xét trên góc độ sở hữu thì bao gồm hai nguồn: Một là nguồn vốn chủ sở hữu, là nguồn vốn do các chủ sở hữu doanh nghiệp đóng góp ban đầu và tạo lập trong quá trình kinh doanh; hai là, nợ phải trả (như các khoản vay, ngân sách, NHTM, nhà cung cấp…) Để có cơ cấu vốn tối ưu, doanh nghiệp không bao giờ sử dụng toàn bộ nguồn vốn tự có của mình để sản xuất kinh doanh mà cần có sự cân đối giữa nguồn vốn tự có
Trang 20và nguồn vốn vay nhằm lợi dụng hiệu quả của đòn bẩy tài chính
a4 Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của NHTM, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng Nhưng hoạt động tín dụng bản thân nó cũng tiềm ẩn những rủi ro mà nếu xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn cho ngân hàng nói riêng và ảnh hưởng đến cả nền kinh tế nói chung Ngoài ra RRTD còn liên quan và có tác động rất lớn đến các loại rủi ro khác của ngân hàng như rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá Vì thế, các NHTM luôn quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý RRTD tại ngân hàng mình
Hậu quả khi RRTD xảy ra là rất lớn, hiện nay, các NHTM vẫn đang phải đối mặt với tình trạng nợ xấu, nợ tồn đọng rất cao Công tác cung cấp, khai thác và sử dụng thông tin tín dụng tại nhiều NHTM vẫn còn yếu, còn có tình trạng một khách hàng vay vốn tại nhiều NHTM nhưng không có sự kiểm tra, đánh giá về mức độ rủi ro Việc phân tích, đánh giá rủi ro khách hàng còn nhiều bất cập, chưa hỗ trợ hiệu quả cho việc ra quyết định cho vay và thu hồi
nợ Nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản trị RRTD chưa được tiến hành một cách quy mô, RRTD chưa được xác định, đo lường đánh giá và kiểm soát một cách chặt chẽ, chưa phù hợp với thông lệ Quốc tế và yêu cầu
hội nhập
Do đó, song song với việc tăng cường tín dụng, nhiệm vụ đặt ra đối với
hệ thống ngân hàng là phải chú trọng hơn nữa đến việc áp dụng và hoàn thiện các giải pháp nâng cao quản trị RRTD Để thực hiện quản trị RRTD, Hiệp ước Basel II cho phép các ngân hàng lựa chọn giữa “phương pháp dựa trên đánh giá tiêu chuẩn” và “phương pháp dựa trên đánh giá nội bộ” Đến nay, hầu hết các ngân hàng đều đang triển khai thực hiện công tác XHTD nội bộ đối với
doanh nghiệp vay vốn, đây chính là nòng cốt của quản trị RRTD
Trang 21b Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại
b1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Trong cơ chế thị trường, hoạt động của các TCTD cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khác luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro Các rủi ro NHTM thường gặp phải trong hoạt động ngân hàng là RRTD, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi ro nguồn vốn
RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả
nợ không đúng hạn cho ngân hàng
Căn cứ vào khoản 1 điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD (Ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005) thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy có thể khái quát, RRTD là tổng giá trị lớn nhất của khoản tiền
mà một ngân hàng có thể thất thoát khi khách hàng lâm vào tình trạng không
có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã cam kết Hay nói cách khác
RRTD là rủi ro ngân hàng không thu hồi được nợ khi đến hạn
b2 Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành các loại sau:
- Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân
Trang 22loại tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay
và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và
kỹ thuật xử lý các tài khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục (Porfolio risk): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được chia thành hai loại là rủi ro nội tại ( intrinsic risk) và rủi
ro tập trung (concerntration risk)
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay
+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều KHDN đang hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất
định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
b3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Ø Các nguyên nhân khách quan:
+ Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:
- Môi trường kinh doanh biến động nhanh, khó dự đoán
Hoạt động của NHTM gắn liền với hoạt động của các doanh nghiệp Khi môi trường kinh tế không ổn định làm ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp thì hệ quả tất yếu là sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM
Trang 23- Trình độ quản lý vĩ mô còn yếu kém
Quản lý vĩ mô của nhà nước được thể hiện ở việc nhà nước tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua luật pháp, các quy định, định hướng cho các doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, hỗ trợ tìm kiếm thị trường để tiêu thụ sản phẩm…Nếu nhà nước định hướng không tốt có khả năng xảy ra trường hợp một ngành, một lĩnh vực nào
đó được tập trung quá nhiều vốn đầu tư dẫn đến dư thừa, lãng phí
- Hệ thống thông tin quản lý yếu kém
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin TDNH (CIC) của NHNN đã hoạt động một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng, nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả nên thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng
được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin của các NHTM
+ Rủi ro do môi trường pháp lý:
- Cơ chế của Nhà nước
Nhà nước trong quá trình thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô, trong từng thời kỳ đã ban hành nhiều quy định, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước, nhiều trường hợp các doanh nghiệp phải cho vay theo chỉ định hoặc cho vay theo kế hoạch của nhà nước Chính cơ chế của nhà nước mang tính đặc quyền, ưu đãi đã tạo ra rủi ro cho các NHTM Thực tế cho thấy chính sách cho vay theo kế hoạch của nhà nước, cho vay theo chỉ định của chính phủ đã phát sinh rất nhiều nợ xấu
- Văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản
Trang 24dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động TDNH Tuy nhiên, việc triển khai vào hoạt động ngân hàng còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ Những văn bản này đều có quy định trong những trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là
cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN chưa hiệu quả
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân
hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng
Do vậy có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát
hiện và xử lý sớm hơn
Ø Các nguyên nhân chủ quan:
+ Rủi ro từ khách hàng vay:
- Tình hình tài chính yếu kém, hoạt động kém hiệu quả
Quy mô tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với nguồn vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Một doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém, hoạt động kém hiệu quả sẽ làm cho vốn vay của ngân hàng rủi ro lớn hơn
- Thông tin tài chính thiếu minh bạch
Trang 25Thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức, không phản ánh thực chất tình hình kinh doanh Khi CBTD phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực
- Khả năng quản lý kinh doanh yếu kém
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh quá
to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương
án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
- Sử dụng vốn vay sai mục đích
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án
kinh doanh hoặc dự án đầu tư cụ thể, khả thi Tuy nhiên cũng có một số doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản, nếu CBTD thiếu kỹ năng thẩm định, thông đồng với khách hàng
để rút tiền ngân hàng thì thiệt hại xảy ra đối với ngân hàng sẽ rất lớn
- Không có thiện chí trả nợ vay ngân hàng
Một số doanh nghiệp lại thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay ngân
hàng, không thực hiện đúng với các cam kết đã thỏa thuận với ngân hàng, khi phương án kinh doanh, dự án đầu tư không hiệu quả các doanh nghiệp này đã
cố tình trì hoãn xử lý tài sản đảm bảo, không tập trung các nguồn khác để trả
nợ làm cho ngân hàng phải tốn rất nhiều thời gian và chi phí
+ Rủi ro từ phía Ngân hàng cho vay:
- Vi phạm các quy định của Nhà nước
Trang 26Để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, giảm thiểu rủi ro, bảo đảm cho hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động và phát triển
ổn định, Chính phủ, NHNN đã đưa ra hàng loạt các quy định để bắt buộc các TCTD phải thực hiện Thực tế cho thấy, những tổn thất lớn của hoạt động tín dụng trong các vụ án kinh tế lớn đều bắt nguồn từ vi phạm các quy định của nhà nước Chính vì vậy để hạn chế rủi ro, biện pháp trước tiên là phải tuyệt đối chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy định của pháp luật
- Xem nhẹ công tác thẩm định khi quyết định cho vay
Khi khách hàng lập phương án vay vốn và gửi cho các NHTM, phương
án lúc nào cũng hiệu quả, khả thi, nếu ngân hàng xem nhẹ công tác thẩm định, chỉ dựa vào khách hàng, mối quan hệ mà quyết định cho vay thì khả năng RRTD xảy ra sẽ rất lớn
- Chưa quan tâm đúng mức đến giám sát sau khi cho vay
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của CBTD nói riêng và của ngân hàng nói chung Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp còn lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu
- Một số cán bộ ngân hàng còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp
vụ
Quy trình nghiệp vụ, quy định của pháp luật dù có chặt chẽ và đầy đủ đến đâu đi chăng nữa nhưng đều phải do con người thực hiện, nếu con người
Trang 27thiếu trình độ nghiệp vụ chuyên môn, cố tình làm trái các quy định của pháp luật thì khả năng rủi ro xảy ra tổn thất không thể lường hết
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng
Kiểm tra nội bộ là việc bộ phận kiểm tra nội bộ của chính NHTM đó kiểm tra lại hồ sơ tín dụng để đảm bảo việc cấp tín dụng thực hiện đúng chế
độ của ngân hàng, đúng quy định của nhà nước Khi phát hiện ra những sai sót, những vấn đề không phù hợp sẽ báo cáo cho cấp có thẩm quyền và kiến nghị chỉnh sửa cho phù hợp Kiểm tra nội bộ sâu sát, thường xuyên cũng hạn chế được RRTD xảy ra
Tóm lại, RRTD tại các NHTM có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân, để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, các NHTM có thể đưa ra nhiều giải pháp, giải pháp truyền thống thường được sử dụng phổ biến là tách biệt giữa công tác phân tích thẩm định và bộ phận thực hiện cho vay để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động tín dụng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ ngân hàng, tăng cường kiểm tra giám sát sau khi cho vay Hiện nay các NHTM thường sử dụng kết quả XHTD đối với khách hàng vay vốn làm
cơ sở để quyết định cho vay, đánh giá rủi ro khoản vay, thực hiện chính sách
khách hàng… đây là giải pháp nâng cao chất lượng, hạn chế RRTD vừa khách
quan vừa khoa học
b4 Hậu quả của RRTD
Khi RRTD nảy sinh, tùy theo mức độ mà nó gây ra những tác hại nghiêm trọng không chỉ với hệ thống ngân hàng, với người vay và còn cả với nền kinh tế và xã hội
Trước hết, đối với NHTM, ở mức độ thấp RRTD là mất đi cơ hội, khả năng tích lũy vốn, giảm sức mạnh của ngân hàng, việc kinh doanh của ngân hàng sẽ không hiệu quả nữa, ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, làm mất lòng tin ở người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
Trang 28+ Đối với NHTM: ở mức độ thấp RRTD là mất đi cơ hội, khả năng tích lũy vốn, giảm sức mạnh của ngân hàng, việc kinh doanh của ngân hàng sẽ không hiệu quả nữa, ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, làm mất lòng tin ở người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
+ Đối với người đi vay: thông thường RRTD là hệ quả của rủi ro kinh doanh của khách hàng Với nợ quá hạn người đi vay hoàn toàn mất nguồn tài trợ từ các ngân hàng, vuột mất cơ hội kinh doanh, tài sản sẽ bị tịch thu hoặc phát mãi, người đi vay sẽ đứng trước nguy cơ phá sản
+ Đối với nền kinh tế xã hội, RRTD chứng tỏ người vay vốn đã không thực hiện được hiệu quả đầu tư như đã đặt ra khi vay vốn tín dụng từ NHTM
Do đó lợi ích kinh tế dự kiến nhận được không có, sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ đình trệ, chức năng làm công cụ điều tiết nền kinh tế sẽ bị suy yếu
Đồng thời nếu RRTD kéo dài, không giải quyết được, có khả năng ngân hàng sẽ bị phá sản Dẫn đến sự khó khăn của cả hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái và để lại những
hậu quả nghiêm trọng
1.1.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp
a Định nghĩa doanh nghiệp
Trên phương diện lý thuyết, dựa vào các quan điểm khác nhau khi tiếp
cận doanh nghiệp mà có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, chẳng hạn như:
+ Xét theo quan điểm luật pháp: Theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
+ Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của
Trang 29các yếu tố) do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phầm với giá thành của sản phẩm ấy (M.Francois Peroux)
+ Xét theo quan điểm phát triển: “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” (trích từ sách “Kinh tế doanh nghiệp của D.Laura.A.Cailat – Nhà sản xuất Khoa học và Xã hội năm 1992)
Nói chung, có nhiều định nghĩa về doanh nghiệp dưới những góc độ khác nhau Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi các yếu tố: yếu tố tổ chức, yếu tố sản xuất, yếu tố trao đổi, yếu tố phân phối
Tóm lại, có thể phát biểu chung về định nghĩa doanh nghiệp như sau: doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua tối đa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một
cách hợp lý các mục tiêu xã hội
b Phân loại doanh nghiệp
Căn cứ vào Luật doanh nghiệp thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên) là doanh
Trang 30nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
+ Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia
thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
+ Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên
là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn
+ Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
+ Nhóm công ty: là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau công ty mẹ - công ty con, tập
đoàn kinh tế và các hình thức khác
c Đặc điểm của tín dụng doanh nghiệp ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng doanh nghiệp
+ Tín dụng doanh nghiệp tại các NHTM là quan hệ chuyển giao quyền
sử dụng vốn của NHTM cho khách hàng là các doanh nghiệp trên nguyên tắc
có hoàn trả Quan hệ tín dụng dựa trên nền tảng của sự tin tưởng nhau giữa các chủ thể Thông thường các NHTM cho KHDN vay với số vốn lớn và khi phát sinh nợ quá hạn thì thường là nợ quá hạn 100% trên dư nợ của món vay Điều này có thể gây ra rủi ro tín dụng cho NHTM và sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tình hình hoạt động của các NHTM nếu số lượng món vay “xấu”
Trang 31ngày một gia tăng mà không có biện pháp xử lý thích hợp
+ Trong quan hệ tín dụng doanh nghiệp, đa phần mục đích vay của các KHDN chủ yếu là bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, các khoản vay này có thể là vay ngắn hạn hoặc vay dài hạn Đối với các khoản vay lớn đòi hỏi KHDN phải có kỹ năng quản trị tốt để có thể sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất Năng lực sử dụng vốn của KHDN cũng được đánh giá là yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro cho hoạt động tín dụng doanh nghiệp, vì nếu việc sử dụng vốn không hiệu quả sẽ dẫn đến dễ trả nợ trễ hạn, có thể gây ra rủi ro mất vốn hoặc rủi ro đọng vốn cho NHTM Còn đối với các KHDN có năng lực sử dụng vốn tốt, sử dụng nguồn vốn vay hợp lý sẽ làm cho dòng tiền của khách hàng luân chuyển phù hợp với định hướng của doanh nghiệp, do đó khả năng trả nợ cùng tình hình tài chính của KHDN sẽ tốt và các khoản vay mà ngân hàng cấp cho các KHDN này sẽ hạn chế được rất nhiều rủi ro
Bên cạnh đó, các KHDN có uy tín tốt, có kinh nghiệm lâu năm trong việc sản xuất kinh doanh cũng là yếu tố được quan tâm trong mối quan hệ tín dụng với ngân hàng Bởi vì với kinh nghiệm tốt của KHDN trong sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho khách hàng ổn định hơn trong hoạt động kinh doanh, các rủi ro về quyết định hay nguồn đầu vào không thuận lợi sẽ bị loại bỏ, giảm thiểu một số các rủi ro cho khoản vay mà ngân hàng cho các đối tượng này vay vốn
+ Các doanh nghiệp vay vốn thường có báo cáo tài chính chưa đầy đủ, minh bạch, thông thường mỗi doanh nghiệp đều có nhiều loại báo cáo tài chính nhằm phục vụ cho cơ quan Thuế, cho nội bộ của doanh nghiệp và thậm chí là báo cáo để cung cấp cho ngân hàng trong trường hợp doanh nghiệp đi vay vốn Do đó, số liệu mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng chưa thực
sự chính xác nên việc đánh giá tình hình tài chính của khách hàng dựa trên các báo cáo này thực sự không đáng tin cậy, từ đó có thể gây ra rủi ro cho
Trang 32ngân hàng nếu việc thẩm định khách hàng không chính xác do căn cứ trên các báo cáo này Bên cạnh đó, do tính chất linh hoạt trong quy mô cũng như quản lý nên hoạt động kinh doanh của KHDN biến đổi liên tục làm cho việc theo dõi tình hình sử dụng vốn của khách hàng từ phía ngân hàng gặp nhiều khó khăn Điều này làm cho rủi ro của ngân hàng tăng thêm trong một môi
trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay
1.2 CÔNG TÁC XHTD NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Bản chất và ý nghĩa của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Có nhiều quan niệm khác nhau về XHTD như sau:
+ Theo công ty XHTD chuyên nghiệp Standard & Poor's (S&P): XHTD doanh nghiệp là việc đánh giá uy tín tín dụng tổng quát của doanh nghiệp dựa trên các yếu tố rủi ro chủ yếu và phù hợp
+ Theo công ty XHTD chuyên nghiệp Moody's: XHTD là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ
+ Theo Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI): XHTD doanh nghiệp là đánh giá khả năng của doanh nghiệp thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính
Trang 33+ Theo tự điển thị trường chứng khoán thì XHTD là cách ước tính chính thức tín dụng từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng của cá nhân và công ty kinh doanh
Tóm lại, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về XHTD doanh nghiệp nhưng các quan niệm này đều đề cập đến vấn đề chung nhất của XHTD doanh nghiệp là việc đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại
và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng, từ
đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai của doanh nghiệp
Bản chất của công tác XHTD nội bộ KHDN tại NHTM chính là để đo lường RRTD có thể xảy ra với NHTM XHTD nội bộ là một công cụ để đánh giá mức rủi ro của khách hàng, kết quả XHTD nội bộ được sử dụng làm căn
cứ độc lập để TCTD đánh giá hiệu quả quá trình quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của mình Chính kết quả của công tác XHTD nội bộ sẽ giúp phân loại các mức độ rủi ro, KH nào tốt sẽ có mức XHTD nội bộ cao, khách hàng có mức XHTD nội bộ thấp thì đó sẽ là các khách hàng cần phải được
chú trọng về mức độ rủi ro có thể gây ra cho ngân hàng
b Ý nghĩa của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp đối với ngân hàng thương mại
b1 Xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp là cơ sở
quản trị rủi ro tín dụng
Vấn đề RRTD và hậu quả của nó luôn được các ngân hàng quan tâm hàng đầu Yêu cầu đặt ra với các ngân hàng là phải đo lường được rủi ro và đưa ra các giải pháp nhằm kiểm soát Điều này được thực hiện thông qua việc tuân thủ quy trình tín dụng Trong đó, công tác XHTD nội bộ có vai trò quan trọng trong việc phân tích, đánh giá khách hàng cả trước và sau khi cấp tín dụng
Trang 34- Đánh giá và xếp hạng KHDN trước khi cấp tín dụng
Khi doanh nghiệp đề nghị vay vốn, ngân hàng dựa trên nguồn thông tin thu thập được về doanh nghiệp, thực hiện phân tích các yếu tố định lượng và định tính để đo lường khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ của doanh nghiệp
Số liệu phân tích là cơ sở để XHTD nội bộ các doanh nghiệp và kết quả xếp hạng là một trong các căn cứ quan trọng để đưa ra quyết định hay từ chối cho vay Đồng thời, dựa vào mức xếp hạng để áp dụng các chính sách tín dụng thích hợp Như vậy, kết quả XHTD nội bộ KHDN trước khi cấp tín dụng là một trong các cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định tín dụng, định giá khoản vay, áp dụng chính sách tín dụng thích hợp nhằm giới hạn và giảm thiểu RRTD
- Tái đánh giá và XHTD KHDN định kỳ
Trong quá trình diễn ra quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, định kỳ ngân hàng phải tiến hành phân tích khả năng trả nợ gốc và lãi của doanh nghiệp cho ngân hàng về các khoản đã cho vay, dựa trên nguồn thông tin thu thập được về doanh nghiệp đi vay từ lúc giải ngân tiền vay cho đến thời điểm tái xếp hạng, nhằm đánh giá việc thực hiện các cam kết của doanh nghiệp trong hợp đồng tín dụng, chú trọng đến những vi phạm hợp đồng, từ đó so sánh, đánh giá sự thay đổi RRTD so với ban đầu Qua đó, có thể điều chỉnh mức xếp hạng của doanh nghiệp
Như vậy, tái đánh giá xếp hạng doanh nghiệp đi vay theo định kỳ, để xem xét sự thay đổi rủi ro so với ban đầu, nhằm đưa ra những biện pháp thích hợp có hiệu quả giảm thiểu nguy cơ gây ra RRTD Từ đó, tạo điều kiện để tăng thu nhập cho ngân hàng, mở rộng và đa dạng hóa hình thức tài trợ, Và điều này đặc biệt có ý nghĩa trong xu hướng cho vay tín chấp ngày càng gia tăng, giúp ngân hàng lựa chọn những khách hàng tốt để cho vay, và là cơ sở
để các doanh nghiệp tự soi lại mình, từ đó có hướng vươn lên tốt hơn
Trang 35- Xếp hạng KHDN khi không hoàn trả nợ đúng hạn
Khi KHDN không thực hiện hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn, tức xuất hiện khoản nợ quá hạn Việc XHTD nội bộ KHDN không hoàn trả đúng hạn là cơ sở để xác định mức tổn thất tín dụng hoặc đưa ra các biện pháp để giảm tổn thất cho ngân hàng
Tóm lại, thực hiện XHTD đối với KHDN sẽ giúp ngân hàng quản lý tốt
rủi ro
b2 Xếp hạng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp cung cấp chuỗi thông tin có hệ thống về quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp, là cơ sở giúp các nhà quản trị ngân hàng đưa ra quyết định chính xác, kịp thời và có hiệu
quả
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, yêu cầu các quyết định tín dụng phải vừa nhanh, vừa rủi ro thấp
và đem lại hiệu quả tối ưu Nếu không sẽ dễ mất đi cơ hội tăng thu nhập và
mở rộng quy mô tín dụng, do khách hàng sẽ tìm đến vay ngân hàng khác hoặc tìm nguồn tài trợ ngoài ngân hàng Muốn có quyết định nhanh và chính xác, ngân hàng phải dự đoán tương đối chính xác về khả năng và thiện chí trả nợ của doanh nghiệp Điều này phụ thuộc vào yếu tố quan trọng là hệ thống thông tin của ngân hàng về doanh nghiệp trong cả quá khứ và hiện tại Yêu cầu đặt ra là ngân hàng phải có hệ thống thông tin đáng tin cậy, để nhận biết được các dấu hiệu đó qua một quá trình, chứ không phải một thời điểm và kết quả XHTD KHDN qua chuỗi thời gian sẽ đáp ứng được nhu cầu kể trên
b3 Xếp hạng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp là cơ sở để xây
dựng chính sách tín dụng và chính sách khách hàng
Trên cơ sở điểm số, ngân hàng sẽ phân loại khách hàng và áp dụng chính sách khách hàng về lãi suất cho vay, hạn mức vay, thời hạn tín dụng cho phù hợp Đồng thời cũng xây dựng chính sách tín dụng, áp dụng kỹ thuật cho
Trang 36vay tương ứng với mỗi loại khách hàng Đối với doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao, XHTD tốt, ngân hàng sẽ áp dụng chính sách ưu đãi: cho vay với lãi suất thấp, cho vay với hạn mức cao hơn, điều kiện cho vay được nới lỏng, hay áp dụng kỹ thuật cho vay tín chấp, Ngược lại, đối với KHDN có độ tín nhiệm thấp, XHTD thấp, cũng đồng nghĩa với những khoản tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro, ngân hàng sẽ áp dụng chính sách cho vay và biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn, nhằm hạn chế khả năng RRTD xảy ra
b4 Xếp hạng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp góp phần thực
hiện nguyên tắc cho vay của ngân hàng
Khi cấp tín dụng, NHTM phải yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng nguyên tắc cho vay, gồm hai nguyên tắc chính:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
- Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Các nguyên tắc cho vay được thể hiện cụ thể trong hợp đồng tín dụng Việc XHTD nội bộ KHDN được tiến hành trước khi cấp tín dụng và việc tái XHTD được tiến hành theo định kỳ sau khi cấp tín dụng, dựa trên cơ sở phân tích khả năng và thiện chí trả nợ ngân hàng với mục đích hạn chế RRTD Đây
là biện pháp nhằm thực hiện tốt nguyên tắc cho vay của ngân hàng, đặc biệt là nguyên tắc hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
Trang 37dụng nội bộ được được thể hiện ở chỗ kết quả XHTD khách hàng của hệ thống XHTD nội bộ sẽ làm căn cứ để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro
Hệ thống XHTD nội bộ tối thiểu phải bao gồm :
(1) Các cơ sở pháp lý liên quan đến thành lập và ngành nghề kinh doanh của khách hàng;
(2) Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp liên quan đến tình hình kinh doanh tài
chính, tài sản, khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính theo cam kết;
(3) Uy tín đối với TCTD đã giao dịch trước đây;
(4) Các tiêu chí đánh giá khách hàng chi tiết, cụ thể, có hệ thống (đánh giá yếu tố ngành nghề địa phương) trên cơ sở đó xếp hạng cụ thể đối với khách hàng
Mỗi năm TCTD phải đánh giá lại hệ thống XHTD nội bộ và chính sách
dự phòng rủi ro cho phù hợp với tình hình thực tế và các quy định của pháp luật Nợ được phân thành các nhóm như sau :
(1) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
(2) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
(3) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản
nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
(4) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất cao
(5) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ được
TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Trang 381.2.2 Nội dung công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp
Nội dung công tác XHTD nội bộ bao gồm các quy định của hệ thống
XHTD nội bộ và quá trình thực hiện trong thực tế Về mặt lý luận, toàn bộ nội
dung trên bao gồm nhiều vấn đề cụ thể được trình bày dưới đây
a Một số mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng
doanh nghiệp
Hệ thống XHTD nội bộ là những quy định của ngân hàng và những quy
định đó được xây dựng dựa trên nền tảng của việc tham khảo những kiến thức
của các mô hình và quy định về việc XHTD trên thế giới
a1 Mô hình xếp hạng tín dụng được áp dụng tại công ty Standard &
Poor's (S & P)
S&P tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán trong quá khứ S&P nhấn mạnh khả năng sinh lợi như một phần của bước đánh giá rủi ro kinh doanh và năng lực cạnh tranh.Tại S&P, XHTD là chỉ số thể hiện quan điểm về RRTD Trong quá trình xếp hạng, S&P phân loại theo rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
+ Rủi ro kinh doanh gồm rủi ro ngành, khả năng cạnh tranh, vị thế doanh nghiệp trong ngành, lợi thế kinh tế, khả năng sinh lợi trong sự so sánh với các doanh nghiệp khác trong nhóm tương đồng Các tổ chức XHTD này nhấn mạnh nhân tố chính trong rủi ro kinh doanh là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Rủi ro tài chính gồm phân tích chính sách tài chính, chính sách và thông tin kế toán, khả năng đáp ứng của dòng tiền, cấu trúc tài chính, khả năng thanh toán ngắn hạn
Quy trình xếp hạng chuẩn được S&P áp dụng cho XHTD của doanh nghiệp gồm các bước:
Trang 39+ Bước 1: Đánh giá ban đầu
+ Bước 2: Họp với ban quản trị của khách hàng
+ Bước 3: Phân tích
+ Bước 4: Đánh giá và bỏ phiếu của hội đồng đánh giá (của S&P) + Bước 6: Thông báo tới khách hàng
+ Bước 7: Công bố kết quả xếp hạng ra công chúng
a2 Mô hình xếp hạng tín dụng được áp dụng tại Moody's
Trong phân tích XHTD, Moody's xem xét đồng thời cả hai yếu tố ảnh
hưởng đến rủi ro tổng thể của doanh nghiệp là rủi ro kinh doanh và và rủi ro tài chính Các yếu tố phản ánh rủi ro kinh doanh là đặc điểm ngành, vị thế cạnh tranh, quy mô doanh nghiệp, năng lực quản trị của đội ngũ quản lý, rủi
ro vốn chủ sở hữu, các yếu tố về tổ chức của doanh nghiệp, Cốt lõi trong phương pháp luận của Moody’s nằm ở hai câu hỏi:
(1) Rủi ro gì khiến cho bên cho vay không nhận lại được khoản tiền
gốc và lãi đúng hạn cho một khoản vay cụ thể?
(2) Mức độ rủi ro này so với rủi ro của tất cả các khoản nợ vay khác là như thế nào (cao hay thấp hơn)?
Moody's đánh giá khả năng tạo tiền trong tương lai của bên đi vay, dựa trên phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, các yếu tố từ bên ngoài như xu hướng ngành/nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, hay là khả năng của ban lãnh đạo trong việc duy trì dòng tiền trong trường hợp môi trường kinh doanh có thay đổi lớn
Việc xếp hạng tín nhiệm này thường tập trung vào các yếu tố dài hạn,
và các yếu tố quyết định thường khác nhau tùy theo ngành nghề kinh doanh (của doanh nghiệp)
Bên cạnh rủi ro kinh doanh, Moody's cũng đánh giá rủi ro tài chính của
DN dưới nhiều khía cạnh khác nhau Các loại tỷ số tài chính đóng vai trò
Trang 40trung tâm trong phân tích tài chính doanh nghiệp: tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi, địn bẩy tài chính, hiệu quả hoạt động, khả năng quản trị dịng tiền cho các hoạt động và khả năng thanh khoản, khả năng linh hoạt về tài chính
Quy trình đánh giá của Moody’s gồm các bước:
+ Bước 1: Thu thập thơng tin cho đến khi đầy đủ để đánh giá rủi ro của bên nắm giữ nợ hay mua chứng khốn, bao gồm cả việc thảo luận với bên đi vay
+ Bước 2: Đưa ra kết luận trước hội đồng xếp hạng
+ Bước 3: Theo dõi liên tục để quyết định xem cĩ cần thay đổi mức xếp hạng hay khơng
+ Thơng báo quan điểm xếp hạng ra thị trường
Moody's sử dụng nhiều mơ hình XHTD khác nhau trong quá trình phân
tích của mình như mơ hình Probit, mơ hình Altman, mơ hình Merton Các biến số trong các mơ hình cũng được Moody's điều chỉnh cho phù hợp với phương pháp phân tích của mình
+ Mơ hình Probit:
Mơ hình Probit giả thiết rằng xác xuất vỡ nợ đối với một khoản tín dụng cĩ dạng phân phối chuẩn theo dạng hàm số sau:
trong đĩ:
của doanh nghiệp
(i=1,n) là các trọng số thể hiện tầm quan trọng của các chỉ tiêu xi ( i=1,n) với :